HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ CÔNG KHOA QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI ĐỀ BÀI: BẰNG DỮ LIỆU CHUYẾN THAM QUAN THỰC TẾ TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM, ANH/CHỊ HÃY TRÌNH BÀY VÀ LÀM RÕ BỐI C
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ CÔNG KHOA QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
ĐỀ BÀI:
BẰNG DỮ LIỆU CHUYẾN THAM QUAN THỰC TẾ TẠI
BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM, ANH/CHỊ HÃY TRÌNH BÀY
VÀ LÀM RÕ BỐI CẢNH LỊCH SỬ, ĐẶC TRƯNG, THÀNH TỰU
VÀ VAI TRÒ CỦA MỘT THỜI KÌ LỊCH SỬ VĂN HÓA TRONG
DIỄN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM (TỪ THỜI TIỀN SỬ ĐẾN NAY)
Họ và tên: Trương Thị Minh Anh Lớp: Quản lí văn hóa 24B
Mã sinh viên: 2405QLVB005
Mã học phần: SMF2018 Giảng viên: Th.S Nghiêm Xuân Mừng
Hà Nội, 2025 BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN HỌC PHẦN: LỊCH SỬ VĂN HÓA VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI KỲ TIỀN SỬ 3
1.1 Bối cảnh lịch sử chung 3
1.2 Phân kỳ khảo cổ học các giai đoạn phát triển thời tiền sử 4
CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA THỜI KỲ TIỀN SỬ 5
2.1 Sơ kỳ đá cũ 5
2.2 Hậu kỳ đá cũ 7
2.4 Trung kỳ đá mới 11
2.5 Hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí 13
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN, ĐÁNH GIÁ 16
Trang 3CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI KỲ TIỀN SỬ 1.1 Bối cảnh lịch sử chung
Thời kỳ tiền sử của văn hóa Việt Nam được tính từ khi con người bắt đầu có mặt trên lãnh thổ Việt Nam (40 – 50 vạn năm cách ngày nay) cho tới khoảng 4000 năm cách ngày nay
Thời đại tiền sử là thuật ngữ thường được dùng để mô tả thời đại trước khi lịch
sử được ghi chép lại, hay nói cách khác, đây là tên gọi của thời đại trước khi có chữ viết Ý nghĩa phổ biến nhất về “thời tiền sử loài người” (tiền sử văn học) là thời kỳ từ lúc các homini (một tông người vượn cổ) sử dụngcác công cụ đá đầu tiên cho đến khi phát minh và sử dụng hệ thống chứ viết ghi chép lịch sử
Bởi vì đây là thời đại không có chữ viết – một công cụ ghi chép hữu hiệu thường dùng trong dòng chảy lịch sử - nên tất cả thông tin về dấu chân của thời
kỳ này đều được lưu lại qua các tư liệu khảo cổ cũng như nghiên cứu thực địa của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Qua các tư liệu khảo cổ ở Việt Nam cũng như các cổ vật được tìm thấy, có thể khẳng định thời kì tiền sử của Việt Nam chính là thời đại nguyên thủy hay thời kỳ
đồ đá (bao gồm các giai đoạn đá cũ, đá giữa, đá mới)
Thời kỳ này được GS Trần Quốc Vượng gọi là “giai đoạn” văn hóa bản địa
Có thể lí giải điều này theo cách hiểu rằng đây là giai đoạn chưa có giao lưu, giao thoa văn hóa nên những dấu tích văn hóa đều mang đậm tính địa bàn; ngoài ra cũng có thể hiểu rằng giai đoạn này là nền móng đầu tiên cho nền văn hóa bản địa phát triển
Trang 41.2 Phân kỳ khảo cổ học các giai đoạn phát triển thời tiền sử
Theo các tư liệu khảo cổ, có thể chia thời kỳ đồ đá ở Việt Nam thành các giai đoạn:
1 Sơ kỳ đá cũ: 500.000 năm cách ngày nay
2 Hậu kỳ đá cũ: 30.000 năm cách ngày nay
3 Sơ kỳ đá mới:11.000 năm cách ngày nay
4 Hậu kỳ đá mới – Sơ kỳ kim khí: 4000 năm cách ngày nay
Trang 5CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA THỜI KỲ TIỀN SỬ
Việt Nam, trong bối cảnh Đông Nam Á, là một trong những chiếc nôi của loài người Từ cách đây khoảng 40 - 50 vạn năm cho tới hiện tại, khí hậu Việt Nam mang đậm đặc trưng nhiệt đới nóng ẩm, thích hợp cho sự sinh sống của con
người Trong cuốn giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do GS Trần Quốc Vượng
chủ biên (1998) có viết về thời kỳ tiền sử của văn hóa Việt Nam như sau: “Đây là một giai đoạn dài và có tính chất quyết định, là giai đoạn hình thành, phát triển và định vị của văn hóa Việt Nam” Mỗi phân kì trong giai đoạn này đều mang những nét đặc trưng riêng
2.1 Sơ kỳ đá cũ
Mở đầu cho giai đoạn này là văn hóa Núi Đọ Trên bề mặt Núi Đọ, các nhà khảo cổ đã thu được hàng vạn mảnh ghè (mảnh tước) được gia công bởi người nguyên thủy Họ cũng tìm thấy 8 chiếc rìu tay – là công cụ được chế tác tỉ mẩn nhất của người nguyên thủy Tuy những di vật này thô sơ, thể hiện tay nghề đục đẽo còn rất vụng về song lại cho thấy một phần nào những bước đi chập chững đầu tiên của lịch sử - khi con người bắt đầu biết cách sáng tạo vật dụng phục vụ cho nhu cầu đời sống hằng ngày, trước tiên là về nhu cầu ăn uống với dụng cụ săn bắt
Trang 6Ngoài Núi Đọ, người ta cũng tìm thấy nhiều di vật ở nhiều địa điểm tại Gò
Đá, Rộc Tưng (An Khê – Gia Lai) cách ngày nay khoảng 800.000 năm, tiêu biểu
là các công cụ như rìu tay, mũi nhọn, mũi nhọn tam điện, công cụ chặt thô, hạch
đá, v.v… Ở đây cũng khai quật được một số hóa thạch trong các di chỉ chứng minh
sự tồn tại của người nguyên thủy như răng, xương của người và động vật
1 Hình ảnh di vật ở An Khê - Gia Lai
Hình ảnh di vật thời kì Núi Đọ
Trang 72.2 Hậu kỳ đá cũ
Ở hậu kì thời đồ đá cũ, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra di chỉ của văn hóa Sơn Vi (xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) Vòa thời điểm khoảng 20.000 – 15.000 năm trước công nguyên, con người (người hiện đại) đã cư trú trên một địa bàn rất rộng Họ là chủ nhân của nền văn hóa Sơn Vi từ Lao Cai đến Bình TRị Thiên, từ Sơn La đến vùng sông Lục Nam Người Sơn Vi sống chủ yếu trên các
gò đồi của vùng trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Ngoài ra, người Sơn Vi còn sống cả trong các hang động núi đá vôi
Họ là những bộ lạc săn bắt, hái lượm, dùng đá cuội để chế tạc công cụ Những công cụ này tuy còn thô sơ song đã có những bước tiến lớn trong kĩ thuật chế tác, có nhiều loại hinhd ổn định Đa số các công cụ được tìm thấy là công cụ chặt, nạo hoặc cắt được làm từ đá cuội – những vật dụng dùng cho việc tìm kiếm thức ăn Kiểu dáng của các công cụ trên cũng được đục đẽo khá đa dạng so với thời bấy giờ: có loại có cắt ngang ở một đầu, có loại có lưỡi dọc ở rìa cạnh, có loại
có lưỡi chạy xung quanh theo rìa của viên đá cuội hoặc có lưỡi ở hai đầu
Thông qua những loại hình công cụ này, có thể nhận định rằng họ đã bắt đầu có tư duy phân loại, được thể hiện trong việc gọt đẽo công cụ và lựa chọn loại
đá Người nguyên thủy thời kì này đã biết dùng lửa; thức ăn của họ chủ yếu là nhuyễn thể, những cây, quả, hạt và một số động vật vừa và nhỏ Họ cũng đồng thời phát triển một đời sống tinh thần độc đáo Điều này thể hiện qua hành động chôn người chết trong nơi cư trú – họ tin rằng những người đã chết vẫn sẽ tiếp tục
“sống”, do đó mai táng theo người chết là những công cụ lao động
Trang 8Như vậy, có thể thấy rằng người nguyên thủy đang dần bước sang một thời
kì mới – một thời kì phát triển hơn những kĩ năng khác ngoài săn bắt cũng như
có đời sống phong phú hơn
2.3 Sơ kỳ đá mới
Trong giai đoạn tiền sử, cách đây khoảng một vạn năm đã có những thay đổi quan trọng, đánh dấu bước tiến mới trong lối sống của con người Từ đây, con người bước vào thời đại đá mới Thời đại đá mới có đặc trưng là những tiến bộ về phương thức và kĩ thuật sản xuất Toàn trái đất trở nên ẩm ướt, ấm, khí hậu môi trường có biến đổi lớn; ngày càng thuận lợi hơn cho sự tồn tại, phát triển của con người và động - thực vật
Thời kì này con người đã biết nhận biết, tận dụng và sử dùng nhiều loại nguyên vật liệu khác ngoài đá như đất sét, xương, sừng, tre gỗ Kĩ thuật chế tác đá được hoàn thiện và đạt tới đỉnh cao, cũng tạo ra nhiều loại hình công cụ hơn Đặc biệt, con người đã biết làm gốm, thuần dưỡng động vật và cây trồng, bắt đầu sống định cư và dân số dần gia tăng Tiêu biểu cho giai đoạn này có thể kể đến văn hoá Hoà Bình
Di tích văn hóa Hòa Bình
Trang 9Cư dân văn hoá Hoà Bình sống chủ yếu trong các hang động núi đá vôi Họ thích cư trú trong các khu vực gần cửa hang, thoáng đãng, có ánh sáng Môi trường hoạt động của họ rất rộng, bao gồm hang - thung - thềm sông, suối Qua đó có thể coi văn hoá Hoà Bình là nền văn hoá thung lũng Văn hoá Hoà Bình kéo dài trong khoảng từ 12.000 - 7.000 năm cách ngày nay
Người Hòa Bình sống chủ yếu bằng săn bắt
và hái lượm song do đặc điểm của hệ sinh thái phồn tạp vùng rừng nhiệt đới, phương thức săn bắt
và hái lượm của người tiền sử là theo phổ rộng, lượm trong rừng đủ thứ
có thể ăn và sử dụng
Nơi sinh sống là hang đá
Di tích văn hóa Hòa Bình
Trang 10được Mặt khác, do môi trường không thuận lợi cho hoạt động săn bắn nên phương thức sống của cư dân Hòa Bình chủ yếu là hái lượm
Gần đây, người ta đã tìm thầy hạt và quả của nhiều loài cây thuộc họ rau đậu và họ bầu bí, được coi là đã thuần dưỡng trong một số di chỉ văn hóa Hòa Bình Có lẽ đã có một nền nông nghiệp sơ khai xuất hiện trong lòng văn hóa Hòa Bình Cuộc sống định cư tương đối là một nhân tố tạo cho sự nảy sinh nghề trồng trọt Tất nhiên vai trò của nó còn rất nhỏ bé so với các hoạt động truyền thống hái lượm, và săn bắt (bắn) Các hoạt động này vẫn được coi là hoạt động kinh tế cơ bản của họ
Thời kì này cũng để lại những dấu vết của nghệ thuật như những hiện vật bằng xương có vết khắc hình cá, hình thú và những hình vẽ trên vách hang Đồng Nội, những mảnh thổ hoàng Người Hòa Bình, theo GS Hà Văn Tấn có lẽ đã có những biểu hiện về nhịp điệu, thể hiện bằng những nhóm vạch 3 vạch một trên các
hòn cuội tìm thấy trong hang động Dù mới chỉ
là giả thuyết về số đếm, cách tính ngày những
di vật tìm thấy trong văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn cũng cho thấy một bước phát triển tư duy của người nguyên thủy Tư duy về thời gian vũ trụ còn được thể
Hình vẽ trên hang đá
Trang 11hiện bằng những hoa văn, kí hiệu biểu thị mặt trời: như hình tròn, hình chữ vẽ trên đồ gốm Có thể bấy giờ đã bắt đầu hình thành một loại nông lịch sơ khai
Có thể khẳng định cư dân thời đại đá mới có một tri thức phong phú về tự nhiên, những hang động và những nơi cư trú khác của họ đều là những địa điểm thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất Điều này cho thấy con người thời bấy giờ đã biết thích nghi một cách hài hòa với tự nhiên
2.4 Trung kỳ đá mới
Sự xuất hiện của nông nghiệp trồng trọt và muộn hơn một chút trong các văn hóa thuộc trung kì và hậu kì đá mới, việc sản xuất đồ gốm đã đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong đời sống con người, từ kinh tế khai thác sang kinh tế sản xuất Cũng nhờ phương thức sản xuất mới mà con người đã mở rộng không gian sinh tồn Trong giai đoạn trung kì và hậu kì của thời đá mới, con người
đã chiếm lĩnh và chinh phục hai vùng sinh thái: núi, trước núi và ven biển Ở vùng sinh thái ven biền, nghề đánh cá phát triển mạnh Thời kì này được đặc trưng bởi các nền văn hóa Đa Bút (Thanh Hóa), Quỳnh Văn (Nghệ An), Cái Bèo, với những làng định cư lâu dài, ổn định, trong đó, bên cạnh quan hệ dòng máu đã xuất hiện và ngày càng nhiều những quan hệ láng giềng phức tạp
Những nền văn hoá tiêu biểu thời kì này chủ yếu phân bố ở vùng ven biển
và đảo: văn hóa Quỳnh Văn tập trung ở các cồn sò ven biển Quỳnh Văn (Nghệ An)
và Thanh Hà (Hà Tĩnh); văn hóa Cái Bèo với dấu vết cư trú và sinh hoạt ven biển
rõ nét; văn hóa Đa Bút được biết đến như một nhóm cư dân ven biển miền Bắc
Trang 12Hoạt động kinh tế chính của các nền văn hoá tiêu biểu thời kì này là hoạt động thiên về kinh tế biển, gồm săn bắt và khai thác hải sản Ở nền văn hóa Quỳnh Văn, thông qua các báo cáo khảo cổ, người ta thấy được sự khai thác nhuyễn thể và hải sản biển là hoạt động kinh tế chủ đạo Văn hoá Cái Bèo, phát triển nghề săn bắt sò ốc, sau đó mở rộng sang khai thác cá
và ngư nghiệp ven biển Cuối cùng là văn hoá Đa Bút, cư dân nền văn hoá này dựa vào nghề biển và hái lượm tự nhiên là chủ yếu
Cả ba nền văn hóa thuộc giai đoạn hậu kỳ đá mới này đều sử dụng công cụ
đá mài như rìu, dao, nạo, bàn mài… được chế tác tương đối công phu Kết cấu đá mài chuyên biệt, thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật chế tác công cụ
Văn hóa Cái Bèo
Văn hóa Đa Bút
Văn hóa Đa Bút, Quỳnh Văn
Trang 13Ngoài ra họ cũng phát triển nghề làm gốm ở những bước thô sơ ban đầu
Họ biết sản xuất đồ gốm thủ công; thường là gốm thô, trang trí vạch khắc, in họa tiết từ vỏ sò, dây thừng hoặc vỏ ốc Công nghệ gốm này đánh dấu bước tiến văn hóa từ phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên sang tạo lập vật dụng trong đời sống
Một phần đời sống tâm linh của con người thời kì này cũng phát triển: các
di tích táng tại ba nền văn hóa đã tìm thấy mộ táng, xương người được che rải màu
đỏ và kèm đồ tùy táng, phản ánh tín ngưỡng sơ khai về thế giới tâm linh
2.5 Hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí
Những điều kiện định cư lâu dài và sự phát triển của nông nghiệp đã làm hình thành rõ nét tính địa phương của văn hóa trong những khu vực hẹp vào cuối thời đại đá mới Thời kì này cũng xuất hiện những tín ngưỡng nguyên thủy Là cư dân nông nghiệp nên mưa, gió và đặc biệt là mặt trời đã trở thành một trong những thần linh quan trọng đối với con người
Những nền văn hoá tiêu biểu của thời kì này có thể kể đến như: Mai Pha, Xóm Cồn, Hạ Long, Hoa Lộc, v.v…
Trang 14Văn hóa Mai Hoa vốn là tên gọi chung cho một nhóm cư dân tiền
sử ven biển Đông Bắc (còn được gọi là “cồn sò”), hình thành vào khoảng 5.000 - 3.000 năm trước Công nguyên Người Mai Hoa nổi bật với kỹ thuật gốm xốp, kết hợp
vỏ nhuyễn thể và đất sét, trang trí họa tiết sóng biển đặc trưng, phản ánh sự gắn bó sâu sắc với môi trường biển Họ có khả năng chế tác công cụ đá tinh vi như rìu, bôn có vai và nấc, dấu hiệu của kỹ thuật cao cấp trong thời kỳ đồ đá muộn, đồng thời mở đầu cho hình thái giao lưu văn hóa với nhiều vùng khác như Cái Bèo và Phùng Nguyên
Văn hóa Mai Pha
Trang 15Văn hóa Xóm Cồn ở duyên hải Trung Trung Bộ (Khánh Hòa), hình thành khoảng 3.500–4.500 năm trước Công nguyên Di chỉ Xóm Cồn thể hiện giai đoạn chuyển tiếp giữa đồ đá mới và sơ kỳ kim khí, với dấu hiệu liên kết đến văn hóa
Sa Huỳnh nhưng vẫn giữ nét đặc trưng riêng Kết quả khảo cổ cho thấy người dân Xóm Cồn cư trú lâu dài, đã có nhà ở ven biển, cung cấp bằng chứng quan trọng về quá trình xuất hiện đồ đồng và cấu trúc cộng đồng biển sớm tại dải đất Trung Bộ
Văn hóa Xóm Cồn
Trang 16CHƯƠNG III: KẾT LUẬN, ĐÁNH GIÁ
Thời kỳ văn hóa tiền sử Việt Nam khởi nguồn bằng văn hóa Sơn Vi với con người cư trú trong hang động và sử dụng công cụ đá thô sơ Tiếp nối là văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn đổi mới kỹ thuật ghè đẽo, xuất hiện mài đá và đồ gốm đầu tiên, nền tảng cho nông nghiệp sơ khởi Sang thời kỳ đá mới, xuất hiện văn hóa Quỳnh Văn ven biển Nghệ An – Hà Tĩnh với nghề khai thác hải sản, các bãi vỏ sò lớn, mộ táng có trang trí vỏ sò, thể hiện cộng đồng định cư và nghi lễ phức tạp; cùng với văn hóa Đa Bút chế tác rìu mài, gốm nồi đáy tròn, kết hợp săn bắt, đánh
cá và ít trồng lúa
Thời kỳ văn hóa tiền sử Việt Nam, từ đá cũ đến đá mới, đã đóng vai trò then chốt trong tiến trình phát triển xã hội và văn hóa dân tộc Văn hóa Sơn Vi – Hòa Bình thể hiện khả năng thích nghi và sáng tạo của con người thời tiền sử qua
kỹ thuật ghè đẽo đá và định cư hang động; đặc biệt, văn hóa Hòa Bình mang tầm khu vực khi nhìn rộng ra Đông – Nam Á, cung cấp cơ sở vật chất lẫn tinh thần cho bước chuyển quan trọng từ săn bắt – hái lượm sang khai phá đất và trồng trọt Tiếp đó, các nền văn hóa đá mới như Quỳnh Văn và Đa Bút phát triển nghề gốm sớm, mở rộng định cư ven biển, nuôi trồng và chế tác công cụ tinh vi hơn, đánh dấu bước ngoặt trong tổ chức xã hội – kinh tế địa phương Những thành tựu này làm nền tảng cho văn minh lúa nước, hình thành làng xã, mở đường cho văn hóa Đông Sơn và các giai đoạn quốc gia kế tiếp Như vậy, thời kỳ tiền sử không chỉ là khởi nguồn kỹ thuật – kinh tế – xã hội, mà còn định hình bản sắc văn hóa độc đáo, tiền đề cho sự chuyển mình sang lịch sử có chữ viết, nhà nước sơ khai và hội nhập khu vực