NGUYỄN THỊ THANH HÀĐội ngũ trí thức giáo dục Đại học Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực chất lợng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chuyờn ngành: Chủ nghĩa xó hội kho
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH HÀ
Đội ngũ trí thức giáo dục Đại học Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực chất lợng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chuyờn ngành: Chủ nghĩa xó hội khoa học
Mó số : 62 22 85 01
TểM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014 Cụng trỡnh được hoàn thành tại
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Đỗ Thị Thạch
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi trongchiến lược phát triển KT-XH của mỗi quốc gia Ngày nay, hầu như bất cứ quốc gianào trên thế giới cũng đều nhận thức rõ chất lượng nguồn lực con người là nhân tốquyết định cho sự phát triển Giáo dục và đào tạo, trong đó có giáo dục đại học đượccoi là chiến lược quan trọng hàng đầu đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao, bởi nó góp phần làm tăng giá trị toàn diện của con người về các mặt: đức, trí,thể, mỹ, đặc biệt là năng lực nghề nghiệp Giáo dục đại học không chỉ tích luỹ trithức mà còn tạo ra tri thức mới, trang bị kỹ năng cần thiết giúp cho mỗi cá nhân pháthiện và làm giàu thêm sự hiểu biết để tự phát triển và khẳng định mình trong cuộcsống
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.Quá trình này chỉ đạt được kết quả khi chúng ta kết hợp tốt sức mạnh của mọi nguồn
lực, trong đó nội lực là quyết định Do vậy, yêu cầu về NNLCLC đang đặt ra đối với
hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống giáo dục đại học nói riêng, trong đó đội ngũtrí thức các nhà giáo đại học giữ vai trò trọng yếu
Trí thức giáo dục đại học (bao gồm các nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý,các chuyên gia đang trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu ở bậc đại học) là bộ phận quantrọng của đội ngũ trí thức giáo dục và đào tạo, giữ vai trò quyết định nhất trong đàotạo NNLCLC, thực hiện chuyển giao và đổi mới công nghệ, bảo tồn và phát triểnnhững giá trị văn hoá dân tộc, tiếp thu có hiệu quả những giá trị văn hoá tiên tiến trênthế giới
Thực tế gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế đã chứng minh cho sức mạnh
và đóng góp to lớn của trí thức Việt Nam vào quá trình phát triển đất nước, trong đó
có đội ngũ trí thức giáo dục đại học Bằng lao động sáng tạo của mình, trí thức giáodục đại học đã góp phần đào tạo những lớp người lao động mới (học viên, sinh viên)hữu ích cho sự phát triển xã hội Đó là NNLCLC đã, đang và sẽ làm chủ công nghệtiên tiến, từng bước sáng tạo những công nghệ mới, hiện đại, phù hợp với con người,với điều kiện và môi trường Việt Nam
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của NNLCLC trong bối cảnh đẩy mạnhCNH, HĐH và hội nhập quốc tế, giáo dục đại học Việt Nam chưa đáp ứng kịp thời,đội ngũ trí thức giáo dục đại học chưa thực sự phát huy hết tính tích cực của mình:tình trạng thừa về số lượng, yếu về chất lượng, thiếu hụt đội ngũ trí thức có trình độchuyên môn cao, năng lực sư phạm giỏi và phẩm chất chính trị vững vàng đang diễnra; mất cân đối về cơ cấu ngành nghề đào tạo… chưa hội tụ đủ những tiêu chí để đápứng kịp thời yêu cầu đổi mới của đất nước v.v
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, những bất cập của giáo dục bậc đại học,của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam đã tác động tiêu cực tới NNLCLC
Trang 4trong tương lai - những học viên, sinh viên đang trong quá trình tiếp thu và tích lũy trithức Do đó, nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đồng thời phát huy vai trò của tríthức giáo dục đại học trong đào tạo NNLCLC là một nhu cầu cấp bách hiện nay.
Từ những lí do trên đây, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành
chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích
Trên cơ sở lí luận về vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam vàthực trạng của đội ngũ trong đào tạo NNLCLC, luận án đề xuất một số quan điểm cơbản và giải pháp chủ yếu góp phần phát huy vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đạihọc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức giáo dục đại học vàNNLCLC
- Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như:phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử; đối chiếu và so sánh, nghiên cứu tài liệu vàđiều tra xã hội học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu vai trò của đội ngũ trí thức giáodục đại học (tập trung vào vai trò của đội ngũ giảng viên) trong đào tạo NNLCLC vàgiải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò đó trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
- Phạm vi nghiên cứu:
Trang 5Luận án nghiên cứu đội ngũ trí thức giáo dục đại học đang làm việc, nghiêncứu tại các trường đại học ở Việt Nam (tập trung vào đội ngũ giảng viên), từ năm
1996 đến nay
Luận án tập trung khảo sát, điều tra (500 phiếu) tại hai trung tâm giáo dục đạihọc lớn nhất Việt Nam là ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh Lí dotác giả lấy hai trường đại học đại diện trên để khảo sát vì: Đây là hai trung tâm đạihọc nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạovới nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng để đào tạo NNLCLC, bồi dưỡngnhân tài, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
5 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần làm rõ thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đạihọc trong đào tạo NNLCLC thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức giáo dụcđại học trong đào tạo NNLCLC ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp thêm căn cứ lí luận vàthực tiễn trong đề xuất chính sách đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng nhân tài của đất nước
- Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về trí thức,nguồn nhân lực và cho những nghiên cứu quan tâm đến chủ đề này
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận ángồm 4 chương, 9 tiết
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Công trình nghiên cứu ở trong nước
1.1.1.1 Về trí thức
Ở Việt Nam, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằm thúcđẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, vấn đề bồi dưỡng và phát huy nguồn
lực con người, đặc biệt nguồn lực trí tuệ - “hiền tài là nguyên khí quốc gia” là rất cần
thiết, là nhiệm vụ chiến lược quan trọng đặt ra đối với toàn bộ hệ thống chính trị vànhân dân ta Từ năm 1996 đến nay, những công trình thuộc nhóm vấn đề này đượcnhiều học giả quan tâm nghiên cứu Trong đó, đáng chú ý là một số công trình tiêubiểu sau:
Phạm Tất Dong (chủ biên), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tầng lớp trí
thức Những định hướng chính sách, thuộc chương trình KHXH.03 (Giai đoạn 1996
Trang 6-2000) Đề tài đã làm rõ những vấn đề đặt ra của đội ngũ trí thức Việt Nam với tư cách
là nguồn lực quan trọng, cơ bản để đào tạo nguồn nhân lực; vị trí, vai trò của đội ngũtrí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH.Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước cóchiến lược phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam
Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb CTQG, Hà Nội Thông qua việc làm rõ
quan niệm về trí thức, trí thức nữ, những phẩm chất trí tuệ và các yếu tố tác động đến
sự phát triển trí tuệ, tác giả đi sâu phân tích sự hình thành, đặc điểm, vai trò củanguồn lực trí thức nữ Việt Nam, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nguồn lựctrí thức nữ Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
Phan Thanh Khôi (2008) "Đội ngũ trí thức Việt Nam, quan niệm, thực trạng,
phát huy vai trò và xu hướng biến đổi", Tài liệu tham khảo, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Những thuộc tính cơ bản của trí thức còn đượctác giả đề cập và phân tích trên các khía cạnh: trí thức là người lao động trí óc, phứctạp, sản xuất giá trị tinh thần là chủ yếu; nội dung lao động của trí thức mang tínhsáng tạo khoa học; tri thức và học vấn của trí thức cao hơn hẳn mặt bằng dân trí; hìnhthức lao động của trí thức có tính đặc thù cao như: mang tính cá nhân rõ nét, hoạtđộng trong không gian mở, thời gian linh hoạt, đòi hỏi lý trí cao, đặc điểm tâm lý lốisống cũng có tính khác biệt: nhạy cảm nhưng dễ dị ứng, kiêu hãnh nhưng dễ tự kiêu
và có những nhược điểm nhất định
Nguyễn An Ninh (2008), Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và
nhân văn trong công cuộc đổi mới đất nước Tác giả đã nêu một số quan điểm mới
về tiềm năng, tiềm năng của trí thức KHXH&NV; đồng thời cũng làm rõ những tiềmnăng to lớn của đội ngũ này đối với sự phát triển xã hội Từ đó, tác giả trình bày một
số giải pháp nhằm phát huy tiềm năng của đội ngũ trí thức KHXH&NV trong giaiđoạn hiện nay
Đàm Đức Vượng, Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020,
Mã số: KX.04.16/06 -10 Bên cạnh những vấn đề cơ bản về trí thức, đề tài đi sâu làm
rõ thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam.Từ đó, đề tài đề xuất một số giải pháp vềđào tạo và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, góp phần quan trọng và có tính quyếtđịnh để thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đến năm 2020
Nguyễn Khánh Bật - Trần Thị Huyền (đồng chủ biên) 2012, Xây dựng đội ngũ
trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh,
Nxb CTQG, Hà Nội Cuốn sách khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về tríthức, vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam Từ đó, cáctác giả đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ trí thức trong giai đoạn
2010 - 2020
Nguyễn Thị Thơm (2012), Tạo động lực và môi trường để phát huy tính sáng
tạo của đội ngũ trí thức, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 11 Ngoài việc phân tích
những đặc điểm cơ bản nhất của đội ngũ trí thức, tác giả đã đưa ra năm vấn đề chủ
Trang 7yếu nhằm tạo động lực và môi trường để phát huy tính sáng tạo của đội ngũ trí thức lực lượng tinh túy của NNLCLC.
-Nguyễn Trọng Chuẩn (2013), Trí thức và trách nhiệm xã hội, Tạp chí Cộng
sản, số 853 Bài viết chia làm ba phần lớn, thứ nhất, tác giả phân tích vai trò lao độngtrí óc của trí thức trong lịch sử nhân loại tiến bộ; thứ hai, phân tích trách nhiệm của tríthức trong mọi thời đại; thứ ba, phân tích vai trò và trách nhiệm xã hội của trí thứcViệt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Cuối cùng tác giả kết luận: Tríthức chỉ có thể thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình, nếu như họ ý thức rõđược trách nhiệm đó
1.1.1.2 Về giáo dục đại học và trí thức giáo dục đại học
Lâm Quang Thiệp xuất bản hai cuốn sách cùng tên: “Giáo dục học đại học”,
Hà Nội, 1997 của Vụ Đại học - trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo (quyển I:
các tài liệu chính) và “Giáo dục học đại học”, Hà Nội, 2003 của Khoa Sư phạm
thuộc ĐHQG Hà Nội đã giới thiệu nhiều chuyên đề bàn luận trực tiếp đến hoạt động
tổ chức đào tạo, quản lý chất lượng cho giáo dục đại học Với chuyên đề “Về hệ
thống đảm bảo chất lượng cho giáo dục đại học Việt Nam”, tác giả bước đầu xây
dựng quan niệm về chất lượng giáo dục đại học và thẳng thắn thừa nhận: hệ thốnggiáo dục đại học Việt Nam chưa “cảm nhận” hết được sự thúc ép mạnh mẽ của nềnkinh tế thị trường, của xu thế hội nhập, quốc tế hóa giáo dục đại học, quốc tế hóa thịtrường sức lao động, những đòi hỏi về nguồn nhân lực của Việt Nam trong thời kỳđẩy mạnh CNH, HĐH
Hoàng Chí Bảo (2006), Bản chất của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu
Khoa học (tài liệu tham khảo), Hà Nội Tác giả nhấn mạnh, giáo dục đại học gắn liền
giảng dạy với nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất Đội ngũ nhà giáo và các nhàkhoa học có quan hệ hợp tác, gắn bó với nhau thường xuyên, lâu dài Vì vậy, laođộng của trí thức giáo dục đại học thể hiện rõ tính sáng tạo với những sắc thái biểuhiện phong phú, đa dạng và phức tạp của nó
Nguyễn Đức Chính và Nguyễn Phương Nga đã thực hiện đề tài trọng điểm cấp
ĐHQG Hà Nội mã số QGTĐ.02.06: Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt
động giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học của giảng viên trong Đại học Quốc gia Đề tài nghiên cứu xem xét, phân tích các kinh nghiệm về đánh giá chất lượng
giảng dạy, nghiên cứu khoa học của một số trường đại học trên thế giới Trên cơ sởphân tích hiện trạng của hai hoạt động cơ bản này ở ĐHQG Hà Nội, đề tài xây dựngcác tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên cótính đến xu thế hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học
Phòng Phát triển con người khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân
hàng Thế giới với Báo cáo “Giáo dục đại học và kỹ năng cho tăng trưởng”, tháng
6/2008 Báo cáo tập trung nghiên cứu lĩnh vực giáo dục đại học trong mối liên hệ vớitrị trường lao động ở Việt Nam Rất nhiều nội dung quan trọng về chất lượng củagiáo dục đại học được luận giải, khảo sát và chứng minh Đáng chú ý là vấn đề hiệu
Trang 8quả đào tạo; chương trình học, phương pháp sư phạm; chất lượng đội ngũ giảng dạy;năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên; sự hài lòng của sinh viên; khả năng,mức độ cung cấp thỏa đáng các kỹ năng cần thiết của giáo dục đại học Việt Nam chonguồn nhân lực.
Nguyễn Bá Cần (2009), Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học
Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội Tiếp cận đặc điểm của giáo dục
đại học trong điều kiện kinh tế thị trường, tác giả cho rằng, sản phẩm giáo dục đạihọc là loại sản phẩm dịch vụ, nhưng nó không thích hợp với việc mua - bán hànghóa
Trần Khánh Đức (2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ
XXI, Nxb Giáo dục, Hà Nội Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc đổi mới
giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là phát triển đội ngũ giảng dạy,nghiên cứu chuyên ngành trong các trường đại học, cuốn sách là tài liệu chuyên khảocho giáo dục bậc đại học Với 12 chương, tác giả đi từ lịch sử vấn đề cho tới nhữngnội dung cụ thể về: chương trình giáo dục đại học, cách đánh giá và quản lý chấtlượng trong giáo dục đại học, khoa học luận và phương pháp nghiên cứu khoa họctrong giáo dục đại học nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học
giai đoạn 2010 - 2012, Nxb Giáo dục, Hà Nội Công trình nghiên cứu đi sâu phân
tích thực trạng của hệ thống giáo dục đại học hiện nay, chương trình hành độngcủa Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học giai đoạn
2010 - 2012
Nguyễn Văn Sơn (2010), Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG, Hà Nội Cuốn sách đã làm rõ tính
đặc thù của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong tầng lớp trí thức Việt Nam Tácgiả tập trung phân tích thực trạng về cơ cấu chất lượng đội ngũ trí thức giáo dục đạihọc theo các phương thức hoạt động chủ yếu, theo nhóm ngành khoa học lớn, theo sựphân bố vùng lãnh thổ, theo các trường và chủ thể quản lý, về trình độ, phẩm chất,năng lực của đội ngũ Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũnày cơ cấu hợp lý và chất lượng cao nhằm đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta
Tạ Ngọc Tấn (Chủ biên) (2012), Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân
lực, nhân tài - một số kinh nghiệm của thế giới Cuốn sách là một công trình nghiên
cứu lớn đã trình bày tổng quan về phát triển giáo dục và đào tạo một số nước trên thếgiới; xu hướng nổi bật của nền giáo dục đại học thế kỷ XXI Vấn đề phát triển giáodục và đào tạo ở một số nước trên thế giới: chiến lược phát triển giáo dục Nga thế kỷXXI, đại học Đức, cải cách chương trình giảng dạy ở Nga, Trung Quốc, Anh; Chínhsách giáo dục Thuỵ Điển, Na Uy, Phần Lan…; hệ thống giáo dục Hoa Kỳ, thế kỷ đạihọc châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…)
Trang 9Ngô Văn Hà (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây dựng
đội ngũ giảng viên đại học hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội Tác giả phân tích một cách
có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy: vai trò, phẩm chất đạo đức, chuyênmôn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy của người thầy giáo; đánh giá thực trạngcủa đội ngũ giảng viên đại học về số lượng, chất lượng, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngànhnghề, khía cạnh thu nhập và vị thế của họ trong xã hội
1.1.1.3 Về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Đỗ Minh Cương (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt
Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Với quan điểm xem nhà giáo đại học là nhân tố quan
trọng và có ý nghĩa quyết định nhất đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta,tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của trí thức giáo dục đại học, đánh giá thực trạngnguồn nhân lực giáo dục đại học, qua đó luận chứng một số giải pháp xây dựng pháttriển đội ngũ này trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Tác giả đi sâu bàn về phạm trù nguồn lực trí tuệ và nội
hàm của nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam; tầm quan trọng của việc phát huy nguồn lựctrí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta Tác giả làm rõ thực trạng của nguồn lực trítuệ Việt Nam (điểm mạnh, mặt hạn chế), từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu đểxây dựng nguồn lực trí tuệ Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Đây làcông trình chuyên khảo, chuyên sâu về nguồn lực trí tuệ ở nước ta, là tài liệu bổ ích
để tác giả nghiên cứu cho các nội dung trong luận án của mình
Viện CNXH khoa học (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài
khoa học cấp cơ sở năm 2010, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức Đề tài đã
tập trung làm rõ lý luận về NNLCLC và CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức; đồngthời tìm hiểu kinh nghiệm thế giới về phát triển NNLCLC và thực trạng NNLCLCcủa Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó, đề tài chỉ ra xu hướngphát triển NNLCLC, đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn lực này đápứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức của Việt Nam
Đặng Hữu Toàn (2012), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - một đột
phá chiến lược trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam giai đoạn 2011
-2020, Tạp chí Triết học, số 8 (255)/2012 Trong bài viết, tác giả nêu rõ: Phát triển
NNLCLC là định hướng mang tầm chiến lược; là khâu đột phá quyết định; là yếu tốhàng đầu để đẩy nhanh sự phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; là lợi thếcạnh tranh quan trọng nhất trong phát triển KT -XH nhanh và bền vững; là đột pháchiến lược trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thực hiện tái cơ cấu lại nền kinh
tế đất nước
Những công trình, bài viết tiêu biểu về trí thức, trí thức giáo dục đại học,nguồn nhân lực và NNLCLC ở trong nước mà tác giả đã tổng quan ở trên là tài liệutham khảo rất có ý nghĩa đối với luận án Ở những góc độ tiếp cận khác nhau, mộtmặt, các học giả khẳng định vai trò của trí thức Việt Nam trong lịch sử, mặt khác đã
Trang 10chỉ ra sứ mệnh của người trí thức nói chung và trí thức giáo dục đại học trong sựnghiệp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế.
1.1.2 Công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
1.1.2.1 Công trình nghiên cứu về trí thức
Nhà xuất bản Trí thức ra cuốn sách “Tập tiểu luận về trí thức Nga” (4/2009)
do hai dịch giả Việt Nam là La Thành và Phạm Nguyên Trung dịch Đây là côngtrình tập hợp các bài viết của các học giả - trí thức của nước Nga trước Cách mạngTháng Mười, của nước Nga thuộc Liên Xô cũ và nước Nga thời kỳ “hậu Xô viết”.Chính kiến của họ rất đa dạng, đôi khi đối chọi nhau, nhưng đều trong tinh thần họcthuật nghiêm túc và với ý thức trách nhiệm xã hội hết sức đáng trân trọng
Khi nói đến nhiệm vụ của người trí thức với chức năng đào tạo trong quá trìnhphát triển của đất nước, các cựu tổng thống của Hoa Kỳ, như John Kenơdi, G Bushđều nhấn mạnh: Trường đại học là nguồn lực đảm bảo sức mạnh và khả năng sốngcòn của đất nước Nguyên Thủ tướng Quốc Vụ viện nước Cộng hòa dân chủ nhândân Trung Hoa - Lý Bằng cũng đã từng nhấn mạnh chức năng đào tạo và xác địnhvai trò, vị trí của tầng lớp trí thức trong sự phát triển KT- XH của đất nước Ông chorằng, ra sức phát triển giáo dục là con đường tất yếu để nâng cao trình độ người laođộng và chấn hưng nền kinh tế v.v
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về trí thức, vai trò của trí thức, nhiềunhà khoa học quốc tế còn quan tâm nghiên cứu về vấn đề con người, nhân tài, nguồnnhân lực, NNLCLC Tiêu biểu như công trình của: Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diện
(chủ biên) (1996), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế sách trăm năm chấn
hưng đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội Đây là cuốn sách có ý nghĩa tham khảo đối với
Việt Nam trong công cuộc đổi mới Nội dung cuốn sách nói về tư tưởng nhân tài củaĐặng Tiểu Bình - nhà lãnh đạo kiệt xuất của công cuộc cải cách, mở cửa, xây dựnghiện đại hóa XHCN của Trung Quốc
1.1.2.2 Công trình nghiên cứu về giáo dục đại học
Để bắt kịp với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ, xu hướng biến đổi mạnh mẽ của giáo dục đại học trên phạm vi toàn thế giới,UNESCO đã tổ chức Hội nghị thế giới đầu tiên về giáo dục đại học phục vụ hoạtđộng tập trung trí tuệ của nhân loại suy nghĩ về một nền giáo dục cho thế kỷ XXI (tổ
chức vào 10/1998 tại Paris), với khẩu hiệu “Highter Education in the Twenty - first
Century, Vision and Action” (Giáo dục đại học thế kỷ XXI, Tầm nhìn - Hành động).
Đây là công trình nghiên cứu quốc tế quan trọng, các tác giả và những người nghiêncứu về giáo dục đại học thấy được sứ mệnh cao cả của hệ thống giáo dục đại học nóichung và đội ngũ trí thức giáo dục đại học nói riêng, đó là phải gìn giữ, củng cố vàphát triển “sự nghiệp trồng người” một cách có trách nhiệm
J.Vial - nhà giáo dục Pháp, trong cuốn "Lịch sử và thời sự về các phương pháp
sư phạm", (1993) đã kiến tạo một quan điểm mới về đặc điểm lao động của trí thức
Trang 11nhà giáo ở bậc đại học J.Vial khẳng định: Người dạy không chỉ làm tốt chức năngkép của mình là biết cách truyền đạt cái người học cần mà còn biết tổ chức quá trìnhnhận thức cho người học có thể tích cực, chủ động chiếm lĩnh nội dung học Để thựchiện vai trò "trọng tài, cố vấn" trong quá trình dạy học, người giảng viên đại học cầnphải có phẩm chất của nhà sư phạm và nhà khoa học Từ lập luận của J.Vial, có thểxem đây là đặc thù lao động xét về chức năng, nhiệm vụ nghề nghiệp của trí thứcgiáo dục đại học.
J.A Centra với các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: "Tự đánh giá của
giảng viên đại học: Một so sánh với đánh giá của sinh viên", Tạp chí Đánh giá Giáo
dục, số 13 năm 1973; Xác định hiệu quả công tác của giáo viên, Nxb JOSEY-BASS
năm 1998, San Francisco - London J.A Centra cho rằng, bất cứ người giảng viên nàocũng cần thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu như giảng dạy, NCKH,dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng
Văn phòng Hội đồng giáo dục, Bộ Giáo dục Thái Lan (2008), Chiến lược và lộ
trình cải cách giáo dục đại học Thailand (TS Hoàng Ngọc Vinh dịch) Tài liệu gồm
sáu phần, trong đó, đáng chú ý là những vấn đề nổi cộm của giáo dục đại học TháiLan Từ đó, Chiến lược đưa ra sáu cải cách cơ bản (cả phạm vi quốc gia và cơ sởgiáo dục đại học) Có thể nói, kinh nghiệm cải cách giáo dục của Thái Lan giúpchúng ta nhìn lại cách làm của mình để từ đó đúc kết, phát triển và sáng tạo trongđiều kiện của Việt Nam
1.1.2.3 Công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao
Một số đóng góp trong việc tổng kết kinh nghiệm phát triển kinh tế các nướcĐông Nam Á, lý giải thành công của các nước NICS chủ yếu thông qua con đườnggiáo dục và đào tạo đội ngũ nhân lực trình độ cao được trình bày trong một số bài viết
của Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ, Sarath Rajapatirana (2002), Bài học kinh nghiệm
của các quốc gia Đông Nam Á - Lý giải và ý nghĩa đối với Việt Nam Lưu Kim Hâm
(2003), Trung Quốc trước thách thức của thế kỷ XXI, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
(tài liệu dịch)… Các tác giả chỉ ra rằng, một đặc trưng cơ bản trong phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao ở các nước Đông Nam Á là việc xây dựng hệ thống giáo dụcđại học chất lượng cao Trong đó, Singapore là một trong những nước Đông Á điểnhình và hiện nay là một trong những trung tâm đào tạo uy tín của thế giới
Bên cạnh kinh nghiệm “tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài” hay thực hiện
chiến lược “nhân tài kiến quốc” của Trung Quốc trong công cuộc cải cách đất nước
từ nawm1978 đến nay, phải chăng đó chính là nguyên nhân thành công của TrungQuốc trở thành trụ cột mới của nền kinh tế thế giới
Có thể nói, những nghiên cứu chuyên sâu của các học giả nước ngoài về tríthức, giáo dục đại học và về những đặc điểm lao động của đội ngũ này cho thấy sựquan tâm và đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng của lực lượng không nhỏ -
Trang 12NNLCLC đã, đang, và sẽ đóng góp vào quá trình đào tạo thêm những nguồn nhânlực mới có chất lượng trong tương lai.
1.2 Những giá trị khoa học của các công trình tổng quan và những vấn đề luận án cần làm rõ
1.2.1 Những giá trị khoa học của các công trình tổng quan
Thông qua tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tàiluận án, tác giả khái quát một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa một số cách tiếp cận về
trí thức nói chung và trí thức giáo dục đại học nói riêng trên nhiều bình diện đa dạng
và phong phú: từ việc nhận thức, suy ngẫm về vấn đề trí thức, cho đến đánh giá vaitrò của đội ngũ trí thức trong KHXH&NV và trí thức lĩnh vực khoa học khác… cáccông trình còn bàn về vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởngtưởng Hồ Chí Minh để giải quyết chính sách, tạo động lực và phát huy tiềm năng trítuệ của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Thứ hai, với phạm vi nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, các tác giả đã làm
rõ vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển xã hội Đặc biệt, những năm gầnđây, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN, của KTTT, đặt ra tháchthức đối với Việt Nam về NNLCLC, phục vụ sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế,các công trình đã nghiên cứu sâu, rộng về khái niệm, đặc điểm, tiêu chí đánh giá vàvai trò của NNLCLC Qua đó, các công trình đánh giá những thành tựu, chỉ ra nhữnghạn chế, yếu kém của NNLCLC ở Việt Nam, đòi hỏi có sự vào cuộc và trách nhiệmcủa các cấp, bộ, ngành, trong đó vai trò chủ đạo là giáo dục bậc đại học, góp phầnđào tạo và bồi dưỡng một cách hiệu quả lực lượng trí tuệ lớn mạnh này
Thứ ba, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu về vai trò của đội ngũ trí
thức giáo dục đại học đầy đủ và hệ thống dưới góc độ chính trị - xã hội thuộc chuyênngành CNXH khoa học, chưa đi sâu làm rõ nhằm khẳng định việc phát huy vai tròcủa đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam trong đào tạo NNLCLC là một yêucầu bức thiết để đưa Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng CNXH
Giá trị của các công trình nghiên cứu nêu trên là hệ thống tài liệu tham khảoquý báu giúp tác giả kế thừa có chọn lọc, góp phần gợi mở, định hướng những vấn đềkhoa học và một số hướng tiếp cận mới cho tác giả, đặt ra những vấn đề cần tiếp tụclàm rõ
1.2.2 Những vấn đề cơ bản luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ
Một là, khái quát cơ sở lí luận về trí thức giáo dục đại học, đặc biệt là phân tích
những đặc điểm cơ bản của đội ngũ trí thức giáo dục đại học để thấy rõ hơn tính chấtlao động sáng tạo và những đặc thù của đội ngũ trí thức giáo dục đại học so với tríthức ở những lĩnh vực khoa học khác
Trang 13Hai là, khái quát về NNLCLC và vai trò của NNLCLC ở Việt Nam trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; chỉ ra những nhu cầu bức thiết trongđào tạo, bồi dưỡng và phát triển NNLCLC của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Ba là, làm rõ thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học với đào
tạo NNLCLC ở Việt Nam hiện nay Cụ thể là:
- Vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong đào tạo chuyên môn, kỹnăng lao động cho NNLCLC;
- Vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong trang bị cho NNLCLCphương pháp nghiên cứu, phương pháp làm việc;
- Vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong bồi dưỡng lý tưởng sống,nhân cách làm người cho NNLCLC; tạo động lực cho họ vươn lên trong học tập,trong quá trình chuẩn bị lập nghiệp
Bốn là, từ những hạn chế và vấn đề đang đặt ra trong việc thực hiện vai trò của
đội ngũ trí thức giáo dục đại học, đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò củatrí thức giáo dục đại học trong đào tạo NNLCLC thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH sẽđạt được những kết quả tích cực
Kết luận chương 1
Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 2.1 Quan niệm về trí thức giáo dục đại học và nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.1.1 Quan niệm về trí thức giáo dục đại học
2.1.1.1 Khái niệm trí thức giáo dục đại học
Trên cơ sở tìm hiểu các công trình nghiên cứu với ba hướng tiếp cận: Thứ
nhất, quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về trí thức; Thứ hai, quan niệm của Hồ
Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về trí thức; Thứ ba, quan niệm về trí thức của
một số nhà khoa học, tác giả luận án nhất quán với quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về trí thức: Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao
về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá vàlàm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội
- Trí thức giáo dục đại học là một bộ phận đặc thù của đội ngũ trí thức giáo dục
và đào tạo Đó là những cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý trựctiếp trong hệ thống giáo dục bậc đại học, nhằm đào tạo, bồi dưỡng và phát triểnnguồn nhân lực và nhân tài cho đất nước
Trang 14- Trí thức giáo dục đại học là những người trực tiếp tham gia vào quá trình đàotạo ở bậc học cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân
- Trí thức giáo dục đại học thực hiện đào tạo đội ngũ cán bộ, đội ngũ trí thứcmới nhằm đảm bảo cho sự vận động và phát triển của đội ngũ trí thức
- Trí thức giáo dục đại học đại biểu cho hầu hết các ngành khoa học hiện cócủa quốc gia
- Đối tượng tác động chủ yếu của trí thức giáo dục đại học là những sinh viên,học viên cao học và nghiên cứu sinh Trong luận án, tác giả quan niệm đây là nguồnnhân lực chất lượng cao hiện tại và tương lai
- Nhiệm vụ của trí thức giáo dục đại học là bằng lao động sáng tạo của mìnhbằng phẩm chất và năng lực của nhà giáo, tác động vào các đối tượng học viên,sinh viên nhằm đào tạo ra những người lao động có trình độ cao, có phẩm chất đạođức tốt… đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực chất lượng cao chođất nước
- Sản phẩm lao động sáng tạo của người trí thức giáo dục đại học là nhân cách,năng lực và phẩm chất, là trí tuệ của những học viên, sinh viên - những trí thức trẻtrong tương lai
- Lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức giáo dục đại học liên quan trực tiếpđến con người, đến việc khai thác và phát huy năng lực nội sinh của từng cá nhântrong việc tiếp thu tri thức, tiếp cận chân lý và khả năng tự học, tự nghiên cứu cũngnhư trong việc xây dựng và phát triển nhân cách cá nhân
Tóm lại, theo tác giả, trí thức giáo dục đại học là đội ngũ trí thức làm công
tác giáo dục và đào tạo ở bậc đại học, tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡngnguồn nhân lực trình độ cao, nhằm giúp người học nắm vững kiến thức chuyênmôn, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, có khả năng phát hiện, giải quyết vấn đềmột cách độc lập
2.1.1.2 Đặc điểm của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
Đặc điểm hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
Đánh dấu mốc son lịch sử về sự ra đời của đội ngũ trí thức giáo dục đại họcViệt Nam, tháng 3 năm 1075 khoá thi Nho học đầu tiên nước ta được tổ chức, đượcgọi là khoá thi tuyển Minh kinh bác học và Nho học tam trường Từ khoa thi đầu tiênnăm Ất Mão (1075) đến khoa thi cuối cùng năm Kỷ Mùi (1919), các triều đại đã tổchức được 187 khoa thi, lấy được 2898 người đậu tiến sĩ và hàng chục người đậu cửnhân Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng duy trì các khoa thi Nho học Điều đó đãchứng tỏ truyền thống khoa bảng của nền giáo dục Việt Nam
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghòa đã chú trọng xây dựng đội ngũ trí thức, đào tạo cán bộ có trình độ cao Ngày khaigiảng đầu tiên, Việt Nam đã có 3 trường đại học: Y dược, Văn khoa và Xã hội Bước