1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa

116 416 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sinh, axit hữu cơ là loại sản phẩm được quan tâm nghiên cứu vì những đặc tính ưu việt: An toàn cho vật nuôi và con người, cải thiện chức năng tiêu hoá, ức chế sự phát triển của vi khuẩn

Trang 1

SAU CAI SỮA TỪ 21 ĐẾN 60 NGÀY TUỔI”

Chuyên ngành: Ch¨n nu«i

Mã số: 60 6240

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - 2010

Trang 2

Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Toàn Thắng

Người phản biện 1: TS TRẦN TRANG NHUNG

TS NGUYỄN HƯNG QUANG

Người phản biện 2: TS TRẦN TRANG NHUNG

TS NGUYỄN HƯNG QUANG

Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn họp tại:

trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

Ngày 7 tháng 11 năm 2010

Trang 3

Thư Viện trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Trang 5

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con 4

1.1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa dạ dày lợn con 4

1.1.1.2 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hóa ruột 6

1.1.1.3 Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con 8

1.1.1.4 Cấu tạo nhung mao ruột non và điều kiện pH của đường tiêu hóa 11

1.1.2 Sự sinh trưởng của lợn, các nhân tố ảnh hưởng 13

1.1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng 13

1.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của lợn 14

1.1.2.3 Sinh trưởng của lợn con cai sữa 23

1.1.3 Một số nét chính về hội chứng tiêu chảy của lợn con 25

1.1.3.1 Hội chứng tiêu chảy và nguyên nhân gây tiêu chảy 25

1.1.3.2 Một số phương pháp sử dụng chế phẩm vi sinh hạn chế tiêu chảy ở lợn 27

1.1.4 Kháng sinh và hiện tượng kháng kháng sinh 28

1.1.4.1 Vai trò của kháng sinh đối với sinh trưởng của động vật nuôi 28

1.1.4.2 Cơ chế tác động kích thích sinh trưởng của kháng sinh 30

1.1.4.3 Hiện tượng kháng kháng sinh 31

1.1.4.4 Hậu quả của sự kháng kháng sinh ở vi khuẩn 33

Trang 6

1.1.5.2 Enzym 36

1.1.5.3 Các chế phẩm cung cấp kháng thể 37

1.1.5.4 Kháng sinh thảo dược 37

1.1.5.5 Acid hữu cơ 38

1.1.6 Axit hữu cơ Na - butyrate một giải pháp thay thế kháng sinh 40

1.1.6.1 Công thức hoá học và cơ chế tác động 40

1.1.6.2 Tác dụng của Na - butyrate đối với vật nuôi 40

1.1.6.3 Hiệu quả kinh tế mà sodium- butyate mang lại 41

1.1.6.4 Liều sử dụng 42

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về các giải pháp thay thế kháng sinh 42

1.2.1 Ngoài nước 42

1.2.2 Trong nước 45

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48

2.1 Đối tượng nghiên cứu 48

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 48

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 48

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 48

2.3 Nội dung nghiên cứu 48

2.4 Phương pháp nghiên cứu 49

2.4.1 Phương pháp làm tiêu bản lát cắt ngang, nghiên cứu biến đổi tổ chức học hệ thống nhung mao ruột non 49

2.4.2 Phương pháp thí nghiệm chuồng trại 50

2.5 Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định 52

2.5.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu 52

Trang 7

2.1.5.2 Các chỉ tiêu về thức ăn 52

2.1.5.3 Tình hình mắc bệnh tiêu chảy 53

2.1.5.4 Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của thí nghiệm 53

2.1.5.5 Các chỉ tiêu chất chứa trong ruột non 54

2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu 54

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 56

3.1 Kết quả nghiên cứu sự biến đổi trạng thái đường tiêu hóa của lợn con thí nghiệm được bổ sung Na- butyrate 56

3.1.1 Kết quả theo dõi ảnh hưởng của chế phẩm Sodium- butyrate đến sự phát triển độ cao của nhung mao ruột non 56

3.1.2 Ảnh hưởng của Na- buyrate tới giá trị pH chất chứa đường tiêu hóa của lợn con thí nghiệm 63

3.1.3 Sự ảnh hưởng của Na buyrate đến hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của lợn con TN 64

3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Na butyrate vào khẩu phần tới các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy trong chăn nuôi lợn con sau cai sữa 66

3.2.1 Kết quả theo dõi về ảnh hưởng của Na- butyrate đến sinh trưởng của lợn 66

3.2.1.1 Sinh trưởng tích lũy 66

3.2.1.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn Thái Nguyên 72

3.2.1.3 Sinh trưởng tương đối 73

3.2.1.4 Lượng thức ăn tiêu thụ của lợn con thí nghiệm 75

3.2.1.5 Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng lợn TN 76

3.2.1.6 Tiêu tốn protein/ kg tăng khối lượng lợn TN 77

3.2.1.7 Tiêu tốn năng lượng trao đổi/ kg tăng khối lượng lợn TN77 78

Trang 8

3.2.3 Hiệu quả của việc bổ sung Na- butyrate trong chăn nuôi lợn con

cai sữa 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

1 Kết luận 84

3 Kiến nghị 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

I Tài liệu tiếng Việt 87

II Tài liệu tiếng nước ngoài 91

Trang 9

Trang

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 50

Bảng 3.1: Kết quả xác định độ cao của nhung mao ruột non 57

Bảng 3.2: Giá trị pH chất chứa của đường tiêu hoá lợn con thí nghiệm 63

Bảng 3.3: Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu VSV đường tiêu hoá 65

Bảng 3.4a: Khối lượng cơ thể của lợn thí nghiệm (kg/con) 67

Bảng 3.4b: Thí nghiệm lần 2 67

Bảng 3.4c: Thí nghiệm lần 3 68

Bảng 3.4: Khối lượng cơ thể lợn thí nghiệm tính chung cho 3 lần nhắc lại 68

Bảng 3.5: Tăng khối lượng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) tính chung cho 3 lần nhắc lại 72

Bảng 3.6 Tăng khối lượng tương đối của lợn thí nghiệm (%) tính chung cho 3 lần nhắc lại 74

Bảng 3.7: Mức thu nhận thức ăn của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) tính chung cho 3 lần nhắc lại 75

Bảng 3.8: TTTA/ kg tăng khối lượng của lợn thí nghiệm (kg) tính chung cho 3 lần thí nghiệm 76

Bảng 3.9: Tiêu tốn protein cho kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm (g/kg) 78

Bảng 3.10: Tiêu tốn năng lượng trao đổi cho kg tăng khối lượng lợn thí nghiệm (Kcal ME/kg) 79

Bảng 3.11: Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn thí nghiệm (%) 80

Bảng 3.12: Một số chỉ tiêu về hiệu quả hồi phục của bệnh tiêu chảy 81

Bảng 3.13: Một số chỉ tiêu hiệu quả chăn nuôi của lợn thí nghiệm 82

Trang 10

Hình 3.1: Biểu đồ độ cao của nhung mao ruột non 57

Hình 3.2: Cấu trúc hiển vi một lát cắt ngang ruột non lợn thí nghiệm 58

Hình 3.3: Ảnh lông nhung và mật độ lông nhung ruột non lợn thí nghiệm lô đối chứng (bổ sung kháng sinh colistin 0,1%) 59

Hình 3.4: Ảnh lông nhung và mật độ lông nhung ruột non lợn thí nghiệm lô TN1 (bổ sung Na – Butyrate 1%) 60

Hình 3.5: Ảnh lông nhung và mật độ lông nhung ruột non lợn thí nghiệm lô TN2 (bổ sung Na – Butyrate 1,5%) 61

Hình 3.6a: Biểu đồ khối lượng cơ thể của lợn thí nghiệm lần 1 70

Hình 3.6b: Biểu đồ khối lượng cơ thể của lợn thí nghiệm lần 2 70

Hình 3.6c: Biểu đồ khối lượng cơ thể của lợn thí nghiệm lần 3 71

Hình 3.6: Biểu đồ khối lượng cơ thể của lợn thí nghiệm tính chung cho 3 lần nhắc lại 71

Hình 3.7: Biểu đồ tăng khối lượng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) 73

Hình 3.8 Đồ thị tăng khối lượng tương đối của lợn thí nghiệm (%) tính chung cho 3 lần nhắc lại 74

Trang 11

Lời cam đoan

Trang 12

Để hoàn thành luận văn, trong suốt quá trình thực hiện tôi luôn được

sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện và những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô, bạn bè, gia đình để xây dựng và hoàn thiện luận văn này Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Khoa sau đại học, Khoa chăn nuôi thú y, các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi thú y cũng như các thầy, cô giáo trong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người

đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu, quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận ăn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Hoàng Toàn Thắng đã không quản thời gian tận tình giúp đỡ về phương hướng và phương pháp nghiên cứu cũng như hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô, các chú, anh chị cán bộ trong Trung tâm thực hành thực nghiệm, Khoa Sau đại học, Viện Khoa học sự sống đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn những giúp đỡ đó!

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2010

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lệ

Trang 13

KPCS: khẩu phần cơ sở

NLTĐ: năng lượng trao đổi

TTTA: tiêu tốn thức ăn

Trang 14

Thức ăn thí nghiệm Lợn bắt đầu thí nghiệm

Lợn kết thúc thí nghiệm Điều trị lợn con tiêu chảy

Chăm sóc lợn thí nghiệm Lợn kết thúc thí nghiệm

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Kể từ khi kháng sinh được phát hiện bởi Flemming năm 1928, nó đã góp phần to lớn kiểm soát các bệnh vi khuẩn Bên cạnh đó người ta cũng phát hiện khi dùng kháng sinh với liều nhỏ lại có tác dụng kích thích sinh trưởng, làm tăng khối lượng cơ thể/ngày từ 4-15%, làm tăng lượng thu nhận thức ăn

và hệ số chuyển hoá thức ăn 2-6% (Morz, 2003) [57] Khoảng 50 năm trở lại đây, nhiều loại kháng sinh đã được sử dụng như chất kích thích sinh trưởng phổ biến trong chăn nuôi khắp thế giới

Tuy nhiên khi phát hiện ra sự xuất hiện của nhiều chủng vi khuẩn kháng kháng sinh gây nguy cơ mất an toàn tới sức khoẻ con người thì đã có nhiều thông tin đề cập tới vấn đề này Trước tác động xấu của kháng sinh, thế giới đang tìm cách hạn chế tiến tới bãi bỏ việc dùng kháng sinh trong chăn nuôi nói chung và lợn nói riêng Ở Việt Nam, việc hạn chế và cấm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi đang được các cơ quan quản lý quan tâm Hàng năm cục Thú y đều ban hành danh mục kháng sinh hạn chế và cấm sử dụng trong chăn nuôi Tuy nhiên để xoá bỏ việc dùng kháng sinh trong chăn nuôi đòi hỏi phải có giải pháp thay thế để bảo vệ sức khoẻ đàn gia súc, gia cầm Các giải pháp được thế giới quan tâm nhiều ngay từ những năm 90 của thế kỷ

trước là các sản phẩm thay thế kháng sinh: probiotic, prebiotic, enzyme, axit

hữu cơ… Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới thì ở Việt Nam việc xoá

bỏ sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi cũng sẽ là xu thế tất yếu

Việc tìm các sản phẩm thay thế kháng sinh đang là việc làm cấp bách, các nhà khoa học trong nước cũng đang tích cực tiếp cận xu thế này và bước đầu có được kết quả khích lệ (Trần Quốc Việt và cộng sự, 2006) [44] Bên cạnh đó, tiếp thu và thử nghiệm các sản phẩm thay thế kháng sinh từ nước ngoài cũng là một xu hướng cần tiến hành để rút ngắn khoảng cách trong thực tiễn chăn nuôi nước ta với thế giới Trong các loại sản phẩm thay thế kháng

Trang 17

sinh, axit hữu cơ là loại sản phẩm được quan tâm nghiên cứu vì những đặc tính ưu việt: An toàn cho vật nuôi và con người, cải thiện chức năng tiêu hoá,

ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây hại trong đường ruột, không tồn dư và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Nắm bắt xu hướng ấy, vừa qua trong hội chợ triển lãm công nghệ chăn nuôi năm 2008 đã có công ty liên doanh giới thiệu sản phẩm Na- Butyrate do Công ty Singao (Trung Quốc) sản xuất và khuyến cáo sử dụng Việc đưa nhanh các sản phẩm công nghệ cao vào sản xuất chăn nuôi ở nước ta nói chung và miền núi nói riêng nơi mà trình độ chăn nuôi còn có nhiều hạn chế,

vệ sinh thú y trong chăn nuôi còn thấp sẽ góp phần tích cực làm tăng hiệu quả kinh tế

Xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, chúng tôi cho rằng việc triển khai đề

tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Na -Butyrate vào khẩu phần

ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa từ 21 đến 60 ngày tuổi” là cần thiết

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định khả năng thay thế kháng sinh của chế phẩm Na-Butyrate trong việc kích thích sinh trưởng làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn con giai đoạn sau cai sữa đến 60 ngày tuổi

- Xác định được vai trò của Na-butyrate trong việc hạn chế bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa thông qua tác động làm thay đổi theo hướng tích cực trạng thái đường tiêu hóa lợn con

3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

* Ý nghĩa khoa học:

Đề tài xác định được ảnh hưởng tốt của chế phẩm Na-butyrate đến trạng thái chức năng của đường tiêu hoá, đến sinh trưởng của đàn lợn con sau cai sữa từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Trang 18

Kết quả nghiên cứu cho phép sử dụng Na-butyrate là một sản phẩm thay thế kháng sinh, nó có khả năng cải thiện trạng thái chức năng đường tiêu hóa, nâng cao sức sinh trưởng và hiệu quả chăn nuôi lợn con sau cai sữa, từ

21 đến 63 ngày tuổi, do đó làm nền tảng tốt cho giai đoạn nuôi thịt tiếp theo Ngoài ra, đây còn là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu khác nhằm nâng cao khả năng ứng dụng các chế phẩm trong chăn nuôi lợn

*Ý nghĩa thực tiễn

Góp thêm những kết quả từ thực tiễn nghiên cứu sử dụng các chế phẩm thay thế kháng sinh, góp phần phát triển chăn nuôi lợn nói chung, lợn thịt hướng nạc nói riêng, góp phần nâng cao năng suất chất lượng thịt theo hướng tạo ra sản phẩm chăn nuôi an toàn để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con

Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn theo mẹ là làm thế nào

để lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, khi nuôi thịt lợn sinh trưởng phát triển nhanh, đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và giúp chúng ta nâng cao được sức sống của đàn con Để đạt được mục đích trên, bên cạnh việc tạo cho lợn con điều kiện chăm sóc tốt, chúng ta cần hiểu rõ các đặc điểm của lợn con theo

mẹ, đặc biệt là đặc điểm sinh lý tiêu hoá lợn con, để từ đó có biện pháp nuôi dưỡng và tác động dinh dưỡng phù hợp

1.1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa dạ dày lợn con

Đặc điểm cơ quan tiêu hoá lợn của con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hoá: Dung tích dạ dày lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng

0,03 lít )

Đối với lợn con, sự tiết dịch có những đặc điểm khác biệt với lợn lớn Theo Trương Lăng (2004) [16]lợn con 20 ngày tuổi có phản xạ tiết dịch còn chưa rõ, ban đêm lợn mẹ tiết nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị ở lợn con Khi cai sữa lượng dịch vị tiết ra ngày và đêm gần bằng nhau, độ axit của dịch vị lợn con thấp nên hoạt hoá pepsin kém, khả năng diệt khuẩn kém Hàm lượng axit biến đổi theo lứa tuổi lợn con, axit HCL tự do xuất hiện ở 25-30 ngày tuổi và diệt khuẩn rõ nhất ở 40-50 ngày tuổi Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cộng

sự (2006)[33]cho biết chức năng tiêu hoá của lợn con sơ sinh chưa hoàn thiện

Trang 20

Trong giai đoạn theo mẹ, chức năng của bộ máy tiêu hoá lợn con được hoàn thiện dần thể hiện ở sự thay đổi hoạt tính các enzym trong dịch vị

- Men pepsin: lợn con dưới một tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày lợn con không có HCL tự do, lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy, gây ra hiện tượng thiếu axit hay còn gọi là “Hypoclohydric” Sau 3 tuần tuổi, lượng HCL tự do trong dịch vị mới tăng dần Đây là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con Khi có HCL tự do sẽ kích hoạt để men pepsinogen chuyển thành dạng pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá protein trong thức ăn Sau 1 tháng tuổi, men pepsin mới có khả năng tiêu hóa đầy đủ Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây ra bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng

Có thể kích thích để tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCL tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập cho lợn con ăn sớm vào lúc 5-7 ngày tuổi thì HCL tự do co thể được tiết ra từ ngày tuổi thứ 14

Trong dạ dày lợn là loài ăn tạp, pepsin chỉ hoạt động tốt trong môi trường pH = 2,5 - 3 với nồng độ HCL tự do từ 0,1- 0,5%

- Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa có tác dụng giống men pepsin, thủy phân protein và các mạch peptit thành amino acid, hoạt động thích hợp ở kkoảng pH = 4 - 5 Vì thích hợp với pH cao nên catepsin hoạt động mạnh ở động vật non bú sữa khi mà HCL tự do hình thành chưa nhiều Ở động vật trưởng thành catepsin hầu như không hoạt động, khi vật nuôi chết catepsin hoạt động phân giải protein dạ dày

- Men chymosin (hay rennin) có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau

đó giảm dần Men này có tác dụng làm ngưng đặc sữa, hoạt động tốt ở

pH = 4 - 5 Dưới tác dụng của chymosin và Ca++, protein trong sữa là

Trang 21

caseinogen ở dạng hoà tan chuyển thành caseinatcalci (dạng đông vón), có thể lưu lâu trong dạ dày tạo điều kiện cho pepsin hoạt động, phần nhũ thanh (dịch trong còn lại) của sữa được chuyển xuống ruột non để tiêu hóa

1.1.1.2 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hóa ruột

Theo Từ Quang Hiển (2003) [10] Dung tích ruột non của lợn con lúc

10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần

Thức ăn từ dạ dày khi xuống ruột non chịu tác động phối hợp của các enzym trong dịch tụy, dịch ruột và các chất xúc tác tiêu hóa trong dịch mật để biến đổi về thành phần hóa học

* Nhóm enzym phân giải protein

- Men trypsin: Là enzym chính của dịch tụy, được tiết ra dưới dạng tripsinogen không hoạt động rồi được enterokinase của tá tràng hoạt hóa trở thành dạng tripsin hoạt động sau đó là quá trình hoạt hóa tripsinogen

Là men tiêu hoá protein của thức ăn, ở thai lợn lúc 2 tháng tuổi, trong chất tiết đã có men trypsin, thai càng lớn hoạt tính của men này càng cao Khi lợn con mới đẻ ra, men trypsin của dịch tụy là rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của men pepsin dạ dày

Tripsin có hoạt lực cao nhất ở pH = 8, tác dụng tương tự như pepsin nhưng hoạt lực mạnh và triệt để hơn

Tripsin phân giải protein tạo thanh polipeptid và amino acid

- Chimotripsin cũng được tiết ra dưới dạng không hoạt động là chimotripsinogen sau khi được tripsin hoạt hóa sẽ chuyển thành chimotripsin hoạt động, pH tối ưu = 8, tác dụng tương tự tripsin

- Alastase phân giải alastin (gân, bạc nhạc) thành peptit và amino acids

Trang 22

- Carboxipolipeptidase tác dụng phân giải peptit ở đầu có nhóm COO

-tự do và tách amino acid ra khỏi phân tử peptit

- Dipeptidase phân giải dipeptit thành 2 amino acid

- Protaminase phân giải protamin thành peptit và amino acid

- Nuclease phân giải acid nucleic thành mono nucleotid

* Nhóm men thủy phân glucid

- Men amylase và maltase:

Hai men này có trong nước bọt và trong dịch tụy lợn từ lúc còn mới đẻ, nhưng dưới 3 tuần tuổi hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn còn kém, chỉ tiêu hoá được 50% lượng tinh bột ăn vào Đối với tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém Sau 3 tuần tuổi, men amylase và maltase mới có hoạt tính mạnh, vì vậy khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn

Amylase hoạt động tối ưu trong pH = 7,1 Nó cắt liên kết 1-4œ-glucozit của cả tinh bột sống và chín cho ra maltose

Maltase phân giải đường maltose thành glucose

- Men saccarase: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi men saccarase hoạt tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đường sucarose thì rất dễ bị ỉa chảy

- Men lipase hoạt động tối ưu ở pH = 6,8 Lipase cắt các liên kết este giữa glycerol và acid béo, do đó phân giải tri glycerid đã được nhũ hóa bằng dịch ruột để tạo ra mono glycerid, acid béo và glycerol

- Men lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa Men này

có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con sinh ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ

2, sau đó hoạt tính của men này giảm dần

Qua nghiên cứu về quá trình phân tiết của men amylase, maltase và protease, chúng ta thấy sự phân tiết và hoạt động của các men này tăng dần theo sự tăng lên của ngày tuổi, men lipase tăng dần đến khi cai sữa sau đó giảm dần Riêng men lactase tăng cao nhất ở giai đoạn 2 tuần tuổi sau đó

Trang 23

giảm dần theo sự tăng lên của ngày tuổi Đây chính là điểm cần lưu ý khi bổ sung thức ăn cho lợn con

Sau một tháng tuổi, quá trình tiêu hoá hấp thu các chất dinh dưỡng tiến hành chủ yếu ở dạ dày và ruột non Trong một ngày đêm phân giải 45% gluxit, 50% protit Ruột già chủ yếu tiêu hoá chất xơ nhờ hệ vi sinh vật ở manh tràng phân giải (Từ Quang Hiển, 2003)[10]

Như vậy, để tăng tỷ lệ tiêu hoá và giảm tiêu chảy ở lợn con cũng như

để phù hợp với khả năng tiêu hoá của lợn thì trong sản xuất thức ăn cho lợn con giai đoạn tập ăn và sau cai sữa chúng ta nên sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu hoá như: Bột sữa, đường lactose,… thức ăn cần được rang chín và nghiền nhỏ đồng thời bổ sung thêm một số axit vô cơ như: axit lactic,…

1.1.1.3 Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con

Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con có vai trò nâng cao sức

sử dụng thức ăn đồng thời nâng cao sức đề kháng của cơ thể lợn Sự phát triển mạnh của vi khuẩn sinh axit và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học, đồng thời ức chế vi khuẩn gây thối là một quá trình có lợi cho cơ thể (Đào Trọng Đạt và cộng sự, 1995) [7]

Ở dạ dày và ruột của động vật mới sinh ra chưa có vi khuẩn, sau vài giờ thấy một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần Hàng ngày, một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở ở đó, chúng có thể bị biến đổi ít nhiều nhưng căn bản vẫn sống cho đến khi con vật chết Thành phần và số lượng của hệ vi sinh vật thay đổi tùy theo loại thức ăn, nếu thức ăn nhiều gluxit thì vi khuẩn tạo axit trong ruột rất phát triển

Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “ vi sinh vật tùy tiện” thay đổi tùy theo loại thức ăn và loại “vi sinh vật bắt buộc” là loại vi sinh vật thích nghi ngay được với môi trường đường ruột và dạ dày trở thành loại định cư vĩnh

viễn Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm: streptococcus, lactic, lactobacterium, acid

Trang 24

ophilum, trực khuẩn lactic, E.coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường

ruột Trong đường ruột và dạ dày là một môi trường có độ ẩm, dinh dưỡng thuận tiện cho vi sinh vật phát triển, tuy nhiên sự phát triển của chúng có giới hạn vì trong đường ruột và trong dạ dày có những chất kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây thối như mật, dịch vị và tác động đối

kháng của các vi khuẩn khác nhau

* Hệ vi sinh vật ở khoang miệng

Ở khoang miệng có sự cảm nhiễm vi sinh vật từ các nguồn trên Trong nước bọt và dịch bài tiết của niêm mạc có men kháng khuẩn lisozyme có tác dụng tiêu diệt một số vi sinh vật

* Hệ vi sinh vật ở dạ dày

Trong dạ dày có một lượng axit HCL rất lớn (0,2%) Axit trong dịch vị

dạ dày có tác dụng ức chế với nhiều loại vi sinh vật, do vậy phần lớn vi sinh vật từ thức ăn, nước uống đưa vào đều bị tiêu diệt Số lượng vi khuẩn ở dạ dày rất ít do tác dụng diệt khuẩn của axit dạ dày gồm các vi khuẩn lên men

(Saccharomyces minor, vidiumlactic) trực khuẩn lactic (Lactobacillus

beljerincke…) Ngoài ra còn có trực khuẩn phó thương hàn đi qua dạ dày

xuống ruột

* Hệ vi sinh vật của ruột non

Ruột non chiếm 2/3 đến 3/5 chiều dài ruột nhưng lượng vi khuẩn lại rất

ít Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn còn tác dụng sát khuẩn, ngoài ra dịch

do niêm mạc bài tiết ra cũng có tác dụng sát khuẩn…, ở ruột non chứa một số

ít vi khuẩn có trong dạ dày xuống Trong ruột non chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha bào, Aerobacter aerogenes Ở gia súc non có thêm Streptococcus lactic, trực khuẩn lactic Lactobacterium

bulgaricum, từ hồi tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên

Trang 25

* Hệ vi sinh vật của ruột già

Số lượng vi sinh vật ở ruột già tăng hơn nhiều so với ruột non do tác dụng khử trùng của ruột đã không còn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ

ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật

Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào

entrococcus Gia súc trưởng thành E.coli chiếm 75% trở lên Trong ruột già

của động vật ngoài hệ vi sinh vật hoại sinh còn có hệ vi sinh vật gây bệnh nhưng chưa thể hiện bằng triệu chứng lâm sàng: Vi khuẩn phó thương hàn, vi

khuẩn brucella, uốn ván (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980) [25]

Theo Đào Trọng Đạt và cộng sự (1995) [7] trong hệ tiêu hóa của động vật, hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định đảm bảo cân bằng cho hệ tiêu hóa, khi đó

phần lớn các vi khuẩn có lợi là vi khuẩn lactic, vi khuẩn này chiếm 90% và hoạt

động hữu ích cho đường ruột Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì những vi khuẩn

có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hóa, gây tiêu chảy (nhất là

lợn con theo mẹ), loại vi khuẩn thường gặp là E.coli và salmonella…

Nhiều thực nghiệm còn xác nhận rằng: nhiều loại vi khuẩn đường ruột

đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây ra bệnh như: Vi khuẩn phó thương hàn, vi khuẩn thối rữa Ở lợn con mới sinh, hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, cho nên chưa tạo được sự cân bằng về hệ vi sinh vật đường tiêu hoá lợn con, tạo

điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh như E.coli phát triển mạnh nên lợn con

bị rối loạn tiêu hoá

Theo YuYu (2005) [47], ở lợn con bú sữa, nhóm vi khuẩn

Lactobacillus spp, trong dạ dày và đường tiêu hoá phát triển mạnh Vi khuẩn

này sử dụng một số đường lactose của sữa để sản sinh ra axit lactic làm giảm

độ pH trong dạ dày, sự tăng lượng axit này sẽ làm cho quá trình tiêu hoá tốt hơn và ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn khác, một vài loại vi khuẩn trong số đó bất lợi cho tiêu hoá của lợn con

Trang 26

1.1.1.4 Cấu tạo nhung mao ruột non và điều kiện pH của đường tiêu hóa

* Cấu tạo của nhung mao ruột non

Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [33]: Niêm mạc ruột được bao phủ bằng lớp lông nhung dày đặc gọi là nhung mao, mỗi mm2

có tới 20-

40 nhung mao Mỗi một nhung mao là một chỗ lồi lên hình ngón tay, dài độ 0,5 - 1mm được bao phủ bằng lớp tế bào biểu mô trụ Trong nhung mao có mạng lưói mao mạch và mạch huyết Mỗi nhung mao lại được bao phủ bằng các vi nhung mao làm diện tích hấp thu của ruột non tăng lên hàng trăm lần Trên toàn bộ ruột non có nhiều tuyến ruột hình ống gọi là hõm Lieberkin tiết

ra dịch ruột chứa men Riêng ở tá tràng có tuyến brunner là dạng trung gian của tuyến ở vùng hạ vị và tuyến ruột, chất tiết là dịch nhầy

Theo TS Phạm Thị Hiền Lương, PGS TS Phan Đình Thắm (2008) [18]: Vỏ lông nhung có 3 loại tế bào:

+ Tế bào biểu mô: hình trụ, nhân bầu dục, trên mỗi tế bào biểu mô có

4000 - 5000 vi nhung, trên vi nhung còn có lưới Glycocalic

+ Tế bào hình đài: nhân ở đáy, bào tương tiết chất nhờn

+ Tế bào panet: chức năng chưa rõ thúc đẩy hoạt động tiêu hóa, hấp thu qua màng

- Ruột lông nhung (lõi): Là một hệ thống mạng lưới gồm có ống dưỡng chấp, động và tĩnh mạch

Hoạt động của lông nhung giống như một cái bơm mà sợi cơ là lực tạo

ra sức ép, khi bề mặt của lông nhung căng phồng (coi như ta đẩy pittong vào), tất cả các chất dinh dưỡng được thấm qua lỗ nhỏ của vi nhung mao Khi bề mặt lông nhung co lại (khi kéo pittong ra) thì tất cả các chất dinh dưỡng được dồn về ống dưỡng chấp, động mạch, tĩnh mạch Khi các chất dinh dưỡng vào trong mạng lưới tất cả các dịch hấp thu có tính chất là lipit qua ống dưỡng chấp, còn thức ăn protit và đường theo hệ thống mạch quản

Trang 27

Trong giai đoạn sinh trưởng, hệ thống nhung mao ruột non phát triển rất mạnh Tuy nhiên,lợn con sau cai sữa thường rất hay bị tổn thương nhung mao

ở thành ruột non do ảnh hưởng của thức ăn, khi đó sẽ giảm khả năng sản xuất men tiêu hoá ở ruột non của lợn con, giảm khả năng tiêu hoá và hấp thụ thức

ăn Thức ăn không được hấp thụ sẽ chuyển xuống ruột già, làm tăng sự phát

triển của vi sinh vật có hại và làm tăng khả năng bùng phát vi khuẩn E.coli,

làm cho lợn bị ỉa chảy Biểu hiện bên ngoài của hiện tượng này là lợn con gầy, sút cân, lông da nhợt nhạt, sinh trưởng giảm Do vậy thức ăn bổ sung cho lợn con phải đáp ứng được khả năng tiêu hoá của chúng trong từng giai đoạn phát triển và hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của bộ máy tiêu hóa

* Điều kiện pH dạ dày và ruột non

Như đã biết, nhờ sự phân tiết HCL của tế bào vách tuyến vị mà pH của môi trường dạ dày lợn con giảm dần và đạt tới độ ổn định vào khoảng 2,5- 3,0 Ở 21 - 35 ngày sau đẻ, lúc này men pepsin có hoạt lực đầy đủ để tiêu hoá protein thức ăn

Ở lợn con, giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày, nếu được tập ăn sớm thì sau

2 tuần tuổi trở đi lượng HCL tự do tăng dần, đã tạo môi trường pH dần phù hợp

để tiêu hoá protein trong thức ăn bổ sung Do vậy, pH dạ dày lợn con phải cần thời gian nhất định từ khi đẻ ra để đạt mức phù hợp với tiêu hoá protein Bởi men pepsin thì ở ruột non, trị số pH môi trường ruột non đã nằm trong khoảng

pH = 7 - 8 do các muối kiềm trong dịch tuỵ, dịch mật và dịch ruột tạo ra Ở tá tràng, pH môi trường được qui định bởi pH của dịch tụy (7,8 - 8,4) và dịch ruột (pH = 8,0 - 7,4) để tạo một môi trường tá tràng có pH nằm trong khoảng 7,5 - 8,0 Trị số pH của tá tràng dễ thay đổi khi tiếp nhận thức ăn từ dạ dày xuống theo từng đợt Với khối thức ăn được trộn acid dịch vị (pH acid) thì các muối kiềm trong dịch tuỵ và muối mật của dịch ruột sẽ trung hoà acid trong thức ăn vì thế

về nguyên tắc pH chất chứa trong tá tràng phải giảm đi

Trang 28

Còn ở không tràng pH có độ kiềm cao (pH = 8,2-8,7) Trị số pH kiềm tính của đoạn ruột là môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn có hại hoạt động

Vì thế đứng trên quan điểm dinh dưỡng người ta tìm cách đưa vào đường ruột

những chất hay các vi khuẩn lên men axit như Lactobacillus để làm giảm bớt đi

trị số pH nếu có độ kiềm cao ở đường ruột non nhằm kìm hãm hoạt động của vi khuẩn có hại Bổ sung Na-butyrate vào thức ăn chính là một giải pháp hữu hiệu

để đạt mục đích này giống như bổ sung vi khuẩn Lactobacillus

1.1.2 Sự sinh trưởng của lợn, các nhân tố ảnh hưởng

Theo Trần Đình Miên (1975) [19] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng, thể tích của các cơ quan bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

1.1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng

* Tốc độ sinh trưởng

Theo Trần Văn Phùng và cộng sự, (2004) [25]: Tốc độ sinh trưởng là chỉ tiêu kinh tế quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lợn thịt Tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ góp phần giảm tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng, tỷ

lệ thịt nạc trong thịt xẻ, giảm chi phí trong chăn nuôi… Khả năng sinh trưởng được tính theo gam/ngày hay kg/tháng Tốc độ sinh trưởng của các giống lợn khác nhau là khác nhau Các giống lợn nội có khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn lai và lợn ngoại

Khả năng tăng khối lượng g/ngày tính theo công thức sau:

Tăng khối lượng (g/ngày) =

Trong phạm vi ứng dụng để đánh giá tốc độ sinh trưởng ta thường dùng các chỉ tiêu sau đây:

Trang 29

- Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo

tăng lên sau một thời gian sinh trưởng Đồ thị sinh trưởng tích lũy có dạng hình chữ S

- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước của cơ thể gia súc tăng

lên trong một đơn vị thời gian Đối với lợn, đơn vị thời gian thường là ngày Sinh trưởng tuyệt đối cho biết mỗi con lợn, mỗi ngày tăng được bao nhiêu gam Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng hình quả chuông úp

- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % của khối lượng cơ thể, thể tích hay

kích thước các chiều đo tăng lên của lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước

1.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của lợn

* Ảnh hưởng của yếu tố di truyền (loài, giống, cá thể)

- Cơ sở của sự di truyền

Sinh trưởng là tính trạng số lượng, sự di truyền của các tính trạng này tuân theo qui luật của Mendel Tính trạng số lượng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Số con/lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất phần thân thịt có giá trị

Đó là những tính trạng do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [36]

Giá trị kiểu hình của một tính trạng được ký hiệu là P (phenotype) Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment) Mối quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G +E

Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành Các gen này có hiệu ứng riêng bệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiệu ứng đa gen (Polygen) Các minorgen

Trang 30

này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp và át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:

G = A + D + I Trong đó: G - Giá trị kiểu gen

J.F.Lasley (1974) cho biết những tính trạng có hệ số di truyền (h2) từ 0,12 - 0,3 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp Những tính trạng có

hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng có hệ số di truyền trung bình Những tính trạng có hệ số di truyền > 0,5 là những tính trạng có hệ số

di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao; còn những tính trạng có hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao (Trích theo Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [36]

Từ kết quả phân tích trên cho thấy, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường

Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004) [25] cho biết: Yếu tố di truyền

là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiến

Trang 31

cũng như giữa các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn

Sự khác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể

mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và

đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn hướng nạc, hướng mỡ

Tính trạng số lượng (sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản ) những tính trạng ở đó có sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác nhau về chủng loại Darwin đã chỉ rõ

sự sai khác này chính là nguyên liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, sự nghiên cứu các tính trạng này phụ thuộc vào sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích thước các chiều đo (Trần Đình Miên và cộng sự, 1975) [19]

- Ảnh hưởng của quá trình trao đổi chất

Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormone Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có

sự tham gia của tuyến yên Hormon của thuỳ trước tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cộng sự (2006) [33]: STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Khi thiếu hoặc thừa loại hormon này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (nanismus) hoặc quá to (gigantismus) Vào thời kỳ thành thục về tính, các hormon sinh dục như hormon của dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham gia vào quá trình điều khiển hoạt động sinh dục của cơ thể và

Trang 32

hình thành nên các đặc tính sinh dục thứ cấp Hormon sinh dục của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác động đáng kể đến sinh trưởng của lợn Ngoài ra các loại hormon của các tuyến như tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộ xương và cơ

- Ảnh hưởng của giống

Giống luôn là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi Các giống gia súc khác nhau có khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn khác nhau, khả năng này phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng của con vật Quá trình tích lũy các chất mà chủ yếu là protein, tốc độ và phương thức sinh tổng hợp protein phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể

Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ tăng trọng hàng ngày của lợn nội rất thấp Đối với lợn Ỉ đực và lợn cái hậu bị từ sơ sinh đến

8 tháng tuổi tăng trọng lần lượt là 104 g và 173 g/ngày, lợn Móng Cái là

179 g và 197g/ngày

Các giống lợn ngoại thuần và lợn lai có khả năng tăng trọng cao hơn Đối với lợn Landrace bình quân 5 tháng tăng trọng 621,59 g/ngày với lợn lai 3/4 và 7/8 lần lượt là 522,5 - 525,39 g/ngày (Phùng Thị Vân và cộng sự) [42] Bên cạnh đó phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng nhiều đến khả năng tăng trọng mặc dù trong cùng một giống

Nguyễn Thiện và cộng sự (2005) [37] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống lợn ngoại nhập nội Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng 60 kg Trong khi đó các giống lợn ngoại (Landrace, Yorkshire…) nuôi tại Việt Nam có thể đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổỉ

* Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài

- Dinh dưỡng

Trang 33

Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa năng suất sinh trưởng nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh cùng với các yếu tố khác Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể Một số thí nghiệm đã chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể ví như nếu chúng ta cho lợn ăn khẩu phần ăn

có nhiều protein thì tỷ lệ nạc sẽ cao hơn và ngược lại nếu chúng ta cho lợn ăn khẩu phần có nhiều bột đường hoặc nhiều chất béo thì tỷ lệ mỡ trong thịt sẽ tăng lên

Trong các chất dinh dưỡng cơ bản thì của năng lượng, protein, khoáng

và vitamin có vai trò nổi bật

+ Nhu cầu về năng lượng

Nhu cầu về năng lượng đối với lợn thường được biểu thị bằng năng lượng trao đổi (ME, kcal/kg) Lợn con cần năng lượng trước tiên đáp ứng nhu cầu duy trì của cơ thể, sau đó là cần năng lượng cho sinh trưởng Lợn con so với lợn các lứa tuổi khác có cường độ trao đổi chất và nhu cầu về năng lượng cao Trong quá trình phát triển của bào thai, dinh dưỡng của mẹ được truyền cho thai nhờ hệ tuần hoàn của nhau thai Khi rời khỏi cơ thể mẹ, nguồn dinh dưỡng đó mất đi một cách đột ngột, đặc biệt là nguồn năng lượng Chính vì vậy trong vòng 30 phút đầu tiên sau khi đẻ, thân nhiệt của lợn con giảm xuống một cách đột ngột Sau khi đẻ xong, trong vòng một giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì sau 18 - 24 giờ thân nhiệt lợn con mới đạt mức trung bình Ở giai đoạn bú sữa, mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con dựa vào lượng sữa của lợn mẹ cung cấp được cho lợn con Ở hai tuần tuổi đầu lợn con hầu như đã được cung cấp đầy đủ năng lượng từ sữa mẹ Từ tuần tuổi thứ ba cần bổ sung thêm thức ăn mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của lợn

Trang 34

con, do lượng sữa của lợn mẹ ở 21 ngày tuổi giảm dần Giai đoạn lợn sau cai sữa, hàm lượng năng lượng trong thức ăn cho lợn con cần khá cao Theo Tiêu chuẩn VN - TCVN 1547 - 1994, mức năng lượng trao đổi trong 1 kg thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn sau cai sữa cần 3200 kcal/kg

+ Nhu cầu về protein và acid amin

Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [5]: Protein là nhóm chất hữu cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ Protein đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào Quá trình sinh trưởng của lợn là quá trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein trong cơ thể rất cao Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm lượng protein không giống nhau Protein có nhiều nhất trong cơ từ 30 - 35% so với tổng lượng protein trong cơ thể

Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích lũy protein lớn, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao Nếu trong khẩu phần thiếu protein thì sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả năng sống kém Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16- 18%

Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [11] vai trò của các axit amin trong cơ thể rất

đa dạng, nó là thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chính là nhu cầu về axit amin Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo mức cân đối các axit amin trong thức ăn, nhưng axit amin nào nằm ngoài cân đối sẽ bị oxy hóa cho năng lượng Do vậy, nếu cung cấp axit amin theo tỷ lệ cân đối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn

Một thí nghiệm của Metz nghiên cứu trên lợn sinh trưởng cho biết, với yêu cầu tăng trọng 585g/con/ngày, nếu khẩu phần cân bằng các axit amin thì protein thô cần 11- 12%, nhưng nếu khẩu phần mất cân đối axit amin thì cần 20- 22% protein thô

Trang 35

Yêu cầu về protein thô và protein tiêu hoá trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con (Tính theo % khô trong không khí, Tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993) khuyến cáo, đối với lợn con 1-5 kg là 24 và 22%; đối với lợn 5-10 kg là 22 và 20%; đối với lợn 10-30 kg yêu cầu là 18 và 16% (Trích theo Trần Văn Phùng

và cộng sự 2004) [25]

Cùng trích theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2006) [25], nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho lợn (Tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993) nhu cầu protein thô và protein tiêu hoá là 53 và 47 g/ngày (đối với lợn 1-5 kg); 84 và 76 g/ngày (đối với lợn 5-10 kg); 190 và 166 g/ngày (đối với lợn 10-30 kg)

Trong các loại thức ăn hàm lượng các loại protein rất khác nhau Một số loại giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua, trứng sữa Một số loại protein thực vật như các loại đậu, đỗ và sản phẩm phụ của nó

+ Nhu cầu về khoáng chất

Theo Từ Quang Hiển và cộng sự (2003)[10] gia súc non cần được cung cấp đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy ra trong cơ thể Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3 - 4% khối lượng cơ thể tăng Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượng xương tăng

Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn gia súc trưởng thành Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi

và photpho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non Khi gia súc còn non khả năng tích luỹ canxi, photpho cao Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm Nhìn chung, gia súc non yêu cầu canxi lớn hơn photpho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu canxi giảm, nhu cầu photpho tăng lên Để đảm bảo cho quá trình tiêu hoá hấp thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi xương Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối với gia súc non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5-2/1)

Trang 36

+ Nhu cầu về vitamin (VTM)

Vitamin là nhóm vi chất dinh dưỡng đóng vai trò xúc tác trao đổi chất Trong các loại vitamin, lợn con rất cần vitamin A và D Vitamin A và D cần thiết cho sinh trưởng lợn con, giúp phát triển bình thường và nhiều chức năng sinh lý quan trọng khác Thiếu vitamin A, D có thể gây thiếu máu làm cho lợn còi cọc

Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [11] cho biết: Tiêu chuẩn của Tây Đức (DLG) cho kết quả tốt hơn cả gồm vitamin A = 2000 UI/kg thức ăn, vitamin D = 2500 UI, vitamin E = 10- 15mg

- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường, ánh sáng

+ Nhiệt độ

Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn

ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợn khác nhau phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng

Theo Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998 [36] thân nhiệt và điều tiết thân nhiệt của lợn con sơ sinh luôn luôn là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà chăn nuôi trên thế giới Lợn con mới sinh khả năng điều tiết thân nhiệt kém do nhiều nguyên nhân:

- Hệ thần kinh điều khiển sự cân bằng nhiệt chưa phát triển đầy đủ

- Lớp mỡ dưới da chưa phát triển, lượng mỡ và glycogen trong cơ thể lợn con còn thấp, da mỏng, lông thưa làm cho khả năng chống lạnh càng kém

- Diện tích bề mặt của cơ thể của lợn con so với khối lượng của cơ thể chênh lệch lớn làm cho khả năng mất nhiệt của cơ thể càng lớn

Trang 37

- Ở giai đoạn này do hoạt động của hệ tuần hoàn rất mạnh, nhịp tim lợn con rất nhanh: 200 lần/phút so với lợn trưởng thành chỉ 60 - 80 lần/phút Lưu thông máu cũng cao 150 ml máu/phút/kg khối lượng cơ thể trong khi lợn trưởng thành chỉ đạt 30 - 40 ml Đây là yếu tố điều tiết thân nhiệt rất quan trọng

Lợn con sẽ bị hạ thân nhiệt nếu được nuôi trong chuồng có nhiệt độ thấp Nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 180C thì thân nhiệt lợn con sẽ bị hạ xuống 20

C so với ban đầu Nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 00C thì lợn con sẽ bị hạ 40C so với ban đầu Lợn con 6 ngày tuổi bị lạnh, sau đó đưa vào phòng ấm thì thân nhiệt lợn con vẫn tiếp tục giảm xuống 4 phút nữa

Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, (đối với lợn con, tổng lượng nhiệt mất đi trong môi trường có nhiệt độ 210C lớn hơn 2/3 lần so với môi trường 300

C) vì lẽ đó ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng lượng tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng Nhìn chung, khi lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoàn thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt độ môi trường càng giảm xuống

+ Ẩm độ

Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm

độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70% Ẩm độ không khí cao bất lợi cho cả lợn lớn và lợn con, đặc biệt khi nhiệt độ môi trường quá cao hoặc quá thấp Đối với lợn con bú sữa, ẩm độ cao luôn là yếu tố gây suy giảm sức khỏe dẫn đến dễ mắc các bệnh đường hô hấp và đường tiêu hóa Trong môi trường ẩm độ cao (≥80%), vi khuẩn có điều kiện sinh sôi nảy nở rất nhanh Nghiên cứu của Eric Thompson (1998) cho thấy, ẩm độ không khí 40% thì vi trùng có thể bị chết nhanh gấp 10 lần so với ẩm độ 80% Do đó giữ chuồng nuôi luôn khô ráo là một yêu cầu rất quan trọng trong các công tác phòng bệnh cho lợn

Trang 38

+ Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát

triển của lợn Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5

- 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời Do vậy cần thiết kế chuồng nuôi đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu

cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con và lợn sinh sản

loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa

1.1.2.3 Sinh trưởng của lợn con cai sữa

* Khối lượng sơ sinh/ổ

Là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nói lên trình độ kỹ thuật chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn nái Khối lượng

sơ sinh/ổ là khối lượng được cân sau khi lợn con đẻ ra cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn, khối lượng sơ sinh/ổ cao thì tốt, lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [36]

Các giống lợn khác nhau cho khối lượng sơ sinh khác nhau Các giống lợn nội (Móng Cái): 0,5 - 0,7kg/con, lợn Ỉ 0,45kg/con Lợn ngoại Yorkshire nuôi tại Việt Nam 1,24 kg/con, lợn Duroc 1,2 - 1,5kg/con (Trần Văn Phùng và cộng sự, 2004) [25]

Trang 39

Ngoài ra khối lượng sơ sinh có liên quan và tỷ lệ thuận với khối lượng của lợn nái Vì thế trong giai đoạn lợn nái chửa và nhất là thời gian

20 ngày trước khi đẻ cần chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái tốt, thức ăn đầy

đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, vitamin, khoáng để cho thai phát triển tốt Khi khối lượng con sơ sinh cao thì lợn có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh, khối lượng con cai sữa sẽ cao và khối lượng xuất chuồng lớn

* Khối lượng cai sữa/ổ

Trong chăn nuôi lợn con từ khi sơ sinh đến khi cai sữa có một ý nghĩa rất quan trọng vì đó chính là cơ sở vật chất để phát triển đàn lợn nái sinh sản và nâng cao năng suất chăn nuôi Khối lượng toàn ổ khi cai sữa ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng xuất chuồng

Khối lượng cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau cho khối lượng không giống nhau Lợn móng cái có khối lượng cai sữa/ổ lúc 2 tháng tuổi là 58,20 - 60,88 kg; lợn F1 (Đại bạch x Móng cái) có khối lượng 60 ngày/ổ là 61,80 kg (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [36]

Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp, sức khoẻ tốt hay xấu, sinh trưởng phát dục nhanh hay chậm, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm chất đàn giống và khả năng nuôi thịt của lợn sau này Nuôi dưỡng tốt lợn con còn là cơ sở thuận lợi cho công tác chọn giống, chọn phối, là cơ sở tốt

để con vật có thể di truyền khả năng sinh sản cho đời sau

Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ tới khối lượng sơ sinh, làm nền tảng và điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng Vì vậy, để có khối lượng cai sữa/ổ cao ta phải chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn có chửa và lợn con

bú sữa, đặc biệt là bổ sung thức ăn sớm cho lợn con, giúp cho lợn con sinh trưởng phát triển mạnh, giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm giảm

tỷ lệ lợn con mắc bệnh và chết xuống mức thấp nhất

Trang 40

* Mối quan hệ giữa khối lượng cai sữa và sinh trưởng sau cai sữa

Các nhà chăn nuôi biết rằng nếu khối lượng sơ sinh tỷ lệ thuận với khối lượng cai sữa, lợn có khối lượng cai sữa lớn sẽ lớn nhanh hơn lợn có khối lượng cai sữa nhỏ, khối lượng cai sữa sẽ ảnh hưởng đên năng suất sau cai sữa Chính vì vậy, nếu khối lượng cai sữa chênh lệch thì khi lợn lớn lên khối lượng chênh lệch sẽ cao

1.1.3 Một số nét chính về hội chứng tiêu chảy của lợn con

1.1.3.1 Hội chứng tiêu chảy và nguyên nhân gây tiêu chảy

Tiêu chảy là một hội chứng lâm sàng đặc thù của nhiều bệnh đường tiêu hoá gây bởi vi trùng, virut, nấm, kí sinh trùng Hiện tượng lâm sàng xuất phát từ nguyên nhân, triệu chứng, đặc điểm và tính chất của bệnh và được gọi với nhiều tên khác nhau

Tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi, xuất hiện ở 3 giai đoạn chính (chia theo lứa tuổi) là thời kỳ sơ sinh, giai đoạn bú sữa mẹ và thời

kỳ con sau cai sữa

Ở nước ta bệnh tiêu chảy xảy ra quanh năm, đặc biệt vào vụ Đông xuân khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm

* Các nguyên nhân gây tiêu chảy

Nguyên nhân gây tiêu chảy ở từng nơi và từng giai đoạn khác nhau cũng thu được những kết quả khác nhau

Theo (Nguyễn Hữu Vũ và cộng sự, 1999)[46] có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy như: vi khuẩn, vi rút, kí sinh trùng, độc tố thức ăn gây nên các bệnh khác nhau đều dẫn đến tiêu chảy

Những nguyên nhân chính:

- Ảnh hưởng của môi trường, quản lý, chăm sóc: Thời tiết thay đổi đột ngột, chuồng trại không đảm bảo thông thoáng, không hợp vệ sinh…

- Do virus

Ngày đăng: 05/10/2014, 02:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Anh (2010) “ Thử nghiệm sử dụng một số chế phẩm sinh học để thay thế kháng trong chăn nuôi gà LV tai trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương Viện chăn nuôi quôc gia”, khoá luận tốt nghiệp Đại học, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm sử dụng một số chế phẩm sinh học để thay thế kháng trong chăn nuôi gà LV tai trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương Viện chăn nuôi quôc gia”
2. Phạm Văn Ca (2000), “Những kinh nghiệm ở Úc về giám sát việc kê đơn và mức độ kháng thuốc kháng sinh” dịch, Thông tin sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, NXB y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kinh nghiệm ở Úc về giám sát việc kê đơn và mức độ kháng thuốc kháng sinh”
Tác giả: Phạm Văn Ca
Nhà XB: NXB y học Hà Nội
Năm: 2000
3. Phạm Văn Ca (2000), Thông tin kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, NXB y học Hà Nội tháng 11/ 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh
Tác giả: Phạm Văn Ca
Nhà XB: NXB y học Hà Nội tháng 11/ 2000
Năm: 2000
4. Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Quang Tuyên (2000) “ Sử dụng chế phẩm EM phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa”. Hội chăn nuôi Việt Nam (số 1) tr 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chế phẩm EM phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa
5. Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985), “Cơ sở sinh học và biện pháp nâng cao năng suất của lợn”, nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học và biện pháp nâng cao năng suất của lợn
Tác giả: Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi
Nhà XB: nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1985
6. Nguyễn Hồng Dung, Cao Đình Tuấn (2006), “Thử dụng giải pháp thử dụng anolit và một số chế phẩm sinh học để thay thế kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt”, Tạp chí chăn nuôi, Hội chăn nuôi Việt Nam (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thử dụng giải pháp thử dụng anolit và một số chế phẩm sinh học để thay thế kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt”
Tác giả: Nguyễn Hồng Dung, Cao Đình Tuấn
Năm: 2006
7. GS. PTS. Đào Trọng Đạt- PGS. TS. Phan Thanh Phượng- PTS. Lê Ngọc Mỹ, Bệnh đường tiêu hóa ở lợn, NXB nông nghiệp Hà Nội, 1995. Tr 25- 28, 39, 52, 112, 125, 148, 149, 158, 161, 162, 170, 172, 176, 189, 221, 229, 233 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hóa ở lợn
Nhà XB: NXB nông nghiệp Hà Nội
8. Vũ Duy Giảng (2009) “Các biện pháp thay thế kháng sinh bổ sung trong thức ăn chăn nuôi”.“Http://vi.wikipedia.orrg/wiki/C%C6%A1” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp thay thế kháng sinh bổ sung trong thức ăn chăn nuô"i”.“Http://vi.wikipedia.orrg/wiki/C%C6%A1
10. Từ Quang Hiển (2003), Giáo trình chăn nuôi lợn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Từ Quang Hiển
Năm: 2003
11. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995), “Nhu cầu một số vitamin của lợn con”, Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng cho gia súc (Sau Đại học), Trường Đaị học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu một số vitamin của lợn con”, "Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng cho gia súc (Sau Đại học)
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm
Năm: 1995
12. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán (2001), “Giáo trình thức ăn dinh dưỡng gia súc”, NXB nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình thức ăn dinh dưỡng gia súc”
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán
Nhà XB: NXB nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
13. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho (1996), “Kết quả kiểm tra tính kháng kháng sinh của E.coli, phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng tại các tỉnh phía Bắc trong 20 năm qua”. Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả kiểm tra tính kháng kháng sinh của E.coli, phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng tại các tỉnh phía Bắc trong 20 năm qua”
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho
Năm: 1996
14. Cao Thị Hoa (1999) Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi lợn con theo mẹ tại Thái Nguyên, Luận văn Đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi lợn con theo mẹ tại Thái Nguyên
15. Khootenghuat (1995), Những bệnh tiêu hóa và hô hấp ở lợn, hội thảo khoa học Hà Nội 10- 11/ 3, 1995 cục thú y, tr 2- 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bệnh tiêu hóa và hô hấp ở lợn, hội thảo khoa học Hà Nội 10- 11/ 3
Tác giả: Khootenghuat
Năm: 1995
17. Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên (2000), Giáo trình vi sinh vật học chăn nuôi, nhà xất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình vi sinh vật học chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 2000
18. Phạm Thị Hiền Lương, Phan Đình Thắm (2008), Giáo trình tổ chức học, phôi thai học, nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tổ chức học, phôi thai học
Tác giả: Phạm Thị Hiền Lương, Phan Đình Thắm
Nhà XB: nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
19. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kích Trực (1975), “Giáo trình chọn giống và nhân giống gia súc”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kích Trực
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1975
20. Hồ văn Nam, Trương Quang, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch, Phùng Quốc Chướng, Báo cáo viêm ruột lợn con. đề tài cấp bộ 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo viêm ruột lợn con
21. Nguyễn Thị Nga, Quý Khiêm, Lê Thị Thu Hiền, Lưu Xuân Phúc, Nguyễn Mạnh Hùng, Đỗ Thị Nhung, Phạm Thị Hường (2008), Báo cáo khoa học công nghệ, viện chăn nuôi, tr 196- 203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học công nghệ, viện chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Thị Nga, Quý Khiêm, Lê Thị Thu Hiền, Lưu Xuân Phúc, Nguyễn Mạnh Hùng, Đỗ Thị Nhung, Phạm Thị Hường
Năm: 2008
22. Phạm Duy Phẩm (2006), Xác định hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm axit hữu cơ ultracid Lacdry và Adimix Butyrate trong thức ăn cho lợn con sau cai sữa tới 60 ngày tuổi, Báo cáo Hội nghị Khoa học Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm axit hữu cơ ultracid Lacdry và Adimix Butyrate trong thức ăn cho lợn con sau cai sữa tới 60 ngày tuổi
Tác giả: Phạm Duy Phẩm
Nhà XB: Báo cáo Hội nghị Khoa học Viện Chăn nuôi
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Kết quả xác định độ cao của nhung mao ruột non - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Bảng 3.1 Kết quả xác định độ cao của nhung mao ruột non (Trang 72)
Hình 3.2: Cấu trúc hiển vi một lát cắt ngang ruột non lợn thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Hình 3.2 Cấu trúc hiển vi một lát cắt ngang ruột non lợn thí nghiệm (Trang 73)
Hình 3.3: Ảnh lông nhung và mật độ lông nhung ruột non lợn thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Hình 3.3 Ảnh lông nhung và mật độ lông nhung ruột non lợn thí nghiệm (Trang 74)
Hình 3.4: Ảnh lông nhung và mật độ lông nhung ruột non lợn thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Hình 3.4 Ảnh lông nhung và mật độ lông nhung ruột non lợn thí nghiệm (Trang 75)
Hình 3.5: Ảnh lông nhung và mật độ lông nhung ruột non lợn thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Hình 3.5 Ảnh lông nhung và mật độ lông nhung ruột non lợn thí nghiệm (Trang 76)
Bảng 3.4a: Khối lƣợng cơ thể của lợn thí nghiệm (kg/con) - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Bảng 3.4a Khối lƣợng cơ thể của lợn thí nghiệm (kg/con) (Trang 82)
Bảng 3.4c: Thí nghiệm lần 3 - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Bảng 3.4c Thí nghiệm lần 3 (Trang 83)
Hình 3.6b: Biểu đồ khối lƣợng cơ thể của lợn thí nghiệm lần 2 - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Hình 3.6b Biểu đồ khối lƣợng cơ thể của lợn thí nghiệm lần 2 (Trang 85)
Hình 3.6c: Biểu đồ khối lƣợng cơ thể của lợn thí nghiệm lần 3 - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Hình 3.6c Biểu đồ khối lƣợng cơ thể của lợn thí nghiệm lần 3 (Trang 86)
Hình 3.6: Biểu đồ khối lƣợng cơ thể của lợn thí nghiệm tính chung - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Hình 3.6 Biểu đồ khối lƣợng cơ thể của lợn thí nghiệm tính chung (Trang 86)
Hình 3.7: Biểu đồ tăng khối lƣợng tuyệt đối của lợn thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Hình 3.7 Biểu đồ tăng khối lƣợng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (Trang 88)
Bảng 3.6. Tăng khối lượng tương đối của lợn thí nghiệm (%) tính chung - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Bảng 3.6. Tăng khối lượng tương đối của lợn thí nghiệm (%) tính chung (Trang 89)
Bảng 3.7: Mức thu nhận thức ăn của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) tính - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Bảng 3.7 Mức thu nhận thức ăn của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) tính (Trang 90)
Bảng 3.13: Một số chỉ tiêu hiệu quả chăn nuôi của lợn thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung na -butyrate vào khẩu phần ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa
Bảng 3.13 Một số chỉ tiêu hiệu quả chăn nuôi của lợn thí nghiệm (Trang 97)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w