- Theo Tác giả Chu Ngọc Mai đề cập trong Luận văn thạc sĩ Thu – Chi BHXH thành phố Hà Nội 2009 có thể hiểu một cách khái quát BHXH Từ điển Bách Khoa Việt Nam là: BHXH là sự đảm bảo thay
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
-
NGUYỄN HỒNG HOAN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI KHỐI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ - TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn kinh tế này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu đƣợc sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn chính xác và có nguồn gốc rõ ràng
Học Viên
Nguyễn Hồng Hoan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn tôi, TS Trần Văn Túy, người đã tận tình hướng dẫn và cho tôi những ý kiến định hướng quý báu giúp tôi thực hiện Luận văn
Tôi gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong phòng Quản lý Đào tạo sau đại học, các thầy giáo, cô giáo và toàn thể cán bộ Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã dìu dắt tôi, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, những kiến thức rất bổ ích để tôi áp dụng trong thực tiễn cũng như trong quá trình hoàn thiện Luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới BHXH tỉnh Bắc Ninh, BHXH huyện Quế Võ
đã tạo điều kiện cho tôi được đi học để nâng cao trình độ, động viên khích lệ
và cung cấp cho tôi những số liệu quý báu để hoàn thiện Luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới UBND huyện Quế Võ, Phòng Thống Kê huyện Quế Võ, Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội huyện Quế Võ, Chi Cục thuế Quế Võ, Liên Đoàn Lao động huyện Quế Võ, BHXH huyện Yên Phong đã cung cấp những số liệu quý báu giúp tôi hoàn thiện Luận văn
Tôi xin gửi lời biết ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ và ủng hộ trong suốt quá trình học tập vừa qua
Tôi xin hứa sẽ đem những kiến thức mà tôi đã học để xây dựng gia đình, xây dựng quê hương, đất nước
Học viên Nguyễn Hồng Hoan
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của Luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 5
1.1 Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội, công tác thu bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp ngoài quốc doanh 5
1.1.1 Khái niệm và bản chất của bảo hiểm xã hội 5
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội 9
1.1.3 Công tác thu bảo hiểm xã hội 9
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu bảo hiểm xã hội 24
1.1.5 Khái niệm và vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh 28
1.2 Cơ sở thực tiễn về bảo hiểm xã hội và công tác thu bảo hiểm xã hội 31
1.2.1 Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước 31
1.2.2 Kinh nghiệm của các địa phương trong tỉnh Bắc Ninh 34
1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn 35 Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
Trang 52.1 Câu hỏi nghiên cứu 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 36
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 37
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 37
2.2.4 Phương pháp chuyên gia 38
2.2.5 Khung phân tích 39
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 39
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI KHỐI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH 42
3.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Quế Võ 42
3.1.1 Vị trí địa lý 42
3.1.2 Địa hình, đất đai, khí hậu, thời tiết 42
3.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội của huyện Quế Võ 42
3.2.1 Tình hình dân số, lao động 42
3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 43
3.2.3 Tình hình phát triển của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Quế Võ 45
3.2.4 Đánh giá ảnh h ưởng của đặc điểm địa bàn nghiên c ứu có ảnh h ưởng đến công tác thu bảo hiểm xã hội 46
3.3 Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ 48
3.3.1 Vị trí chức năng của bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ 48
3.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ 48
3.3.3 Bộ máy tổ chức của Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ 50
3.3.4 Một số kết quả hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện Quế Võ 51
Trang 63.4 Thực trạng công tác thu bảo hiểm xã hội khối doanh nghiệp ngoài quốc
doanh ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 53
3.4.1 Tình hình tham gia bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 53
3.4.2 Tình hình tham gia bảo hiểm xã hội của lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 57
3.4.3 Tình hình thực hiện kế hoạch thu bảo hiểm xã hội 60
3.4.4 Tình hình nợ đọng bảo hiểm xã hội 61
3.5 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu bảo hiểm xã hội khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2006-2011 64
3.5.1 Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của người lao động và người sử dụng lao động 64
3.5.2 Tốc độ tăng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 65
3.5.3 Qui mô doanh nghiệp 67
3.5.4 Công tác thanh tra, kiểm tra của các cấp chính quyền 67
3.6 Đánh giá về công tác thu bảo hiểm xã hội khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh 69
3.6.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 69
3.6.2 Hạn chế và nguyên nhân 72
3.7 Phân tích WSOT 75
Chương 4: NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI KHỐI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH 77
4.1 Định hướng tăng cường công tác thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Quế Võ 77 4.2 Mục tiêu công tác thu bảo hiểm xã hội khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh đến năm 2020 78
4.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác thu bảo hiểm xã hội khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 79
Trang 74.3.1 Nhóm giải pháp về chính sách bảo hiểm xã hội 79
4.3.2 Nhóm giải pháp cho cơ quan bảo hiểm xã hội 82
4.3.3 Nhóm giải pháp cho người sử dụng lao động và người lao động 86
4.4 Kiến nghị 87
4.4.1 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 87
4.4.3 Kiến nghị đối với Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh 88
4.4.3 Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân huyện Quế Võ 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng số 3.1 : Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội huyện Quế Võ năm 2011 44Bảng số 3.2: Bảng tổng hợp DNNQD giai đoạn 2008 - 2011 45Bảng số 3.3: Bảng tổng hợp các đơn vị tham gia BHXH giai đoạn 2008 - 2011 54Bảng số 3.4 : Bảng tổng hợp tình hình lao động tham gia BHXH giai đoạn
2008 - 2011 58
Bảng số 3.6: Bảng tổng hợp nợ BHXH giai đoạn 2008 - 2011 62Bảng số 3.7: Bảng tổng hợp tiền nợ BHXH khối DNNQDgiai đoạn 2008 - 2011 63Bảng số 3.8: Danh sách các DNNQD nợ BHXH trên 4 tháng 64Bảng số 3.9: Bảng tổng hợp mức độ hiểu biết của chủ sử dụng lao động về
pháp luật BHXH đối với 76 DN điều tra 65Bảng số 3.10: Bảng tổng hợp thu nhập bình quân của người lao động tại 76
DN điều tra 66Bảng số 3.11: Tổng hợp điều tra số lao động tại 76 DNNQD 67Bảng số 3.12: Bảng tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra công tác thực hiện
Luật BHXH tại các DNNQD 68Bảng số 4.1: Dự báo số lượng DNNQD giai đoạn 2011 - 2020 78
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ tham gia BHXH khối DNNQD 55
Biểu đồ 3.2 Đồ thị tham gia BHXH khối DNNQD 55
Biểu đồ 3.3 Biểu đồ tốc độ tăng DNNQD tham gia BHXH 56
Biểu đồ 3.4: Biểu đồ lao động khối DNNQD tham gia BHXH 59
Biểu đồ 3.5: Biểu đồ tốc độ tăng lao động DNNQD tham gia BHXH 60
Biểu đồ 3.6: Tốc độ tăng số thu BHXH khối DNNQD giai đoạn 2009-2011 61
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù ở chế độ xã hội nào,
dù nền kinh tế phát triển hay đang hoặc kém phát triển cũng đều thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội (BHXH) và Bảo hiểm y tế (BHYT)
Ở nước ta chính sách BHXH được Đảng, Nhà nước quan tâm ban hành ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công và thường xuyên bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu thực tiễn đất nước, đảm bảo cuộc sống cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, với công cuộc đổi mới của Đảng hiện nay khối DNNQD ngày càng lớn mạnh, tỷ lệ thu BHXH, BHYT trong khối ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu quỹ BHXH Quế Võ là huyện có nhiều khu , cụm công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh nên số lượng DNNQD lớn
Trong những năm qua BHXH Quế Võ triển khai mở rộng đối tượng đã
có nhiều doanh nghiệp đóng BHXH cho người lao động góp phần vào thành
Tuy nhiên quá trình thực hiện chính sách BHXH đố i với khu vực DNNQD ở huyện Quế Võ còn nhiều hạn chế, thiếu sót, đang đặt ra vấn đề quan tâm cần giải quyết đó là:
- Việc phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khu vực ngoài quốc doanh còn yếu Tuy đây là khu vực có nhiều lao động, nhưng tỷ lệ tham gia BHXH còn quá thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của huyện
- Công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật
Trang 12không kịp thời, không đầy đủ BHXH cho người lao động và vấn đề giải quyết
nợ tồn đọng BHXH đang là một trong những bức xúc hiện nay
- Việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đổi mới phong cách phục
vụ của đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác thu BHXH và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thu BHXH bắt buộc còn chậm đổi mới
Những vấn đề trên, nếu không được quan tâm khắc phục sẽ tác động xấu đến toàn bộ hoạt động BHXH trên địa bàn huyện Quế Võ
Là người trực tiếp làm công tác thu BHXH ở địa phương , tác giả chọn
đề tài: "Hoàn thiện công tác thu Bảo hiểm xã hội khối DNNQD trên địa bàn huyện Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh " làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế đã nêu trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích , đánh giá thực trạng công tác thu BHXH khối DNNQD giai đoạn 2006-2011 ở địa bàn huyện Quế Võ, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH khối DNNQD trên địa bàn, đảm bảo phát triển sự nghiệp BHXH một cách bền vững
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về BHXH và công tác thu BHXH
- Phân tích, đánh giá thực trạng về công tác thu BHXH khối DNNQD, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, thiếu sót và những vấn đề đang đặt ra hiện nay trong công tác thu BHXH khối DNNQD trên địa bàn huyện Quế Võ
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH khối DNNQD trên địa bàn huyện Quế Võ giai đoạn 2011-
2015 và đến 2020
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đối tượng tham gia BHXH khối DNNQD trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.3 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu về công tác thu BHXH khối DNNQD trên địa bàn huyện Quế Võ giai đoạn 2006-2011, không đề cập đến thu BHXH khối HCSN, khối ngoài công lập, DNNN, DN có vốn ĐTNN, BHXH tự nguyện, thu BHYT và đối tượng thuộc lực lượng vũ trang
4 Những đóng góp mới của Luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn vì dựa trên cơ sơ đánh giá đúng thực trạng công tác thu BHXH khối DNNQD trên địa bàn huyện Quế Võ , từ đó đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH khối DNNQD trên địa bàn huyện Quế
Võ Đây là căn cứ có cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý , các cơ quan BHXH của huyện và cấp trên xây dựng chính sách và giải pháp tăng cường thu, chi BHXH một cách hợp lý và có hiệu quả trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kết quả nghiên cứu đề tài còn có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu trong nhà trường và các đối tượng khác có quan tâm
Trang 145 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm xã hội và công tác thu bảo hiểm xã hội Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác thu bảo hiểm xã hội khối doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Chương 4: Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu
bảo hiểm xã hội khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Quế
Võ - tỉnh Bắc Ninh
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC THU BẢO
HIỂM XÃ HỘI
1.1 Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội, công tác thu bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.1.1 Khái niệm và bản chất của bảo hiểm xã hội
1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội
Trong cuộc sống, để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu, con người phải lao động sản xuất để có thu nhập Tuy nhiên không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc Ngược lại, người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vào trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động nói trên, các nhu cầu cần thiết của cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có những điều kiện cần thiết còn tăng lên, thậm chí có thể xuất hiện thêm nhu cầu mới như khi ốm đau cần được chữa bệnh BHXH ra đời là giải pháp hữu hiệu giúp con người vượt qua những khó khăn nêu trên BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển
Trong thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về BHXH
Khi chưa có Luật BHXH thì khái niệm BHXH được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau:
Trang 16- Từ giác độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động
và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết
- Từ giác độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật
- Từ giác độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các
“rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội…
- Theo Tác giả Chu Ngọc Mai đề cập trong Luận văn thạc sĩ Thu – Chi BHXH thành phố Hà Nội (2009) có thể hiểu một cách khái quát BHXH Từ điển Bách Khoa Việt Nam là:
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có
sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội
[Chu Ngọc Mai (2009), “Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao kết quả
hoạt động thu - chi BHXH tại cơ quan BHXH Thành Phố Hà Nội”, Luận văn
thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Bách khoa Hà Nội, tr.8]
- Theo Bộ Luật Lao động:
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội
Trang 17thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội [Bộ Lao
động Thương binh & Xã hội (1999), 'Thuật ngữ Lao động Thương binh & Xã
hội', tập I, Nxb Lao động, Hà Nội Tr.7]
Khái niệm về BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất khi có Luật BHXH, đó là:
BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội [Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam (2007), Luật BHXH, tr.5]
* Phân biệt BHXH với bảo hiểm thương mại
- Sự giống nhau:
+ Hai loại bảo hiểm này được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là:
Có tham gia đóng góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi, không đóng
góp thì không được đòi hỏi quyền lợi
+ Hoạt động của hai loại bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối tượng tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những rủi ro gây ra thiệt hại trong khuôn khổ bảo hiểm đang tham gia
+ Phương thức hoạt động của hai loại hình bảo hiểm này đều mang tính
“cộng đồng - lấy số đông bù số ít” tức là dùng số tiền đóng góp của số đông người tham gia để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người gặp phải biến cố rủi ro gây ra tổn thất
- Sự khác nhau:
+ Mục tiêu hoạt động của bảo hiểm thương mại là lợi nhuận Mục tiêu hoạt động BHXH là nhằm thực hiên chính sách xã hội của Nhà nước, góp
Trang 18phần ổn định đời sống cho người lao động và các thành viên trong gia đình
họ Vì vậy, hoạt động BHXH là hoạt động phi lợi nhuận và nằm mục đích an sinh xã hội
+ Phạm vi hoạt động của BHXH liên quan trực tiếp đến người lao động
và các thành viên trong gia đình họ và chỉ diễn ra trong từng quốc gia Hoạt động bảo hiểm thương mại rộng hơn, không chỉ diễn ra trong từng quốc gia
mà còn trải rộng xuyên quốc gia, có mặt ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội bao gồm cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
+ Cơ sở nguồn tiền đóng, mức đóng, tỷ lệ đóng BHXH hoàn toàn dựa vào thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động BHXH thực hiện các quy định theo chính sách xã hội, sự ổn định chính trị của quốc gia
+ Bảo hiểm thương mại thực hiện theo cơ chế thị trường và nguyên tắc hạch toán kinh doanh Quan hệ giữa mức đóng góp và mức hưởng là quan hệ tương đồng thuần túy, tức là ứng với mỗi mức đóng góp bảo hiểm nhất định thì khi xảy ra rủi ro sẽ nhận được một mức quyền lợi tương ứng quy định trước 1.1.1.2 Bản chất bảo hiểm xã hội
BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH
có điều kiện ra đời phát triển
Thực chất BHXH là sự tổ chức bù đắp hậu quả của những rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm
BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước (GDP) để thoả mãn nhu cầu an toàn kinh tế của người lao động và
an toàn xã hội
BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội Về mặt xã hội,
Trang 19do có sự chia sẻ rủi ro của BHXH, người lao động chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội
Hoạt động BHXH là hoạt động sự nghiệp của toàn xã hội, phục vụ mọi thành viên trong xã hội, lợi nhuận không phải là mục tiêu của hoạt động BHXH Do đó, chính sách BHXH có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế
- xã hội của một quốc gia và được thể hiện ở các mặt sau đây:
Thứ nhất, thực hiện chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống người
lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro: Ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm
Thứ hai, thực hiện tốt chính sách BHXH, nhất là chế độ hưu trí, góp
phần ổn định cuộc sống của người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động
Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH, góp phần ổn định và nâng cao
chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển
Thứ tư, BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào
việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh
xã hội bền vững
1.1.3 Công tác thu bảo hiểm xã hội
1.1.3.1 Khái niệm công tác thu bảo hiểm xã hội
Để hiểu thế nào là công tác thu BHXH trước tiên chúng ta xem xét khái niệm về “thu BHXH” Thu BHXH được hiểu là việc mang số lượng tiền của
Trang 20các đối tượng tham gia BHXH về quỹ BHXH trong một khoảng thời gian nhất định Như vậy công tác thu BHXH là toàn bộ quá trình thực hiện để mang số tiền của người lao động, đơn vị sử dụng lao động về quỹ BHXH 1.1.3.2 Nguyên tắc thu bảo hiểm xã hội
- Thu đúng: Là đúng đối tượng, đúng mức, đúng tiền lương, tiền công
và đúng thời gian quy định: Mọi người lao động khi có HĐLĐ hoặc giao kết lao động theo quy định, được trả công bằng tiền đều là đối tượng đóng BHXH bắt buộc Việc xác định đúng đối tượng, đúng tiền lương, tiền công làm căn
cứ đóng BHXH của người lao động là cơ sở quan trọng để đảm bảo thu đúng; Việc thu đúng còn phụ thuộc vào tính chất hoạt động của đơn vị sử dụng lao động để xác định đúng đối tượng, mức thu, phương thức thu
- Thu đủ: Là thu đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số
tiền phải đóng BHXH của người lao động, người sử dụng lao động
- Thu kịp thời: Là thu kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao
động, tiền công, tiền lương mà những quan hệ đó thuộc đối tượng, phạm vi tham gia BHXH Chế độ BHXH thường xuyên thay đổi để phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ, ở mỗi thời điểm thay đổi đó cần phải tổ chức thực hiện thu BHXH của người sử dụng lao động và người lao động đảm bảo kịp thời, không để tồn đọng tiền thu, không bỏ sót lao động tham gia BHXH
- Cơ chế thu BHXH được quy định thống nhất, nguồn thu BHXH tập trung quản lý, điều tiết ở Trung ương là BHXH Việt Nam
- Việc tham gia BHXH của người lao động, người sử dụng lao động đảm bảo công khai, thực hiện công bằng ở các thành phần kinh tế Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai minh bạch số lao động phải đóng BHXH
và số tiền đóng theo đúng quy định, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm soát của Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng và các tổ chức chính trị-xã
Trang 21hội Tính công bằng được thể hiện trong việc thu nộp BHXH, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tức là đều có tỷ lệ phần trăm thu BHXH như nhau
Thực hiện quản lý chặt chẽ tiền thu BHXH theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước và sử dụng nguồn thu đúng mục đích Nguồn thu BHXH
do được tồn tích cộng đồng, nên thường có khối lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn chưa sử dụng cần được đầu tư tăng trưởng, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng, vừa an toàn tiền thu BHXH về mặt giá trị do các yếu tố trượt giá Vì vậy, thông qua cơ chế quản lý nghiêm ngặt về thu BHXH để tránh lạm dụng, thất thoát; Đồng thời nghiên cứu các lĩnh vực đầu tư để đảm bảo thu hồi được vốn và có lãi, tức là hiệu quả sử dụng nguồn thu
1.1.3.3 Nội dung công tác thu bảo hiểm xã hội
* Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Theo Luật BHXH được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 06 năm
3) Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
4) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công
an nhân dân;
5) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;
Trang 226) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc
Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc
tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động [Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(2007), Luật bảo hiểm xã hội, Hà Nội.]
* Mức đóng BHXH
Theo Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính Phủ về việc Hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc thì:
Mức đóng BHXH là 20% từ năm 2007 được ổn định đến hết năm
2009, sau đó tăng dần và ổn định vào năm 2014 Chi tiết xem phụ lục 1, 2
* Tiền lương, tiền công đóng BHXH
Tiền lương, tiền công do Nhà nước quy định:
Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiền lương này tính trên mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng
Tiền lương, tiền công do đơn vị quyết định:
Người lao động thực hiện chế độ tiền lương, tiền công do đơn vị quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc là mức tiền lương, tiền công ghi trên HĐLĐ
Trang 23Người lao động có tiền lương, tiền công tháng ghi trên HĐLĐ bằng ngoại tệ thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc được tính bằng đồng Việt Nam trên cơ sở tiền lương, tiền công bằng ngoại tệ được chuyển đổi bằng Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm ngày 02 tháng 01 cho 6 tháng đầu năm và ngày 01 tháng 07 cho 6 tháng cuối năm
Đối với ngoại tệ mà Ngân hàng Nhà nước không có công bố tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng thì áp dụng tỷ giá chéo của đồng Việt Nam so với ngoại tệ đó áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm ngày 02 tháng 01 cho 6 tháng đầu năm và ngày 01 tháng
07 cho 6 tháng cuối năm
Trường hợp trùng vào ngày nghỉ mà Ngân hàng Nhà nước chưa công
bố được thì lấy tỷ giá của ngày tiếp theo liền kề
Người lao động là người quản lý doanh nghiệp thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc là mức tiền lương do Điều lệ của công ty quy định
Mức tiền lương, tiền công đóng BHXH bắt buộc không thấp hơn mức lương tối thiểu chung hoặc lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng
Người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp dạy nghề) thì tiền lương, tiền công đóng BHXH bắt buộc phải cao hơn ít nhất 7%
so với mức lương tối thiểu vùng, nếu làm công việc nặng nhọc, độc hại thì cộng thêm 5%
Mức tiền công, tiền lương BHXH bắt buộc mà cao hơn 20 lần lương tối thiểu chung thì mức tiền công, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc bằng
20 lần lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng [Bảo hiểm xã hội Việt Nam
(2011), Quyết định số 1111/QĐ-BHXH, ngày 25/10/2011 , về việc ban hành Quy
định quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT,
Hà nội.]
Trang 24* Phương thức đóng BHXH
Đóng hàng tháng:
Chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích tiền đóng BHXH bắt buộc trên quỹ tiền công, tiền lương tháng của những người lao động tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc của từng người lao động theo mức quy định, chuyển cùng một lúc vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
Đóng hàng quý hoặc 6 tháng một lần
Đơn vị là doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả tiền lương, tiền công cho người lao động theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh có thể đóng hàng quý hoặc 6 tháng 1 lần trên cơ sở đăng
ký phương thức đóng với cơ quan BHXH Chậm nhất đến ngày cuối cùng của
kỳ đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH
Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, cá nhân có thuê mướn trả công cho người lao động, sử dụng dưới 10 lao động, có thể đóng hàng quý hoặc 6 tháng một lần trên cơ sở đăng ký với cơ quan BHXH Chậm nhất đến ngày cuối cùng của kỳ đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ BHXH
Đóng theo địa bàn: Cơ quan, đơn vị đóng trụ sở chính ở địa bàn tỉnh nào thì đăng ký tham gia đóng BHXH ở địa bàn tỉnh đó theo phân cấp của cơ quan BHXH tỉnh Chi nhánh của doanh nghiệp đóng BHXH tại địa bàn nơi cấp giấy phép kinh doanh cho chi nhánh
* Trình tự, thủ tục tham gia BHXH
- Người lao động tham gia BHXH lần đầu: Căn cứ vào hồ sơ gốc(quyết định tuyển dụng, hợp đồng lao động, giấy khai sinh, chứng minh thư) kê khai
03 bản “Tờ khai tham gia BHXH, BHYT”, kèm theo 02 ảnh màu cỡ 3 x 4 cm (01 ảnh dán trên tờ khai tham gia BHXH, BHYT; 01 ảnh lưu cùng hồ sơ tham
Trang 25gia để xây dựng cơ sở dữ liệu) Nộp cho người sử dụng lao động Đối với người đã hưởng BHXH một lần nhưng chưa hưởng BHTN: thêm giấy xác nhận thời gian đóng BHTN chưa hưởng BHTN do cơ quan BHXH nơi giải quyết BHXH một lần cấp
- Người sử dụng lao động: Hướng dẫn người tham gia BHXH, BHYT
kê khai tờ khai; kiểm tra, đối chiếu và ký trong tờ khai của người lao động Người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm về những nội dung trên tờ khai của người lao động Lập hai (02) bản danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT và Bản sao Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép hoạt động Đối với đơn vị đăng ký đóng hằng quý hoặc
6 tháng một lần: văn bản đăng ký phương thức đóng của đơn vị, kèm theo: Phương án sản xuất, kinh doanh của đơn vị; và phương thức trả lương cho người lao động Trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ký hợp đồng lao động có hiệu lực hoặc quyết định tuyển dụng, người sử dụng lao động phải nộp toàn bộ hồ sơ trên và cơ sở dữ liệu (nếu có) cho cơ quan BHXH
- BHXH huyện:
Bộ phận 1 cửa: Nhận hồ sơ, dữ liệu điện tử (nếu có) của đơn vị; hồ sơ
của các đối tượng do BHXH tỉnh thu nhưng ủy quyền cho BHXH huyện cấp thẻ BHYT: Kiểm đếm thành phần và số lượng, nếu đúng, đủ theo quy định thì viết giấy hẹn
Trường hợp hồ sơ chưa đúng, đủ theo quy định thì ghi rõ và trả lại đơn
vị, người tham gia, sau đó:
Chuyển BHXH tỉnh giải quyết: Hồ sơ đề nghị cấp, ghi sổ BHXH cho người lao động có thời gian công tác trước năm 1995; Hồ sơ truy thu và cấp
sổ BHXH của đối tượng thuộc thẩm quyền của BHXH tỉnh; Hồ sơ hoàn trả tiền BHXH, BHYT, BHTN
Trang 26Chuyển hồ sơ các trường hợp còn lại cho bộ phận Thu: Nhận lại từ bộ phận Thu hồ sơ các trường hợp không đúng, không đủ để gửi đơn vị;
Nhận từ bộ phận Cấp sổ, thẻ: sổ BHXH, thẻ BHYT, danh sách cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, bản chính các giấy tờ liên quan để trả cho đơn vị và người tham gia, các hồ sơ còn lại lưu tại cơ quan BHXH
Bộ phận Thu: Nhận hồ sơ và dữ liệu điện tử (nếu có) do bộ phận một
cửa, bộ phận Chế độ BHXH chuyển đến; Kiểm tra, đối chiếu tờ khai, danh sách, văn bản, đơn đề nghị của đơn vị và người tham gia; đối chiếu các chỉ tiêu trên danh sách, tờ khai với các chỉ tiêu trong dữ liệu điện tử của đơn vị; Đối với người tham gia BHXH đã có sổ BHXH thì đối chiếu thông tin trong
sổ BHXH với cơ sở dữ liệu dùng chung của Trung tâm Thông tin BHXH Việt Nam Trường hợp thông tin ghi trong sổ BHXH không khớp với dữ liệu thì yêu cầu BHXH tỉnh nơi xác nhận sổ BHXH lần cuối hoặc nơi giải quyết chế
độ BHXH cho người lao động xác minh, xử lý Trường hợp khớp đúng thì sử dụng dữ liệu của Trung tâm Thông tin BHXH Việt Nam để cập nhật vào Chương trình quản lý thu của BHXH huyện đối với người lao động đó Riêng đối với người đã hưởng trợ cấp BHXH một lần nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp thì chỉ cập nhật quá trình đóng BHTN chưa hưởng
Chuyển bộ phận một cửa: Một (01) bản danh sách do đơn vị lập kèm theo hồ sơ của các trường hợp không đúng, đủ để trả lại cho đơn vị; Hồ sơ các trường hợp người có sổ BHXH nhưng sổ BHXH bị sửa chữa, tẩy xóa để thông báo cho đơn vị hoặc người tham gia liên hệ với BHXH tỉnh nơi đã tham gia BHXH trước đó để điều chỉnh hoặc cấp lại
Nhập, cập nhật dữ liệu vào chương trình quản lý thu các trường hợp có hồ
sơ đúng, đủ; cấp mã quản lý BHXH, BHYT; ghi thời hạn sử dụng thẻ BHYT;
Ký danh sách, tờ khai, đơn đề nghị, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ cho bộ phận Cấp sổ, thẻ
Trang 27Hằng tháng bộ phận thu: Đối chiếu biên lai thu tiền và số tiền đã thu của bộ phận KHTC
Hết tháng, cán bộ thu thực hiện thao tác kết chuyển dữ liệu trong chương trình quản lý thu đối với từng đơn vị đang quản lý Sau đó in từ chương trình quản lý thu: Các bản tổng hợp danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT đối với mỗi đơn vị tham gia BHXH, BHYT để theo dõi; Thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT để gửi đơn vị; Hai (02) bản tổng hợp
số phải thu gửi bộ phận KHTC để hạch toán số phải thu BHXH, BHYT, BHTN; nhận lại 01 bản có chữ ký xác nhận của bộ phận KHTC; Hai (02) bản báo cáo chỉ tiêu quản lý thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, ký xác nhận và chuyển bộ phận Cấp sổ, thẻ
Hằng quý bộ phận thu: In 02 bản báo cáo tình hình thu BHXH, BHYT, BHTN để gửi: BHXH tỉnh 01 bản, lưu 01 bản; In 02 bản báo cáo truy thu BHXH, BHYT để gửi BHXH tỉnh 01 bản, lưu 01 bản
Bộ phận Cấp sổ, thẻ: Nhận hồ sơ của đơn vị và người tham gia do bộ
phận Thu chuyển đến; Kiểm tra, đối chiếu với dữ liệu trong chương trình quản
lý thu và dữ liệu của Trung tâm Thông tin BHXH Việt Nam với hồ sơ của đơn vị và người tham gia
Trường hợp dữ liệu chương trình và hồ sơ khớp đúng: Ký tờ khai, danh sách Sau đó gửi dữ liệu in sổ BHXH về BHXH tỉnh; Sau khi BHXH tỉnh kiểm tra, cho phép thì in sổ BHXH; danh sách cấp sổ BHXH; In 02 phiếu sử dụng phôi bìa sổ BHXH , cán bộ chuyên quản cấp sổ lưu 01 bản cùng với chứng từ cấp phát, sử dụng phôi sổ BHXH, chuyển 01 bản cho cán bộ tổng hợp quản lý phôi sổ BHXH để quyết toán với BHXH tỉnh
Trường hợp dữ liệu chương trình và hồ sơ không khớp đúng, hồ sơ chưa đầy đủ hợp lệ thì lập 02 Phiếu điều chỉnh trình Giám đốc BHXH ký
Trang 28duyệt và lưu 01 bản, chuyển 01 bản cho bộ phận Thu kèm theo hồ sơ để bộ phận Thu hướng dẫn bổ sung hoặc điều chỉnh
Bộ phận cấp sổ BHXH: Trình Giám đốc ký phê duyệt tờ khai, danh
sách, đơn, văn bản đề nghị và sổ BHXH; Chuyển hồ sơ giải quyết chế độ BHXH của người lao động cho bộ phận Chế độ BHXH; Sổ BHXH, kèm theo danh sách cấp sổ BHXH, hồ sơ đơn vị, người tham gia cho bộ phận một cửa để chuyển trả đơn vị, người tham gia và lưu trữ; Danh sách người lao động ngừng đóng BHXH, BHTN cho bộ phận Công nghệ Thông tin để chuyển Trung tâm Thông tin BHXH Việt Nam
Hằng tháng bộ phận sổ BHXH: In sổ theo dõi tình hình sử dụng phôi
sổ, sổ theo dõi tình hình cấp sổ; Nhận 02 bản báo cáo chỉ tiêu quản lý thu, cấp
sổ BHXH, do bộ phận Thu chuyển đến, ký xác nhận, gửi bộ phận KHTC
Trong năm, khi người tham gia BHXH ngừng việc, di chuyển, giải quyết trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, hưởng trợ cấp thất nghiệp, điều chỉnh nội dung đã ghi trong sổ hoặc khi có đề nghị của đơn vị hoặc cơ quan thanh tra, kiểm tra thì in tờ rời sổ BHXH xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN tiếp theo quá trình đã được in trong tờ rời sổ BHXH các lần trước
Các trường hợp xác nhận sổ BHXH để di chuyển, bảo lưu thời gian hoặc giải quyết chế độ phải chuyển danh sách cho Bộ phận Công nghệ Thông tin để chuyển về BHXH tỉnh
Bộ phận KHTC: Nhận chứng từ chuyển tiền đóng BHXH, BHYT,
BHTN của đơn vị, người tham gia; Cập nhật dữ liệu vào chương trình quản lý thu: số tiền đã thu BHXH, BHYT, BHTN của đơn vị, đại lý, người tham gia; số tiền 2% đơn vị được quyết toán; số tiền đóng BHYT của đối tượng hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng, BHTN, ốm đau dài ngày,
người hiến bộ phận cơ thể;
Trang 29Hằng tháng: Nhận 02 bản bản tổng hợp số phải thu hàng tháng đối với mỗi đơn vị tham gia BHXH, BHYT để hạch toán, ký xác nhận và chuyển lại cho bộ phận Thu 01 bản; Nhận 02 bản báo cáo chỉ tiêu quản lý thu, cấp sổ BHXH; ký xác nhận, trình Giám đốc ký phê duyệt để gửi BHXH tỉnh 01 bản, lưu 01 bản tại bộ phận KHTC; Đối chiếu biên lai thu tiền và số tiền đã thu với
bộ phận Thu
Bộ phận Chế độ BHXH: Nhận hồ sơ từ bộ phận Cấp sổ, thẻ để giải
quyết chế độ BHXH đối với người lao động; Chuyển danh sách, dữ liệu điện
tử số liệu quyết toán chế độ ốm đau, thai sản hằng tháng cho bộ phận Thu
để xác định số thu; Cấp giấy xác nhận thời gian đóng BHTN chưa hưởng trợ cấp cho người hưởng BHXH một lần, nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp
* Sơ đồ quy trình công tác thu BHXH ( xem phụ lục 3)
* Tạm dừng đóng BHXH
Theo quy định hiện nay tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất trong những trường hợp sau: Đơn vị gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh; Gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa Thời gian tạm dừng đóng không quá 12 tháng
Người sử dụng lao động được tạm dừng đóng khi có một trong các điều kiện sau: Không bố trí được việc làm cho người lao động, trong đó số lao động thuộc diện tham gia BHXH phải tạm thời nghỉ việc từ 50% tổng số lao động có mặt trước khi tạm dừng sản xuất, kinh doanh trở lên; Bị thiệt hại trên 50% tổng giá trị tài sản do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, mất mùa gây ra (không kể giá trị tài sản là đất)
* Quản lý công tác thu BHXH
Trang 30Định kỳ báo cáo UBND cùng cấp, cơ quan quản lý lao động địa phương tình hình chấp hành pháp luật về BHXH của các đơn vị trên địa bàn,
đề xuất biện pháp giải quyết đối với các đơn vị chậm đóng kéo dài hoặc đơn
vị cố tình trốn đóng, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH theo quy định của pháp luật Các trường hợp đơn vị vi phạm pháp luật về đóng BHXH: Không đăng ký tham gia hoặc đăng ký đóng BHXH không đủ số lao động, không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, cơ quan BHXH lập biên bản, truy thu BHXH cho người lao động
+ Người lao động đồng thời có từ 02 HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng BHXH theo HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc có mức tiền lương, tiền công cao nhất hoặc HĐLĐ, hợp đồng làm việc có thời gian dài nhất
+ Người lao động có HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định sau khi hết thời hạn hợp đồng nếu không ký tiếp hợp đồng mới nhưng người lao động vẫn tiếp tục làm việc tại đơn vị thì sau 30 ngày người lao động
và đơn vị phải đóng BHXH bắt buộc kể từ ngày hết hạn hợp đồng cũ Trường hợp ký hợp đồng mới (hợp đồng lần thứ 2) có thời hạn dưới 03 tháng nhưng sau khi hết thời hạn hợp đồng lần thứ 2, người lao động tiếp tục làm việc tại đơn vị thì người lao động và đơn vị phải đóng BHXH bắt buộc kể từ khi hết hạn thời hạn hợp đồng lần thứ 2
+ Người lao động giao kết HĐLĐ có thời hạn từ đủ 03 tháng đến 36 tháng với cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước thì đóng BHXH bắt buộc căn cứ tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ Tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ phụ thuộc vào chế độ tiền lương mà cơ quan Nhà nước, đơn
vị sự nghiệp đó thực hiện đối với người lao động, không thấp hơn mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng
Trang 31+ Người lao động có thời gian thử việc ghi trong HĐLĐ mà hợp đồng
đó thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc thì đơn vị và người lao động phải đóng BHXH cho cả thời gian thử việc theo mức tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ
+ Người lao động được cử đi học, thực tập, công tác, nghiên cứu, điều dưỡng ở trong và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương, tiền công tại đơn vị nơi cử người lao động đi thì vẫn phải đóng BHXH bắt buộc
- Quản lý đơn vị nợ tiền đóng BHXH
+ Đơn vị tham gia BHXH nợ đến 03 tháng tiền đóng đối với đơn vị đóng hằng tháng, 6 tháng đối với đơn vị đóng hằng quý, 9 tháng đối với đơn
vị đóng 6 tháng một lần thì cán bộ chuyên quản thu liên hệ và trực tiếp đến đơn vị để đôn đốc, đối chiếu thu nộp và lập Biên bản đối chiếu thu nộp Sau
đó tiếp tục gửi văn bản đôn đốc đơn vị, 15 ngày gửi văn bản đôn đốc một lần; Đồng thời, gửi cho Tổ thu nợ của BHXH tỉnh, BHXH huyện phối hợp thực hiện cho đến khi thu nợ xong
+ Trường hợp phát hiện đơn vị không còn tồn tại, không còn hoạt động sản xuất - kinh doanh nhưng không thực hiện các thủ tục báo giảm, giải quyết chế độ BHXH cho người lao động thì Phòng hoặc bộ phận Thu báo cáo Giám đốc BHXH để báo cáo UBND, cơ quan quản lý Nhà nước về lao động cùng cấp kiểm tra, lập biên bản xác định thời điểm đơn vị ngừng tham gia BHXH
do không còn tồn tại, không tiếp tục hoạt động sản xuất - kinh doanh; Căn cứ biên bản kiểm tra, cơ quan BHXH chốt số tiền nợ BHXH, BHYT đến thời điểm đơn vị ngừng hoạt động và dừng tính lãi chậm đóng, dừng tính số phải thu phát sinh
Nếu sau khi cơ quan BHXH đã báo cáo nhưng UBND, cơ quan quản lý Nhà nước về lao động không phối hợp kiểm tra thì cơ quan BHXH thành lập
Trang 32đoàn và thực hiện kiểm tra, lập biên bản có chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương nơi đơn vị đóng trụ sở
+ Khởi kiện các đơn vị nợ đọng kéo dài:
Đối với đơn vị nợ BHXH cơ quan BHXH đã thực hiện đối chiếu, lập biên bản đối chiếu thu nộp theo quy định, gửi văn bản đôn đốc thu nộp đến 03 lần nhưng đơn vị vẫn không đóng thì cơ quan BHXH thực hiện như sau:
+) Tiếp tục đối chiếu thu nộp và lập Biên bản đối chiếu thu nộp
+) Gửi văn bản thông báo tình hình đóng BHXH của đơn vị cho đơn vị cấp trên hoặc cơ quan quản lý đơn vị để có biện pháp đôn đốc đơn vị trả nợ và đóng BHXH Sau đó, nếu đơn vị vẫn không đóng thì gửi văn bản báo cáo UBND cùng cấp và cơ quan thanh tra Nhà nước, thanh tra lao động trên địa bàn kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
Trường hợp đã quá thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (một năm kể
từ ngày đơn vị nợ tiền BHXH) mà các cơ quan có thẩm quyền chưa xử lý thì
cơ quan BHXH lập hồ sơ khởi kiện đơn vị ra toà án
- Quản lý mức đóng
+ Cơ quan BHXH căn cứ hồ sơ của đơn vị và người tham gia để xác định đối tượng, tiền lương, mức đóng, số tiền phải đóng BHXH đối với người tham gia và đơn vị theo phương thức đóng của đơn vị, người tham gia
+ Người lao động tăng mới hoặc ngừng việc, nghỉ việc trong tháng, có
ít nhất 01 ngày làm việc và hưởng tiền lương trong tháng, thì tính đóng BHXH đối với đơn vị và người lao động như sau: Trường hợp số ngày không làm việc và không hưởng tiền lương, từ 14 ngày trở lên trong tháng thì không tính đóng BHXH của tháng đó; Trường hợp số ngày không làm việc và không
Trang 33hưởng tiền lương, dưới 14 ngày trong tháng thì tính đóng BHXH đối với đơn
vị và người lao động cả tháng đó
- Quản lý tiền thu
+ Hình thức đóng tiền: Đơn vị, người tham gia BHXH đóng bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt
+ BHXH huyện, BHXH tỉnh chuyển toàn bộ số tiền đã thu BHXH kịp thời về tài khoản chuyên thu của BHXH cấp trên theo quy định
- Tính lãi chậm đóng BHXH
+ Đơn vị đóng BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN chậm quá thời hạn theo quy định từ 30 ngày trở lên thì phải đóng số tiền lãi tính trên số tiền BHXH bắt buộc chưa đóng gồm: Số tiền BHXH bắt buộc, phải đóng nhưng chưa đóng đã quá thời hạn quy định, trừ số tiền 2% trong kỳ được giữ lại của đơn
vị tham gia BHXH bắt buộc; Số tiền 2% đơn vị được giữ lại lớn hơn số tiền được quyết toán, đơn vị phải đóng phần chênh lệch vào tháng đầu của quý sau nhưng chưa đóng
* Thanh tra, kiểm tra về công tác thu BHXH
Hàng năm BHXH tỉnh, BHXH huyện tổ chức kiểm tra tình hình đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với các đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn
Nội dung kiểm tra gồm: Tình hình đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN: Số lao động, hồ sơ tham gia, tiền lương, tiền công đóng BHXH, BHYT, BHTN của đơn vị, người lao động
Kế hoạch kiểm tra: Căn cứ tình hình cụ thể của địa phương và kế hoạch kiểm tra do BHXH Việt Nam giao hàng năm, BHXH tỉnh, BHXH huyện lập
kế hoạch kiểm tra đối với các đơn vị đang tham gia BHXH, BHYT; Báo cáo
Trang 34UBND cùng cấp để có kế hoạch phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền hoặc thành lập đoàn kiểm tra để tổ chức thực hiện
Phương pháp kiểm tra: Căn cứ hồ sơ đăng ký và hồ sơ điều chỉnh của đơn vị gửi cơ quan BHXH trong quá trình đóng BHXH, BHYT, BHTN, các thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT của đơn vị và người lao động do cơ quan BHXH gửi hàng tháng, hàng năm để kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ, chứng từ đóng BHXH, BHYT, BHTN tại đơn vị như danh sách lao động trong biên chế của đơn vị, danh sách trả lương, HĐLĐ, các quyết định của đơn vị đối với người lao động; Các chứng từ chuyển tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN
Lập biên bản về tình hình đóng BHXH, BHYT, BHTN và quản lý sổ BHXH của đơn vị
Giải thích, hướng dẫn đơn vị khắc phục các sai sót, nhầm lẫn trong quá trình đóng BHXH, BHYT, BHTN theo đúng quy định của pháp luật Các trường hợp đơn vị kê khai thiếu lao động hoặc kê khai nhầm mức tiền lương, tiền công của người lao động thì yêu cầu đơn vị kê khai điều chỉnh và đóng theo đúng quy định Đối với những trường hợp vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT như trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN; Đóng không đúng tiền lương, tiền công của người lao động, thu tiền của người lao động nhưng không đóng, đóng không kịp thời, đóng không đủ số tiền phải đóng thì yêu cầu đơn vị truy đóng đủ cho người lao động, đồng thời báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu bảo hiểm xã hội
1.1.4.1 Chính sách tiền lương
Có thể nói "Giữa chính sách tiền lương và chính sách BHXH nói chung, thu BHXH nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chính sách tiền lương làm tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách BHXH" [Phạm
Trang 35Hoàng Tiến (2008), Hoàn thiện quản lý BHXH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa,
Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, tr.38] Căn cứ thu BHXH là lương do vậy chính sách tiền lương có tác
động trực tiếp đến công tác thu BHXH Khi nhà nước điều chỉnh lương tối thiểu chung, lương tối thiểu vùng thì mức đóng BHXH của người lao động cũng thay đổi Về cơ bản thì khối đơn vị hưởng lương theo hệ số thang bảng lương thì mỗi khi Nhà nước điều chỉnh lương tối thiểu bao nhiêu thì số thu
cũng tăng bấy nhiêu
1.1.4.2 Tuổi nghỉ hưu
Độ tuổi lao động và tuổi nghỉ hưu có tác động trực tiếp đến công tác thu BHXH “Việc tăng giảm tuổi nghỉ hưu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu lao động xã hội Đối với quỹ BHXH nói chung và số thu BHXH nói riêng
sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu giảm tuổi nghỉ hưu” [Phạm Hoàng Tiến (2008),
Hoàn thiện quản lý BHXH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ
kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tr.39] Nếu như giảm 5 năm tuổi nghỉ hưu thì thời gian đóng BHXH cũng giảm 5 năm và ngược lại Việc tăng hoặc giảm tuổi nghỉ hưu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cung cầu lao động xã hội Hiện nay, tuổi nghỉ hưu đối với nam là 60 với nữ là 55 Ngoài ra có quy định riêng đối với một số trường hợp nghỉ hưu ở tuổi 50 đối với nam và 45 đối với nữ “ Theo tính toán mỗi năm một người về hưu trước
tuổi Nhà nước phải bù 10,8 tháng lương” [Phạm Hoàng Tiến (2008), Hoàn
thiện quản lý BHXH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ kinh
doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tr.39]
1.1.4.3 Chính sách lao động việc làm
Hiện nay Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do đó chính sách lao động và việc làm có ý nghĩa rất thiết thực, chính sách giải quyết việc làm và chống thất nghiệp là chính sách xã hội
Trang 36cơ bản góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội Người lao động là đối tượng tham gia BHXH, họ là những người trong độ tuổi lao động,
là những người trực tiếp tạo ra của cải xã hội Như vậy nếu chính sách lao động việc làm tác động trực tiếp làm tăng việc làm trong xã hội thì cũng trực tiếp tác động làm tăng số người tham gia BHXH Quế Võ có 76.516 người trong độ tuổi lao động chiếm 55,073 % dân số đây là lực lượng chính tham gia đóng góp vào quỹ BHXH
Đặc biệt khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta chịu tác động rất lớn của chính sách lao động việc làm vì:
+ Khi nhà nước quan tâm đầu tư, xây dựng các chương trình đào tạo nghề để nâng cao chất lượng lao động từ đó thị trường lao động có nguồn lao động chất lượng cao, các doanh nghiệp sẽ giảm được một phần chi phí đào tạo Lực lượng lao động này sẽ có cơ hội tìm được việc làm ổn định tác động trực tiếp làm tăng số lao động tham gia BHXH
+ Khi Nhà nước đầu tư để phát triển thị trường lao động, sẽ cho người lao động dễ dàng tìm việc phù hợp khả năng của mình; Đồng thời có quyền lựa chọn những đơn vị thực hiện đầy đủ quyền lợi của người lao động (Trong
đó có quyền lợi về BHXH) và thu nhập cao; Chủ sử dụng lao động cũng thuận tiện hơn trong việc tuyển dụng lao động, tiết kiệm thời gian và chi phí 1.1.4.4 Tốc độ tăng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao góp phần làm cho đời sống của người lao động dần được cải thiện; Việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp được thuận lợi, vì thế các chủ doanh nghiệp cũng sẵn sàng tham gia BHXH cho người lao động, từ đó làm giảm tình trạng trốn tránh tham gia BHXH Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững phản ánh nhiều người lao động
có thu nhập cao thông qua quá trình lao động, đây là điều kiện tiền đề để người lao động có cơ hội tham gia BHXH Hơn nữa, khi đời sống kinh tế cao
Trang 37thì nhận thức của người lao động cũng được nâng lên, ngoài việc ý thức đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho bản thân và gia đình, họ mong muốn có khoản trợ giúp khi không may gặp các rủi ro xã hội cũng như đảm bảo cuộc sống khi
về già, như: Ốm đau, TNLĐ-BNN, hưu trí, tử tuất, thất nghiệp khiến cho họ
bị mất hoặc bị giảm thu nhập Tất cả những yếu tố trên tác động tích cực làm tăng thu BHXH
1.1.4.5 Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của người lao động, người sử dụng lao động và các cấp chính quyền
Nhận thức, ý thức của người lao động và người chủ sử dụng lao động
có tác động rất lớn đến công tác thu BHXH Nếu người lao động không hiểu hoặc hiểu không đầy đủ về BHXH thì sẽ không đấu tranh với chủ sử dụng lao động để đòi hỏi quyền lợi của mình Ngược lại nếu người lao động mà hiểu biết về pháp luật BHXH họ sẽ đấu tranh để đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình buộc người sử dụng lao động phải tham gia BHXH cho họ Tuy nhiên
có một số người lao động hiểu biết, nhận thức một cách đầy đủ về BHXH nhưng do ý thức, tâm lý, thói quen đó là chỉ nghĩ đến cái trước mắt không nghĩ đến cái lâu dài (cái trước mắt là không phải đóng 7% lương) mà thông đồng với chủ sử dụng lao động trốn đóng BHXH Nếu như nhận thức, ý thức thức về BHXH của người lao động được nâng lên sẽ tác động tích cực đến công tác thu BHXH
Nhiều người sử dụng lao động nhận thức giản đơn về việc tham gia BHXH, tức là không tham gia, hoặc chưa tham gia hay tham gia ở mức độ nhất định vẫn không ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị, doanh nghiệp, nên không chủ động thực hiện việc đăng ký tham gia BHXH; Ngay chính bản thân người lao động cũng chưa có thói quen sống vì bảo hiểm Chủ doanh nghiệp chỉ thấy lợi trước mắt, lợi cục bộ cho doanh nghiệp, thiếu quan tâm đến đời sống và quyền lợi BHXH của người lao động nên tìm mọi cách trốn
Trang 38tránh đăng ký tham gia BHXH cho người lao động hoặc đăng ký tham gia theo kiểu đối phó khi có thanh tra, kiểm tra Tình trạng chủ doanh nghiệp ký HĐLĐ có thời hạn dưới 3 tháng với người lao động và hợp đồng vụ việc, hoặc không ký HĐLĐ nhằm lách luật về BHXH đã tác động xấu đến công tác thu BHXH Nếu chủ sử dụng lao động có nhận thức đúng về BHXH sẽ góp phần giảm tình trạng trốn đóng BHXH tức là đã tác động tích cực đến công tác thu BHXH
Nhiều địa phương các cấp, các ngành còn hiểu chưa đúng về BHXH Nhiều cán bộ, đảng viên nhầm tưởng BHXH là đơn vị kinh doanh Thậm chí
có vị Chánh án một toà án cấp Quận ở thành phố Hồ Chí Minh khi xét xử vụ kiện trốn đóng BHXH còn nhầm cả tên cơ quan BHXH thành “công ty BHXH” Nhiều chính quyền, các cấp ủy đảng ở địa phương chưa tích cực phối hợp với cơ quan BHXH trong công tác tuyên truyền, kiểm tra việc thực hiện chính sách BHXH tại địa phương
Có thể nói, vai trò của các cấp, các ngành trong công tác tuyên truyền, triển khai các chính sách BHXH tới người dân là rất quan trọng Ở đâu có sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền thì ở đó công tác thu BHXH được tốt Ở đâu thiếu sự quan tâm, phối hợp, giúp đỡ của các cấp ủy đảng, chính quyền thì ở đó công tác thu BHXH gặp rất nhiều khó khăn
1.1.5 Khái niệm và vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.1.5.1 Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Khác với doanh nghiệp nhà nước, các DNNQD được ra đời sau và chủ yếu hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường (Trừ hợp tác xã ra đời năm 1950) Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với đường lối của Đảng về việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần kể từ đó DNNQD mới có điều kiện phát triển Tuy nhiên, thực tế cho thấy các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh rất ít và không phát triển Đến
Trang 39ngày 12/9/1999, Quốc hội nước ta đã chính thức thông qua luật doanh nghiệp, thay thế cho luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty, tạo cơ sở pháp lý cho
sự tồn tại và phát triển của các DNNQD như: Doanh nghiệp tư nhân, công ty
cổ phần và công ty hợp danh
DNNQD có thể hiểu bao hàm doanh nghiệp nhỏ và vừa, cả các doanh nghiệp lớn khác do người dân thành lập và vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh
DNNQD được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, đó là: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần và hợp tác xã DNNQD không bao gồm doanh nghiệp cổ phần chuyển từ Nhà nước sang và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.5.2 Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNNQD đa dạng về loại hình, có thể là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hay công ty hợp danh Khối DNNQD ở nước ta chiếm trên 96% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tỷ lệ chủ yếu về
số lượng doanh nghiệp Tuy có nhiều lợi thế về tính năng động, tổ chức bộ máy gọn nhẹ, cơ chế quản lý linh hoạt dễ thích ứng với những biến động của thị trường, dễ thay đổi công nghệ sản phẩm, và đa dạng về loại hình Nhưng hầu hết các DNNQD đều ẩn chứa những yếu tố chưa mạnh như quản trị, tầm nhìn, năng lực quản lý
Các DNNQD chiếm số lượng lớn nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh còn thấp, thiếu chiến lược kinh doanh bền vững, sử dụng ít vốn và lao động
Do phần lớn các DNNQD có mức vốn thấp nên khả năng trang bị máy móc thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến là rất hạn chế, mức trang bị tài sản
cố định cho một lao động ở mức rất thấp
Trang 40Trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, các DNNQD vừa và nhỏ
có vai trò rất quan trọng, góp phần gìn giữ và phát triển những ngành nghề truyền thống, tạo nhiều việc làm cho xã hội
Do trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật lạc hậu, tay nghề của công nhân thấp hơn so với doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Vì vậy, chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ không cao, khả năng cạnh tranh yếu nên rất khó tiêu thụ trên thị trường trong nước và nước ngoài Bên cạnh đó, trình độ quản lý các doanh nghiệp này còn yếu Việc hiểu biết các cơ chế chính sách pháp luật để kinh doanh còn hạn chế, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân, gia đình Nhiều chủ doanh nghiệp và cán bộ quản lý chưa qua đào tạo Quản lý tài chính trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu minh bạch nên số liệu báo cáo chưa phản ánh đúng thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
Doanh nghiệp phát triển còn mang tính tự phát chưa có quy hoạch, nhất
là khu vực doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
DNNQD nói chung phát triển không đồng đều cả về vùng lãnh thổ và ngành nghề kinh doanh Sự phân bố DNNQD vẫn chủ yếu đổ về thành thị, quận, huyện trung tâm, số doanh nghiệp đầu tư tại địa bàn khó khăn chỉ chiếm 1/1000 Cơ cấu ngành nghề của DNNQD chưa hợp lý, chủ yếu là kinh doanh thương mại - dịch vụ, chưa mạnh dạn đầu tư vào sản xuất
1.1.5.3 Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DNNQD được xác định là một trong những trụ cột của nền kinh tế quốc dân
Là nhân tố chủ yếu thúc đẩy sức cạnh tranh của nền kinh tế
Là khu vực góp phần ngày càng quan trọng vào sự tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP)