1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên

99 418 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học, thầy giáo hướng dẫn Trần Quốc Hưng, tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá vai trò của rừng

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2010

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Quốc Hưng

Thái Nguyên, năm 2010

Trang 3

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2010

Trang 4

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trần Quốc Hưng

Có thể tìm luận văn tại:

Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên Thư viện trường Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên, năm 2010

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2010

Trần Thị Thanh Tâm

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học, thầy giáo hướng dẫn Trần Quốc Hưng, tác giả đã tiến hành

thực hiện đề tài: “Đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ

môi trường tại khu vực rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên”

Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Trần Quốc Hưng, sự giúp đỡ của các cơ quan, ban ngành và sự góp ý chân tình của các bạn bè đồng nghiệp

Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Quốc Hưng thầy giáo trực tiếp hướng dẫn khoa học cùng toàn thể thầy cô giáo, cán bộ, công nhân viên của khoa Lâm Nghiệp, khoa Sau đại học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Tác giả xin chân thành cảm ơn cán bộ Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, cán bộ các xã Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Thái, Vạn Thọ, Lục Ba, Phúc Tân và các thầy cô giáo, các bạn sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2010

Tác giả

Trần Thị Thanh Tâm

Trang 8

Keo lai theo các cấp tuổi khác nhau

rừng tại xã Phúc Trìu và xã Tân Thái

65

Núi Cốc

72

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

rừng keo 2-3 tuổi

46

trong rừng Keo lai 4-5 tuổi

47

rừng Keo lai 6-7 tuổi

49

Keo lai theo tuổi

64

Trang 10

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.1 Cảnh quan, cảnh quan NLKH 7

1.1.2 Vai trò của rừng trong tích lũy các bon và môi trường nước 9

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 10

1.2.1 Cảnh quan, cảnh quan NLKH 10

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 16

1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực rừng phòng hộ Hồ Núi cốc 23

1.3.3 Nhận xét đánh giá chung về điều kiện khu vực nghiên cứu 28

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 30

2.2 Đối tượng nghiên cứu 30

2.3 Phạm vi nghiên cứu 30

2.4 Nội dung nghiên cứu 30

2.5 Phương pháp nghiên cứu 31

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 31

2.5.2 Xử lý, phân tích thông tin 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan và cảnh quan NLKH khu vực Hồ Núi Cốc 38

3.1.1 Vai trò của rừng trong cảnh quan 38

3.1.2 Vai trò của rừng trong cảnh quan NLKH khu vực Hồ Núi Cốc 40

3.2 Xác định lượng carbon tích lũy trong các trạng thái rừng và vai trò của rừng trong điều tiết nguồn nước 46

3.2.1 Xác định lượng carbon tích lũy trong các trạng thái rừng 46

3.2.2 Vai trò của rừng trong điều tiết nguồn nước 71

3.3 Đánh giá tiềm năng chi trả dịch vụ môi trường từ rừng trong khu vực Hồ Núi cốc 75

3.3.1 Giá trị thương mại từ tích luỹ các bon 75

3.3.2 Giá trị thương mại từ môi trường nước 76

Trang 11

3.4 Đề xuất các giải pháp cho phát triển tài nguyên rừng và khả năng chi trả

dịch vụ môi trường tại khu vực Hồ Núi Cốc 81

KẾT LUẬN - TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 83

1 Kết luận 83

1.1 Vai trò của rừng trong cảnh quan, cảnh quan NLKH 83

1.2 Lượng carbon tích lũy trong các trạng thái rừng và vai trò của rừng trong điều tiết nguồn nước 83

1.3 Đánh giá tiềm năng chi trả dịch vụ môi trường từ rừng trong khu vực Hồ Núi cốc 84

2 Tồn tại 85

3 Kiến nghị 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 12

MỞ ĐẦU

Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt Nói đến lâm nghiệp trước hết phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng có ghi "Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dân với sự sống còn của dân tộc [17]

Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài Ngay từ buổi đầu của lịch sử, con người đã lấy từ rừng thức ăn, chất đốt, vật liệu phục vụ cuộc sống; rừng được coi là cái nôi sinh ra và là môi trường sống của con người Rừng không những cung cấp lâm sản, đặc sản, nguyên liệu, dược liệu đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người mà rừng còn giữ vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái; đồng thời rừng là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội

Theo kết quả nghiên cứu của S.V.Belop (1976) cho thấy: Mỗi năm sinh vật quang tổng hợp trên trái đất đồng hóa khoảng 170 tỷ tấn dioxitcarbon (CO2) để tạo ra khoảng 100 tỷ tấn chất hữu cơ, 115 tỷ tấn O2 tự do - tạo điều kiện cho sự tồn tại và tiến hóa của các dạng sống, các quần thể sinh vật và các

hệ sinh thái trên cơ sở các mối liên kết bởi các quá trình sinh - địa - hóa Và nếu như tất cả thực vật trên Trái Đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khô tuyệt đối là 64%) thì rừng tạo ra 37 tỷ tấn (chiếm gần70%) Cùng với đó các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (hay 44%) dưỡng khí để phục vụ cho hô hấp

Trang 13

của con người, động vật và sâu bọ trên Trái Đất trong khoảng 2 năm Mỗi

cây xanh tạo ra trong một năm [34]

Mặt khác, một ha rừng hàng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 - 500 kg,

tố gây lên những biến đổi bất ngờ và không lường trước được của khí hậu Đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng nồng độ nhà kính [39]

Theo tính toán của các nhà khoa học khi nồng độ CO2 trong khí quyển tăng gấp đôi thì nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng lên khoảng 30C Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ Trái đất đã tăng lên 0,50C trong khoảng thời gian từ 1885 -

nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính thì nhiệt độ Trái đất sẽ tăng từ 1,5 đến 4,50C vào năm 2050 [32]

Kết quả của các nhà nghiên cứu trước đây đều cho rằng trồng cây, gây

Trang 14

2000) [28], (Richards và Stokes, 1999) [29], (Richargs và Krister, 2003) [30] gúp

hậu để phỏt triển bền vững trờn hành tinh Đõy cũng là hướng giải quyết của nhiều quốc gia trong đú cú Việt Nam, nhằm tận dụng cơ hội để "cơ chế Kyoto" được thực hiện, gúp phần trong cụng cuộc xoỏ đúi, giảm nghốo, bảo vệ mụi trường sinh thỏi

Như vậy, rừng là tài sản vụ cựng quý giỏ của nhõn loại núi chung và đối với tỉnh Thỏi Nguyờn núi riờng Đặc biệt Hồ Núi Cốc của Thỏi Nguyờn đ-ợc xem nh- là cái nôi cung cấp n-ớc và điều hoà khí hậu cho thành phố Thái Nguyên và toàn bộ diện tích rừng quanh đây có nhiệm vụ phòng hộ duy trì nguồn n-ớc trong

hồ, bảo vệ cho đời sống và sản xuất của ng-ời dân các xã lân cận và khu vực hạ l-u Sông Công Bờn cạnh đú, Hồ Nỳi Cốc cũn là một danh lam thắng cảnh, là nơi nghỉ mỏt đẹp và là điểm đến của khỏch du lịch Để gúp phần bảo vệ mụi trường sinh thỏi cũng như việc phỏt triển kinh tế nụng lõm nghiệp thỡ vai trũ của rừng tai đõy ngày càng được để ý hơn Tuy nhiờn, trong những năm gần đõy dưới cỏc tỏc động của nhiều yếu tố kinh tế xó hội như: gia tăng dõn số, biến động về chớnh sỏch và kinh tế thị trường, tài nguyờn rừng và cảnh quan khu vực này đó cú những biến đổi đỏng kể Do vậy cần phải cú những nghiờn cứu, tỡm hiểu và đỏnh giỏ về xu thế biến đổi cảnh quan cũng như vai trũ tài nguyờn rừng ở khu vực Hồ Nỳi Cốc Việc đỏnh giỏ này sẽ cú ý nghĩa rất quan trọng cho phộp chỳng ta nhỡn nhận một cỏch đỳng đắn những ảnh hưởng, tỏc động qua lại giữa tự nhiờn, kinh

tế và xó hội với tài nguyờn rừng ở khu vực Hồ Nỳi Cốc Từ đú đề xuất những giải phỏp phự hợp nhằm bảo vệ được mụi trường sinh thỏi, cảnh quan cho xó hội

Xuất phỏt từ nhu cầu thực tế trờn, tụi tiến hành thực hiện đề tài “Đỏnh giỏ vai

Trang 15

trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ

Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên”

Trang 16

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Cảnh quan, cảnh quan NLKH

Khoảng thế kỷ 19, cảnh quan được Alexander von Humboldt định nghĩa là

"tổng hoà các mối quan hệ hữu hình và vô hình trên một vùng địa lý" tuy nhiên, thuật ngữ cảnh quan được nhà địa lý thực vật học Carl Troll định nghĩa vào cuối thập kỷ 1930 là mối tổng hoà của các nhân tố bao gồm nhân tố không gian mà ở

đó các nhân tố địa lý tương tác theo chiều nằm ngang và các nhân tố sinh thái được xem như là có sự tương tác theo chiều thẳng đứng [8]

Trên thế giới chưa có nhiều công trình nghiên cứu về cảnh quan nhưng đến năm 1986 cũng đã được Gordorn định nghĩa như sau: Cảnh quan là hệ thống phân cấp đất đai được tạo thành do sự tạo nhóm giữa các tiểu hệ sinh thái tương tác được tái lập theo một phương thức nhất định, liên tục theo không gian và thời gian [8] Theo Naveh (1987), cảnh quan phù hợp được kiến tạo tổng hoà từ các nhân tố vật lý, sinh thái và địa lý mà ở đó chính là sự tương tác được tạo thành giữa các yếu tố tự nhiên và con người [8]

Năm 1996, Green và cộng sự đã nghiên cứu và cho rằng cảnh quan là kết quả của sự tương tác giữa địa hình, thảm thực vật, hiện trạng sử dụng đất, phân bố nơi cư trú của các hợp phần trong sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố tự nhiên

và các tiến trình phát triển văn hoá của con người trên vị trí địa lý nhất định [8]

Từ thuở sơ khai, con người sống dựa hoàn toàn vào thiên nhiên thông qua việc săn bắt, hái lượm các sản vật từ thiên nhiên Con người đã biết thuần hoá dần các loài cây dại, thú hoang sau đó sản xuất chúng một cách chủ động để phục vụ nhu cầu sinh tồn khi mà các nguồn “tặng vật của thiên nhiên” bị cạn

Trang 17

kiệt Đó chính là mầm mống sơ khai cho phương thức sản xuất NLKH ra đời Hệ thống NLKH đã được sử dụng từ rất sớm ở Ấn Độ sau đó được truyền bá rộng rãi sang Châu Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh

Trải qua lịch sử lâu dài, cùng với sự phát triển của nền sản xuất thế giới các phương thức sản xuất cũng dần được cải tiến hiệu quả hơn Bắt đầu là các phương thức canh tác NLKH truyền thống phát triển thành các phương thức NLKH cải tiến đem lại hiệu quả cao hơn về kinh tế, xã hội và môi trường Điển

hình cho phương thức NLKH cải tiến có các mô hình canh tác như: SALT 1,

SALT 2, SALT 3 và SALT 4 Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu trẻ khi tiếp nhận

những kiến thức về NLKH của các thế hệ trước đã bắt tay vào nghiên cứu, tìm hiểu các khía cạnh của NLKH nhằm xây dựng một mô hình NLKH hiệu quả và bền vững hơn Trong đó cảnh quan NLKH là một khía cạnh mới được nghiên cứu trong vài thập kỷ gần đây và những khái niệm về cảnh quan NLKH chưa thật sự nhiều để hiểu một cách rõ ràng và đại chúng đến cả người sản xuất

Trên thế giới, phương thức NLKH đang ngày càng phát triển phổ biến và thực sự là phương thức canh tác mang lại hiệu quả về nhiều mặt cho người dân, đặc biệt là người dân ở vùng đồi núi NLKH không chỉ đem lại hiểu quả về kinh

tế riêng cho người sản xuất mà nó còn góp phần ổn định dân sinh, bảo vệ môi trường sinh thái Cùng với việc nghiên cứu nhằm phát triển nền sản xuất nói chung, việc nghiên cứu cải tiến các phương thức NLKH nói riêng nhằm xây dựng một phương thức canh tác tối ưu nhất cho từng vùng Các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu về cảnh quan NLKH hay đúng ra là tìm hiểu về tổng hoà các mối quan hệ trong hệ thống NLKH, các mảnh vá hay sự phối trí giữa các thành phần trong hệ thống Từ đó nâng cao hiệu quả, đa dạng hoá các thành phần trong hệ thống, nâng cao tính năng bảo vệ đất

Trang 18

Theo ICRAF (1993), NLKH là bộ sưu tập hệ thống công nghệ sử dụng đất, nơi có các loài cây lưu liên như cây gỗ, cây bụi, tre trúc được bố trí xen kẽ với các loài cây nông nghiệp, cây lương thực, cây hoa màu hoặc cả vật nuôi, đồng thời trong cùng một không gian và thời gian Trong một hệ thống NLKH, sự hiện diện đồng thời cả hai khái niệm sinh thái và kinh tế, chúng được kết hợp hài hoà

để tạo ra một thể thống nhất [37]

Ở Indonesia, tại vùng sông Mendalam, thượng lưu vực Kapuas, phía tây tỉnh Kalimantan Indonesia đã có nghiên cứu cảnh quan NLKH Nghiên cứu này

đã đưa ra được một số giải pháp về vấn đề môi trường như sau:

+ Thiết lập mối quan hệ hữu cơ giữa thượng nguồn và hạ lưu

+ Sử dụng đa dạng các loài cây có nhu cầu không gian dinh dưỡng khác nhau + Thiết lập đa dạng theo chiều thẳng đứng

+ Tạo môi trường thúc đẩy chính sách chi trả dịch vụ môi trường

1.1.2 Vai trò của rừng trong tích lũy các bon và môi trường nước

Trong một nghiên cứu của Arild Angelsen and Sven Wunder (2003) đã chỉ

ra rằng: "Trong các dịch vụ môi trường mà những cộng đồng vùng cao có thể được đền bù (hấp thụ carbon, bảo vệ vùng đầu nguồn và bảo tồn đa dạng sinh học) thì cơ chế đền bù cho thị trường carbon là cao hơn cả, thậm chí rừng carbon được xem là một đóng góp quan trọng trong giảm nghèo" [22]

Một nghiên cứu khác của Joyotee Smith và JScherr (2002) [7] đã định lượng được lượng Carbon lưu trữ trong các kiểu rừng nhiệt đới và trong các loại hình sử dụng đất tại Brazil, Indonesia và Cameroon, bao gồm trong các sinh khối thực vật và dưới mặt đất từ 0 - 20cm Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng khí Carbon ít biến động hơn, nhưng cũng có xu hướng giảm dần từ rừng tự nhiên đến đất không có rừng

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Bang Oregon và một số viện khác kết luận trong các bản báo cáo “Những điều luật tính toán đến carbon đối với rừng

Trang 19

nên chủ trương bảo vệ những khu vực rừng già khỏi tác động bên ngoài Một lượng lớn carbon sẽ quay trở lại bầu khí quyển nếu những khu vực rừng này bị xáo trộn” Phân tích 519 nghiên cứu khác nhau cho thấy 15% đất rừng phía Bắc Hemisphere không được kiểm soát, đặc biệt là những khu rừng già, chúng chiếm

Tại huyện Kabupaten Nunukan, phía đông Kalimantan đã áp dụng công cụ RACSA để giám sát lượng dự trữ các bon trong khu vực

Công trình đánh giá nhanh thuỷ văn (RHA) đầu tiên được thực hiện tại lưu vực Sinhkarak Tây Sumatera Inđônêsia nhằm nghiên cứu hoàn cảnh thuỷ văn trong bối cảnh phát triển chi trả các dịch vụ môi trường Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa thuỷ điện dao động mực nước cũng như chất lượng nước hồ và phân bố thực vật của lưu vực hồ [9]

1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Trang 20

sinh thái rừng ngập mặn nuôi trồng thuỷ sản cũng được phát triển mạnh mẽ ở các vùng duyên hải miền Trung và Nam Bộ Các chính sách định canh, định cư; các chương trình 327, chương trình 661, các chính sách khuyến khích phát triển kinh

tế trang trại cùng các dự án tài trợ quốc tế đã góp phần cho việc xây dựng và phát triển các hệ thống NLKH ở Việt Nam Các thông tin kiến thức về NLKH cũng

đã được các tổ chức, các nhà khoa học trong nước tổng kết dưới những góc độ khác nhau và truyền tải đến người lao động thông qua các chương trình lâm nghiệp xã hội, khuyến nông khuyến lâm và phương tiện thông tin đại chúng

Từ sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống NLKH, tuỳ theo từng vùng địa lý sinh thái khác nhau, các loài và tập quán canh tác khác nhau đã tạo ra sự khác nhau độc đáo về cảnh quan NLKH Các mảnh vá và sự phối trí của chúng ở từng

mô hình, từng vùng là khác nhau và sự khác nhau này ảnh hưởng đến hiệu quả cũng như tính khả thi của mô hình canh tác NLKH Đó là một đề tài mà các nhà nghiên cứu, các nhà lâm nghiệp xã hội đang và sẽ tìm hiểu nhằm đưa ra được những mô hình NLKH phù hợp thống nhất mối tương quan của các nhân tố trong mô hình để áp dụng vào thực tiễn sản suất đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người lao động, nâng cao khả năng bảo vệ môi trường chung

Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1993) [13] tiến hành nghiên cứu các công thức trồng cây theo băng đã đưa ra kết luận:

+ Năng suất trong các công thức trồng cây theo băng vẫn có thể cao hơn hoặc bằng năng suất thuần không áp dụng các biện pháp chống xói mòn dù diện tích của nó giảm đi khoảng 10%

Trang 21

+ Canh tác trên đất dốc theo băng xanh đường đồng mức hàng năm có thể giữ lại cho đất một lượng chất dinh dưỡng trung bình từ 60 - 80 kg N; 25- 35 kg

P2O5 và 20 - 30 kg K2O/ha

Năm 1995 - 1996 tại huyện Na Rì - Bắc Kạn, Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên chủ trì dự án “ Xây dựng mô hình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm góp phần ổn định phát triển nông thôn vùng cao” Dự án đã thiết kế 26 mô hình SALT đưa các giống cây ăn quả và đặc sản có giá trị vào trồng như: Vải, Nhãn, Hồng không hạt, Cam, Quýt, Hồi trồng xen với cây họ đậu và cây lương thực, Qua đánh giá sơ bộ các mô hình canh tác trên là có hiệu quả

Hoàng Hữu Cải, Trường ĐH Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh đã sử dụng công

cụ mô hình hoá để đánh giá các hệ thống NLKH ở cấp độ lưu vực và cảnh quan Ông cho rằng một hệ thống thực sự bền vững phải duy trì tính toàn vẹn về sinh học và sinh thái trong dài hạn của tài nguyên thiên nhiên Quản lý bền vững một

hệ thống canh tác là sự quản lý thận trọng dựa trên khoa học tất cả các đơn vị cảnh quan trong một hệ thống

Trần Đức Thiện, Phạm Thu Hà (2006) [5] đã tiến hành nghiên cứu đánh giá cảnh quan NLKH tại xã Phúc Xuân - Thành phố Thái Nguyên cho kết quả đánh giá về mối tác động qua lại giữa các thành phần hay dòng chu chuyển vật chất và năng lượng trong mô hình cảnh quan như sau:

- Rừng tự nhiên và rừng trồng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nước, bảo vệ cảnh quan, tránh sạt lở đất, và là nơi chăn thả gia súc

- Cây dài ngày có vai trò che bóng, chắn gió, giảm lượng thoát hơi nước

và tạo tiểu khí hậu cho cây ngắn ngày sinh trưởng, phát triển, là nơi vật nuôi kiếm ăn và cư trú Cây dài ngày hạn chế lưu lượng nước và dòng chảy bề mặt từ

Trang 22

- Cây ngắn ngày giữ ẩm độ cho cây dài ngày phát triển, đồng thời trả lại lượng hữu cơ cho đất Cây ngắn ngày tận dụng không gian cũng như thời gian sản suất trên một đơn vị diện tích là lớn, cây ngắn ngày còn là nguồn thức ăn cho vật nuôi

- Vật nuôi cung cấp lượng phân đáng kể cho cây trồng, ao cá ngoài vai trò

để nuôi cá còn là bể chữa nước cung cấp cho cây trồng, cây tre bóng, phòng hộ

Ở Việt Nam, hội thảo tập huấn quốc gia về phân tích cảnh quan nông lâm

kết hợp diễn ra tại Phú Thọ ngày 18 đến 23 tháng 8 năm 2008, hội thảo nhằm chia sẻ các kết quả nghiên cứu và phân tích cảnh quan nông lâm kết hợp của 5 quốc gia thành viên (Indonesia, Lào, Thái Lan, Philipin và Việt Nam) đồng thời xác định các công cụ, phương pháp có sự tham gia trong nghiên cứu, phân tích cảnh quan Bên cạnh đó, hội thảo còn tăng cường năng lực đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực nông lâm kết hợp thông qua việc phát triển chương trình đào tạo

về phân tích cảnh quan NLKH [8]

Như vậy cảnh quan Nông lâm kết hợp là một bức khảm sinh thái cảnh quan, được tạo thành bởi sự đa dạng các mảnh ghép vô sinh và hữu sinh có mối quan hệ hữu cơ với nhau, dưới những tác động và điều khiển của các nhân tố sinh thái (gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tạo), nhằm tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu về lương thực - thực phẩm, kinh tế, văn hoá - nhân văn và môi trường của xã hội loài người [8]

1.2.2 Vai trò của rừng trong tích lũy Các bon và môi trường nước

Theo kết quả nghiên cứu của TS Võ Đại Hải và cộng sự (2009) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ carbon của một số dạng rừng trồng ở Việt Nam” nhằm xác định lượng Carbon hấp phụ ở rừng trồng Mỡ thuần loài tại 2 tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ năm 2006 - 2008 Kết quả cho thấy: Đối với cấu trúc Carbon cây cá thể Mỡ thì thân cây chiếm 54 -80%, rễ

Trang 23

chiếm 14-30%, cành chiếm 3-11%, lá cây chiếm 1-6% và tổng lượng carbon tích luỹ trong lâm phần trồng Mỡ dao động khá lớn từ 55,93 đến 112,4 tấn/ha, bao gồm 4 thành phần chính là Carbon trong đất, carbon trong tầng cây gỗ, carbon trong vật rơi rụng và carbon trong cây bụi thảm tươi [6]

Theo kết quả nghiên cứu của PGS.TS Ngô Đình Quế và cộng sự (2006) về khả năng hấp phụ Carbon ở rừng Thông, Keo, Bạch đàn Phương pháp thực hiện

là lập ô tiêu chuẩn chọn một số cây cân đo khối lượng Biomass tươi và khô Từ

trồng Đề tài đo đếm sinh trưởng, năng suất rừng trồng ở 180 ô tiêu chuẩn, giải tích cây điển hình, phân tích 300 mẫu dung trọng, 200 mẫu Carbon trong đất và

300 mẫu Carbon trong thực vật từ các kết quả phân tích thu được xây dựng các

hệ số quy đổi tính lượng CO2 hấp phụ từ rừng trồng Phương pháp này nhìn chung đã đo đếm tương đối chính xác lượng carbon tích luỹ, tuy nhiên sẽ mất khá nhiều thời gian để giải tích cây và xác định hệ số quy đổi [15]

Từ ngày 22 đến 27 tháng 11 năm 2008, Tcraf Việt Nam đã cộng tác với Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên (TUAF) tổ chức: “Hội thảo tập huấn quốc gia cây trên cảnh quan đa mục đích ở Đông Nam Á” Khoá tập huấn này nhằm giới thiệu 3 công cụ: PaLA (đánh giá nhanh cảnh quan), RHA (đánh giá nhanh thuỷ văn) và RacSA (đánh giá nhanh dự trữ Carbon) thuộc gói công cụ TULSEA Đây là cơ hội lớn cho Việt Nam có thể sử dụng bộ công cụ này, đặc biệt là công

cụ RacSA để đo đếm lượng Carbon tích luỹ trong các trạng thái rừng Bộ công

cụ này hiện nay đã bước đầu được sử dụng

Năm 2005, TS Võ Quế đã thực hiện đề tài “Điều tra xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên” [16], đề tài nghiên cứu một số nội dung sau:

Trang 24

- Nghiên cứu tổng quan về kinh tế - xã hội và môi trường Hồ Núi Cốc, trong đó các vấn đề gây nên áp lực đối với môi trường

- Nghiên cứu hiện trạng môi trường: nước, đất, không khí, hệ sinh thái, chất thải, nước thải, khí thải và các sự cố môi trường tại khu du lịch Hồ Núi Cốc

- Nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức quản lý, quản lý tác động môi trường tại khu du lịch Hồ Núi Cốc

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp và các kiến nghị nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường do hoạt động du lịch và các ngành khác

Để góp phần bảo vệ bền vững môi trường thì công tác xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường là rất cần thiết, nhằm giúp cho các nhà quản lý, các nhà hoặc định chính sách về kinh tế, về môi trường chủ động nắm vững diễn biến môi trường tại từng nơi, từng khu vực Từ đó có các giải pháp kịp thời nhằm giảm thiểu tác động ảnh hưởng đến môi trường do hoạt động của con người gây

ra, chủ động đề phòng, đối phó đối với các sự cố về môi trường đặc biệt là tại các khu du lịch trọng điểm

Đánh giá được tổng quan về kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên và Hồ Núi Cốc trên một số mặt: Các kế hoạch và thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, đặc điểm vị trí địa lý và tài nguyên của khu du lịch Hồ Núi Cốc, thực trạng hoạt động của các ngành có liên quan tác động đến môi trường

Đề tài đã vận dụng các chỉ tiêu môi trường cho phép của Việt nam, các chỉ tiêu cho phép để tổ chức các loại hình du lịch theo quy chế 02/2003 của Bộ Tài nguyên và Môi trường để phân tích hiện trạng môi trường tại khu du lịch trên một

số chỉ tiêu: Môi trường nước, môi trường không khí, môi trường đất, môi trường sinh thái Đặc biệt đánh giá các chỉ tiêu ảnh hưởng đến môi trường như nước thải, chất thải, khí thải và các sự cố ảnh hưởng đến môi trường để làm rõ thực trạng ô

Trang 25

nhiễm môi trường hiện nay tại khu du lịch Hồ Núi Cốc, tìm ra các nguyên nhân -

áp lực - hiện trạng - đáp ứng trong năm qua tại khu du lịch để có hướng đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động đến môi trường trong các phần sau [16]

Đồng thời, đề tài cũng đã phân tích thực trạng công tác quản lý môi trường tại khu du lịch Hồ Núi Cốc để làm rõ bất cập, tồn tại và thiếu sót công tác bảo vệ môi trường hiện nay tại khu du lịch của cơ quan quản lý môi trường, các ban ngành có liên quan và các doanh nghiệp kinh doanh Đồng thời đánh giá tác động ảnh hưởng của chất thải khí thải và sự cố môi trường đến môi trường tại khu vực, đưa ra các giải pháp và kiến nghị phù hợp với điều kiện khu du lịch để nhằm giảm thiếu tác động ảnh hưởng đến môi trường, nhằm bảo vệ phát triển bền vững môi trường tại khu du lịch Hồ Núi Cốc [16]

TS Trần Quốc Hưng, (2009) đã nghiên cứu "Thử nghiệm công cụ đánh giá nhanh thủy văn và đánh giá cảnh quan có sự tham gia tại khu vực hồ Núi Cốc, thành phố Thái Nguyên" [9 ], đề tài đã nghiên cứu một số nội dung sau:

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới trữ lượng và chất lượng nước của lưu vực Hồ Núi Cốc

- Xác định tiềm năng dịch vụ liên quan đến tài nguyên nước, các bên liên quan và mối quan hệ giữa các bên trong việc sử dụng tài nguyên nước

- Đề xuất các phương án bảo vệ nguồn nước

1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Trang 26

Từ 21034' đến 21045' vĩ độ Bắc

Từ 1050 46' đến 105055' kinh độ đông

Ranh giới:

Phía Bắc giáp xã Hà Thượng, xã Hùng Sơn huyện Đại Từ

Phía Nam giáp xã Phúc Thuận huyện Phổ Yên

Phía Đông giáp xã Phúc Hà, Tân Cương thành phố Thái Nguyên

Phía Tây giáp xã Bình thuận, Văn Yên, Ký phú và xã Cát Nê huyện Đại Từ Khu rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên cách thành phố Thái Nguyên 20 km về phía Tây Bao gồm đất quy hoạch cho rừng phòng hộ trên địa bàn 6 xã thuộc 3 huyện, thành phố (huyện Đại Từ có 03 xã là: Tân Thái, Vạn Thọ, Lục Ba; huyện Phổ Yên có Xã Phúc Tân; thành phố Thái Nguyên có 02 xã Phúc Xuân và Phúc Trìu) với tổng diện tích 3.453,78 ha, trong

đó đất có rừng là: 2.935,64ha; đất chưa có rừng: 518,14 ha

BQL rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc trực tiếp quản lý: 2.447,98 ha

Công ty Cổ phần Du lịch Nam Phương quản lý: 7,50 ha

Các Hộ gia đình quản lý: 998,30 ha

1.3.1.2 Địa hình, địa thế

Khu rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng trung du được bao bọc bởi hệ thuỷ của sông chính chảy về sông Công và các suối chính bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo và các xã Tân Thái, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Phúc Tân Gồm các kiểu địa hình sau:

+ Kiểu địa hình núi thấp: Diện tích 1.929 ha chiếm 17,1 % diện tích khu

rừng phòng hộ Độ cao tuyệt đối từ 300 - 400 m, độ dốc trung bình 200

- 250, kiểu địa hình núi thấp phù hợp với một số loại cây trồng nông, lâm nghiệp, cây

ăn quả và cây đặc sản Phân bố chủ yếu ở các xã Tân Thái, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Phúc Tân

Trang 27

+ Kiểu địa hình đồi bát úp: Diện tích 6.804 ha chiếm 60,3% diện tích

khu rừng phòng hộ và phân bố chủ yếu ở các xã trong khu vực Độ cao tuyệt đối

từ 150 - 200 m, độ dốc trung bình 100

- 200, kiểu địa hình rất phù hợp với sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản và cây công nghiệp

+ Kiểu địa hình thung lũng và máng trũng: Diện tích 2.2550 ha chiếm

22,6% diện tích khu rừng phòng hộ Tập trung ven các chân đồi, ven các con suối ở hầu hết các xã trong khu vực Kiểu địa hình này tương đối bằng phẳng, phù hợp với một số loài cây nông nghiệp và công nghiệp

Trang 28

+ Lượng bốc hơi bình quân năm là 885mm, bằng 50,6 % lượng mưa trung bình năm Lượng bốc hơi lớn thường xảy ra vào các tháng 12, tháng 1 gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng ảnh huởng đến cây trồng vụ đông xuân

+ Độ ẩm không khí trung bình năm là 81 %, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 75-86% Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm vào tháng 4, tháng 5 Các tháng mùa khô mặc dù ít mưa nhưng có sương mù nên độ ẩm không khí khá cao

Trang 29

Bảng 1.1: Đặc điểm khí hậu khu vực qua các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009

Trang 30

1.3.1.4 Đất đai

Đất feralit màu đỏ vàng phát triển trên đá mác ma axit, phân bố các vùng có độ cao từ 15 - 250, có tầng đất dày trên 1m, đất có cấu trúc tơi xốp, thịt nặng, lượng mùn nhiều, độ chua từ 4,5 đến 5,5, thích hợp cho trồng chè Đất thung lũng thích hợp cho việc trồng lúa nước và các loài cây hoa màu ngắn ngày

1.3.1.5 Thực trạng tài nguyên rừng

Phân theo hiện trạng các loại rừng, cơ cấu diện tích rừng được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.2 Cơ cấu diện tích các loại rừng trên địa bàn các xã

thuộc khu vực phòng hộ Hồ Núi Cốc

Phúc Xuân

Phúc Tân

Tân Thái

Lục

Ba

Vạn Thọ

Đất trống cây gỗ rải rác IC) 338,14 59,84 34,93 20,77 209,6 9,1 3,9

(Nguồn: Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc [21])

Trang 31

Qua bảng 1.1 cho thấy:

- Rừng phục hồi (IIA): có diện tích 208 ha, chiếm 6,02% diện tích đất lâm nghiệp, đây là rừng non có trữ lượng, được phân bố ở tất cả 6 xã trong khu vực Tổ thành rừng gồm các loài cây tiên phong mọc nhanh sau nương

rẫy các loài cây gỗ thuộc các họ điểm hình sau: Họ Giẻ (Fagaecae), họ Đay (Tiliaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Trám (Burseraceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae)

- Tình hình tái sinh rừng IIA: Mật độ cây tái sinh từ 2500 - 3000 cây/ha Số cây có triển vọng bình quân 1.200 - 1500 cây/ha Thành phần cây tái sinh chủ yếu là các loài: Dẻ, Xám, Lim Xẹt, Muồng đen, Trâm, Ràng ràng, số loài cây tái sinh biến động từ 10 - 12 loài

- Rừng trồng: Có diện tích 2.727,64 ha, chiếm 92.91% diện tích đất có

hình rừng trồng thuộc chương trình 661 và dân tự bỏ vốn và vốn vay của lâm trường

Rừng trồng chủ yếu là thuần loài chỉ có 1 tầng tán nên khả năng phòng hộ kém và khi đến tuổi thành thục thường khai thác trắng, đất đó trở thành đất trống dễ gây xói lở, do vậy cần được trồng xen với cây bản địa để có tác dụng phòng hộ được tốt hơn

- Tái sinh tự nhiên trạng thái IB: Kết quả điều tra tái sinh được 20 loài cây gỗ tái sinh, loài cây ưu thế gồm: Trường 10,5%; Sau sau 8,2%; Lòng mang

Trang 32

7,4%, Thành ngạnh 6,8%; Hoắc quang 5,7%; Màng tang 6,4% nguồn gốc tái sinh từ chồi Mật độ tái sinh 770 cây/ha, cây tái sinh có triển vọng đạt 52,8%

- Đất trống có cây gỗ rải rác (IC): có diện tích 340 ha chiếm 65,6% dất lâm nghiệp chưa có rừng, gồm một số loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh

có ở hầu hết các xã trong vùng

- Tái sinh tự nhiên (IC) kết quả điều tra được 22 loài cây gỗ tái sinh loài cây

ưu thế gồm: Dẻ 11,3%; Dền 10,5%; Kháo 9,4%; Lá nến 8,7%; Sau sau 7,6%; Trường 6,8%; Bời lời 5,9%; Thành ngạnh 5,0%; Lòng mang 4,4% Nguồn gốc tái sinh chủ yếu từ chồi Mật độ cây tái sinh 2100 cây/ha, cây tái sinh có triển vọng cao đạt 72%

* Động thực vật rừng và lâm sản ngoài gỗ trong khu rừng phòng hộ bảo

vệ môi trường Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên

- Động vật trong khu vực còn không đáng kể chỉ có một số loài chim, rắn, sóc nhưng số liệu không nhiều Nguyên nhân là do người dân khai thác rừng trái phép làm mất nơi cư trú và nguồn thức ăn của các loài động vật

- Thực vật rừng ở đây chủ yếu là cây gỗ tạp, cây tiên phong phục hồi sau nương rẫy

- Lâm sản ngoài gỗ trong khu vực hầu như không còn

1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội khu vực rừng phòng hộ Hồ Núi cốc

1.3.2.1 Nguồn lực

- Dân tộc: Ở khu vực rừng phòng hộ Hồ núi cốc có 5 dân tộc sinh sống, trong đó:

+ Dân tộc Kinh: 20.503 người, chiếm 83,75%

+ Dân tộc Tày, Nùng: 1.469 người, chiếm 6%

+ Dân tộc Sán Dìu: 1.383 người, chiếm 5,65%

+ Dân tộc Hoa: 881 người, chiếm 3,6%

+ Các dân tộc khác: 245 người, chiếm 1%

Khu vực có thành phần dân tộc khá phong phú trong đó người Kinh

Trang 33

- Dân số và lao động: Kết quả thống kê tổng hợp năm 2007 số dân trong khu vực như sau:

+ Tổng dân số là 24.481 người

+ Tỷ lệ tăng dân số: 1,45%

Năng xuất bình quân: Lúa 43,3 tạ/ha, ngô 41,5 tạ/ha, khoai và sắn 63,5 tạ/ha

Trang 34

Tổng sản lượng lương thực (kể cả màu quy ra thóc) 32.200 tấn/năm Bình quân lương thực đạt: 520 kg/người/năm

Ngoài ra đây còn là vùng chè lớn của tỉnh, với diện tích 650 ha Năng xuất 80 tạ/ha Sản lượng chè hàng năm đạt 520 tấn, đem lại nguồn thu đáng

kể cho các hộ sản xuất nông lâm nghiệp, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhân dân trong vùng

- Chăn nuôi:

Theo số liệu điều tra của phòng thống kê các xã năm 2007, số lượng gia

súc, gia cầm trong khu vực thực tại như sau:

+ Tổng đàn trâu: 2134 con, trung bình có 0,4 con/hộ

+ Tổng đàn bò: 344 con, trung bình có 0,05 con/hộ

+ Tổng đàn lợn: 8.023con, trung bình có 1,3 con/hộ

+ Gia cầm các loại: 31.494 con, trung bình có 5,3 con/hộ

Với lượng gia súc nói trên nếu không có kế hoạch quản lý, bảo vệ tốt sẽ ảnh hưởng tới công quản lý, bảo vệ rừng nhất là rừng mới trồng Trong những năm tới khu vực cần quy hoạch bãi chăn thả cụ thể từng địa phương và thay đổi lại tập quán chăn thả thành chăn dắt

- Thủy sản:

Khu vực khu rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên có nhiều ao, sông suối và có Hồ Núi Cốc, diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 2.550 ha, sản lượng hàng năm khoảng 40 - 50 tấn/năm, đóng vai trò kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của địa phương, đã cung cấp cá, tôm

và các loại thủy hải sản khác cho nhu cầu của nhân dân trong tỉnh

*Cơ sở hạ tầng

- Giao thông: hệ thống giao thông khu vực khá phát triển, gồm cả trục

chính và các đường nhánh, tạo thành mạng lưới giao thông khá hoàn chỉnh, tổng chiều dài và các tuyến đường khoảng 150km Trong đó chủ yếu là đường nhựa, đường vào trụ sở UBND các xã trong khu vực đều có đường ôtô đến

Trang 35

được Tuy nhiên, còn tuyến đường vào xóm 10, xóm 11 xã Phúc Tân vẫn là đường đất về mùa mưa lũ giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn Một số tuyến đường lâm nghiệp vào các khu rừng (để giảm áp lực đối với khu vực lòng hồ) chưa được Nhà nước đầu tư mở rộng nên khó khăn cho nhân dân trong thu hoạch nông lâm sản trong khu vực

- Thủy lợi:

+ Số đập nước hiện có: 3 cái

+ Số phao, rọ chặn nước có: 6 cái

+ Mương máng tưới tiêu: 71,4 km, trung bình có 0,014 km/ha

Với các công trình thủy lợi nói trên, đã đáp đáp ứng tưới tiêu được khoảng 90% diện tích đất canh tác, 10% diện tích canh tác còn lại phụ thuộc vào mùa mưa

*Thu nhập của người dân

Qua điều tra và báo cáo tổng kết của 6 xã trong khu vực cho thấy: Tổng thu nhập năm 2007 toàn khu vực đạt 63.653,6 triệu đồng, thu nhập bình quân đạt 4 triệu đồng/người/năm, đây là mức thu nhập khá so với các xã khác trong cùng huyện

Tỉ lệ hộ nghèo năm 2007 là 25,8 % (theo chuẩn mới )

Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế trong khu vực có xu thế chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng ngành nông lâm nghiệp, tăng tỉ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Tuy nhiên, kinh tế ngành nông lâm

Trang 36

Bảng 1.3 Tỷ trọng cơ cấu các ngành kinh tế khu vực phòng hộ

Hồ Núi Cốc

TT Ngành kinh tế

Tỷ trọng (%) Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008

Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Từ năm 2002 đến năm 2006, tốc độ tăng trưởng trung bình năm đạt 11,5%, trong đó ngành thương mại và dịch vụ tăng 20%, công nghiệp, xây dựng tăng 17,5%, thấp nhất là ngành nông lâm nghiệp tăng 5,2%

* Văn hóa xã hội:

- Y tế:

Tuyến y tế cơ sở có 6 trạm xá với 26 giường bệnh, 41 y, bác sĩ, bình quân 617 người/y, bác sĩ Nhìn chung, về y tế còn thiếu trang thiết bị, cơ sở vật chất để khám chữa bệnh cho nhân dân, thiếu cán bộ y, bác sĩ, do đó đã ảnh hưởng tới việc khám và chữa bệnh cho nhân dân trong vùng

Trang 37

- Thông tin văn hóa:

Đã được chú ý phát triển cả về bề rộng và chiều sâu Hiện tại 80% số dân trong khu vực được xem truyền hình, 95% được nghe đài phát thanh sóng trung ương, hầu hết ở các xã đã có trạm bưu điện và nhà văn hóa xã hội Nên mọi chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước sớm được cập nhật, góp phần nâng cao trình độ văn hóa và trình độ dân trí của nhân dân

1.3.3 Nhận xét đánh giá chung về điều kiện khu vực nghiên cứu

1.3.3.1 Thận lợi

- Khu vực khu rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên gần thành phố, địa hình rộng, lại có hệ thống giao thông thuận tiện, nên rất thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán sản phẩm nông lâm nghiệp Kinh tế phát triển, đặc biệt là có thế mạnh vùng chè và là một trong những khu du lịch đẹp nhất khu vực phía Bắc

- Nguồn lao động nông lâm nghiệp của khu vực khá dồi dào, cùng với tinh thần đoàn kết phấn đấu vượt qua đói nghèo là những yếu tố, lợi thế quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của khu vực

- Sản xuất nông lâm nghiệp phát triển, nhân dân đã có ý thức bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng vì vậy hiện tượng phá rừng làm nương rẫy, phá rừng trái phép đã chấm dứt, tình hình cháy rừng ít xảy ra

- Nhân dân thường xuyên được tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, tiếp xúc với khoa học kĩ thuật mới, nên trình độ dân trí phát triển, các hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu trong đời sống và sản xuất nông lâm nghiệp được hạn chế nhiều

1.3.3.2 Khó khăn

Bên cạnh những lợi thế, khu vực rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc còn gặp những khó khăn:

- Đường trục chính giao thông vào UBND xã Phúc Tân, huyện Phổ Yên

đã được cải tạo nâng cấp và điện lưới quốc gia đã đến những thôn ở dọc đường

Trang 38

chính nhưng vẫn còn 5 thôn chưa có điện Nên đời sống vật chất, tình thần còn nhiều khó khăn, cần sớm được khắc phục để ổn định đời sống nhân dân

- Là những xã miền núi có địa hình phức tạp, chịu ảnh hưởng của khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều và biến động theo mùa rõ rệt nên tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển

- Sản xuất nông, lâm nghiệp là chủ yếu nên thu nhập của người dân trong vùng còn thấp, khả năng tích lũy không đáng kể Hơn nữa, đây là các xã nằm trong khu vực ven Hồ Núi Cốc nên việc sản xuất nông lâm nghiệp phụ thuộc nhiều bởi nguồn nước trong hồ

- Sự phân bố dân cư không đều nên ảnh hưởng tới việc tuyên truyền phổ cập khoa học kỹ thuật trong sản suất tới từng hộ nông dân

- Vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp còn hạn chế, điều này làm cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuật ngày càng khó khăn

- Mạng lưới thú y cơ sở còn yếu trong tổ chức và quản lý, do vậy làm cho việc kiểm soát dịch bệnh chưa được tốt

- Tập quán chăn nuôi còn lạc hậu nên việc áp dụng các biện pháp vệ sinh thú y và phòng bệnh trong chăn nuôi còn khó thực hiện

Trang 39

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được vai trò của rừng trong cảnh quan chung và cảnh quan NLKH khu vực Hồ Núi Cốc

trò của rừng trong điều tiết nguồn nước

- Đánh giá được tiềm năng chi trả dịch vụ môi trường từ rừng trong khu vực Hồ Núi cốc

- Đề xuất được các giải pháp cho phát triển tài nguyên rừng và khả năng chi trả dịch vụ môi trường tại khu vực Hồ Núi Cốc

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các trạng thái rừng và các hệ thống sử dụng đất trong cảnh quan khu vực Hồ Núi Cốc

2.3 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã Tân Thái và Phúc Trìu, đây là 2 trong 6 xã thuộc khu vực rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc Bởi 2 xã này có diện tích rừng phòng hộ chiếm phần lớn và có đầy đủ các trạng thái rừng cần nghiên cứu (xã Phúc Trìu có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất với 70 ha, chiếm 33,65% tổng diện tích rừng tự nhiên của khu vực), bên cạnh đó, Tân Thái là một trong các xã ven hồ chịu tác động bởi Hồ Núi Cốc và cũng trực tiếp tác động lại vùng hồ Chính vì vậy việc lựa chọn xã Tân Thái và Phúc Trìu là địa điểm nghiên cứu đại diện là có ý nghĩa hơn cả

2.4 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài đã nghiên cứu một số nội dung sau:

2.4.1 Đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan chung và cảnh quan NLKH khu vực Hồ Núi Cốc

Trang 40

2.4.2 Xác định lượng carbon tích lũy trong các trạng thái rừng và vai trò của rừng trong điều tiết nguồn nước

2.4.3 Đánh giá tiềm năng chi trả dịch vụ môi trường từ rừng trong khu vực

Hồ Núi cốc

2.4.4 Đề xuất được các giải pháp cho phát triển tài nguyên rừng và khả năng chi trả dịch vụ môi trường tại khu vực Hồ Núi Cốc

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Kế thừa tài liệu:

+ Lịch sử sử dụng đất, sử dụng nguồn nước và phát triển nông lâm nghiệp của khu vực

+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường khu vực Hồ Núi Cốc

- Thu thập số liệu ngoài hiện trường:

+ Làm việc với các cơ quan quản lý lâm nghiệp tại các địa phương như: Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, UBND các xã (Tân Thái, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Vạn Thọ, Lục Ba) và các hộ gia đình kinh doanh rừng để nắm được đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu như địa điểm, trạng thái, tuổi rừng và sinh trưởng, làm cơ sở cho việc điều tra và chọn địa điểm nghiên cứu

+ Sau khi xác định lịch sử trạng thái rừng từ các chủ rừng, tại các địa điểm

(20m x 100m) để đo những cây có đường kính ngang ngực (D1.3)>30cm Trên các ÔTC chính, lập ÔTC phụ 200m2

để đo những cây có đường kính ngang ngực 5cm< D1.3 <30cm

+ Xác định hàm lượng carbon:

* Lượng carbon tích lũy trong thảm thực vật rừng phần trên mặt đất

được tính thông qua xác định sinh khối (khô)

Sinh khối bao gồm:

Ngày đăng: 10/11/2014, 01:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Đặc điểm khí hậu khu vực qua các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009 - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 1.1 Đặc điểm khí hậu khu vực qua các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009 (Trang 29)
Bảng 1.2. Cơ cấu diện tích các loại rừng trên địa bàn các xã - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 1.2. Cơ cấu diện tích các loại rừng trên địa bàn các xã (Trang 30)
Hình 2.1: Sơ đồ bố trí các ô đo đếm - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí các ô đo đếm (Trang 41)
Bảng 2.2. Dự trữ C cây đứng - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.2. Dự trữ C cây đứng (Trang 45)
Bảng 3.2. Các phương thức sử dụng đất hiện nay tại khu vực - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.2. Các phương thức sử dụng đất hiện nay tại khu vực (Trang 52)
Bảng 3.4. Sinh khối khô của rừng Keo lai 4-5 tuổi - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.4. Sinh khối khô của rừng Keo lai 4-5 tuổi (Trang 57)
Bảng 3.5. Sinh khối khô của rừng Keo lai 6-7 tuổi - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.5. Sinh khối khô của rừng Keo lai 6-7 tuổi (Trang 59)
Bảng 3.6. Kết quả tính toán sinh khối khô lâm phần rừng trồng Keo lai - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6. Kết quả tính toán sinh khối khô lâm phần rừng trồng Keo lai (Trang 61)
Bảng 3.8. Sinh khối khô theo từng thành phần rừng tự nhiên - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8. Sinh khối khô theo từng thành phần rừng tự nhiên (Trang 67)
Bảng 3.10. Kết quả tính toán sinh khối khô lâm phần rừng tự nhiên - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Kết quả tính toán sinh khối khô lâm phần rừng tự nhiên (Trang 71)
Bảng 3.11. Hàm lƣợng carbon hấp thụ trong lâm phần Keo lai - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11. Hàm lƣợng carbon hấp thụ trong lâm phần Keo lai (Trang 73)
Bảng 3.12. Tỷ lệ lƣợng carbon hấp thụ trong các bộ phận cấu thành lâm phần Keo lai - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.12. Tỷ lệ lƣợng carbon hấp thụ trong các bộ phận cấu thành lâm phần Keo lai (Trang 74)
Bảng 3.15. Biến động tài nguyên nước theo thời gian  Mốc thời gian  Đánh giá nguồn nước  Đánh giá nguyên nhân - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.15. Biến động tài nguyên nước theo thời gian Mốc thời gian Đánh giá nguồn nước Đánh giá nguyên nhân (Trang 83)
Bảng 3.16. Giá trị thương mại carbon của các trạng thái rừng - đánh giá vai trò của rừng trong cảnh quan, dịch vụ môi trường tại khu vực rừng phòng hộ hồ núi cốc, tỉnh thái nguyên
Bảng 3.16. Giá trị thương mại carbon của các trạng thái rừng (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w