1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên

83 597 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn –––––––––––––––––––– ĐẶNG VĂN NGHIỆP NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỘ DÀY MỠ LƯNG VỚI CÁC CHỈ TIÊU SINH L

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

––––––––––––––––––––

ĐẶNG VĂN NGHIỆP

NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỘ DÀY MỠ LƯNG VỚI CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ SINH DỤC VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI MỘT SỐ TRẠI CHĂN NUÔI TẬP TRUNG

Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

––––––––––––––––––––

ĐẶNG VĂN NGHIỆP

NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỘ DÀY MỠ LƯNG VỚI CÁC CHỈ TIÊU SINH LÝ SINH DỤC VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI NGOẠI NUÔI TẠI MỘT SỐ TRẠI CHĂN NUÔI TẬP TRUNG

Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.40

Người hướng dẫn khoa học: 1 TS NGUYỄN ĐỨC HÙNG

2 PGS.TS TRẦN VĂN PHÙNG

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài đã đƣợc cám

ơn và các thông tin trích dẫn đều chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Đặng Văn Nghiệp

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Sau một thời gian tham gia học tập tại trường, đồng thời tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh Thái Nguyên”, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn của mình

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhà trường, của Khoa sau đại học, Khoa Chăn nuôi Thú

y - trường Đại học Nông Lâm cùng các thầy cô, các cơ quan, gia đình và bạn

bè đồng nghiệp

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu

đó đã giúp tôi hoàn thành chương trình học tập thuận lợi Đặc biệt, tôi xin cảm

ơn thầy giáo TS Nguyễn Đức Hùng, Thầy giáo PGS.TS Trần Văn Phùng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài để hoàn thành bản luận văn này

Một lần nữa tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn và toàn thể các thầy

cô giáo, bạn bè, gia đình giúp tôi hoàn thành bản luận văn này

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2010

Tác giả

Đặng Văn Nghiệp

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẶT VẤN ĐỀ 0

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1.1 Tính trạng số lượng và sự di truyền tính trạng số lượng 3

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng 4

1.1.3 Hệ số di truyền một số tính trạng ở lợn (Heritability coeficient - h2) 7

1.1.4 Ưu thế lai 8

1.1.5 Hoạt động sinh lý sinh dục của lợn cái 10

1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái 16

1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 17

1.1.8 Mối quan hệ giữa thể trạng và khả năng sinh sản của lợn nái 27

1.1.9 Các nguyên nhân ảnh hưởng tới thể trạng của lợn 28

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 29

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 29

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.2 Địa điểm nghiên cứu 33

2.3 Nội dung nghiên cứu 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu cơ cấu đàn lợn nái của các cơ sở chăn nuôi 33

2.4.2 Phương pháp xác định độ dày mỡ lưng của lợn 33

2.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu về sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của lợn nái 36

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 38

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nuôi Thắng Lợi 39 3.2 Kết quả theo dõi độ dày mỡ lưng của đàn nái sinh sản 41 3.3 Kết quả đo độ dày mỡ lưng của lợn nái sinh sản theo lứa đẻ 44 3.4 Ảnh hưởng của độ dầy mỡ lưng đến hoạt động sinh lý sinh dục của lợn nái sinh sản 47 3.4.1 Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến thời gian động dục trở lại

sau đẻ của lợn nái 47 3.4.2 Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng tới tỷ lệ phối giống thụ thai của lợn nái 49 3.5 Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến khả năng sản xuất của lợn nái sinh sản 51 3.5.1 Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến số lợn con 51 3.5.2 Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến khối lượng lợn con 53 3.6 Tương quan giữa độ dày mỡ lưng và một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái 55 3.7 Tương quan giữa độ dày mỡ lưng và số lượng lợn con đẻ ra/lứa của lợn nái sinh sản 58 3.8 Mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng và các chỉ tiêu về khối lượng lợn con 60 3.9 Kết quả theo dõi nguyên nhân ảnh hưởng đến độ dày mỡ lưng lợn nái hậu bị và nái sinh sản 61 3.10 Giải pháp để cải thiện khả năng sản xuất của lợn nái trong các cơ sở chăn nuôi tập trung tại Thái Nguyên 62

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.10.2 Ảnh hưởng của việc can thiệp bằng chế độ dinh dưỡng đến

sinh lý sinh dục của lợn nái 65

3.10.3 Ảnh hưởng của việc can thiệp bằng chế độ dinh dưỡng đến số con đẻ ra/lứa 66

3.10.4 Ảnh hưởng của việc can thiệp bằng chế độ dinh dưỡng đến khối lượng lợn con của nái gày và béo 67

Chương 4 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 69

4.1 Kết luận 69

4.2 Tồn tại 70

4.3 Đề nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

I Tài liệu tiếng Việt 71

II Tài liệu tiếng Anh 73

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Sơ đồ 1.1 Cơ chế điều hoà hoạt động sinh dục ở lợn cái dưới sự điều tiết

của thần kinh thể dịch (Schmitten và CS, 1989) [41] 12

Bảng 3.1 Cơ cấu đàn nái của các cơ sở chăn nuôi 40

Bảng 3.2 Độ dày mỡ lưng của lợn nái sinh sản 42

Bảng 3.3 Độ dày mỡ lưng của lợn nái sinh sản theo lứa đẻ 45

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến thời gian động dục của lợn nái 47

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng tới kết quả phối giống và loại thải của lợn nái 50

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến số lợn con/lứa 51

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến khối lượng lợn con 54

Bảng 3.8 Mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng và một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái hậu bị 56

Bảng 3.9 Mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng và một số chỉ tiêu sản xuất của lợn nái 58

Bảng 3.10 Tương quan giữa độ dày mỡ lưng lợn mẹ và khối lượng lợn con 60

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của can thiệp bằng dinh dưỡng đến độ dày mỡ lưng 64

Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của các nhóm lợn nái được can thiệp bằng chế độ dinh dưỡng 65

Bảng 3.13 Số lượng lợn con/lứa của các nhóm lợn nái được can thiệp bằng chế độ dinh dưỡng 66

Bảng 3.14 Khối lượng lợn con của các nhóm lợn nái được can thiệp bằng chế độ dinh dưỡng 67

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đã từ lâu, chăn nuôi là ngành cung cấp thực phẩm chủ yếu phục vụ đời sống con người Cùng với nhu cầu thực phẩm của con người ngày càng cao, chăn nuôi cũng đạt nhiều thành tựu nhằm đáp ứng nhu cầu đó Trong ngành chăn nuôi, nghề nuôi lợn chiếm vị trí rất quan trọng Theo thống kê của FAO (2008), tổng sản lượng thịt trên toàn thế giới là 232,1 triệu tấn, trong đó thịt lợn là 103 triệu tấn, chiếm gần 44%; thịt bò là 52,9 triệu tấn, chiếm 22,79%, thịt gà là 48,6 triệu tấn, chiếm 20,93% Ở nước ta, nghề chăn nuôi lợn đã có

từ lâu đời, ngày càng phát triển, và đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực như: chọn tạo giống, dinh dưỡng, kỹ thuật chăn nuôi, quy trình vệ sinh và thú y… Do vậy, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi lợn không ngừng được nâng cao Số lượng đầu lợn tăng với tốc độ ngày càng nhanh Theo số liệu của Cục thống kê (năm 2007), tổng đàn lợn ở Việt Nam năm 2005 đạt 27,434 triệu con, năm 2006 đạt 26,85 triệu con, đã sớm đạt và vượt mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 đạt 25 triệu con

Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả chăn nuôi luôn là nhu cầu của các nhà sản xuất và cũng là đòi hỏi của nhà nước với các nhà khoa học Nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng đàn lợn và nạc hoá đàn lợn cũng như chuyển sang hướng chăn nuôi tập trung, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều dự án, chương trình nhằm cải tạo đàn lợn, tăng dần tỷ lệ đàn nái ngoại

và nái lai trong cơ cấu đàn nhằm đáp ứng nhu cầu sản phẩm có chất lượng cao

ở trong nước cũng như xuất khẩu

Cùng với xu thế của cả nước, tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện các dự án nạc hoá đàn lợn, đưa nái ngoại vào chăn nuôi ở các nông hộ từ những năm 90 của thế kỷ XX Đến nay, đã có rất nhiều cơ sở chăn nuôi lợn nái ngoại quy mô từ

50 - 100 - 150 nái/trại Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của tỉnh, góp phần cung cấp thực phẩm với tỷ lệ nạc cao cho người tiêu dùng

Trang 10

Hiệu quả chăn nuôi lợn nái phụ thuộc rất nhiều vào các chỉ tiêu kinh tế

kỹ thuật như: tỷ lệ phối giống, số con đẻ ra trên lứa, số con cai sữa trên lứa, trọng lượng sơ sinh toàn ổ, khối lượng cai sữa toàn ổ

Tuy nhiên, hiện nay tại rất nhiều cơ sở chăn nuôi, khả năng sinh sản của đàn nái có xu hướng giảm, mà một trong các nguyên nhân là do việc chăm sóc nuôi dưỡng chưa hợp lý, đàn lợn nái thường bị béo sớm, có hiện tượng chậm động dục, tỷ lệ phối giống đạt yêu cầu thấp, đẻ ít con, phải loại thải sớm, tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục nhiều do quá béo … Điều đó đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi của các trang trại

Vì vậy, nghiên cứu yếu tố thể trạng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại là rất cần thiết Thông qua việc nghiên cứu yếu tố thể trạng có thể đề xuất các biện pháp nuôi dưỡng thích hợp nhằm cải thiện thể trạng góp phần nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái

Từ những lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh Thái Nguyên”

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Đánh giá ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng tới khả năng sinh sản của lợn nái ngoại nuôi tại tỉnh Thái Nguyên

- Xác định mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh sản của nái ngoại

- Đề xuất các giải pháp chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý để nâng cao khả năng sinh sản của đàn nái ngoại

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

- Cung cấp cho các cơ sở chăn nuôi hiểu đầy đủ về mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng đến năng suất sinh sản của lợn nái

- Góp phần cải thiện và nâng cao sức sinh sản của nái ngoại nuôi tại địa phương

- Nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng và các chỉ tiêu sinh sản của nái ngoại

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Tính trạng số lượng và sự di truyền tính trạng số lượng

Tính trạng số lượng là những tính trạng mà sự sai khác giữa các cá thể

là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại Tính trạng số lượng còn được coi là tính trạng đo lường vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào đo lường Hầu hết những tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là những tính trạng số lượng và phần lớn những sự thay đổi trong quá trình tiến hoá của sinh vật cũng là sự thay đổi của các tính trạng số lượng

Đề giải thích hiện tượng di truyền các tính trạng số lượng Nilson và Ehle (1908) (được Trần Đình Miên trích dẫn, 1975) [11] đã đưa ra giả thuyết

đa gen với nội dung sau: Tính trạng số lượng chịu tác động của nhiều cặp gen Phương thức di truyền của các cặp gen này tuân theo các quy luật cơ bản của

di truyền: phân li, tổ hợp, liên kết… Mỗi gen thường có tác dụng một phần rất nhỏ tới kiểu hình, nhưng nhiều kiểu gen có giá trị cộng gộp lớn hơn Tác dụng của nhiều gen khác nhau trên cùng một tính trạng có thể là không cộng gộp cũng có thể là cộng gộp

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [13], trước hết là sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc (Relative); quan hệ thân thuộc càng gần, con vật càng giống nhau Đó là cơ sở di truyền của sự chọn lọc (Selection); thứ nữa là sự suy thoái cận thân (Inbreeding depression) và hiện tượng ngược lại về sức sống của con lai (Heterosis) Đây là cơ sở của sự chọn phối để nhân thuần và tạp giao

Trang 12

1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng

Kiểu hình chịu tác động của kiểu gen và môi trường Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể gọi là kiểu hình của cá thể đó Các giá trị có liên quan với kiểu gen là giá trị cộng gộp và sai lệch môi trường Giá trị kiểu hình của bất kỳ một tính trạng số lượng nào cũng được biểu thị thông qua giá trị của kiểu gen và sai lệch môi trường Quan hệ trên được biểu diễn như sau:

P = G + E Trong đó: P: Giá trị kiểu hình (Phenotype Value)

G: Giá trị kiểu gen (Genotype Value) E: Sai lệch môi trường (Enviromental Value)

* Ảnh hưởng của kiểu gen

G = A + D + I

“A” (Additive Value) là giá trị cộng gộp của các gen, là thành phần quan trọng nhất, cố định không thay đổi, có thể di truyền được và còn gọi là giá trị giống của cá thể (Breeding Value), là cơ sở di truyền của việc chọn giống Chúng ta biết rằng, bố mẹ chỉ truyền cho con các gen của chúng chứ không phải truyền đạt kiểu gen cho đời sau Kiểu gen phải được sáng tạo mới

ở mỗi thế hệ Giá trị gen truyền đạt từ bố mẹ cho đời con gọi là “hiệu ứng trung bình” của các gen

Hiệu ứng trung bình của một gen là sai lệch trung bình của cá thể so với trung bình của quần thể mà nó đã nhận được gen đó từ một bố hoặc mẹ nào đó, còn gen kia nhận được từ bố hoặc mẹ khác trong quần thể Tổng các hiệu ứng trung bình của các gen mà nó đang mang được gọi là giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống của cá thể

Giá trị giống của cá thể có thể được biểu thị bằng đơn vị tuyệt đối, nhưng để tiện lợi chúng thường để dưới dạng sai lệch so với trung bình quần thể và dùng chữ A để biểu thị Giá trị giống là thành phần quan trọng của kiểu gen, vì nó cố định và có thể di truyền được

Trang 13

“D” (Dominance deviation) là sai lệch trội, là tác động giữa các cặp alen ở trong cùng một locus Khi xem xét một locus duy nhất, sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen G và giá trị gen A của một kiểu gen nào đó chính là sự sai lệch trội (D), do đó:

G = A + D Sai lệch trội được sản sinh từ các tác động qua lại giữa các cặp alen ở trong cùng một locus, đặc biệt là các cặp alen dị hợp tử Nếu không có tính trội thì giá trị kiểu gen và giá trị cộng gộp là trùng hợp với nhau

Có thể hình dung sai lệch trội của các cặp gen như sau: Giả sử locus A

có cặp gen tương ứng là A1 và A2 với hiệu ứng trung bình của các gen là a1 và

a2 thì tác dụng của các gen A1 và A2 tới cá thể là:

G = a1 + a2 + d Trong đó, d là giá trị của sai lệch trội; có nghĩa là G = A + D

“I” (Interaction deviation) là sai lệch tương tác hoặc sai lệch át gen của các cặp gen không cùng alen Khi kiểu gen do từ 2 locus trở lên cấu thành, giá trị kiểu gen có thể thêm một sai khác do sự tương tác giữa các gen thuộc locus khác nhau

Gọi: GA là giá trị kiểu gen của một cá thể thuộc locus A; GB là giá trị kiểu gen của một cá thể thuộc locus B; G là giá trị kiểu gen của 2 locus Khi

đó ta sẽ có:

G = GA + GB + IAB

Trong đó: IAB là sai lệch của giá trị kiểu gen so với tổng giá trị cộng gộp lại Sai lệch I được gọi là sai lệch tương tác hoặc sai lệch át gen Loại sai lệch này thường thấy trong di truyền học số lượng

Về mặt lý thuyết có nhiều tương tác át gen khác nhau Đầu tiên là loại tương tác át gen tuỳ theo số lượng nhân tố (locus) tham gia Khi có sự tương tác giữa 2 locus thì gọi là tương tác át gen 2 nhân tố, khi có sự tương tác giữa

3 locus thì gọi là tương tác át gen 3 nhân tố… Những tương tác như vậy gọi là tương tác át gen tuỳ theo số lượng nhân tố (locus) tham gia

Trang 14

D và I không cố định, không di truyền, nó phụ thuộc vào sự tương tác giữa các gen nên nó là cơ sở di truyền về lai giống

* Ảnh hưởng của môi trường

Có 2 loại môi trường chính, đó là sai lệch môi trường chung và sai lệch môi trường riêng

Sai lệch môi trường biểu diễn bằng công thức:

E = Eg + ES

Trong đó:

- Eg (General environmental deviation): là sai lệch môi trường chung, các sai lệch do các nhân tố môi trường tác động đến toàn bộ cá thể trong một nhóm vật nuôi hoặc tác động lên cả đời con vật… Do đó, sai lệch môi trường chung là sai lệch giữa các nhóm cá thể

- ES (Special environmental deviation): là sai lệch môi trường riêng - môi trường đặc biệt; là sai lệch giữa các cá thể do hoàn cảnh tạm thời hoặc cục bộ gây ra

Tóm lại, khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tại từ 2 locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị như sau:

- Tác động vào môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi: thức ăn, thú y, chuồng trại, nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, phòng chống dịch bệnh

và các yếu tố bất lợi khác

Như vậy, tác động về mặt di truyền là nhiệm vụ của công tác giống, còn về mặt môi trường là trách nhiệm của các kỹ thuật chăn nuôi, thú y

Trang 15

1.1.3 Hệ số di truyền một số tính trạng ở lợn (Heritability cofficient - h 2)

Hệ số di truyền là tỷ lệ phần do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình Hệ số di truyền có hai loại: hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số

di truyền theo nghĩa hẹp.Hệ số di truyền theo nghĩa rộng biểu thị phần phương sai của giá trị kiểu hình của cá thể, được quyết định bởi các phương sai giá trị kiểu gen

h2G = VG / VP

Trong đó: VP là phương sai giá trị kiểu hình

VG là phương sai giá trị kiểu gen

Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp biểu thị giá trị kiểu hình được quyết định bởi các gen truyền đạt từ bố mẹ cho đời con

h2G = VA + VP

Năng suất sinh sản phụ thuộc vào nhiều chỉ tiêu, nhưng xét về mặt di truyền chọn giống, người ta chỉ quan tâm một số tính trạng năng suất sinh sản nhất định (Holness, 1991) [33] Vandersteen (1986) [45] cho rằng, các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu ở lợn nái bao gồm: tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số con còn sống trong ổ, thời gian từ khi cai sữa tới động dục trở lại

Perrocheau M, (1994) [18] cho biết, hệ số di truyền về một số tính trạng của lợn nái sinh sản như sau: chỉ số lứa đẻ/nái/ năm là từ 0,10 - 0,15; tuổi động dục lần đầu là 0,30; số vú là 0,30

Nguyễn Văn Thiện (1995) [13] thông báo hệ số di truyền một số tính trạng là: số con đẻ ra /ổ là 0,13; số con cai sữa/ ổ là 0,12; khối lượng cai sữa/ ổ là 0,17

Kết quả nghiên cứu của Rydhmer L, (1995) [38] cho thấy, tuổi đẻ lứa đầu của lợn nái có hệ số di truyền là 0,27 và khoảng giữa hai lứa đẻ có hệ số

di truyền là 0,08

Trang 16

Nguyễn Thị Viễn, Hà Thanh Hải, Nguyễn Văn Đức và cs (2005) [22] cho biết, giá trị giống (EBV) trung bình về khả năng sinh sản và sinh trưởng của giống lợn Yorkshire các cơ sở chăn nuôi như sau: Ở các thế hệ 1, 2, 3 ở lợn Yorkshire giá trị giống (EBV) trung bình về dày mỡ lưng 90kg là 0,03; 0,05; 0,01 Đối với lợn Landrace lần lượt là 0,20; 0,01; -0,05 Đối với lợn Duroc lần lượt là 0,01; -0,04; -0,07 và lợn Pietrain là -0,22; -0,13 và - 0,10

Thông qua hệ số di truyền, người ta có thể quyết định phương pháp hiệu quả để cải tiến năng suất vật nuôi Khi hệ số di truyền thấp thì không nên thông qua phương pháp chọn lọc mà nên thông qua biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc hoặc chú trọng việc tạp giao để nâng cao năng suất của chúng (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [13]

Các tính trạng chủ yếu phản ánh năng suất sinh sản của lợn nái là: tuổi

đẻ lứa đầu, số con đẻ ra/ ổ, và khối lượng lợn con lúc cai sữa… Nhìn chung, các tính trạng này có hệ số di truyền thấp và phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại cảnh (Chế độ dinh dưỡng, mùa vụ, phương thức và thời điểm phối giống, điều kiện kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng…) Như vậy, có nghĩa là các biến dị cộng gộp, tương tác gen là thấp Vấn đề đặt ra là các nhà chọn giống cần phải tìm cách nâng cao hệ số di truyền và tính trạng số lượng mới tăng hiệu quả chọn lọc

1.1.4 Ưu thế lai

Ưu thế lai là hiện tượng sinh vật học biểu hiện sự phát triển mạnh mẽ của những cơ thể do lai tạo các con giống gốc không cùng huyết thống Ưu thế lai có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ khối lượng cơ thể, sự tăng cường trao đổi chất, tăng trọng nhanh hơn, chống đỡ bệnh tật tốt hơn, rút ngắn thời gian nuôi… Mặt khác, ưu thế lai hiểu theo từng tính trạng, có tính trạng phát triển, có tính trạng giữ nguyên, thậm chí có tính trạng giảm sút so với giống gốc (Trần Huê Viên, 2001) [21]

Trang 17

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [13], ưu thế lai là hiện tượng liên quan tới sự phát triển mạnh mẽ ở đời sau như: sức để kháng tốt hơn, sức sản suất cao hơn bố mẹ

Trong nhiều trường hợp, ưu thế lai là biểu hiện cao hơn trung bình cộng của hai giống gốc Để tạo ra ưu thế lai người ta phải cho con vật giao phối không cận huyết nhằm tăng mức độ dị hợp tử, bằng cách lai giữa các dòng, giữa các giống Tuy nhiên, mức độ biểu hiện ưu thế lai còn phụ thuộc vào nguồn gốc di truyền của bố mẹ, tính trạng cần xem xét, công thức lai và điều

kiện nuôi dưỡng Nếu gọi ưu thế lai là H, ta có công thức:

bm

X -X H%=

24 tuần tuổi lần lượt là 1,40; 14,89; 93,30 Ở tổ hợp lợn bố Việt Nam, lợn mẹ Đức lần lượt là 1,18; 14,00; 62,80 Ở tổ hợp lai lợn bố Đức và lợn mẹ Việt Nam là 0,47; 7,00; 40,70 và ở tổ hợp lai lợn bố Việt Nam, lợn mẹ Việt Nam

Trang 18

- Thuyết siêu trội: Tác động của các cặp alen dị hợp tử Aa là lớn hơn tác động của các cặp alen đồng hợp tử AA và aa

Aa > AA > aa Giả thuyết siêu trội, được Shull đưa vào năm 1914, là sự phát triển tiếp theo của thuyết về tính dị hợp Vì vậy, alen ở trạng thái dị hợp tử mạnh hơn so với các alen ở trạng thái đồng hợp tử, dẫn đến các hiệu ứng ưu thế lai ở con lai F1 lớn hơn tất cả các alen ở cả hai bên bố mẹ

- Thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng locus: Tác động tương hỗ các gen không cùng locus là tác động át gen

Ưu thế lai phụ thuộc vào:

- Nguồn gốc di truyền của bố mẹ: Bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng

xa thì ưu thế lai càng cao, ngược lại bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng gần nhau thì ưu thế lai càng thấp

- Tính trạng xem xét: Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì ưu thế lai cao, ngược lại các tính trạng có hệ số di truyền cao thì ưu thế lai thấp

- Công thức giao phối: Ưu thế lai còn phụ thuộc việc dùng con vật nào làm bố và con vật nào làm mẹ

- Điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc: Trong điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc kém thì ưu thế lai có được sẽ thấp, ngược lại trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì ưu thế lai có được sẽ cao

1.1.5 Hoạt động sinh lý sinh dục của lợn cái

Sinh sản là quá trình sinh lý quan trọng và cơ bản nhất của gia súc trong việc duy trì nòi giống, là một quá trình mà ở đó có con đực và con cái đã thành thục về tính dục, con đực sản sinh ra tinh trùng và con cái sản sinh ra trứng Tinh trùng và trứng được thụ tinh với nhau khoảng 1/3 phía trên ống dẫn trứng, hình thành hợp tử, sau đó di chuyển và phát triển thành phôi, thai trong tử cung con cái

Trang 19

Sự thành thục về tính dục được thể hiện qua sự phát triển các bộ phận sinh dục phụ, hoàn thiện các chức năng sinh sản và xuất hiện các biểu hiện sinh dục đầu tiên như động dục Đối với lợn cái ngoại, tuổi thành thục ở tính dục ở lúc 6 - 8 tháng tuổi và phụ thuộc vào phẩm giống, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, khí hậu thời tiết Tuổi sử dụng lợn cái và nhân giống là khác nhau, phạm vi biến động từ 135 - 250 ngày tuổi (Hughes S.P.E và CS,

1980 [39], Etienne M., Legault C., 1974 [37]; Self H.L., 1995) [40]

Theo Nguyễn Tấn Anh, (1995) [1], tuổi thành thục và khả năng điều hoà chu kỳ động dục của lợn hậu bị chịu ảnh hưởng của các yếu tố giống, loại hình, nuôi dưỡng và mùa vụ trong năm Trong thời kỳ thành thục về tính dục, lợn cái hậu bị được nuôi nhốt hoặc thả, nếu được tiếp xúc thường xuyên với lợn đực thì chúng sẽ thành thục ở tuổi sớm hơn so với lợn cái hậu bị không được tiếp xúc với lợn đực

Sự khác biệt về mùa vụ được sinh ra cũng ảnh hưởng tuổi động dục lần đầu Lợn cái hậu bị sinh ra vào mùa thu thành thục sớm hơn so với lợn cái hậu bị sinh ra vào mùa đông

Chu kỳ động dục là khoảng thời gian tính từ lần động dục trước đến lần động dục sau Lợn cái sau khi thành thục về tính thì có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường không rõ ràng, cách sau đó 15-16 ngày lại động dục, lần này biểu hiện rõ ràng hơn, sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ Chu kỳ động dục của lợn nái bình quân 21 ngày (biến động 18-24 ngày) Một chu kỳ tính của lợn thường chia làm 4 giai đoạn đó là giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn yên tĩnh

* Cơ chế điều hoà hoạt động sinh dục của lợn nái

Sinh dục là quá trình sinh lý quan trọng và cơ bản nhất của gia súc trong việc duy trì nòi giống Sau khi được sinh ra cơ thể gia súc tiếp tục sinh trưởng và phát triển đến khi đạt ổn định gọi là sự thành thục về thể vóc Sự thành thục về tính dục được thể hiện qua sự phát triển các bộ phận sinh dục phụ, hoàn thiện các chức năng sinh sản và xuất hiện các biểu hiện sinh dục

Trang 20

đầu tiên như động đực Điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc khác nhau có thể ảnh hưởng đến tuổi thành thục Nếu sinh trưởng được thúc đẩy nhanh do nuôi dưỡng tốt thì con vật sẽ thành thục sớm và ngược lại Ngoài ra, các yếu tố về mùa vụ cũng ảnh hưởng tới sự thành thục về tính

Các nghiên cứu cho thấy, tuổi thành thục về tính dục của các giống lợn nội khoảng 4-5 tháng tuổi và sớm hơn so với các giống lợn ngoại (khoảng 6 - 8 tháng tuổi) Điều hoà hoạt động của chu kỳ tính và đảm bảo thống nhất hoạt động của các giai đoạn sinh dục là một quá trình phức tạp được điều khiển do hai cơ chế thần kinh và thể dịch Cơ chế thần kinh - thể dịch điều hoà hoạt động sinh dục của lợn cái được biểu diễn ở sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1 Cơ chế điều hoà hoạt động sinh dục ở lợn cái dưới sự điều tiết của

thần kinh thể dịch (Schmitten và CS, 1989) [41]

Kích thích ngoại cảnh

(Âm thanh, hình ảnh, mùi con đực, ánh sáng )

VỎ NÃO Dưới đồi

(Hypothalamus)

Tuyến yên

GnRH (LRF và FRF)

Buồng trứng Estrogen Thể vàng

Progesteron

Cơ quan sinh dục (Tăng sinh, tiết dịch)

+

Trang 21

Dưới tác dụng kích thích của pheromon, hình ảnh, âm thanh của con đực vỏ đại não hưng phấn và truyền kích thích đến vùng dưới đồi (Hypothalamus) Tại đây, vùng dưới đồi sẽ tiết ra GnRH, gồm 2 loại chính: FRF (Foliculo Releasing Factor) và LRF (Luteo Releasing Factor) Các hocmôn này đến thùy trước tuyến yên và kích thích tuyến yên tiết ra các loại hocmôn sau:

- FSH (Folliculine Stimiline Hormone) có tác dụng kích thích bao noãn phát triển và tiết ra kích tố Estrogen

- LH (Lutein Hormone) thúc đẩy bao noãn chín và hình thành thể vàng

- Prolactin có tác dụng kích thích tuyến vú phát triển và sản sinh ra sữa Khi noãn bào phát triển, nó sẽ tiết ra hormone Estrogen, làm cho lượng Estrogen trong máu tăng lên từ 64 mg% tới 112 mg%, gây kích thích toàn thân, làm xuất hiện biểu hiện động dục Đồng thời, cơ quan sinh dục cũng biến đổi theo, tử cung hé mở, âm đạo xung huyết có màu đỏ, dịch nhờn tiết ra đặc, keo dính; sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh, tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này

Tuỳ theo giống lợn mà thời gian trứng rụng dài hay ngắn, trung bình 6 -

8 giờ (ở lợn cái hậu bị thì có thể là 10 giờ), ở lợn trưởng thành số trứng rụng trong một chu kỳ động dục từ 15 - 25 trứng Tuy nhiên, số trứng rụng nhiều hay ít còn phụ thuộc vào giống, tuổi và nồng độ FSH có trong máu và chế độ nuôi dưỡng

Khi trứng rụng được thụ tinh sẽ tạo thành hợp tử, hợp tử làm tổ ở sừng

tử cung và phát triển thành bào thai Đồng thời ở vị trí trứng rụng sẽ hình thành thể vàng Thể vàng sau khi hình thành, bắt đầu sản sinh ra Progesteron

và Progesteron có tác dụng ngược âm tính đến vùng dưới đồi, tuyến yên làm ngừng tiết GnRH và FSH, LH, làm dừng các biểu hiện động dục Nếu lợn cái

Trang 22

có chửa, chu kỳ động dục trong thời gian có chửa bị gián đoạn Nếu lợn cái không có chửa, thể vàng sẽ tồn tại đến ngày thứ 17-18 của chu kỳ, sau đó tiêu biến đi làm cho tác động ngược âm tính của progesteron lên vùng dưới đồi, tuyến yên bị cắt đứt và lợn lại chuẩn bị bước vào chu kỳ động dục mới

* Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là khoảng thời gian tính từ lần động dục trước cho đến lần động dục sau Thông thường, lợn cái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không rõ ràng sau

đó 15 - 16 ngày lợn động dục trở lại Lần động dục này có biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ Chu kỳ động dục của lợn nái bình quân là 21 ngày, dao động từ 17 - 21 ngày Thời gian động dục phụ thuộc vào các giống lợn Các giống lợn nội thì thời gian động dục kéo dài từ 3

- 4 ngày, lợn lai từ 4 - 5 ngày và lợn ngoại từ 3 - 7 ngày, (Nguyễn Khánh Quắc và CS, 1995) [15]

Lê Xuân Cương và CS (1986) [2] cho biết, chu kỳ động dục của lợn nái nội trung bình là 18,7 ngày, dao động từ 16 - 25 ngày Chu kỳ động dục nái lai thường dài hơn nái nội Cần xác định ngày động dục đầu tiên của mỗi cá thể, số ngày của mỗi chu kỳ động dục và theo dõi chặt chẽ để phối giống chính xác

Kết quả nghiên cứu của Redlmer L., Lundehim N and Johanson K (1995) [38] cho rằng, lợn cái hậu bị có chu kỳ dộng dục ngắn hơn lợn nái truởng thành Lứa thứ hai và thứ ba chu kỳ động dục là 19,4 ngày; lứa đẻ thứ

4 và thứ 5 chu kỳ là 20,8 ngày; lứa đẻ thứ 6 và thứ 7 là 21,5 ngày; lứa đẻ thứ

8 và 9 chu kỳ là 22,4 ngày Chu kỳ động dục của lợn nái nội trung bình là 18,7 ngày, dao động từ 16-25 ngày Chu kỳ đông dục nái lai thường dài hơn nái nội

Trang 23

Chu kỳ động dục của lợn nái được chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục (kéo dài 1 - 2 ngày đầu): Đây là giai đoạn chuẩn bị cho đường sinh dục cái tiếp nhận tinh trùng, đón trứng rụng và thụ tinh Lúc này con vật có biểu hiện bên ngoài như kém ăn, bồn chồn, nhảy lên lưng con khác, nhưng không cho con khác nhảy lên, phá chuồng, âm hộ sưng mọng, xung huyết có màu đỏ hồng, có ít dịch nhờn chảy ra nhưng còn lỏng trong suốt, độ keo dính kém Nếu lấy một ít nước nhờn vào giữa đầu hai ngón tay để kéo dài ra thì dễ đứt, không kéo thành sợi được (Nguyễn Đức Hùng và

CS, 2003) [8]

+ Giai đoạn động dục (kéo dài từ ngày 2 đến ngày thứ 3): gồm 3 thời

kỳ nhỏ là hưng phấn, chịu đực, hết chịu đực Giai đoạn này dài hay ngắn phụ thuộc vào giống lợn Lợn nội thường kéo dài 3 - 4 ngày, lợn ngoại và lợn lai thường kéo dài 2 - 5 ngày

Lợn bắt đầu yên tĩnh hơn, ít kêu rít, biểu hiện trầm lặng, thỉnh thoảng thích nhảy lên lưng con khác nhưng vẫn chưa chịu để con khác nhảy lên Sang thời kỳ chịu đực âm hộ giảm xung huyết chuyển sang màu tím tái, chất dịch từ âm đạo chảy ra nhiều bắt đầu keo dính có thể kéo thành sợi dài 2 - 3

cm, có màu vàng đục Lúc này nếu có lợn đực đến gần, con cái sẽ sẵn sàng cho giao phối Khi lợn đực đến gần hoặc người chăn nuôi đặt tay lên mông thì lợn đứng yên, lưng võng xuống, 2 chân sau chụm lại, đuôi đưa sang một bên, hai mép âm hộ có những co rút nhẹ, hé mở thỉnh thoảng đái dắt Biểu hiện như vậy gọi là phản xạ “mê ì” của lợn cái, là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết thời điểm phối giống thích hợp (Nguyễn Đức Hùng và CS, 2003) [8]

+ Giai đoạn sau động dục (kéo dài từ ngày 3 - 4 tiếp theo): ở giai đoạn này dấu hiệu hoạt động sinh dục bên ngoài giảm dần, âm hộ teo lại, lợn nái không muốn gần lợn đực, ăn uống tốt hơn

Trang 24

+ Giai đoạn yên tĩnh: Là giai đoạn bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến (Khoảng 14 - 15 ngày

kể từ lúc trứng rụng) Đây là giai đoạn dài nhất trong chu kỳ sinh dục của lợn Lợn không có biểu hiện về hành vi sinh dục, là giai đoạn lợn trở về trạng thái nghỉ ngơi, yên tĩnh hoàn toàn, chuẩn bị cho kỳ động dục tiếp theo (Trần Văn Phùng và CS, 2004) [14]

1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái

Để đánh giá khả năng sản xuất của lợn nái người ta thường theo dõi các chỉ tiêu sau:

- Tuổi động dục lần đầu: là thời gian từ khi sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị động dục lần đầu

- Tuổi phối giống lần đầu: là thời gian từ khi sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị được phối giống lần đầu Thông thường ở lần động dục lần đầu tiên người ta chưa cho phối giống vì thời kỳ này thể vóc chưa phát triển hoàn chỉnh Người ta thường phối giống lợn nái vào chu kỳ thứ 2 hoặc thứ ba

- Tuổi đẻ lứa đầu: Là thời gian từ sơ sinh đến khi con nái đẻ lứa đầu tiên

- Số lợn con sơ sinh còn sống: Là tổng số lợn còn sống sau khi lợn mẹ

đẻ xong

- Số con để lại nuôi: Là số con để lại sau khi đã loại đi những con nhỏ hoặc dị dạng Đối với lợn ngoại, khối lượng sơ sinh phải lớn hơn 0,8kg; lợn nội, khối lượng sơ sinh phải lớn hơn 0,3kg

- Số con cai sữa: Là số lợn con còn sống cho đến khi cai sữa

- Khối lượng sơ sinh: Là khối lượng lợn con được cân sau khi đẻ ra, được cắt rốn, lau khô, bấm số tai và trước khi cho bú lần đầu tiên Khối lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, đặc điểm giống, khả năng chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa

Trang 25

Do đó, thành tích này phụ thuộc vào lợn nái và nuôi dưỡng của con người Khối lượng sơ sinh toàn ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống Khối lượng sơ sinh của các giống lợn khác nhau thì khác nhau Khối lượng

sơ sinh lợn nội (Ỉ, Móng Cái) thường từ 0,6- 0,8kg/con; của lợn lai trung bình từ 0,8- 1kg/con và của lợn ngoại trung bình từ 1,2 - 1,4kg/con Nhìn chung, lợn con có khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng sinh trưởng càng nhanh, khối lượng cai sữa cao thì khối lượng khi xuất chuồng sẽ lớn Cho nên khi lợn có chửa cần được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt để đàn con có khối lượng sơ sinh cao

- Khối lượng lợn con 21 ngày tuổi: là khối lượng lợn con được cân lúc

21 ngày tuổi

- Khối lượng lợn cai sữa: là khối lượng lợn được cân lúc cai sữa Tuỳ theo điều kiện và phương thức chăn nuôi mà người ta tiến hành cai sữa ở lúc

21, 28, 35, 42 ngày tuổi

- Khoảng cách lứa đẻ: là thời gian từ khi con nái đẻ lứa trước đến khi

đẻ lứa tiếp theo, bao gồm thời gian chửa, thời gian nuôi con, thời gian động dục trở lại sau cai sữa và phối có chửa

1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

Việc theo dõi năng suất sinh sản của lợn nái được đánh dấu thông qua rất nhiều chỉ tiêu Năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm nhiều chỉ tiêu khác nhau cấu thành Trong đó chỉ tiêu tổng khối lượng lợn con cai sữa và số lợn con cai sữa/nái/năm là những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá sức sản xuất lợn nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như: Giống, phương pháp nhân giống, tuổi, khối lượng phối giống đầu tiên, thứ tự các lứa

đẻ, kỹ thuật phối giống, dinh dưỡng và mùa vụ phối giống

Trang 26

* Giống

Sự khác nhau giữa các giống lợn về các tính trạng năng suất sinh sản

đã được nhiều tác giả công bố Dựa vào năng suất sinh sản và sức sản xuất thịt thì các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính (Legaulte, 1985) [34] Với mục đích đa dụng có các giống lợn như Yorkshire, Landrace Một vài dòng chuyên dụng được xếp vào loại có năng suất thịt và sinh sản khá Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Pietrain, Landrace, Hampshire và Poland

- China, có năng suất sinh sản trung bình nhưng có năng suất thịt cao Các giống chuyên dụng dòng mẹ, đặc biệt là một số giống chuyên sản của Trung Quốc, như Taihu (điển hình là Meishan), có năng suất sinh sản đặc biệt cao nhưng năng suất sản xuất thịt lại kém Cuối cùng là nhóm giống “nguyên sản” có năng suất sinh sản cũng như năng suất thịt thấp nhưng có khả năng thích nghi với môi trường riêng của chúng Các giống (dòng bố) thường có năng suất sinh sản thấp hơn so với giống chuyên dụng Ngoài ra, chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con Điều này được minh chứng là tỷ

lệ lợn con chết trước lúc cai sữa cao hơn so với giống chuyên dụng như lợn Landrace và Large White

Theo Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2004) [4] thì con giống được chọn theo hướng lấy con nuôi thịt thường có nhiều nạc, nhưng không phải bất cứ con giống nào cũng đều cho tỷ lệ nạc cao Lợn lai kinh tế giữa giống lợn ngoại Cornwall với lợn nội như lợn Ỉ, Móng Cái… không thể cho tỷ lệ nạc cao được, vì lợn này có hướng nạc mỡ Cần phải cho phối với các giống ngoại như Landrace, Yorkshire chuyên nạc thì tỷ lệ nạc ở con lai nuôi thịt mới cao

Các giống lợn khác nhau thì sự thành thục về tính cũng khác nhau Sự thành thục về tính ở lợn cái được định nghĩa là thời điểm rụng trứng lần đầu tiên

và xảy ra ở 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống lợn thành thục sớm (Các giống lợn Việt Nam và các giống lợn Trung Quốc) và 6 -7 tháng tuổi đối với hầu hết các

Trang 27

giống lợn ở các nước đang phát triển, (Rosthehild và Bidane, 1998) [35] Giống lợn Meishan có tuổi thành thục về tính sớm, năng suất sinh sản cao và chức năng làm mẹ tốt hơn so với lợn Large White Lợn Meishan đạt tuổi thành thục

về tính sớm hơn khoảng 100 ngày và số con đẻ ra nhiều hơn từ 2,4 - 5,2 con/

ổ so với lợn Large White (Despresp và CS, 1992) [30]

* Phương pháp nhân giống

Phương pháp nhân giống khác nhau cho năng suất khác nhau Nếu cho nhân giống thuần thì năng suất thu được chính là năng suất của giống đó Nếu cho lai giống thì năng suất của con lai sẽ cao hơn so với 2 giống gốc

Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đối với năng suất sinh sản, nhiều tác giả cho biết việc lai giống có thể cải thiện năng suất sinh sản của lợn Các lợn lai có tuổi thành thục về tính sớm hơn 11,3 ngày, tỷ lệ thụ thai cao hơn 2 - 4%, số trứng rụng nhiều hơn 0,5 trứng, số con đẻ ra/ổ nhiều hơn (0,6 - 0,7 con), số con cai sữa/ổ nhiều hơn (0,8 con), tỷ lệ nuôi sống cao hơn và khối lượng sơ sinh/ổ khối lượng 21 ngày/ổ tăng 4,2% so với giống thuần (Gunettss và Robinson, 1990, trích từ Vũ Hồng Sâm, 2003) [16] Ngoài

ra, năng suất sinh sản cũng chịu ảnh hưởng của việc giao phối cận huyết

Theo Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỳ (1997) [4] thì tuổi thành thục tính dục

ở lợn lai muộn hơn lợn nái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái…), thường ở tháng thứ 4 đến tháng thứ 5 (120 - 150 ngày), nhưng sớm hơn so với lợn nái ngoại thuần chủng (Landrace, Yorkshire…) từ 2- 3 tháng Lợn nái lai F1 thường động dục lần đầu ở 6 -7 tháng tuổi

Khi nghiên cứu về lợn cái lai và lợn cái thuần hậu bị trên các giống: Landrace, Yorkshire và Duroc, Hutchens và cs, (1982) cho biết, lợn cái lai có tuổi động dục sớm hơn lợn cái thuần là 7,9 ngày và tuổi thành thục về tính biến động từ 135-250 ngày

Trang 28

*Tuổi và khối lượng phối giống lần đầu

Tuổi sinh sản của nái ổn định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4, sang năm tuổi thứ 5 lợn có thể đẻ tốt nhưng con đẻ ra còi cọc, chậm lớn Sự ổn định này liên quan chặt chẽ đến số lượng trúng rụng Pery J.S (1954) [49] cho biết, trung bình mỗi lợn nái có số trứng rụng từ 15-20 trứng trong một chu kỳ động dục và tăng lên đáng kể trong 4 lứa đầu, đạt mức ổn định ở lứa thứ 6 Do vậy tuổi phối giống lần đầu ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái Burger J.P (1952)[37] và Baker L.N (1958) [25] cho rằng, nếu tuổi lợn nái hậu

bị tăng lên 10 ngày thì số trứng rụng tăng thêm 0,67 trứng Ở chu kỳ động dục đầu tiên, số trứng rụng là 11,3 trứng, chu kỳ thứ 2 là 12,3 trứng

Để có thể giao phối lứa đầu, lợn nái hậu bị phải thành thục về tính dục

và đạt khối lượng cơ thể ở một mức độ nhất định Thành thục về tính dục tức

là lợn cái hậu bị phải có biểu hiện động dục và rụng trứng Tuổi thành thục về tính dục phụ thuộc vào đặc điểm của giống và điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc quản lý của cơ sở chăn nuôi

Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (1998)[19] cho biết, lợn Landrace thành thục về tính dục là 213,1 ngày và lợn Yorkshire là 219,4 ngày Trong chăn nuôi lợn nái hậu bị phải đảm bảo 3 yếu tố cần và đủ đó là, không phối giống cho nái trước 7 tháng tuổi, chỉ phối giống cho nái khi khối lượng cơ thể đạt 40-50 kg (đối với nái nội), từ 65-70 kg (đối với nái lai), từ 110-120 kg (đối với nái ngoại) và chỉ phối giống cho lợn nái hậu bị khi động dục ở chu kỳ thứ hai hoặc thứ ba trở đi

* Thứ tự các lứa đẻ

Lợn nái hậu bị ở lứa đẻ thứ nhất thường có số con đẻ ra/lứa thấp Sau

đó từ lứa thứ 2 trở đi số con/lứa sẽ tăng dần lên cho đến lứa thứ 6, thứ 7 thì bắt đầu giảm dần

Trang 29

* Kỹ thuật phối giống

Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng đến số lượng con đẻ ra/lứa Kỹ thuật phối giống thích hợp bao gồm việc xác định thời điểm phối giống thích hợp và số lần phối giống Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng

tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/lứa Nếu lợn nái động dục kéo dài 48 giờ, trứng rụng vào 8-12 giờ trước khi kết thúc chịu đực, tức là 37-40 giờ sau khi bắt đầu động dục Do vậy nếu phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và số con/lứa giảm

Có nhiều phương pháp phối giống, nhưng tốt nhất là áp dụng phương pháp phối lặp Khoảng cách thời gian giữa hai lần phối lặp từ 12-14 giờ cho nái cơ bản, đối với lợn nái hậu bị thời gian này 10 - 12 giờ

* Thức ăn và dinh dưỡng

Điều quan trọng đối với lợn nái và lợn cái hậu bị mang thai là cần đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để sinh sản tốt Nguyễn Tấn Anh (1998) [1] cho biết, kinh nghiệm thực tiễn chăn nuôi Hoa Kỳ để duy trì năng suất sinh sản cao ở lợn ngoại thì ngoài nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn cái hậu

bị cần chú ý đến cách thức nuôi dưỡng: cho ăn tự do cho đến khi đạt khối lượng 80 - 90 kg, sau đó cho ăn hạn chế đến khi phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) với mức 2,00 kg thức ăn/con/ngày (khẩu phần ăn có 14% protein khô) Điều chỉnh thức ăn để khối lượng đạt 120 - 140 kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và được phối giống Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế

độ kích dục, tăng thức ăn từ 1,00 - 1,50 kg, có bổ sung kháng sinh và sinh tố

sẽ giúp cho lợn nái đẻ nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2,0 - 2,10 trứng/nái

Trần Văn Phùng và CS, (2004) [14] cho rằng, chế độ ăn không hợp lý, khẩu phần ăn không đảm bảo dinh dưỡng, mức dinh dưỡng không đủ thì giảm khả năng tăng khối lượng, kéo dài ngày đạt khối lượng phối giống đầu tiên, dẫn đến kéo dài tuổi đẻ lứa đầu, tỷ lệ thụ thai kém, đẻ kém Trường hợp ăn

Trang 30

quá mức so với nhu cầu (đặc biệt giai đoạn từ 80 - 120 kg) làm cho lợn nái quá béo, khó động dục hoặc động dục bất thường, tỷ lệ thụ thai kém…

Nguyễn Nghi và CS (1995) [10], khi nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng năng lượng và protein trong khẩu phần ăn của lợn nái ngoại cho biết, tăng mức năng lượng và protein cao sẽ làm cho lợn nái chóng béo ảnh hưởng xấu đến năng suất sinh sản

Vũ Thị Nga (2008) [57] cho biết, nếu quá thừa prôtein có thể làm tỷ lệ thụ thai giảm, vì mức prôtein quá cao làm cho gan, thận phải tích luỹ đạm quá nhiều, hậu quả gây mất cân bằng hormone, làm cản trở việc chuyển hoá các hormone sinh dục, giảm tỷ lệ thụ thai, tăng tỷ lệ chết thai (vì sự tác động của yếu tố dinh dưỡng đến chức năng sinh sản được thể hiện chủ yếu qua hệ nội tiết); Ngược lại, quá thiếu prôtein có thể ức chế chức năng nội tiết của thuỳ trước tuyến yên, lượng hormone FSH và LH không đầy đủ làm cho gia súc cũng không động dục Những lợn nái nuôi dưỡng quá kém, gầy yếu sau khi tách con thường không động dục kéo dài hoặc vô sinh hoàn toàn

Có thể nói rằng, để đạt năng suất sinh sản đến mức độ tối đa là rất khó khăn, vì ngoài những yếu tố nêu trên, năng suất sinh sản của lợn nái còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau: kỹ thuật chăm sóc lợn mẹ sau cai sữa, kỹ thuật chăm sóc lợn con sau cai sữa, công tác vệ sinh thú y, chuồng trại…Tuy nhiên, với trình độ công nghệ chăn nuôi hiện đại và những hiểu biết

về ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng sinh sản của lợn nái chúng ta đang dần dần từng bước khắc phục những ảnh hưởng bất lợi, tạo cơ hội cho các ảnh hưởng có lợi để nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

* Mùa vụ

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mùa vụ, nhiệt độ và chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Cho phối giống vào các tháng mùa hè, tỷ lệ chết phôi ở giai đoạn đầu mang thai tăng 15-20% so với

Trang 31

khi phối giống vào mùa đông Thời gian chiếu sáng được xem như một phần ảnh hưởng mùa vụ Mùa đông thời gian chiếu sáng trong ngày là 12 giờ bằng ánh sáng tự nhiên hay nhân tạo sẽ làm cho lợn cái hậu bị động dục sớm hơn

so với lợn có thời gian chiếu sáng thấp

Adlovic và CS (1983) [24] cho biết, trong các tháng 6, 7 và 8, tỷ lệ thụ thai lợn giảm khoảng 10% so với phối giống vào tháng 11 và tháng 12 Điều này cho thấy mùa vụ ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh

* Chế độ nuôi nhốt

Lợn cái hậu bị nuôi nhốt hoàn toàn ảnh hưởng đến quá trình động dục của lợn cái và tỷ lệ phối giống thụ thai thấp Các nhà chăn nuôi dự tính khắc phục vấn đề này bằng cách không nhốt lợn cái hậu bị mà thả chúng ra ngoài trước khi phối giống Việc nuôi nhốt cá thể hoặc nuôi nhốt riêng biệt từng lợn cái hậu bị cũng sẽ làm chậm thành thục về tính so với nuôi nhốt theo nhóm

Do vậy, các nhà nghiên cứu khuyến cáo không nên nuôi nhốt cái hậu bị trong thời kỳ trước khi phối giống

* Sự tiếp xúc của đực giống

Chế độ nuôi nhốt và khẩu phần ăn khác nhau trong giai đoạn hậu bị có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới tuổi động dục và số con đẻ ra/lứa của lợn cái hậu bị Tuy nhiên vai trò của lợn đực giống tiếp xúc với đàn lợn cái hậu bị cũng được nhiều tác giả đề cập tới

Mainer E.A (1990) [37] cho biết, lợn cái lai hậu bị có tuổi từ 150-174 ngày, được tiếp xúc với đực giống trưởng thành thường xuyên, có tới 63% lợn cái có biểu hiện động dục trước 190 ngày tuổi

Caton và cs (1986) [28] đã thí nghiệm trên lợn cái lai và được lặp lại ở mùa hè và mùa thu với các chế độ tiếp xúc với đực giống: 30 phút (1); 15 phút (2); 5 phút (3); liên tục (4) Kết quả cho thấy ở chế độ tiếp xúc (1) và (4) mang lại hiệu quả nhiều nhất về tỷ lệ động dục lúc 210 ngày tuổi

Trang 32

Deligeorgis và cs (1984) [29] làm thí nghiệm trên lợn nái lai Yorkshire

 (Landrace  Yorkshire) với 3 nhóm:

- Nhóm 1: Cho tiếp xúc trực tiếp với lợn đực giống 2 giờ /ngày

- Nhóm 2: Cho tiếp xúc với lợn đực giống qua lưới thép 2 giờ /ngày

- Nhóm 3: Không tiếp xúc với đực giống

Thí nghiệm được bắt đầu từ khi các lợn cái hậu bị đạt 156 ngày tuổi và theo dõi biểu hiện động dộng dục đến 210 ngày tuổi Kết quả cho thấy, nhóm

1 đạt tỷ lệ động dục cao nhất

Như vậy, tiếp xúc của đực giống với lợn cái hậu bị ngoài 5 tháng tuổi

có vai trò tích cực đến tuổi động dục và tỷ lệ động dục của lợn cái hậu bị Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho rằng tuổi động dục đầu tiên chỉ có thể từ lúc 190 ngày tuổi trở lên

* Số lượng trứng rụng

Số trứng nhiều hay ít có ảnh hưởng rất lớn đến chỉ tiêu số con đẻ ra/lứa,

vì số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất của số con đẻ

ra trong một lứa Burger J.P., (1952) [27] và Baker L.N., (1958) [25] cho rằng, các giống lợn màu trắng, có số lượng trứng rụng nhiều hơn các giống lợn màu đen

Pery J.S., (1954) [49] cho biết, trung bình mỗi lợn nái có số trứng rụng

từ 15 - 20 trứng trong một chu kỳ động dục và tăng lên đáng kể trong 4 lứa đầu, đạt mức ổn định ở lứa thứ 6

Paul Hugher và Cs, (1996) [39] cho biết, số trứng rụng ở chu kỳ 1 có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/lứa Do số trứng rụng ở chu kỳ động dục lần đầu

ít, nên phối giống cho lợn nái người ta thường phối ở chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3

Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng tới số trứng rụng trong một chu kỳ động dục và tỷ lệ thụ tinh Nếu chế độ dinh dưỡng tốt, hợp lý trong giai đoạn từ cai sữa tới phối giống thì sẽ nâng cao tỷ lệ thụ thai (Brooks P.H., 1969) [26]

Trang 33

* Lợn đực và thời điểm phối giống

Con đực có ảnh hưởng tới năng suất của lợn nái, đực giống quá già cũng sẽ làm giảm số con trong 1 lứa Có thể tăng thêm tỷ lệ thụ thai và số con sinh trong một ổ bằng cách sử dụng hơn một đực cho một lợn cái (phối kép) Điều này tạo cơ hội để sử dụng tối đa lợn đực có khả năng thụ tinh và khả năng phù hợp trên lợn cái, (Diehl J.H và CS, 1996) [6]

Nghiên cứu của Maier (1990) [36] cho biết, lượng tinh trùng sản xuất

ra hàng năm/1 đực giống có thể thụ tinh cho 400 con cái Số liều tinh/lần thụ thai từ 2,4 - 2,6 liều và số lứa đẻ/nái/năm là 2,0

Thời điểm phối giống thích hợp có vai trò quyết định tỷ lệ thụ tinh từ

số trứng rụng trong một chu kỳ động dục của lợn nái Heidler và CS, (1981) [42] cho biết, tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc chủ yếu vào thời điểm phối giống, trong điều kiện bình thường, tỷ lệ thụ tinh đạt 90 - 100% nếu số trứng rụng ở mức bình thường và tỷ lệ thụ tinh sẽ không ảnh hưởng gì tới sự phát triển của trứng đã được thụ tinh (Self H.L., 1955 [33]) Thụ tinh nhân tạo sẽ làm giảm

tỷ lệ thụ thai từ 10 - 20% so với phối giống trực tiếp, nguyên nhân chủ yếu do

kỹ thuật thụ tinh chưa thực hiện đúng thời điểm rụng trứng

* Tỷ lệ chết phôi

Một số nghiên cứu xác nhận số phôi chết phụ thuộc vào số trứng rụng, tuy nhiên, những nghiên cứu khác lại cho rằng, hai tính trạng này không liên quan gì đến nhau Wrathall A.E., (1971) [51] cho biết, số phôi chết tăng 1,24% theo sự tăng lên của số trứng rụng và sau 30 ngày có chửa thì tỷ lệ chết thai sẽ giảm đi, ước tính cho đến khi đẻ sẽ có khoảng 10% thai bị chết Nếu trong khẩu phần ăn của lợn mẹ mà thiếu trầm trọng các vitamin và chất khoáng kéo dài, có thể gây chết toàn bộ phôi thai

Giai đoạn 9 - 13 ngày sau khi phối có chửa, là giai đoạn hợp tử làm tổ,

ở sừng tử cung Scofield A.M., (1972) [49] cho rằng, đây là pha khủng hoảng của sự phát triển phôi diễn ra trong giai đoạn này

Trang 34

Perry J.S., (1954) [52] cho biết, có 28,4% phôi bị chết vào giai đoạn từ ngày thứ 13 - 18 và 34% vào ngày thứ 20 - 40 sau khi thụ thai

* Số con cai sữa/lứa và thời gian cai sữa

Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề lợn con chết trong giai đoạn sơ sinh đến cai sữa và đã thống kê có khoảng 3 - 5% số lợn con chết khi

sơ sinh, bao gồm: lợn chết do mẹ đẻ khó và lợn chết trong giai đoạn chửa kỳ cuối Các nguyên nhân chủ yếu lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là lợn bị mẹ đè và không bú được chiếm 50%; nhiễm khuẩn 11,1%; dinh dưỡng kém 8%; di truyền 4,5%; các nguyên nhân khác 26,4% (Veterinary I.S., 1960) [46]

Hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm Đây là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng Kết quả nghiên cứu của Thomas W.J.K., (1973) [47] cho biết, số lợn con đẻ ra trung bình/lứa của đàn lợn ở nước Anh là 11,0 con/lứa, trong đó số con còn sống đến cai sữa là 8,6 con, tỷ lệ nuôi sống đạt 86,7% Số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, tổng số lợn con đẻ ra, số lứa đẻ trong năm, tỷ lệ nuôi sống của lợn con theo mẹ

* Lứa đẻ và khoảng cách lứa đẻ

Nhiều nghiên cứu liên quan đến yếu tố lứa đẻ đều đưa ra kết quả là số con đẻ ra/lứa ở lứa thứ nhất thường thấp, từ lứa thứ hai trở đi số con đẻ ra/lứa

sẽ tăng dần lên cho đến lứa thứ 6, thứ 7 thì giảm dần (Trần Văn Phùng, 2004) [14] Nguyễn Văn Đức và CS, (1997) [5] cũng cho biết, số con cai sữa/lứa tăng từ lứa thứ nhất đến lứa thứ 4, thứ 5 và sau đó chậm dần đến lứa thứ 10

Khoảng cách lứa đẻ dài hay ngắn phụ thuộc vào thời gian nuôi con và thời gian chờ phối Do vậy, muốn rút ngắn khoảng cách lứa đẻ thì phải rút ngắn hai giai đoạn này bằng cách chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái tốt, tiến hành cai sữa sớm cho lợn con, đồng thời có thể dùng huyết thanh ngựa chửa để kích thích lợn mẹ chóng động dục trở lại sau cai sữa (Lê Xuân Cương, 1985, [3])

Trang 35

1.1.8 Mối quan hệ giữa thể trạng và khả năng sinh sản của lợn nái

Thể trạng và khả năng sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Đối với những lợn nái có thể trạng quá béo thì số con sinh ra ít nhưng khối lượng thường lớn và tỷ lệ sống của lợn con cao hơn Điều này là do những con nái có thể trạng béo số trứng rụng ít, biểu hiện động dục bất thường và không rõ ràng, do vậy việc xác định thời điểm phối giống thường không chính xác nên tỷ lệ thụ thai thấp hơn Mặt khác lợn quá béo có tỷ lệ mỡ cao nên phôi thai dễ bị chèn ép dẫn đến chết thai cao, đặc biệt là ở 35 ngày sau phối giống Đồng thời lợn nái béo có số con đẻ ra ít, dinh dưỡng lợn mẹ thừa nhiều nên khối lượng thai lớn, làm cho tỷ lệ đẻ khó cao và số con chết khi đẻ nhiều hơn Khi nái quá béo thể trạng nặng nề, chân yếu, mức độ khéo léo của không cao nên dễ đè con, làm số con chết trong quá trình theo mẹ cao

Đối với lợn nái có thể trạng gầy và trung bình thì số con sinh ra cao, tỷ

lệ sống của lợn con cao hơn nhưng khối lượng con nhỏ Điều này là do nái gầy và trung bình số lượng trứng rụng nhiều, biểu hiện động dục rõ ràng, nên xác định thời điểm phối giống chính xác, tỷ lệ thụ thai cao, số con sinh ra nhiều Do con sinh ra nhiều, lượng chất dinh dưỡng không đủ để con phát triển, do đó khối lượng lợn con nhỏ Mặt khác, lợn có thể trạng gầy và trung bình có khối lượng cơ thể nhỏ hơn, độ khéo léo cao hơn nên tỷ lệ lợn con chết trong thời gian theo mẹ ít hơn Đối với nái quá gầy do quá trình nuôi con hao hụt khối lượng lớn hoặc nái quá gầy thì sản lượng sữa ít sức khoẻ kém, lợn con sinh trưởng chậm, khối lượng cai sữa thấp hơn, nếu kéo dài tình trạng này thì lợn nái dễ bị bại liệt Thời gian động dục trở lại kéo dài khả năng hấp thu kém nên cần có chế độ chăm sóc đặc biệt như là: tăng số lượng và chất lượng khẩu phần hàng ngày cho ăn cám tập ăn sớm để giảm sức bú của lợn con và làm giảm hao hụt thể trạng của lợn mẹ Như vậy, thể trạng và khả năng sinh sản có mối quan hệ mật thiết với nhau

Trang 36

1.1.9 Các nguyên nhân ảnh hưởng tới thể trạng của lợn

Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới thể trạng của lợn nái Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đó là chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Trong quá trình chăn nuôi, nhiều lợn nái có khả năng sinh sản cao, số con đẻ

ra nhiều, khả năng tiết sữa lớn, nhưng thường được nuôi dưỡng giống như những lợn bình thường dẫn đến cơ thể không đủ dinh dưỡng để nuôi con và bản thân nó dẫn đến thể trạng gầy

Trong khi đó, những lợn có sức sản xuất giảm đi mà người chăn nuôi lại không giảm lượng thức ăn dẫn đến tích tụ dinh dưỡng Đồng thời trong quá trình nuôi dưỡng chăm sóc không cho lợn nái vận động khiến cho dinh dưỡng thừa, tích tụ càng làm cho con vật béo lên

Theo Hiệp hội đậu tương Hoa Kỳ thì tất cả các giai đoạn trong chu kỳ sinh sản lên quan đến nhau, vì thế chương trình cho ăn trong từng giai đoạn sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến thể trạng của lợn cái và ảnh hưởng này cũng không giống nhau đối với các lứa đẻ

Ước tính nhu cầu năng lượng và dinh dưỡng cho nái càng chính xác hơn khi có nhiều số liệu Lượng thức ăn và nhu cầu dinh dưỡng của nái cần xác định bởi:

- Đối với nái chửa: Đạt chỉ tiêu tăng trọng

- Trong giai đoạn cho con bú: Đạt chỉ tiêu dùng để cho năng suất sữa cao

Sự chênh lệch dù chỉ một lượng ít trong lượng thức ăn cho phép hàng ngày của nái chửa có thể dẫn đến sự khác biệt lớn về tăng trọng và độ dày mỡ lưng Mục tiêu của quá trình nuôi dưỡng nái chửa là: độ dày mỡ lưng ở vị trí P2 khi nái đẻ ở tất cả các lứa là 18-19mm Trong giai đoạn chửa cho ăn theo thể trạng, khi cho ăn nhiều (>2,5kg/ngày) sẽ làm tăng progesterone và tăng tỷ

lệ chết thai Chiến lược cho ăn trong giai đoạn chửa không hợp lý sẽ làm nái quá gầy hoặc quá béo dẫn đến ảnh hưởng tới quá trình đẻ

Trang 37

Một điều đáng lưu ý nữa, trong quá trình chăn nuôi, nhiều khi do bất cẩn của người chăn nuôi, những con lợn hung dữ lại được nhốt gần những con hiền lành làm cho một phần thức ăn bị con hung dữ tranh mất dẫn đến lượng thức ăn thiếu cũng dẫn đến lợn cho thể trạng ngày một gầy đi

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Phùng Thị Vân (1982) [19] đã tiến hành nghiên cứu trên giống lợn DE

và cho biết, hệ số di truyền về ngày tuổi đạt khối lượng 90 kg ở lợn cái hậu bị (giống lợn DE nuôi tại Bungari) biến động trong khoảng từ 0,07 - 0,25; hệ số

di truyền về độ dày mỡ lưng của lợn cái hậu bị ở khối lượng cơ thể trung bình

90 kg là 0,05 đến 0,25; hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và số con sơ sinh sống/ổ ở lứa đẻ đầu là - 0,07 đến + 0,07; hệ số tương quan giữa độ dày

mỡ lưng lợn cái hậu bị đo ở lúc khối lượng cơ thể đạt 90 kg và khối lượng lợn con ở 21 ngày tuổi là - 0,03 đến + 0,01

Nguyễn Văn Đức và cs (2005) [47] nghiên cứu kết quả chọn lọc hai giống lợn Móng Cái MC 3000 và MC 15 sau 3 thế hệ về độ dày mỡ lưng như sau:

Dày mỡ lưng 2 nhóm lợn MC là 34,37 (MC3000) và 33,17 (MC15) ởthể

hệ ban đầu; 33,74 mm (MC3000 ) và 32,47mm (MC15) ở thế hệ 1; 33,72mm (MC3000) và 31,36 mm (MC15) ở thế hệ 2; 33,69 mm (MC3000) và 30,62 mm (MC15) ở thế hệ 3, song sự sai khác giữa các thế hệ không rõ rệt (p>0,05) Sau

3 thế hệ chọn lọc, độ dày mỡ lưng của nhóm MC3000 giảm 0,68 mm so với thế

hệ ban đầu và nhóm MC15 giảm được 2,55 mm so với thế hệ ban đầu Các giá trị này thấp hơn số liệu thu được của Nguyễn văn Đức (1997) được trên công

bố trên bộ số liệu của cả nước từ 1984-1996 (36,5 ± 4,4 mm)

Về chất lượng thân thịt, các loại lợn không khác biệt nhau về độ dày

mỡ lưng và tỷ lệ nạc (P> 0,05), tất cả xoay quanh ở khoảng 22 -25 mm mỡ lưng và 53 - 55 % nạc Trong khi đó, giới tính của lợn rõ ràng có ảnh hưởng

Trang 38

đến độ mỡ - nạc (P < 0,05), lợn cái có lớp mỡ lưng dày 21,1 mm và cho 55,7% nạc; lợn đực thì các số liệu tương ứng là 25,4 mm và 53%

Báo cáo của Nguyễn Văn Đức và CS (2001) [5] cho biết, hệ số tương quan giữa độ dày mỡ với tỷ lệ nạc của các giống lợn F1 (Pidu  Móng Cái), Landrace và Large White rất chặt chẽ, lần lượt là 0,92; 0,94 và 0,97 Từ hệ số tương quan trên cho biết, đối với lợn ngoại, giá trị độ dày mỡ lưng sẽ cho biết chính xác tỷ lệ nạc hơn so với lợn lai và lợn Móng Cái thuần Với những kết quả đó, có thể kết luận rằng, lợn có độ dày mỡ lưng càng cao thì tỷ lệ thịt nạc càng thấp và ngược lại Vì vậy, thông qua độ dày mỡ lưng có thể khẳng định lợn có tỷ lệ nạc cao hay thấp

Nguyễn Văn Bắc (2007) [54] cho biết, để nuôi lợn theo đúng khối lượng chuẩn, điểm quan tâm đặc biệt là hàm lượng mỡ trong cơ thể lợn nái Các nghiên cứu cho thấy độ dày mỡ lưng ở vị trí P2 ở lợn nái tốt diễn biến ở các lứa đẻ theo hướng tăng dần đến giai đoạn đậu thai, giai đoạn đẻ, sau giai đoạn đẻ thì giảm dần xuống tại thời điểm cai sữa, sau đó lại tăng dần ở lứa tiếp theo đến giai đoạn đẻ Độ dày mỡ lưng ở vị trí P2 giảm ở khi phối kỳ đầu (lúc sau cai sữa), chỉ còn khoảng 12 mm là tốt Nếu độ dày mỡ lưng ở vị trí P2

nhỏ hơn 12 mm sẽ không tốt cho lứa đẻ sau

Sự gầy béo của lợn phụ thuộc vào độ dày mỡ lưng ở vị trí P2 Lợn nuôi tốt có độ dày mỡ lưng ở vị trí P2 từ 19 - 22 mm, nếu lợn có độ dày mỡ lưng ở vị trí P2 lớn hơn 23 mm là lợn béo Khi lợn béo thì ngoài tác hại đã nêu ở phần trên thì có tác hại nữa là gây ra sự đẻ khó, tỷ lệ sót nhau cao do khả năng co thắt tử cung và cơ bụng yếu, mỡ bao quanh buồng trứng, tử cung do vậy đẻ con khó

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Omtvedl J.T và cs (1965) [44] đã làm thí nghiệm trên 301 lợn nái đẻ và

390 lợn cái hậu bị của 5 giống, thu được kết quả về hệ số tương quan giữa các tính trạng như sau:

Trang 39

- Tuổi phối giống lần 1 và số con sơ sinh còn sống/ổ là 0,19

- Tuổi phối giống lần 1 và khối lượng sơ sinh/ổ là 0,16

- Khối lượng phối giống lần 1 và số con sơ sinh còn sống/ở là 0,19

- Khối lượng phối giống lần 1 và khối lượng sơ sinh/ổ là 0,24

Driox M.,(1994) [17] nghiên cứu về lợn ở Pháp cho biết, hệ số di truyền của một tính trạng năng suất sinh trưởng như sau:

- Khả năng tăng khối lượng gram/ngày: 0,30 - 0,40

- Mức tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lượng: 0,25 - 0,35

Để công tác chọn lọc có hiệu quả cao, các nhà khoa học thường chú ý đến các tính trạng có hệ số di truyền cao Hệ số di truyền càng cao thì thời gian chọn lọc càng ngắn và ngược lại

Nhóm tác giả Berruecos và CS, (1970); England M.J., (1977), Newton

và CS, (1975) (được Phùng Thị Vân và CS trích dẫn, 1980), [48] đã xác định,

có mối tương quan không thuận giữa khả năng tăng khối lượng của lợn cái hậu bị và khả năng sinh sản của chúng sau đó

Mối tương quan giữa khả năng sinh trưởng và độ dày mỡ lưng với một

số chỉ tiêu sinh sản ở lợn cái hậu bị cũng được nhiều tác giả đề cập tới Hetzer

H và CS (1970 - 1972) (được Phùng Thị Vân và CS trích dẫn, 1980) [48] cho biết, đối với lợn cái hậu bị (giống lợn Yorkshire) có mối tương quan thuận giữa độ dày mỡ lưng và số con sơ sinh/ổ, nhưng với giống lợn Duroc thì có

xu hướng ngược lại

Theo tác giả Nguyễn Thị Thoa (2007) [58], chọn lọc trong nhiều năm qua đã cho kiểu gen có tỷ lệ nạc cao đã sản xuất được thịt xẻ có chất lượng cao và đã nâng cao được hiệu quả sử dụng thức ăn Tuy nhiên, hệ thống ghi chép đàn trên thế giới cho thấy, giảm lượng mỡ trong cơ thể gia súc đã làm giảm thời gian khai thác của lợn cái và làm tăng đáng kể tỷ lệ cái bị loại thải

Độ dày mỡ lưng lúc phối giống lần đầu tốt nhất là 18 - 20 mm, mặc dù trong thực tế điều này rất khó có thể đạt được với kiểu gen hiện nay

Trang 40

Hillyer M (1978)[50] đã theo dõi 424 lợn nái ở Anh có khối lượng trung bình phối giống lần đầu khác nhau, kết quả cho thấy: Không có mối tương quan giữa khối lượng phối giống lần đầu với số con sơ sinh/ ổ

Quy trình chăn nuôi của công ty PIC (Anh) áp dụng tại trại giống hạt nhân Đồng Giao -Ninh Bình đề ra các chỉ tiêu khi cho nái hậu bị phối giống lần đầu tiên như sau:

Dinh dưỡng 3kg TAHH/ngày 10 ngày 14 ngày

Các nghiên cứu của PIC cho thấy, nếu cho lợn nái ăn khẩu phần tự do trong vòng 10-14 ngày trước khi phối giống lần đầu tiên thì có thể làm tăng số lượng trứng trong quá trình trứng rụng

Các tác giả chỉ ra sự khác nhau về độ dày mỡ lưng, tuổi thành thục về tính, tuổi phối giống và khối lượng lúc phối giống giữa lợn cái hậu bị cho ăn khẩu phần có hàm lượng lysine cao và thấp đến lúc phối giống ở lần động dục thứ 3 Những con lợn hậu bị được ăn khẩu phần có tỷ lệ lysine cao (1% ), có

độ dày mỡ lưng thấp hơn (11,9 mm), có thời gian thành thục về tính và tuổi phối giống sớm hơn những con được nuôi với khẩu phần lysine thấp (0,5 %)

Tương tự, những con lợn hậu bị được ăn khẩu phần có tỷ lệ lysine cao (1% ), có khối lượng lúc phối cao hơn (133kg) so với (113kg) ở những con được nuôi với khẩu phần lysine thấp (0,5 %)

Điều đó cho thấy, chế độ ăn có ảnh hưởng trực tiếp đến độ dày mỡ lưng

và ảnh hưởng gián tiếp đến các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái hậu bị

Ngày đăng: 19/09/2014, 18:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Anh, (1995), Sinh lý sinh sản gia súc, NXB Nông nghiệp, tr.112-121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Tấn Anh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
2. Lê Xuân Cương và cs (1986), Năng suất sinh sản của lợn nái. Nxb khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cương và cs
Nhà XB: Nxb khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1986
3. Lê Xuân Cương (1985), Truyền tinh nhân tạo góp phần tăng nhanh tiến bộ di truyền các giống lợn. Tạp chí chăn nuôi số 6, tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền tinh nhân tạo góp phần tăng nhanh tiến bộ di truyền các giống lợn
Tác giả: Lê Xuân Cương
Năm: 1985
4. Phạm Hữu Doanh (1998), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con. Nxb Nông Nghiệp Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
5. Nguyễn Văn Đức (2001), Phương pháp xác định tỷ lệ nạc thông qua độ dày mỡ lưng của lợn nội MC, lai F1 (Pi x MC) và lợn ngoại LR và LW 6. DIEHL. J .H ., James .R. Damon.(2001) Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bịđể sinh sản có hiệu quả. Nxb bản đồ Hà Nội,Tr (165-168) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xác định tỷ lệ nạc thông qua độ dày mỡ lưng của lợn nội MC, lai F1 (Pi x MC) và lợn ngoại LR và LW" 6. DIEHL. J .H ., James .R. Damon.(2001) "Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bị "để sinh sản có hiệu quả
Tác giả: Nguyễn Văn Đức
Nhà XB: Nxb bản đồ Hà Nội
Năm: 2001
7. Trương Hữu Dũng (2003), Ảnh hưởng của các chế độ nuôi dưỡng lợn cái giai đoạn hậu bị tới khả năng sinh sản của chúng, tr 3-14,19-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của các chế độ nuôi dưỡng lợn cái giai đoạn hậu bị tới khả năng sinh sản của chúng
Tác giả: Trương Hữu Dũng
Năm: 2003
8. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình truyền giống nhân tạo vật nuôi. Nxb Nông nghiệp, tr 143-144 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình truyền giống nhân tạo vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
9. Lasley J.F., (1972), Di truyền học và ứng dụng vào cải tạo giống gia súc NXB khoa học kỹ thuật ( Nguyễn Phúc Hải dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học và ứng dụng vào cải tạo giống gia súc
Tác giả: Lasley J.F
Nhà XB: NXB khoa học kỹ thuật ( Nguyễn Phúc Hải dịch)
Năm: 1972
10. Nguyễn Nghi, Trần Quốc Việt, Bùi Thị Ngợi, Nguyễn Thị Mai, PhạnVăn Lời, CTV (2002), Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng năng lượng và protein trong khẩu phần đến năng suất một số giống lợn ở miền Bắc Việt Nam. Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT chăn nuôi 1969-1995, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng năng lượng và protein trong khẩu phần đến năng suất một số giống lợn ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nghi, Trần Quốc Việt, Bùi Thị Ngợi, Nguyễn Thị Mai, PhạnVăn Lời, CTV
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
11. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực, (1975), Chọn giống và nhân giống vật nuôi. Giáo Trình giảng dạy trong các trường Đại học Nông nghiệp, Nxb nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống vật nuôi
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kính Trực
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1975
12. Nguyễn Thiện, Phùng Thị Vân, Nguyễn Khánh Quắc, (1995), Kết quả nghiên cứu công thức lai giữa lợn ngoại và lợn nội Việt Nam. Tuyển tập công trình Nghiên cứu KHKT Nông nghiệp, NXB nông nghiệp Hà Nội, tr 14-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu công thức lai giữa lợn ngoại và lợn nội Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện, Phùng Thị Vân, Nguyễn Khánh Quắc
Nhà XB: NXB nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
13. Nguyễn Văn Thiện (1995), Di truyền học số lượng,ứng dụng trong chăn nuôi Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học số lượng,ứng dụng trong chăn nuô
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
14. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo, Giáo trình chăn nuôi lợn. Nxb Nông nghiệp, tr 40 - 45, 55, 132, 144, 145- 148, 150, 162, 167, 186, 220-221, 237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
15. Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển (1995), Giáo trình chăn nuôi lợn. Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tr 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển
Năm: 1995
16. Vũ Hồng Sâm (2003), Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Yorshire nuôi tại một số nông hộ của tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Yorshire nuôi tại một số nông hộ của tỉnh Nam Định
Tác giả: Vũ Hồng Sâm
Năm: 2003
17. Driox M., (1994), Di truyền lợn ở Pháp France Porc ACTIM với sự cộng tác của Bộ Nông Nghiệp và PTNT Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền lợn ở Pháp
Tác giả: Driox M
Năm: 1994
18. Perrocheau M, (1994), Sự cải thiện tính di truyền CBI Porc ACTIM với sự cộng tác của Bộ Nông nghiệp và PTNN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cải thiện tính di truyền
Tác giả: Perrocheau M
Năm: 1994
20. Phùng Thị Vân và cs (1998), Kết quả chăn nuôi lợn ngoại tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi. Nxb nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chăn nuôi lợn ngoại tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương
Tác giả: Phùng Thị Vân và cs
Nhà XB: Nxb nông Nghiệp
Năm: 1998
21. Trần Huê Viên (2004), Giáo trình di truyền học Nxb nông nghiệp, tr 105-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình di truyền học
Tác giả: Trần Huê Viên
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 2004
24. Adlovic S .,Dervisevu A., jasaravicM, hanzirevic M., (1983), The effect of age of gilt at farrowing on litter size and wight Vet, Yugoslavia 32:2, pp.249-256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of age of gilt at farrowing on litter size and wight
Tác giả: Adlovic S .,Dervisevu A., jasaravicM, hanzirevic M
Năm: 1983

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Cơ chế điều hoà hoạt động sinh dục ở lợn cái dưới sự điều tiết của - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Sơ đồ 1.1. Cơ chế điều hoà hoạt động sinh dục ở lợn cái dưới sự điều tiết của (Trang 20)
Bảng 3.1. Cơ cấu đàn nái của các cơ sở chăn nuôi Thắng Lợi và Hùng Chi - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.1. Cơ cấu đàn nái của các cơ sở chăn nuôi Thắng Lợi và Hùng Chi (Trang 48)
Bảng 3.2. Độ dày mỡ lƣng của lợn nái sinh sản   tại trại chăn nuôi Thắng Lợi và Hùng Chi - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.2. Độ dày mỡ lƣng của lợn nái sinh sản tại trại chăn nuôi Thắng Lợi và Hùng Chi (Trang 50)
Bảng 3.3. Độ dày mỡ lƣng của lợn nái sinh sản theo lứa đẻ - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.3. Độ dày mỡ lƣng của lợn nái sinh sản theo lứa đẻ (Trang 53)
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến thời gian động dục của lợn nái - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến thời gian động dục của lợn nái (Trang 55)
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng tới kết quả phối giống - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng tới kết quả phối giống (Trang 58)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến khối lượng lợn con - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của độ dày mỡ lưng đến khối lượng lợn con (Trang 62)
Bảng 3.8. Mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng và một số chỉ tiêu - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8. Mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng và một số chỉ tiêu (Trang 64)
Bảng 3.9. Mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng và - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9. Mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng và (Trang 66)
Bảng 3.10. Tương quan giữa độ dày mỡ lưng lợn mẹ và khối lượng lợn con - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Tương quan giữa độ dày mỡ lưng lợn mẹ và khối lượng lợn con (Trang 68)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của can thiệp bằng dinh dưỡng đến độ dày mỡ lưng - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của can thiệp bằng dinh dưỡng đến độ dày mỡ lưng (Trang 72)
Bảng 3.12. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của các nhóm lợn nái đƣợc - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.12. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của các nhóm lợn nái đƣợc (Trang 73)
Bảng 3.13. Số lƣợng lợn con/lứa của các nhóm lợn nái - nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh lý sinh dục và sức sản xuất của lợn nái ngoại nuôi tại một số trại chăn nuôi tập trung ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13. Số lƣợng lợn con/lứa của các nhóm lợn nái (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w