Trong những năm qua,cùng với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xãhội ,vai trò và địa vị của người phụ nữ ngày càng được nâng cao.Vấn đềbình đẳng giới ngày càng được xã hội quan tâm nhiều
Trang 1Nhà xuất bản Trung học cơ sở Trung học phổ thông Kinh tế xã hội
Công tác xã hội
Uy ban nhân dân Vườn ao chuồng rừng Hợp tác xã
Nhân viên công tác xã hội Hội liên hiệp phụ nữ Phỏng vấn sâu
Bảng 7: Nam giới cần chia sẻ việc nhà với nữ giới không?
Bảng 8 : Chồng đánh vợ có bị coi là nghiêm trọng không?
SƠ ĐỒ:
Sơ đồ 1:Tháp nhu cầu của Maslow
Lời mở đầu
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Bình đẳng giới một cách toàn diện, triệt để là lý tưởng mà nhân loại
đã theo đuổi hàng nhiều thế kỉ Đầu thế kỉ XIX, nhà tư tưởng xã hội chủnghĩa không tưởng pháp S.Phurie đã nhận định: trình độ giải phóng phụ nữ
là thước đo trình độ phát triển xã hội Luận điểm này tiếp tục được khẳngđịnh trong học thuyết Mác – Lênin ngay từ khi nó ra đời và được phát triển
ở trình độ mới cao hơn ở các giai đoạn tiếp theo
Trong những năm qua,cùng với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xãhội ,vai trò và địa vị của người phụ nữ ngày càng được nâng cao.Vấn đềbình đẳng giới ngày càng được xã hội quan tâm nhiều hơn Hội nghị cácquốc gia tại NewYork(Mỹ) năm 2000 đã xác định: bình đẳng giới là mộttrong tám mục tiêu của thiên niên kỷ Ở Việt Nam, nhà nước cũng đã banhành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy bình đẳng nam nữ nhằm đảmbảo quyền lợi và phát huy vai trò của phụ nữ.Tiêu biểu như luật chống bạohành phụ nữ, đặc biệt là luật bình đẳng giới đuợc thông qua trong kì họp thứ10,quốc hội khóa 11(21/11/2006) Đuợc sự quan tâm của Đảng, nhà nước, sự nỗlực của các ban ngành trung ương, địa phương và người dân , Việt Nam đã trởthành một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới, đuợc xếp thứ80/136 quốc gia về chỉ tiêu phát triển giới
Thế nhưng, trên thưc tế, vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn cònnhiều bất cập Sự giải phóng phụ nữ dường như chỉ dừng lại ở cái mà cơ chế
xã hội mới mang lại , chưa vào sâu đuợc đời sống gia đình Trong các giađình ít nhiều vẫn tồn tại các hiện tượng bất bình đẳng giói như chưa ghinhận đúng vai trò của nữ giới, sự phân công lao động trong gia đình chưahợp lý, còn sự phân biệt đối xử nam nữ, bạo hành phụ nữ vv…
Do đó em muốn đi sâu tìm hiểu vấn đề giới trong phạm vi gia đình,một lĩnh vực còn thiếu sự quan tâm đúng mức
Trang 3Mặt khác, địa bàn thực tế là thôn Thuận Hóa, xã Lộc Bổn, huyện PhúLộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, là vùng đất cố đô, chỉ cách kinh thành huế có 20
km, nhiều dấu tích của chế độ phong kiến còn tồn tại trong cuộc sống củangười dân nơi đây Đặc biệt tàn dư của nó là tư tuởng trọng nam khinh nữvẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng Vì vậy em muốntìm hiểu xem ở vùng đất còn đậm dấu ấn phong kiến này, vấn đề bình đẳnggiới, đặc biệt là bình đẳng giới trong gia đình được nhìn nhận và thực hiệnnhư thế nào
Hơn nữa, vì thời gian hạn chế, chỉ có 7 ngày để thực hiện đề tài màvấn đề bình đẳng giới thì quá rộng Việc đi sâu nghiên cứu một vấn đề nhưbình đẳng giới trong gia đình sẽ có kết quả tốt hơn
Vì những lý do trên ,em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứutrong chuyến thực tế này là: “Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình: thựctrạng, nguyên nhân và giải pháp (trường hợp nghiên cứu ở thôn Thuận Hóa,
xã Lộc bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế)
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua đã tác động mạnh
mẽ tới cơ cấu và phân công lao động giữa nam và nữ ở nông thôn
Nghiên cứu sự phân công lao đọng theo giới ở nông thôn trong quátrình CNH – HĐH sẽ giúp cho chúng ta nắm bắt được sự biến đổi của giađình và cấu trúc phân công lao động giữa nam và nữ, và sự biến đổi cấu trúc
xã hội Sự biến đổi đó tác động đến sự phân công lao động theo giới ở nôngthôn nói chung và trong gia đình nói riêng làm thay đổi các mối quan hệ xãhội trong đó có mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt làmối quan hệ giới Vấn đề phân công lao động theo giới ở nông thôn đã đượcnhiều người nghiên cứu, trong đó có các công trình nghiên cứu sau:
Trang 4TS LÊ THỊ KIM LAN trong nghiên cứu “ Sự phân công lao độngtheo giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của cộng đồng dân tộc VânKiều, tỉnh Quảng Trị”.
Đề tài này cũng xuất hiện một số giải pháp để xoá bỏ bất bình đẳnggiới và nâng cao địa vị của phụ nữ Vân Kiều
- “ Phụ nữ và nam giới và cải cách kinh tế nông thôn” được nghiêncứu bởi trung tâm nghiên cứu phụ nữ và gia đình vào năm 1995 Đề tài này
đề cập đến sự phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân trongquả trình chuyển đổi nền kinh tế cũng như các vấn đề xã hội đặt ra xungquanh mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với tính công bằng và sự bình đẳnggiới từ sự phân công lao động đó
- Giáo sư LÊ THI, “ Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở ViệtNam”, trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ lại khẳng định mục tiêucủa việc nghiên cứu giới nhằm tạo nên sự phát triển tốt đẹp và sự phân cônglao động hợp lý giữa hai giới nam và nữ.Ở cả hai lĩnh vực hoạt động giađình và xã hội đều có sự tham gia và phát triển tài năng trí tuệ của cả haigiới, phù hợp với đặc điểm giới của họ, góp phần tạo nên sự hài hoà tronggia đình
- “ Gia đình và địa vị phụ nữ trong xã hội” trung tâm nghiên cứu giới,gia đình và môi trường trong phát triển, NXB Khoa học xã hội 1995”
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan đếnvấn đề phân công lao động theo giới ở nông thôn trong quá trình hiện nay
Đời sông không ngừng biến đổi, vì thế sự phân công lao động ở nôngthôn nói chung và sựu phân công lao động ở gia đình nói riêng cũng cần sựbiến đổi, để tạo nên một môi trường xã hội ổn định và phát triển
Trong bài viết này người viết sẽ nhìn nhận vấn đề từ cả hai góc độquan điểm của phụ nữ và nam giới trong việc xem xét sự phân công lao
Trang 5động chủ yếu từ độ tuổi từ 18 đến 55, 60 tuổi trong gia đình ở nông thôn đểthấy được những nhân tố ảnh hưởng đến sự phân công lao động vào cáccông việc sản xuất, tái sản xuất và công việc cộng đồng của cả hai giới, hyvọng đưa ra khuyến nghị hướng tới sự phát triển toàn diện của cả hai giớitrong mối quan hệ với nông thôn và xu thế biến đổi xã hội.
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sẽ tạo cơ sở cho chính quyền địa phương có những bổ sung, điều chỉnh vềchính sách ,chủ trương nhằm thực hiện bình đẳng giới có hiệu quả, tạo độnglực cho sự phát triển chung của địa phương
Đối với người dân: Giúp người dân có cơ hội nhìn nhận đúng hơn vaitrò của người phụ nữ và thực trạng bình đẳng giới trong gia đình ở địaphương mình.Từ đó giúp người dân thay đổi lối tư duy cũ,góp phần thựchiện có hiệu quả bình đẳng giới trong gia đình nói riêng và bình đẳng nam
nữ nói chung
Đối với bản thân : Qua đợt thực tế này, mà cụ thể là việc đi sâu tìmhiểu vấn đề bình đẳng giới trong gia đình ở một cộng đồng dân cư, là cơ hộitốt để em có thể áp dụng những phương pháp và lý thuyết đã học (phươngpháp thực hành công tác xã hội, các lý thuyết về xã hội học, các kiến thức vềgia đình học ) vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời qua quá trình thực hiện đềtài, em tiếp thu được nhiều kiến thức về vấn đề giới và hiểu thêm về một cộng
Trang 6đồng dân cư với những bản sắc riêng Từ đó giúp em được kiểm nghiệm thực
tế, rút ra được những kinh nghiệm quý báu cho công việc sau nay
4 Mục tiêu nghiên cứu
4.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài này được thực hiện với một nhận thức rõ ràng rằng bình đẳnggiới vấn đề bình đẳng giới đang rất được quan tâm ở Việt Nam hiện nay Vìvậy trên cơ sở xem xét bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình, đề tài mongmuốn đưa đến một cách nhìn mới về vai trò của người phụ nữ và thực trạngbình đẳng giới trong gia đình hiện nay.Từ đó hướng tới các giải pháp nângcao năng lực cho nữ giới và thực hiện bình đẳng giới có hiệu quả
4.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới trong gia đình ở thôn Thuận Hóa:những thành tựu đạt được và những hiện tượng bất bình đẳng giới trong giađình còn tồn tại
- Tìm hiểu cách nhìn nhận, đánh giá về vấn đề bình đẳng giới tronggia đình ở địa phương
- Tìm hiểu nguyên nhân và kiến nghị các giải pháp nhằm thực hiệnbình đẳng giới trong gia đình có hiệu quả
- Nâng cao nhận thức cho cán bộ và người dân địa phương, làm thay đổi lối
tư duy cũ, lạc hậu, giúp họ có cách nhìn nhận đúng đắn về vấn đề bình đẳng giới
- Vận dụng những kiến thức và kĩ năng có được trong quá trình tìm hiểu
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu.
Trang 7Tình hình bình đẳng giới trong gia đình ở thôn Thuận Hóa: nhữngthành công và những hiện tượng bất bình đẳng còn tồn tại,nguyên nhân vàgiải pháp.
5.2 Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ và nam giới trong các gia đình trên địa bàn, cán bộ phụ nữ, đạidiện chính quyền địa phương
5.3 Phạm vi nghiên cưú
Không gian: nghiên cứu trên địa bàn thôn Thuận Hóa
Thời gian thực địa: 14/6/2014 – 20/6/2014
Thời gian nghiên cứu vấn đề: ở những năm gần đây
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Báo cáo đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử như một cơ sở phương pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu: Quátrình nhận thức không chỉ dừng lại ở những nhận thức bên ngoài sự vật hiệntượng mà còn phải nhận thức được bản chất bên trong hoặc tính quy luật vốn
có của nó Phải xem xét các hiện tượng xã hội trong mối quan hệ biệnchứng với các hiện tượng khác, nghiên cứu phải được xem xét trong lịch sử
cụ thể để thấy được mối quan hệ biến đổi giới trong phân công lao động, tiếpcận các nguồn lực và quyết định, tìm ra được bản chất của mối quan hệ giữanhận thức và hành động
Vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể bằng cách tiếp cận, nghiên cứu,xem xét vấn đề theo quan điểm tôn trọng, giữ gìn và phát huy những nétđẹp, tích cực của quá khứ và xoá bỏ những cái lạc hậu, tiêu cực, không phùhợp với sự biến đổi của xã hội
Trang 8Vận dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận Mác xít nhằm giải thích sựvận động, biến đổi và phát triển mối quan hệ giới trong gia đình Các lý thuyết
về giới như: Lý thuyết nhu cầu, lý thuyết hành động, lý thuyết nữ quyền
Bên cạnh đó báo cáo cũng vận dụng chủ trương, đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước, các văn kiện về đổi mới, về giải phóng phụ nữ đượcban hành, những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin từ đối tượng mà chúng ta cần nghiên cứu, từ những ngườixung quanh, những người dân trong thôn Thuận Hóa, cán bộ xã, các tổ chức
6.2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp là thông tin chưa qua xử lý, do cá nhân tự thu thập được
Sử dụng phương pháp chọn mẫu, mẫu nghiên cứu là những hộ giađình tại thôn Thuận Hóa, đây là một thôn có đủ tiêu chí phù hợp với đề tài.Người nghiên cứu chọn mẫu bao nhiêu hộ tuỳ thích miễn đảm bảo điều kiệntối thiểu là 30 phiếu Trong đề tài nghiên cứu này tôi sử dụng 32 phiếutương ứng với 32 người, sau đó tiến hành khảo sát được phát cho mỗi hộ giađình, số phiếu sẽ được thu lại, xử lý và làm sạch
Cơ cấu mẫu như sau:
Cơ cấu chủ hộ:
- Chồng
- Vợ
- Người khác
Cơ cấu giới tính: nam, nữ
Cơ cấu tuổi:
- Từ 18 – 26 tuổi
- Từ 26 – 35 tuổi
Trang 9rõ, chứng minh giả thiết của đề tài bằng thông tin định lượng thu được từbảng hỏi lẫn thông tin định tính.
6.2.1.3 Phương pháp quan sát
Trong 6 ngày thực tế ở thôn Thuận Hóa, sống với dân, tôi có cơ hộiquan sát những hoạt động trong cuộc sống sinh hoạt gia đình, trong lao đôngsản xuất và 1 số hoạt động xã hội của chị em phụ nữ địa phương
Trang 106.2.1.4 Thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp là thông tin đã được xử lí và phổ biến trong khắp xã hội,những thông tin đã được chọn lọc… ví dụ như: các bào báo, các tạp chí, sách…
6.2.2 Phương pháp xử lí thông tin
Xử lý thông tin bằng EXCEL, SPSS
Trang 11CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ
KHÁI NIỆM, LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 1.1.Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lí
Xã Lộc Bổn là xã đồng bằng bán sơn địa nằm ở vị trí cách thị trấn Phú Lộc
18 Km về phía nam và cách thành phố Huế 20 Km về phía Bắc Có tọa độ địa lý
từ 16o17’ đến 16o 23’ vĩ độ Bắc và từ 107o41’ đến 107o47’ kinh độ Đông
Ranh giới hành chính được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp xã Thủy Phù –thị xã Hương Thủy
- Phía Nam giáp xã Lộc Sơn và xã Xuân Lộc huyện Phú Lộc
- Phía Đông giáp xã Lộc Sơn, xã Lộc An huyện Phú Lộc
- Phía Tây giáp xã Thủy Phù, xã Dương Hòa và xã Phú Sơn thuôc thị
xã Hương Thủy
Trang 12Có đường Quốc lộ 1A đi qua, nằm tiếp giáp với thị xã Hương thủy vàthị xã Lộc Sơn trong tương lai, do đó rất thuận lợi trong phát triển KT – XHtheo hướng mở cửa bên ngoài.
1.1.1.2 Diện tích tự nhiên:
3273,23 ha Chiếm 4.54% diện tích của toàn Huyện
Địa bàn xã có 8 thôn, trong đó có 4 thôn thuộc vùng tái định cư BếnVán chuyên làm nghề rừng, không có đất trồng lúa
1.1.1.3 Đặc điểm địa hình, khí hậu:
-Về địa hình: Lộc Bổn là xã đồng bằng bán sơn địa, phân bố thành 3vùng Phía Tây đồi núi thấp có độ nghiêng không cao phù hợp tiềm năngphát triển trồng rừng và trang trại tổng hợp; Phía Đông là vùng sâu trũngphù hợp với việc trồng lúa nước 2 vụ và nuôi cá nước ngọt; Khu vực trungtâm xã có địa hình bằng phẳng khá thuận lợi trong việc phát triển hạ tầng,kinh tế, và các ku dân cư Có con Sông Nong bắt nguồn từ vùng núi thấp điqua trung tâm của xã và đỗ về sông Đại Giang với chiều dài khoảng 20km
-Về khí hậu: Là xã nằm tròng vùng nhiệt đới ẩm, gió mùa, có thời tiếtkhắc nghiệt, khí hậu trong năm chia làm 2: Mùa ít mưa từ tháng 01 đếntháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Nhiệt độ trung bình cả nămkhoảng từ 250C Lượng mưa trung bình cả năm từ 2800-3400mm, nhữngtháng ít mưa khoảng 900mm
1.1.1.4 Tài nguyên:
1.1.1.4.1 Tài nguyên đất
Tài nguyên đất xã Lộc Bổn được thể hiện thông qua bảng 1
Trang 132.1 Đất XD cơ quan, công trình
sự nghiệp
2.2 Đất cơ sở kinh doanh SKC 0.09
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 12.72
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 197.42
1.1.1.4.3 Tài nguyên nước
Có mạng lưới sông ngòi, kênh mương khá dày đặc, có Sông Nong điqua trung tâm xã và đỗ về sông Đại Giang khoảng 20km, nguồn nướcthường hội tụ từ các khe suối như: Khe Ngang và Khe Chứa, Khe Trái, Khecon Bồng, Khe Sơn và khe su Ngoài ra xã có hệ thống kênh dẫn nước từ Hồ
Trang 14Truồi đổ về cho nên hàng năm lưu lượng nước sông luôn đảm bảo dồi dào,phục vụ sản xuất nông nghiệp khá thuận lợi.
Có 64,5ha diện tích nuôi cá nước ngọt, có gần 16 ha ruộng thấp trũng,người dân tận dụng làm 1 vụ lúa 1 vụ cá, toàn xã có 92 hộ nuôi cá nước ngọt
-Nguồn nước ngầm: Tuy chưa có cơ quan nghiên cứu khoa học vàonghiên cứu, nhưng ở đây nguồn nước ngầm rất phong phú và chất lượng khátốt, có độ sâu đến 40 mét, nguồn nước ngầm của xã hiện là nguồn nước rấtquan trọng cùng cấp tốt cho việc sinh hoạt và sản xuất của nhân dân
1.1.2 Nhân lực:
1.1.2.1 Dân số:
Tổng số hộ: 2765 hộ; Dân số toàn xã: 14.713 nhân khẩu; mật độ dân
số bình quân 220 người/km2 Trong đó:
+ Nông nghiệp: 3.075 người, ứng với 1224 hộ
+ Phi nông nghiệp: 3.874 người, ứng với 1357 hộ
Dân số của xã phân bổ không đều, thời gian qua do làm tốt công tác kếhoạch hoá gia đình, nên công tác dân số đã đạt được kết quả đáng khích lệ
Tuy nhiên vị trí xã Lộc Bổn nằm liền kề thị xã Hương Thuỷ và khu đôthị của Lộc Sơn trong tương lai nên sẽ đón nhận một lượng không nhỏ dân
số từ nơi khác đến sống và làm việc trong các khu công nghiệp Điều này cótác độn lớn đến sự hình thành và thúc đẩy phát triển các điểm, khu dân cưtập trung, các tụ điểm kinh tế, các ngành nghề truyền thống…Từ đó sẽ dẫnđến sự thay đổi phân bổ dân cư, phát triển sản xuất; đồng thời tác động nhấtđịnh đến việc sử dụng đất trên địa bàn xã
- Về hộ sản xuất nông nghiệp: 1224 hộ, chiếm tỷ lệ 44% tổng số hộ.Đặc điểm: trong các hộ sản xuất nông nghiệp còn có các hộ sản xuất thuầnnông, có một số hộ kết hợp các ngành nghề khác như: ngành nghề nôngthôn, buôn bán nhỏ, làm công nhân và một số hộ thiếu việc làm khi nông
Trang 15nhàn… Bình quân diện tích canh tác 6,8 sào/lao động nông nghiệp; qua sốliệu trên ta thấy số hộ dân của xã sống bằng nghề nông nghiệp còn khá cao;tuy nhiên diện tích bình quân cho 1 lao động nông nghiệp lại không cao.Điều đó cho thấy diện tích sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Lộc Bổncòn nhỏ lẽ, manh mún; đồng thời đây là xã có hương đô thị hoá nhanh nênviệc phát triển kinh tế của xã theo hướng đẩy mạnh tỷ trọng các ngành tiểuthủ công nghiệp, dịch vụ, giảm dân tỷ trọng nông nghiệp là hoàn toàn phùhợp và đúng hướng.
Hiện nay tại xã vẫn còn khoảng 142 lao động chưa có việc làm, (tỷ lệ2%), lao động rãnh khi nông nhàn còn nhiều Do đó để phát huy tổng thểmọi nguồn lực trong quy hoạch –phát triển của xã cần đặc biệt quan tâm đàotạo, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho các thành phần này
1.1.3 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội
1.1.3.1 Điều kiện kinh tế
- Cơ cấu kinh tế: Lộc Bổn là một xã nông nghiệp (thuần nông), tuynhiên thực tế là xã có tiềm năng phát triển các loại hình kinh doanh dịch vụ,
có tốc độ phát triển nhanh, do đó cơ cấu kinh tế hiện nay là Tiểu thủ côngnghiệp –Dịch vụ và Nông nghiệp
Trang 16Với tỷ trọng được ước tính như sau:
Bảng 2 : Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị đóng góp của các ngành
Ngành Giá trị sản xuất (ướt
Nhìn chung, ngành nông nghiệp giữ vai trò quan trọng việc bảo đảm
an ninh lương thực và trong cơ cấu kinh tế, tuy nhiên chỉ chiếm tỷ trọng18,7% tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế Do phát triển cơ sở hạ tầng,khu dân cư nên diện tích sản xuất nôg nghiệp giảm dân qua từng năm, tuy nhiênnhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nên các loại cây trồng, vậtnuôi đều có hiệu quả và ổn định, năng suất luôn đi đầu trong toàn huyện
+Lĩnh vực trồng trọt: Diện tích đất canh tác sản xuất các loại câytrồng gồm: cây hành năm như đất trồng lúa 467,6ha (thực tế làm lúa399,65ha; còn lại chuyển sang trồng các loại cây rau màu hoặc chuyển đổinuôi cá) Cây lâu năm, cây ăn quả: 193,94ha; cây lâm nghiệp (trồng rừng)1640,77ha; cây công nghiệp như cây cao su 176ha Ngoài ra có các mô hìnhtrồng cây cảnh và đang thực hiện mô hình trồng rau an toàn
Tổng số hộ nghèo (mức thu nhập dưới 400.000đ/tháng/người) hiện có
357 hộ (tại thời điểm điều tra có 357/2719 hộ) chiếm tỷ lệ 13,12%
Cơ cấu lao động: Khảo sát, thống kê tổng số lao động trong độ tuổicủa xã 6949 người, chiếm tỷ lệ 47,23% Trong đó lao động có việc làm ổn
Trang 17định khoảng 6500 người, lao động thiếu việc làm hoặc thất nghiệp khoảng
154 người, còn lại đang đi học
Cơ cấu lao động làm việc (%) theo các lĩnh vực Nông nghiệp TTCN,xây dựng -thương mại, dịch vụ, vận tải được tính theo tỷ lệ tươngứng: 44,26% - 25,35% - 24,87%
Lao động phân theo trình độ chuyên môn: trong 6949 người laođộng, chỉ có khoảng 1.184 Người lao động đã qua đào tạo chuyên môn,
-Trong nhiều năm qua, để nâng cao đời sống cho người lao động đượcĐảng bộ, chính quyền xã rất quan tâm, thông qua các nguồn vốn vay tíndụng, ưu đãi của các hội đoàn thể để giải quyết công ăn việc làm cho nhiềungười dân Số vốn vay hàng năm bình quân hơn 2 tỷ đồng
- Địa bàn xã có 2 Hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp, cơ cấugồm 17 đội sản xuất và 25 tổ chuyên môn với 1552 hộ xã viên nông nghiệp
và hơn 1950 lao động hoạt động có hiệu quả Có 14 doanh nghiệp tư nhânhoạt động bằng các hình thức như xây dựng, vận tải, nông lâm kết hợp vàcác dịch vụ khác …
Có 2 trang trại VACR, nuôi heo kết hợp nuôi cá, làm vườn và trồngrừng, với diện tích mỗi trang trại từ 6-10 ha Hiện có 4 trang trại nông lâmkết hợp với diện tích mỗi trang trại từ 80 đến 150 ha Hàng năm giải quyếtđược công ăn việc làm cho nhiều người lao động lúc nhà rỗi Đặc biệt là môhình trồng cao su hiện nay nhiều hộ bước đầu đi vào thu hoạch mũ có hiệuquả kinh tế cao
1.1.3.2 Về văn hóa - xã hội - môi trường
- Giáo dục : Hằng năm tổ chức huy động học sinh đến trường đúng
độ tuổi bậc mầm non đạt tỷ lệ >95%, bậc tiểu học đạt 100%, bậc THCS đạt
> 95 % Việc phổ cập giáo dục Trung học cơ sở luôn đạt chuẩn theo sự chỉđạo của ngành dọc là đạt 100%
Trang 18- Y tế : Trạm Y tế xã từ năm 2006 đến 2010 đạt chuẩn quốc gia giai
đoạn 2 về nhân sự cũng như các trang thiết bị Những do có dự án xây dựngtrạm y tế mới của tỉnh nên hiện nay đang còn xây dựng theo hướng đạtchuẩn, được đầu tư trang thiết bị hiện đại, với phòng khám và giường bệnh,đến nay có 1 bác sĩ, 6 y sĩ và 2 nhân viên điều dưỡng Hàng năm trạm phốihợp cấp trên khám và phát thuốc miễn phí cho khoảng 10.000 đến 12.000lượt người, đồng thời kết hợp với UBND xã và Hội chữ thập đỏ vận độngcác đoàn y bác sĩ Bệnh viện trung ương Huế khám và điều trị miễn phí choniều người dân trên địa bàn
Song song với việc khám chữa bệnh, trạm y tế không ngừng đẩy mạnhcuộc vận động, tuyên truyền người dân tham gia các hình thức bảo hiểm.Nhờ vậy lượng người tham gia các hình thức bảo hiểm y tế khá cao, chiếm
tỷ lệ 55% dân số toàn xã Điều này cho thấy người dân tại đây dần dần có ýthức cao trong việc bảo vệ sức khoẻ bản thân và gia đình
- Văn hóa: Toàn xã được chia thành 8 thôn, thực hiện cuộc vận động của
Trung ương Mặt trận về xây dựng phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa ở khu dân cư”; 8/8 thôn đã đăng ký thực hiện xây dựng phong trào này, đếnnay đã có 2/8 thôn được công nhận đạt chuẩn thôn văn hoá, chiếm tỷ lệ 25%
Các lễ hội mang tính thuần phong mỹ tộc tại địa phương vẫn duy trì,như tế lễ tại Đình Làng An Nong vào ngày 22 tháng 12 âm lịch hàng năm,
để cầu cho mua thuận gió hoà, con cháu của Làng làm ăn phát đạt…
- Môi trường: Những năm trước đây nhân dân trong xã sử dụng nước
sinh hoạt chủ yếu bằng nguồn nước song Nong và giếng đào và giếng khoan
Từ năm 2005 được nhà nước đầu tư hệ thống nước sạch từ khu công nghiệpPhú Bài thì nhân dân phần nhiều đã sử dụng nước máy, một số hộ sử dụ
Công tác thu gom, xử lý rác thải hết sức khó khăn, do không có xevận chuyển đi gom rác, ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưa cao,
Trang 19còn vức rác bừa bãi, đặc biệt là khu vực Chợ Nong Hiện nay Sông Nong làđoạn cuối của dòng chảy từ Hồ chứa Truồi đỗ về, tuyến kênh này băng quacác xã Lộc Hòa, Lộc An, Lộc Sơn do đó khối lượng rác trôi về Sông Nongrất lớn gây ô nhiễm nặng.
Một số hộ làm chuồng trại chăn nuôi chưa hợp vệ sinh; rãnh thoátnước và hố xử lý nước thải trong thôn, xóm chưa được quan tâm…
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh chiếm 90%, trong đó hộ sủ dụngnước máy 1745 hộ chiếm tỷ lệ 64,2%; sử dụng nước giếng đào hoặc giếngkhoan chiến khoảng 28,8%
Tỷ lệ hộ có 3 công trình hợp vệ sinh chiếm 35,1% (hấu hết là ở Bến Ván)
Tỷ lệ hộ chăn nuôi hợp vệ sinh ước tính: 56,25%
Đất nghĩa trang: Trên địa bàn xã có quy hoạch 3 khu vực nghĩa trang,
đã ban hành Nội quy bảo vệ Tuy nhiên vấn đề chôn cất mồ mã vẫn chưa đivào nề nếp, đa phần là người dân tự ý chôn cất
- Hệ thống tổ chức chính trị xã hội
Hệ thống chính trị xã, gồm: Một Đảng bộ có 14 chi bộ trực thuộc, với
120 đảng viên.Trong đó có 1 Chi bộ quân sự, 8 chi bộ thôn, 5 chi bộ trườnghọc Kết quả đánh giá, phân loại Đảng bộ, chính quyền của xã trong 3 nămgần nhất: Đảng bộ trong sạch vững mạnh nhiều năm liền; chính quyền vàcác đoàn thể luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ
Uỷ ban nhân dân xã: Thực hiện mô hình “Một cửa” liên thông về cảicách hành chính, hoạt động có nề nếp Trình độ cán bộ, công chức khôngngừng được nâng cao Gồm 37 người, trong đó cán bộ chuyên trách 12 người,công chức 8 người, không chuyên trách và hợp đồng 17 người Trong đó:
* Tốt nghiệp đại học: 4 người
* Đang học đại học 2 người
* Tốt nghiệp trung cấp: 10 người
Trang 20* Tốt nghiệp sơ cấp và được bồi dưỡng: 5 người
* Tốt nghiệp trung học phổ thông: 14 người
* Chưa tốt nghiệp trung học phổ thông 2 người
Về trình độ chính trị: Cao cấp 01 người, trung cấp 14 người
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã và các đoàn thể: Hàng năm tổchức tốt các phong trào hoạt động, thực hiện tốt công tác phối hợp vận độngtuyên truyền, hàng năm đều hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp huyện giao
* Khối Mặt trận: có 8 Ban công tác Mặt trận thôn
* Hội Nông dân: có 8 chi hội
* Hội LHPN: có 8 chi hội
* Hội Cựu chiến binh: có 5 chi hộ trực thuộc
* Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: có 12 chi đoàn trực thuộc
So với tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Chưa đạt
- An ninh, trật tự xã hội
Tình hình trật tự xã hội, an ninh trên địa bàn cơ bản ổn định Tuynhiên vẫn còn tiềm ẩn những tệ nạn và trật tự an toàn xã hội Trong năm
2010, trên địa bàn xã không xảy ra trọng án, khiếu kiện đông người, không
có tệ nạn mại dâm; về tiêm chích, sử dụng ma tuý
1.1.4 Đánh giá tiềm năng của xã.
1.1.4.1 Thuận lợi
Với vị trí địa lý của xã có đường Quốc lộ 1A đi ngang, kết nối với các
đô thị như thị xã Hương Thủy và đô thị La Sơn trong tương lai, thuận tiệntrong việc trao đổi mua bán các sản phẩm
Xã vừa có vùng đồng bằng và gò núi thuận tiện trong việc trồng lúanước và phát triển trồng rừng và các cây công nghiệp, phát triển các ngànhngề TTCN, dịch vụ; góp nguồn nước mặt phong phú để nuôi các nước ngọt
Trang 21Xã Lộc Bổn có diện tích đất tương đối lớn, đất có độ phì tự nhiên cao,khả năng thấm và giữ nước tốt, có nguồn nước mặt và nước ngầm dồi dàorất thuận tiện cho phát triển nhiều loại cây trồng đặc biệt là các loại cây côngnghiệp, cây công nghiệp ngắn ngày, cây lâm nghiệp, cây thực phẩm, màu …thuận tiện cho phát triển chăn nuôi thủy sản.
Về văn hóa, là xã có điều kiện để nâng cao trình độ dân trí, luôn quantâm để phục hồi những truyền thống văn hóa, xây dựng lại các cơ sơ văn hóacủa làng, họ tộc
Về xã hội, là xã có truyền thống cách mạng, được Nhà nước phong tặngAnh Hùng lực lượng vũ trang, có hệ thống chính trị vững mạnh, an ninh nôngthôn khá tốt Có đủ điều kiện để khai thác các tiềm năng lợi thế của địa phương
Lực lượng lao động dồi dào, nhân dân có truyền thống cần cù chịukhó trong lao động, sản xuất, tinh thần tự lực, tự cường cao
Trình độ dân trí không đồng đều, chưa dám mạnh dạn đầu tư vào một số
mô hình kinh tế có hiệu quả và khá thích hợp với địa phương vào mở rộng sảnxuất nên việc phát triển kinh tế hiện tại và trong tương lai còn gặp nhiều hạn chế
1.1.5.Những đặc điểm điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới trong gia đình
Ảnh hưởng tích cực:
- Đối với vùng nông thôn xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh, ThừaThiên Huế nói chung cũng như thôn Thuận Hóa nói riêng là một vùng sốngchủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp nhưng cũng chuyển biến tích cực về
Trang 22cách nhìn nhận sự phân công lao động theo giới giữa nam giới và nữ Với hệthống sông ngòi nhiều giúp cho việc sản xuất lúa, và các loại cây trồng khácđem lại hiệu quả kinh tế cao.
- Người dân nơi đây cần cù, chịu thương, chịu khó không ngại giankhổ làm việc chăm lo cho gia đình và các con có cuộc sống ổn định, nhất làngười phụ nữ
- Khí hậu phân bố hai mùa mưa, nắng rõ rệt giúp trong việc sản xuấtnông nghiệp nhất là trồng lúa thuận lợi, mưa nắng không thất thường sẽgiúp thuận tiện trong việc gặt hái
Ảnh hưởng tiêu cực:
- Đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp lúa nước mà công việcnày cần nhiều sức lao động trong khi đó nam giới lại lao động chính là đi làm xanhà nên phụ nữ phải đảm nhận mọi công việc từ trong nhà ra ngoài ruộng
- Sản xuất nông nghiệp lúa nước đòi hỏi cần chịu cực khổ, mất nhiềuthời gian nên phụ nữ ít có cơ hội tham gia vào các hoạt động xã hội
1.2 Khái niệm
1.2.1 Khái niệm giới
Khi nghiên cứu và phân tích khái niệm “giới” ta phải đi từ khái niệm
“giới tính” để làm rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm này từ đó giúp ta hiểu
rõ hơn khái niệm “giới”
1.2.1.1.Giới tính
Là một thuật ngữ khoa học bắt nguồn từ bộ môn sinh vật học dùng đểchỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam và nữ Đó là sự khác biệt phổ thông vàkhông thể thay thế được Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới
Trang 23tính và đặc điểm này tồn tại trong suốt cuộc đời ( Đặng Cảnh Khanh – LêThị Quý, 2007).
1.2.1.2 Giới
Là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân loại học nói vaitrò trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồmviệc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích Giới đềcập đến các qui tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cánhân Vai trò giới được xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh vậthọc và có thể thay đổi theo thời gian, theo các xã hội và các vùng địa lý khácnhau Khi sinh ra chúng ta không mang theo những đặc tính giới mà chúng
ta học được những đặc tính giới từ gia đình, xã hội và nền văn hoá củachúng ta ( Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý, 2007)
1.2.2 Vai trò giới
Vai trò giới là những công việc và hoạt động cụ thể mà nam giới vàphụ nữ thực tế đang làm, thông thưòng đây cũng chính là công việc mà xãhội trông chờ ở mỗi cá nhân với tư cách là đàn ông hoặc đàn bà ( Đỗ ThịBình – Trần Vân Anh, 2007)
Theo quan niêm cá nhân em: Vai trò giới là chức năng mà mỗi conngười đang đảm nhận, thông qua những hành vi được thiêt lập một cáchkhách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội, của gia đình đối với nam và nữ đểthực hiện quyền và nghĩa vụ tương ứng với vị thế của họ trong gia đình vàngoài xã hội Vai trò của giới khác nhau theo từng môi trường và thay đổitheo thời gian và phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của xã hội
1.2.3 Nhu cầu giới
Nhu cầu giới là nhu cầu mà mỗi người có nguyện vọng, yêu cầu đượcđáp ứng để thực hiện tốt vai trò của mình Nhu cầu của nam khác nhu cầucủa nữ và do nhiều yếu tố khác nhau tạo thành Nhu cầu nảy sinh từ đời sống
Trang 24hằng ngày và thường góp phần củng cố phân công lao động theo giới ( TheoCaroline Moer, 1996).
Nhu cầu giới chia làm 2 loại: Nhu cầu giới thực tế và nhu cầu giớichiến lược
+ Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu có liên quan đến cải thiệnđiều kiện sống hiện tại nhưng vẫn duy trì mối quan hệ lệ thuộc của phụ nữvào nam giới
+ Nhu cầu giới chiến lược là những nhu cầu giúp cho người phụ nữthoát khỏi vị trí lệ thuộc, yếu kém làm thay đổi mối quan hệ bất bình đẳnggiữa nam và nữ
1.2.4 Gia đình
“Gia đình là một thiết chế xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thựchiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái Các mối quan hệ gia đình cònđược gọi là mối quan hệ họ hàng Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là của haingười dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi Những ngườinày cũng phải sống cùng với nhau” (Theo: Đặng Cảnh Khanh - Lê Thi Quý)
Mai Huy Bích: Không có định nghĩa phổ biến về gia đình do gia đìnhrất đa dạng theo thời gian và không gian “Gia đình là một nhóm người cóquan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau, thường chung sống và hợp tác
về kinh tế với nhau để thoả mãn nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của họ vềsinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và người ốm…Dạng phổbiến nhất cho tới hiện nay của gia đình gồm thành viên hai giới có con đẻhoặc con nuôi”
Định nghĩa của gia đình người Kinh Việt nam “Gia đình là một nhómngười có quan hệ hôn nhân,huyết thống với nhau, sống cùng với nhau”
1.2.5 Nông thôn
Có nhiều cách hiểu khác nhau về “nông thôn”
Trang 25“Nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu về một phân hệ xãhội có lãnh thổ xác định đã được hình thành từ lâu trong lịch sử Đặc trưngcủa phân hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo vớicác điều kiện địa lí tự nhiên ưu trội, với kiểu loại tổ chức xã hội phân tán vềmặt không gian Tuy nhiên, nông thôn có những đặc trưng riêng biệt của nó.Nông thôn phân biệt với đô thị bởi trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấpkém hơn, bởi thua kém hơn về mức độ phúc lợi xã hội, sinh hoạt Điều này,thể hiện rõ trong cơ cấu xã hội và trong lối sống của cư dân nông thôn Ởnông thôn, loại hình lao động kém đa dạng hơn (so với đô thị), tính thuầnnhất về xã hội và nghề nghiệp cao hơn Nông thôn là hệ thống độc lập tươngđối ổn định, là một tiểu hệ thống không gian xã hội Các thành phần cơ bảncủa nó đồng nhất với đô thị Nông thôn và đô thị hợp lại thành chỉnh thể xãhội và lãnh thổ (không gian) của cơ cấu xã hội” (V Staroverov, 1990: 214
T Nga; Tô Duy Hợp)
Khái niệm khác: Nông thôn còn là khái niệm chỉ những khu vực dân
cư sinh hoạt có hoạt động nông nghiệp thích ứng với hoạt động nông nghiệp
là một kiểu tổ chức sinh hoạt đặc thù của dân cư
Theo quan niệm của cá nhân em: Nông thôn là khái niệm chỉ vùng cưdân sống, sinh hoạt và hoạt động sinh tồn chủ yếu bằng nghề nông ( trồnglúa nước), cư dân sống tập trung theo đơn vị làng, xã, đoàn kết gắn bó vớinhau trong hoạt động sản xuất
1.2.6 Bất bình đẳng
Theo tác giả Lê Ngọc Hùng và các cộng sự “Bất bình đẳng là sựkhông ngang bằng nhau về các cơ hội hay lợi ích đối với các cá nhân khácnhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội”
Trang 26Một số tác giả cho rằng: Bất bình đẳng là khái niệm gắn với vị thế củamỗi cá nhân để chỉ ra sự khác nhau về mặt quyền lực, uy tín và những đặcquyền, đặc lợi gắn liền với quyền lực và uy tín ấy.
Theo quan niệm của cá nhân em: Bất bình đẳng là sự bất công, sựkhông công bằng về quyền lợi, việc ra quyết định, thiếu tiếng nói trong tất cảcác lĩnh vực trong đời sống hằng ngày
Bất bình đẳng là khái niệm rộng lớn, trong báo cáo này em chỉ giớihạn ý nghĩa của khái niệm ở việc phân công lao động, tiếp cận nguồn lực vàquyền quyết định của nam giới và nữ giới và những hệ quả nảy sinh từ vấn
- Công tác xã hội còn là dịch vụ xã hội đã được chuyên môn hoá, gópphần giải quyết những vấn đề về xã hội, về con người mang tính bức xúc nhằmthoả mãn các lợi ích căn bản của những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội; mặtkhác, góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình
- Theo quan niệm của cá nhân em: Công tác xã hội là hoạt động nhằmhướng đến những cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế để nhằm mục đích giúp
họ vượt qua khó khăn trước mắt và nâng cao kĩ năng, kiến thức để họ tự bảo
vệ chính mình khi có tình huống tương tự xảy ra, giúp họ tự đứng vữngkhông phụ thuộc vào NVCTXH
1.2.8 Bình đẳng giới
Trang 27“Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điềukiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, củagia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
( Theo Điều 5 Khoản 3 Luật Bình đẳng giới).Theo quan niệm riêng của cá nhân em: Bình đẳng giới là sự ngang bằngnhau không có sự phân biệt, đối xử giữa nam và nữ.Nam, nữ ngang nhau trongcác hoạt đông, về quyền lợi và nghĩa vụ trong cuộc sống hằng ngày
1.3 Các lý thuyết
1.3.1 Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là một cảm giác thiếu hụt cái gì đó mà con người cảm nhậnđược, Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối của con người càng cao
Nhu cầu là một phần quan trọng của bản thân mỗi người Mọi giá trị,niềm tin, tập tục của con người là khác biệt tuỳ theo từng quốc gia hay từngnhóm người, tuy nhiên tất cả mọi người có những nhu cầu chung giống nhau
Năm 1943 nhà tâm lý học Abraham Maslow ( 1908 – 1970) đã pháttiển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộngrãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực bao gồm cả lĩnh vực giáo dục đó là
“lý thuyết về thang bậc nhu cầu” của con người Trong lý tuyết này ông sắp xếpcác nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó các nhucầu cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở cấp độ thấp hơn phải được thoảmãn trước
Trong thời đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu củacon người theo 5 cấp bậc:
- Nhu cầu cơ bản
- Nhu cầu an toàn
- Nhu cầu xã hội
- Nhu cầu được tôn trọng
Trang 28- Nhu cầu thể hiện mình
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thể hiện qua tháp nhu cầu theocấp bậc từ dưới lên:
Sơ đồ 1:Tháp nhu cầu của Maslow
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý như thức ăn, nướcuống, mặc, sinh học… những nhu cầu nàu được gọi là nhu cầu thiếu hụt vìnếu con người không có đủ những nhu cầu này họ sẽ đấu tranh để có được
nó để bù đắp sự thiếu hụt
Các nhu cầu cao hơn gọi là nhu cầu bậc cao hay nhu cầu hiện hành.Những nhu cầu này bao gồm sự an toàn, công bằng, sự kính trọng và đượckhẳng định bản thân mình( là nhu cầu cao nhất của con người) Các nhu cầu
cơ bản thông thường bao giờ cũng dược ưu tiên hơn những nhu cầu này
Trang 29Ví dụ: Một người nếu thiếu thức ăn, nước uống sẽ không bao giờiquan tâm đến sự công bằng hay vẻ đẹp.
Hạn chế của lý thuyết:
- Đôi khi những nhu cầu của con người không theo nhu cầu thứ bậccủa Maslow
- Không lí giải được những hành động theo bản năng
- Hệ thống nền tảng nhu cầu của con người dựa trên nền tảng nhu cầunhất định
- Nhu cầu của con người cũng phụ thuộc vào điều kiện, phương thứcsinh hoạt của gia đình và xã hội
Là con người, phụ nữ và nam giới có những nhu cầu giống nhau như
ăn, mặc, ở và học hành Tuy nhiên, với tư cách là một giới, phụ nữ có thể cónhững nhu cầu khác nam giới Nhu cầu của nữ giới thường là thiết thực vàgắn bó với gia đình do họ là những người chủ yếu thực hiện vai trò tái sảnxuất Trong khi đó nhu cầu của nam giới thường trừu tượng và gắn bó vớicông việc
Như vậy, để thực hiện bình đẳng giới thì chúng ta cần tìm hiểu nhữngnhu cầu mà mỗi giới đang cần đáp ứng
Tuy nhiên người có công lớn trong lý thuyết hành động xã hội là MaxWeber nhà xã hội học, triết học, kinh tế học, sử học , một trong những nhà lýluận có ảnh hưởng lớn nhất khi những tranh luận xung quanh luận điểm của
Trang 30ông chưa bao giờ chấm dứt Luận điểm lớn nhất của ông đã có ảnh hưởngđến tư duy khoa học từ khi ra đời đến nay đó là mối liên hệ giữa yếu tố tôngiáo với kinh tế thông qua luận giải trong tác phẩm lớn nhất “Nền đạo đứctin lành và tinh thần Chủ nghĩa tư bản” Một trong những lý thuyết quantrọng nữa mà Weber để lại đó là ông xác định đối tượng nghiên cứu xã hộihọc là hành động xã hội, một sự mở rộng đầy ý nghĩa cho xã hội khi mốiquan tâm của nó sâu sắc hơn về con người chứ không ở khía cạnh xã hội nhưtrước đây.
Một trong những người nghiên cứu và đưa học thuyết của Weber đếnBắc Mỹ là T Pason Ông chịu ảnh hưởng của Weber xem cốt lõi của mọihành động xã hội là ý nghĩa Theo Pason thì lý thuyết hành động xã hội baogồm các yếu tố sau đây:
- Chủ thể hành động là những cá nhân
- Các chủ thể theo đuổi các mục đích
- Chủ thể phát triển các phương tiện khác nhau để đạt mục đích
- Chủ thể đối mặt với những hoàn cảnh khác nhau, những hoàn cảnhgây tác động đến lựa chọn mục đích và phương tiện
- Chủ thể bị điều khiển bởi các giá trị và chuẩn mực tác động đến lựachọn mục đích và phương tiện
Điểm căn bản trong lý thuyết này là sự phân biệt giữa hành vi và hànhđộng xã hội
Trước hết bất cứ hành động xã hội nào của con người cũng đều làhành vi, nhưng không phải tất cả các hành vi đều được gọi là hành động xãhội Hay nói cách khác khi hành vi mang tính xã hội thì lúc đó sẽ trở thànhhành động xã hội
Hành vi là những phản ứng máy móc của con người để đáp trả khi cómột tác động, ví dụ khi dùng kim đâm vào tay thì chúng ta có phản ứng rụt
Trang 31tay lại, việc rụt tay một cách nhanh chóng đó của con người chính là phảnứng đáp trả tác động của kim đâm vào cơ thể gây ra cảm giác đau.
Hành động xã hội trước hết nó là hành vi cụ thể của cá nhân hoặcnhóm, nhưng hành vi đó mang một giá trị , một ý nghĩa và hướng đến mộtđối tượng khác, đó chính là lúc hành vi đó mang tính xã hội Hành động xãhội mang tính duy lý, tức là cá nhân căn cứ váo những giá trị chuẩn mực xãhội để điều chỉnh hay tiếp nhận khi hành động
Trong gia đình hiện nay sự phân công lao động cũng như các mốiquan hệ giới vẫn còn chịu ảnh hưởng của quan niệm truyền thống “ trọngnam khinh nữ”, điều đó tạo nên bất bình đẳng giới cho phụ nữ Do đó, chúng
ta cần hành động để loại bỏ tư tưởng đó, nâng vai trò, vị thế của phụ nữtrong gia đình cũng như ngoài xã hội
1.3.3 Lý thuyết nữ quyền
Ra đời vào khoảng giữa thế kỉ XIX, thuyết nữ quyền cũng giống nhưcác học thuyết triết học, xã hội học đã có nguồn gốc tồn tại từ hàng nghìnnăm nay nhưng lại chỉ thực sự phát triển rực rỡ trong những điều kiện của xãhội hiện đại Điều đặc biệt là hầu hết những đại biểu của thyết nữ quyền thời
kì đầu tiên đều là phụ nữ trong khi đại biểu của các học thuyết triết học và
xã hội học là nam giới (sau này có rất nhiều nhà nữ quyền là nam giới cũngnhư có nhiều nhà triết học, xã hội học là phụ nữ)
1.3.3.1.Thuyết nữ quyền tự do
Từ thế kỉ XIX, các tác phẩm kinh điển của thuyết này là “Sự bị trị củaphụ nữ” của Mary Wollstonnecraft và một số các tác phẩm khác đã tạo ralàn sóng tranh luận giữa nữ quyền và nam quyền trong xã hội học, triết học
Quan điểm của các nhà nữ quyền theo thuyết này là vận động quyềnbình đẳng và cơ hội bình đẳng của phụ nữ Dựa theo quan điểm: “Tự do,bình đẳng, bác ái” của giai cấp tư sản trong Cách mạng tư sản Pháp
Trang 32Theo họ sự kém phát triển của phụ nữ hiện nay là tình trạng kém pháttriển của xã hội mà không phải từ sự yếu kém của phụ nữ Trước hết phụ nữ
bị trói buộc vào tập quản và pháp lý.Phụ nữ không được học hành như namgiới và bị giam hãm trong các công việc gia đình Những trói buộc này đãngăn cản phụ nữ tham gia và thành công trong xã hội Chế độ nam quyền đãcấm phụ nữ đi học… Do vây, phụ nữ ít có cơ hội phát huy và thể hiện trí tuệcủa mình và vì vậy trí tuệ của họ bị coi là thấp hơn nam giới
Các nhà nữ quyền tự do còn cho rằng: Nghèo đói là một nguyên nhânquan trọng làm cho hầu hết phụ nữ nghèo không được bình đẳng với nam giới
Trong xã hội nam quyền, phụ nữ cũng không có tự do trong tình dục
và sinh sản mà ngược lại họ bị phị thuộc hoàn toàn vào nam giới
Nhóm nữ quyền đã đưa ra một số giải pháp để giải phóng phụ nữ:
- Chìa khoá để thay đổi xã hội là đổi mới sụ phân công lao động giađình cho phụ nữ trong đó có việc phát triển các dịch vụ gia đình nhà giữ trẻ,trường mấu giáo… để làm giảm bớt gánh nặng cho phụ nữ Đây là tráchnhiệm của xã hội, nhà nước, chủ các xí nghiệp
- Chính phủ và nhân dân phải sử dụng pháp luật để xoá bỏ phân biệt,đối xử với phụ nữ
- Bình đẳng giới phải đi từ tư tưởng đến pháp luật, lối sống, đạo đức Làmột con đường toàn diện mà các nhà nữ quyền tự do đã cố gắng vạch ra đểhướng tới việc nâng cao vị thế và cải thiện chất lượng cuộc sống cho phụ nữ
1.3.3.2 Thuyết nữ quyền mácxit
Theo quan điểm của Mac- Ăng ghen: Sự hình thành của gia đình, chế
độ tư hữu nhà nước, các nữ quyền theo xu hướng này đã tranh luận về sự ápbức phụ nữ bắt nguồn từ việc nảy sinh chế độ tư hữu, sự đổi ngôi từ vị trí làchủ (mẫu hệ) của phụ nữ sang vị trí phụ thuộc ( phụ quyền) khi gia đình ra
Trang 33đời Theo họ công cuộc giải phóng phụ nữ phụ thuộc vào mức độ tham giacủa chính phụ nữ vào nền sản xuất với hình thức lao động trả công.
Theo quan điểm của phái nữ quyền này, trong xã hội có giai cấp nếunam giới chịu sự áp bức của giai cấp, chủng tộc thì phụ nữ không nhữngcũng phải chịu như vậy mà họ còn phải chịu thêm sự áp bức về giới Vì vậy,bất bình đẳng giới về chủng tộc, giai cấp và giới luôn hoà vào nhau vàcuộc đấu tranh chống ba hình thức áp bức này cần phải được tiến hành đồngthời, muốn giải phóng, hệ thống tư bản chủ nghĩa phải được thay thế bằngmột hệ thống xã hội trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi người và chỉ cónhư vậy trong xã hội mới không còn hiện tượng con người bị bóc lột, bị phụthuộc, phụ nữ được tự do về kinh tế đối với nam giới và do đó sẽ bình đẳngvới nam giới
1.3.3.3.Thuyết nữ quyền cấp tiến ( Radical Fenimism)
Quan điểm chính của thuyết này là: hệ thống nam trị là căn nguyêncủa áp bức phụ nữ Đây là một hệ thống riêng biệt với các chính quyền kể cảchính quyền tư sản Phụ nữ là một gia cấp khác với nam giới và chính hệ thốngnam trị đã tồn tại từ thời chiếm hữu nô lệ tới nay mặc dù cơ chế chính trị cóthay đổi theo họ đây là một hệ thống quyền lực, tôn ti thứ bậc và cạnh tranh.Cần phải xoá bỏ nó mà không thể cải cách vì xét về bản chất nó đã bắt rễ rấtsâu vào xã hội
Về mặt lịch sử, phụ nữ là nhóm bị áp bức đầu tiên và rất sâu sắcnhưng cả nạn nhân và nhưng người gây ra đều không nhận ra vì nó tồn tạikhông chỉ trong xã hội mà còn trong gia đình, nơi có những quan hệ đặc biệt
và thân thiết Quan điểm của lý thuyết này là xoay quanh vai trò giới củaphụ nữ đặc biệt là vai trò sản xuất và tính dục Nữ quyền cấp tiến đã phảnđối quan điểm sinh ra là phận con gái và phụ nữ không phải chịu mọi sự bấtcông vì sự khác biệt giới tính bởi lẽ họ không hề chọn được giới tính cho mình
Trang 34Chính bản thân người phụ nữ phải vượt qua những hậu quả tiêu cực về sinhhọc đối với họ và giải phóng chính mình.
Hạn chế lớn nhất của người phụ nữ là giành quá nhiều thời gian choviệc sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái Trong khi đó nam giới đánh giá thấpnhững phẩm chất nữ và chính điều này đã sản sinh ra sự áp bức phụ nữ
Phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi cho việc sinh đẻ nên các nhà nữ quyềncấp tiến đã cổ vũ cho việc phụ nữ cần chủ động trong đời sống tình dục củamình để được giải phóng, thông qua chế độ sống độc thân, lấy chồng nhưngkhông sinh đẻ Quan điểm này đã bị các trường phái khác phê phán Mặc dùvậu, nhiều quan điểm đúng đắn của họ đã làm nên uy tín của họ trong các họcthuyết nữ quyền
1.3.3.4 Thuyết nữ quyền hiện sinh ( Existentialist Feminsm)
Cho rằng phụ nữ bị áp bức bởi tính chất “ là người khác” nghĩa làkhông phải là nam giới Nam giới là cái “tôi”, là người tự do và quyết địnhmọi việc Phụ nữ là “một nửa của anh ta” Nếu phụ nữ muốn trở thành cái
“tôi” giống như nam giới thì phải thay đổi các định nghĩa, các nhãn hiệu vốn
đã hạn chế sự tồn tại của họ Nam giới có quyền hành và được tự chủ trong
xã hội nên họ coi họ là cái “tôi” và gọi những người khác là “người khác”
Đây là quan điểm cơ bản nhất của chủ nghĩa hiện sinh khi cho rằngđời sống ngắn ngủi, con người cần biết đến hiện tại mà không cần đến quákhứ và tương lai Chủ nghĩa cá nhân cao độ của thuyết hiện sinh, cộng thêmquyền lực của nam giới đã khiến cho sự áp bức của phụ nữ càng sâu sắc hơn.Người phụ nữ bị áp bức chính vì họ bị coi là “một nửa” là “người khác”, làkhách thể đối với nam giới Nếu phụ nữ muốn trở thành cái “tôi”, chị ta phảithay đổi định nghĩa, biến đổi cái “tôi” của nam giới thành cái “tôi” của mình
Bà kêu gọi mọi người hãy suy nghĩ về phụ nữ giống như nghĩ về nam giớinghĩa là phụ nữ phải được bình đẳng với nam giới
Trang 35Kết luận của De Beauvoir người đầu tiên nói “Phụ nữ không phải chỉđược sinh ra mà họ cần phải được tôn trọng”
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH
NÔNG THÔN Ở THÔN THUẬN HÓA HIỆN NAY
2.1 Tình hình bình đẳng giới ở Thừa Thiên Huế
Thực hiện các chủ trương , chính sách của nhà nước về bình đẳnggiới, lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế đã chỉ đạo các cơ quan ban nghành, đặcbiệt hội LHPN tỉnh tạo mọi điều kiện đẩy mạnh sự phát triển của phụ nữnhằm nâng cao vị trí chính trị xã hội của nữ giới, thực hiện bình đẳng giới.Các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho phụ nữ được tăng cường Công tácchăm lo và bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp cho nữ giới được các cơ quanban ngành quan tâm Tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động chính trị xã hội giatăng Toàn tỉnh có 1105 đảng viên nữ (chiêm tỷ lệ 40,6%) , có 53 chị là tiến
sỹ , thạc sỹ la 532 chị Các chị có trình độ đại học và cao đẳng là 9687 chị.Các cơ quan ban ngành trong tỉnh nêu cao khẩu hiệu vì sự tiền bộ phụ nữ vàbình đẳng giới Do đó, nữ giới có nhiều cơ hội phát huy vai trò, năng lực củamình hơn
Tuy nhiên, sự giải phóng phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ Huếnói riêng mới chỉ dừng lại ở những cái mà cơ chế chính sách mang lại, chưavào sâu được đời sống gia đình Trong đời sống gia đình, bất bình đẳng giớivẫn đang tồn tại Đặc biệt trong các gia đình ở Huế, nơi còn mang nặngnhững tư tưởng của chế độ phong kiến, các hiện tượng bất bình đẳng giớivẫn diễn ra hàng ngày Thế nhưng điều này lại được ít người thừa nhận
Trang 36Dường như sự bình đẳng giới trong gia đình rất ít được chú ý, cuộc sốnggiữa hai giới trong gia đình từ bao đời nay vẫn vậy, ít có sự thay đổi.
2.2 Bình đẳng giới trong gia đình ở thôn Thuận Hóa
2.2.1 Tình hình bình đẳng giới trong gia đình ở thôn Thuận Hóa trước đây:
Trước đây vai trò của người phụ nữ được quy định bởi “tam tòng” (tạigia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) và “tứ đức” (công, dung,ngôn, hạnh) Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào chồng và không thể độclập đưa ra quyết định gì, đặc biệt hạn chế tham gia các hoạt động xã hội.Vấn đề bình đẳng giới trong gia đình ít được nhắc tới, người vợ vẫn giữ thóiquen “phục tùng” chồng
2.2.2 Các giải pháp đã thực hiện
Từ khi luật hôn nhân và gia đình ra đời, vai trò của người phụ nữ đượcnâng lên, đặc biệt trong thời gian gần đây nhà nước đã ban hành nhiều chủtrương, chính sách phát triển vì sự tiến bộ và bình đẳng giới, nhất là từ khiluật bình đẳng giới ra đời (2006) Hưởng ứng chủ trương của nhà nước, lãnhđạo thôn cũng đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm thực hiện bình đẳng giới:
- Mở các lớp tập huấn về bình đẳng giới
- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào các chương trình hành độngcủa địa phương như chương trình dân số và sức khoẻ sinh sản…
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức về luật bình đẳng giới
- Hội phụ nữ thường xuyên quan tâm, theo dõi sự phát triển của chị em
2.2.3 Kết quả đạt được:
Trang 372.2.3.1 Nữ giới có cơ hội phát huy năng lực, nâng cao vai trò.
Chi hội phụ nữ thường tổ chức sinh hoạt lồng ghép toạ đàm, sinh hoạtcâu lạc bộ với nhiều nội dung chuyên đề như chăm sóc sức khoẻ sinh sản chophụ nữ, cách chăm sóc nuôi dạy trẻ, cách làm ăn…Qua đó nâng cao năng lực
và vai trò của phụ nữ Họ có nhiều cơ hội tham gia phát triển sản xuất và hoạtđộng xã hội
- Trong lao động sản suất tạo thu nhập cho gia đình:
Chị em được tạo cơ hội vay vốn ưu đãi, hướng dẫn cách làm ăn.Thôngqua các nguồn vốn vay (vốn xoá đói giàm nghèo), các chị có thêm vốn đểđầu tư cho chăn nuôi sản xuất, mở mang ngành nghề kinh doanh dịch vụbuôn bán Chị em phụ nữ được tham gia các lớp tập huấn hướng dẫn cáchlàm ăn, áp dụng khoa học kĩ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi, tham gia các lớpchăn nuôi lợn nạc,thâm canh đồng ruộng ……Từ kiến thức thu được các chị
đã đưa vào sản xuất chăn nuôi, gieo trồng Nhiều chị đã áp dụng sử dụngthức ăn công nghiệp vào chăn nuôi giống lợn siêu nạc để rút ngắn khoảngcách, nuôi được nhiều lứa mang lại hiệu quả kinh tế cao Một số chị có vốn,kiến thức, kỹ năng đã xây dựng quy mô chăn nuôi lớn trên 10 con lợnthịt,lợn nái từ 2 - 3 con,như chị Võ Thị Điệp.Các chị còn được tập huấn cáchhoạch toán kinh doanh,chi tiêu trong gia đình…Nhờ vậy mà chị em đã sửdụng và quản lý vốn vay có hiệu quả.Với nỗ lực của mình các chị đã đónggóp công sức tạo thêm nguồn thu nhập lớn cho gia đình,nhiều chị đã thoátnghèo,nhiều chị vươn lên làm giàu,mua sắm các trang thiết bị trong giađình,xây dựng và sửa chữa nhà cửa như chị Nguyễn Thị Thu Có thu nhậptương đối ổn định,chị em không còn bị phụ thuộc kinh tế vào người chồngnữa.Do đó quyền và vai trò của họ trong gia đình phần nào được củng cố
Phụ nữ thôn Thuận Hóa không chỉ được nâng cao năng lực trong laođộng sản xuất mà còn được tăng năng lực cho vai trò người nội trợ.Qua các
Trang 38buổi sinh hoạt với nội dung chăm sóc nuôi dạy trẻ,phòng chống các tệ nạn
xã hội….Các chị có thêm kiến thức cho việc chăm sóc gia đình, nuôi dạycon cái.Nhờ vậy mà các chị đã làm tốt thiên chức người mẹ,người vợ tronggia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc ấm no
Các chị còn được chồng con tạo điều kiện tham gia môt số hoạt động
xã hội:
- Tham gia vào bộ máy chính quyền
- Tham gia vào một số hoạt động xã hội như tham gia sinh hoạt trongcác câu lạc bộ,các hội thi,tham gia hiến máu tình nguyện Đóng góp các loạiquỹ do hội phụ nữ phát động như quỹ khuyến học,đền ơn đáp nghĩa…
- Chị em phụ nữ thôn Thuận Hóa cũng đã tham gia vào hoạt động đilàm ăn xa như đi Lào, Sài Gòn để tạo thu nhập cho gia đình Rõ ràng vai tròcủa người phụ nữ thôn Thuận Hóa hôm nay đã được nâng cao.Họ vừa thamgia sản xuất, vừa chăm sóc gia đình và tham gia các hoạt động xã hội.Vị trícủa họ trong gia đình và cộng đồng đã phần nào được ghi nhận:
“Chị em phụ nữ đã thể hiện được vai trò của mình trên tất cả các lĩnhvực.Các chị không chỉ làm tốt công việc gia đình mà còn đóng góp công sứcvào sự phát triển của địa phương” (chú Đức – văn hóa chính sách xã)
“Phụ nữ giữ vai trò rất quan trọng trong gia đình,là người động viênlớn nhất,là điểm tựa cho người đàn ông”( bác Lê Văn Chót – người dân thônThuận Hóa)
2.2.3.2 Người vợ được tăng quyền trong gia đình
Trước đây quyền sở hữu tài sản trong gia đình thường thuộc về ngườiđàn ông Từ các tài sản lớn như đất đai, nhà cửa đến các trang thiết bịtrong nhà đều do người chồng sở hữu, kể cả các khoản thu nhập trong giađình Điều này sẽ gây thiệt thòi cho phụ nữ khi ly hôn Hiện nay,trong nhiềugia đình, vợ chồng đã cùng nhau đứng tên sở hữu tài sản chung.Các khoản
Trang 39thu nhập được sử dụng có sự bàn bạc giữa hai vợ chồng Nhìn chung quyềnlợi của người phụ nữ trong gia đình phần nào được đảm bảo hơn.
2.2.3.3 Nữ giới đã có quyền tham gia vào các quyết định trong gia đình.
Trước đây quyền quyết định mọi vấn đề trong gia đình đều do namgiới đưa ra,người vợ chỉ làm theo,phục tùng mọi quyết định của chồng từnhững quyết định lớn tới những quyết định nhỏ như chi tiêu sinh hoạt tronggia đình Hiện nay khi mà phụ nữ không còn phụ thuộc hoàn toàn về kinh tếvới các ông chồng, địa vị của họ đã được nâng lên nên phụ nữ khá bình đẳngvới nam giới trong các quyết định của gia đình Đối với việc chợ búa hàngngày và việc ăn mặc, học hành của con cái phụ nữ quyết định tương đối tự
do Còn quyết định các khoản chi lớn và các quyết định quan trọng khác đều
có sự bàn bạc giữa 2 vợ chồng Kết quả điều tra ở bảng sau cho thấy người
vợ ít nhiều cũng có “ tiếng nói” trong những quyết định quan trọng thể hiện
ở phương án “ cả hai” cùng tham gia quyết định
Bảng 3: Ai quyết định các khoản chi tiêu sau?
Chi tiêu cho ăn
uống ,sinh hoạt
NamNữ
02(12,5%)
10 (62,5%)11(68,75%)
6 (37,5%)
3(18,75%)Chi tiêu lớn như
làm nhà,
NamNữ
5(31,25%)8(50%)
3(18,75%)0
8(50%)8(50%)Đầu tư cho sản
xuất
NamNữ
5(31,25%)4(25%)
3(18.75%)4(25%)
8(50%)8(50%)Theo điều tra cho thấy có tới 50% ý kiến của cả nam và nữ cho rằng
có sự bàn bạc giữa 2 vợ chồng trong những quyết định lớn.Đây có thể coi làmột bước tiến lớn trong việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình
2.2.3.4 Sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái đã được cải thiện.
Trang 40Trước đây khi mà tư tưởng trọng nam khinh nữ còn phổ biến,sự phânbiệt đối xử giữa con trai và con gái trong gia đình được thể hiện rõ ngay khiđứa con ra đời.Nếu đứa bé ra đời là con trai sẽ được cả họ chào đón ănmừng,còn nếu là con gái thì chỉ có thái độ thờ ơ.Hiện nay tuy trong các giađình,cách đối xử giữa con trai và con gái chưa hoàn toàn bình đẳng nhưng
đã có sự rút ngắn khoảng cách đáng kể.Đứa trẻ sinh ra dù là trai hay là gáicũng đều nhận được sự yêu thương chăm sóc của gia đình.Đến tuổi đi họccác em đều được tạo điều kiện học tập như nhau.Lớn lên,tuy chịu tác độnglớn của bố mẹ trong định hướng nghề nghiệp và quyết định hôn nhân,nhưngcảcon trai và con gái đã có thể tự quyết định tương lai của mình
2.2.3.5 Một bộ phận nhỏ nam giới đã biết chia sẻ việc nhà với vợ
Tuy chỉ có một bộ phận nhỏ nam giới(5-10%) chia sẻ công việc nộitrợ với người phụ nữ nhưng đó cũng là dấu hiệu cho thấy việc tuyên truyềnnam giới chia sẻ công việc nhà với vợ đã có chút hiêu quả.Bởi vì vùng đấtnày từ trước tới nay rất hiếm khi đàn ông nhúng tay vào việc bếp núc
Nhìn chung,bình đẳng giới trong gia đình ở Thuận Hóa hiện nay đã cónhững bước tiến đáng kể, góp phần nâng cao vai trò,vị trí của người phụnữ,vì sự tiến bộ của nữ giới.Tuy nhiên, bình đẳng giới trong gia đình cũngcòn quá nhiều bất cập
2.2.4 Những hiện tượng bất bình đẳng giới trong gia đình thôn Thuận Hóa
Qua điều tra, có tới hơn 70 % người được hỏi cho rằng không cònhiện tượng bất bình đẳng giới trong gia đình hoặc là ở mức độ không đángkể,đó cũng là quan điểm của không ít cán bộ địa phương.Nhưng khi đi vàođiều tra thực tế cho thấy bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong cuộc sống hàngngày của các gia đình ở Thuận Hóa.Song những hiện tượng bất bình đẳng đó
ít được chú ý, nó được nhiều người chấp nhận như một phần tất yếu của cuộc