Ngoài các công trình riêng biệt, nhiều giáo trình đại học về Luật Môi trường, Luật Biển, Luật Dân sự Việt Nam cũng đã bước đầu đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN
( )
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HẢI PHÒNG - 2025
Trang 2BỘ XÂY DỰNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(font Times New Roman, cỡ chữ 20, in hoa, đậm và không nghiêng)
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGÀNH: ; MÃ SỐ:
CHUYÊN NGÀNH:
Người hướng dẫn:
HẢI PHÒNG - 2025
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô Lương Thị Kim Dung đã nhiệt tình hướngdẫn và hỗ trợ em trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp này Cảm ơncác thầy cô trong khoa đã truyền đạt kiến thức và giúp đỡ em trong suốt quátrình học tập
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn đồng hành, động viên
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và nghiêncứu
Cuối cùng, em xin cảm ơn các bạn bè và đồng nghiệp đã chia sẻ, giúp đỡ
em trong quá trình thực hiện đồ án này
Hải Phòng, ngày tháng năm 2025
Tác giả(Chữ ký)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, đượcthực hiện trong quá trình học tập tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam Mọinội dung trong bài đều là kết quả của quá trình nghiên cứu độc lập và không saochép từ bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tôi chịu trách nhiệm về tínhtrung thực và tính xác thực của các thông tin, số liệu cũng như các tài liệu thamkhảo đã được sử dụng trong bài luận văn
Tôi cam kết rằng bài luận văn này chưa từng được nộp cho bất kỳ cơ sởgiáo dục nào khác dưới bất kỳ hình thức nào, và không vi phạm các quy định vềđạo đức nghiên cứu khoa học Tất cả các ý tưởng, phân tích và kết luận trongbài nghiên cứu đều là của riêng tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn củacác giảng viên, chuyên gia trong lĩnh vực
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy
cô giáo trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Những đóng góp quý báunày đã giúp tôi hoàn thành công trình này
Hải Phòng, ngày tháng năm 2025
Tác giả(Chữ ký)
Trang 5Đồ án/khóa luận được đánh số trang từ 1, 2, 3, cho đến hết).
Trang 6MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN TN
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
Tra ng
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số
Tra ng
- Việc đánh số bảng biểu, hình vẽ, phương trình phải gắn với số chương; ví
dụ hình 3.4 có nghĩa là hình thứ 4 trong chương 3 Mọi đồ thị, bảng biểu lấy từcác nguồn khác phải được trích dẫn đầy đủ Nguồn được trích dẫn phải được liệt
kê chính xác trong danh mục “Tài liệu tham khảo”
- Theo quy tắc các hình vẽ và bảng biểu đều phải có tên đầu đề và tên đầu
đề của bảng biểu ghi phía trên bảng, tên đầu đề của hình vẽ ghi phía dưới hình
- Trong các bảng hoặc hình có thể sử dụng font chữ cỡ nhỏ hơn phần diễngiải
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ghi theo trình tự sau:
1 Phạm Tiến Tỉnh, Lê Hồng Bang, Hoàng Văn Oanh, Lý thuyết thiết kế tàu
thủy, NXB Giao thông vận tải, 2010.
Trang 10PHỤ LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
MỤC LỤC 5
MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN TN 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
PHỤ LỤC 10
MỞ ĐẦU 13
1 Tính cấp thiết của đề tài 13
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 13
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
4 Bố cục đồ án 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 17
1.1 Khái niệm và phân loại về ô nhiễm môi trường biển 17
1.1.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường 17
1.1.2 Đặc điểm và phân loại nguồn gây ô nhiễm: 18
1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môi trường biển 20
1.2.1 Định nghĩa và bản chất pháp lý 20 1.2.2 Mối liên hệ giữa trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hành
Trang 111.3 Pháp luật quốc tế về trách nhiệm bồi thường và kinh nghiệm cho
Việt Nam 24
1.3.2 Kinh nghiệm từ các quốc gia 27
1.3.3 Bài học có thể áp dụng cho Việt Nam 30
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 33
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển 33
2.1.1 Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh 33
2.1.2 Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường 34
2.1.3 Chủ thể có trách nhiệm bồi thường 36
2.1.4 Trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường 38
2.1.5 Nguyên tắc và phương pháp xác định thiệt hại 49
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật 50
2.2.1 Vụ tràn dầu tàu Anh tại Vũng Tàu 50
2.2.2 Vụ việc Formosa – Hà Tĩnh 54
2.2.3 Vụ chìm tàu nước ngoài tại cảng Cái Mép 56
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 62
3.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước 62
1 Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển 62
2 Nghị quyết 55/NQ-CP và Quy hoạch bảo vệ môi trường biển đến năm 2030 62
Trang 123 Tầm nhìn đến năm 2045 về bảo vệ môi trường biển gắn với phát
triển kinh tế 63
3.2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện 63
Kết luận phần giải pháp thực thi 66
KẾT LUẬN 68
NHẬN XÉT TÓM TẮT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN 70
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với đường bờ biển dài hơn 3.260 km và vị trí địa lý chiến lược nằm tạitrung tâm Biển Đông – một trong những tuyến hàng hải sầm uất nhất toàn cầu –Việt Nam sở hữu tiềm năng to lớn trong phát triển kinh tế biển và giao thươngquốc tế Tuy nhiên, cùng với quá trình công nghiệp hóa và gia tăng hoạt độngkhai thác ven biển, tình trạng ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam đang ngàycàng nghiêm trọng, gây ra những hệ lụy to lớn đối với hệ sinh thái biển, đờisống cộng đồng ngư dân cũng như an ninh môi trường Theo thống kê của BộTài nguyên và Môi trường (2023), khoảng 70% lượng nước thải sinh hoạt vàcông nghiệp tại các khu vực ven biển chưa qua xử lý đã bị xả trực tiếp ra biển.Đặc biệt, Việt Nam hiện là một trong năm quốc gia xả thải nhựa ra đại dươngnhiều nhất thế giới, với lượng phát sinh ước tính từ 0,28 đến 0,73 triệu tấn mỗinăm
Trên thực tế, nhiều sự cố môi trường biển nghiêm trọng như vụ Formosa(2016), các vụ tràn dầu, hay tàu chở hóa chất gặp nạn đã để lại hậu quả sâu rộng
cả về kinh tế, xã hội lẫn môi sinh Tuy nhiên, việc xác lập và thực thi tráchnhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ việc đó vẫn còn nhiều bất cập: pháp luậtchưa quy định rõ ràng về chủ thể chịu trách nhiệm, tiêu chí đánh giá thiệt hạicòn mơ hồ, quy trình xử lý kéo dài và thiếu minh bạch Hệ quả là người dân vàmôi trường biển tiếp tục gánh chịu thiệt hại mà không được đền bù thỏa đáng,trong khi tính răn đe pháp lý cũng chưa được đảm bảo
Xuất phát từ thực trạng cấp bách nói trên, đề tài “Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam” được lựa chọn nhằm phân tích, đánh giá một
cách hệ thống các quy định pháp luật hiện hành, chỉ ra những vướng mắc trongthực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện phù hợp với điều kiệnViệt Nam và tiệm cận với xu thế pháp lý quốc tế Bên cạnh giá trị học thuật và
Trang 14thực tiễn, việc nghiên cứu chuyên sâu vấn đề này còn có ý nghĩa đặc biệt đốivới sinh viên Trường Đại học Hàng hải Việt Nam trong việc nâng cao ý thứcbảo vệ môi trường biển, hiểu biết pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp trongtương lai
Với hơn 3.260 km bờ biển và vị trí chiến lược tại Biển Đông – tuyếnhàng hải nhộn nhịp bậc nhất thế giới – Việt Nam có tiềm năng lớn về phát triểnkinh tế biển Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường biển đang ngày càngnghiêm trọng, đe dọa hệ sinh thái, đời sống ngư dân và các ngành kinh tế biển.Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2023), khoảng 70% lượng nước thải venbiển chưa được xử lý, và Việt Nam nằm trong top 5 quốc gia xả rác thải nhựa rađại dương nhiều nhất thế giới, với lượng thải từ 0,28–0,73 triệu tấn/năm
Thực tiễn cho thấy nhiều vụ ô nhiễm như sự cố Formosa, tràn dầu, chìmtàu chở hóa chất để lại hậu quả nghiêm trọng nhưng việc thực thi trách nhiệmbồi thường còn nhiều bất cập Hệ thống pháp luật thiếu rõ ràng về chủ thể chịutrách nhiệm, cách xác định thiệt hại và quy trình bồi thường Tình trạng chậmtrễ, tranh chấp kéo dài gây ảnh hưởng tiêu cực đến người dân và môi trường
Trước thực trạng đó, đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễmmôi trường biển – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam” đượclựa chọn nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý còn tồn tại, đồng thời đề xuất hướnghoàn thiện phù hợp với yêu cầu thực tiễn và định hướng phát triển bền vữngkinh tế biển Đối với sinh viên Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, việc nghiêncứu chuyên sâu đề tài này cũng góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệmnghề nghiệp trong lĩnh vực hàng hải và môi trường biển
[2.] Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường biển và tráchnhiệm pháp lý phát sinh từ hành vi gây ô nhiễm đã trở thành chủ đề thu hút sựquan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu và cơ quan lập pháp trong nước Đã
có một số công trình nghiên cứu bước đầu đề cập đến khía cạnh này, đặc biệt là
Trang 15Một trong những công trình tiêu biểu là luận văn thạc sĩ "Trách nhiệm bồithường thiệt hại môi trường biển ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Lan(2019), trong đó tập trung phân tích thực trạng thực thi trách nhiệm bồi thườngtrong các vụ ô nhiễm biển do hoạt động kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực hàng hải.Tác giả đã bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lýhiện hành Ngoài ra, bài báo khoa học “Ô nhiễm môi trường biển và trách
nhiệm pháp lý của các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm”, đăng trên Tạp chí Luật
học số tháng 5/2020, đã nêu bật những vướng mắc trong việc xác định chủ thể
chịu trách nhiệm và quy trình áp dụng chế tài pháp luật Bài viết cũng chỉ ranhững điểm hạn chế trong cơ chế thực thi pháp luật môi trường tại Việt Nam
Bên cạnh đó, hội thảo khoa học "Bảo vệ môi trường biển và phát triểnbền vững ở Việt Nam" (2021) do Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển tổchức, đã tổng hợp nhiều tham luận mang tính thực tiễn và lý luận sâu sắc, trong
đó có một số bài tham luận đề cập đến trách nhiệm dân sự và trách nhiệm bồithường thiệt hại trong các vụ việc ô nhiễm biển, từ đó góp phần định hướng xâydựng chính sách và hoàn thiện pháp luật
Ngoài các công trình riêng biệt, nhiều giáo trình đại học về Luật Môi
trường, Luật Biển, Luật Dân sự Việt Nam cũng đã bước đầu đề cập đến trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, tuy nhiên còn mang tínhkhái quát, chưa đi sâu vào trường hợp đặc thù như ô nhiễm môi trường biển
Ở cấp độ quốc tế, có thể kể đến các công trình pháp lý quan trọng nhưCông ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) – trong đó quyđịnh rõ nghĩa vụ của quốc gia trong việc bảo vệ môi trường biển và cơ chế xử lýthiệt hại khi xảy ra ô nhiễm xuyên biên giới Bên cạnh đó, Công ước về Tráchnhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu năm 1992 (CLC 1992) và hệthống Quỹ Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu (IOPC Funds) do Tổ chức Hànghải Quốc tế (IMO) thiết lập, đã cung cấp những cơ chế quốc tế hữu hiệu trongxác lập và thực thi nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với các chủ tàu gây ônhiễm môi trường biển
Trang 16Tổng thể, các công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp những nền tảng
lý luận quan trọng, từ các nguyên tắc chung về trách nhiệm pháp lý đến cáckhung pháp lý điều chỉnh hoạt động trên biển Tuy nhiên, phần lớn các côngtrình vẫn chỉ dừng lại ở mức đánh giá tổng quát hoặc tập trung vào một khíacạnh cụ thể, thiếu đi một nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về trách nhiệm bồithường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển trong điều kiện thực tiễn và phápluật Việt Nam hiện nay
Chính vì vậy, đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môitrường biển – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam” khôngchỉ kế thừa các cơ sở lý luận, quy định pháp luật và kinh nghiệm quốc tế đã có,
mà còn hướng đến việc lấp đầy khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại, cụ thể làxác lập cơ chế trách nhiệm dân sự rõ ràng, khả thi và hiệu quả đối với hành vigây ô nhiễm môi trường biển Đây cũng là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnhViệt Nam đang định hướng phát triển kinh tế biển bền vững và hội nhập sâurộng vào pháp luật quốc tế
Trong bối cảnh pháp luật Việt Nam đối mặt với những thách thức về bảo
vệ môi trường biển, việc nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ônhiễm môi trường biển đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu,chuyên gia pháp lý và tổ chức trong nước Một trong những công trình nghiêncứu tiêu biểu là luận văn "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường biển ởViệt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Lan (2019), trong đó tác giả đã phân tíchthực trạng áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ các sự cố ô nhiễm biển,đặc biệt là trong lĩnh vực hàng hải, và đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chếpháp lý hiện hành Thêm vào đó, bài báo khoa học "Ô nhiễm môi trường biển vàtrách nhiệm pháp lý của các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm", đăng trên Tạp chíLuật học số tháng 5/2020, đã đề cập đến các vấn đề pháp lý trong việc xác địnhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường biển, đồng thời phân tích những
Trang 17"Bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững ở Việt Nam" (2021) do ViệnNghiên cứu Môi trường và Phát triển tổ chức đã thu hút nhiều ý kiến đóng góp
từ các nhà khoa học, các chuyên gia pháp lý, trong đó các tham luận liên quanđến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển đã nêu rõnhững thiếu sót trong hệ thống pháp luật và đề xuất các giải pháp pháp lý cảicách để bảo vệ hiệu quả môi trường biển của đất nước
Ở cấp độ quốc tế, các nghiên cứu và công ước pháp lý liên quan đến tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển đóng vai trò hết sứcquan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia Côngước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 là một ví dụ điển hình, cungcấp cơ sở pháp lý toàn diện về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia đối với cáchoạt động trên biển, đặc biệt là các quy định về trách nhiệm đối với ô nhiễmmôi trường biển và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp xảy ra sự
cố ô nhiễm Một ví dụ khác là Công ước về Bồi thường Thiệt hại do Ô nhiễmDầu (CLC 1992), mà Việt Nam cũng là một trong những quốc gia tham gia.Công ước này xác định các nguyên tắc về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ônhiễm dầu trên biển, qua đó tạo điều kiện cho các quốc gia phối hợp và hỗ trợnhau trong việc xử lý thiệt hại Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) cũng có nhiềunghiên cứu, tài liệu về giảm thiểu ô nhiễm từ ngành hàng hải Trong đó, nghiêncứu của IMO về Quỹ Bồi thường Thiệt hại do Ô nhiễm Dầu (IOPC) đã cung cấpmột cơ chế quốc tế hiệu quả để bồi thường thiệt hại do ô nhiễm từ các tàuthuyền, đồng thời đóng góp vào việc hoàn thiện chính sách và quy định pháp lýcủa các quốc gia về bảo vệ môi trường biển Những nghiên cứu quốc tế nàykhông chỉ giúp tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc bảo vệ môitrường biển mà còn cung cấp các mô hình và công cụ pháp lý để Việt Nam cóthể tham khảo và áp dụng nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm bồithường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển
Trang 182.[3.] Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các quy định pháp luật Việt Nam
liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển Cụthể, nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các văn bản pháp lý hiện hành, baogồm các điều luật, nghị định, thông tư và các quy định cụ thể liên quan đếntrách nhiệm của các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường biển và cơ chếbồi thường thiệt hại Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ xem xét các quy định vềtrách nhiệm pháp lý đối với các sự cố ô nhiễm môi trường biển trong các ngànhnghề có liên quan, như hàng hải, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động côngnghiệp ven biển
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm
2024, trong đó nghiên cứu các vụ việc thực tế và các quy định pháp lý có liênquan đã được áp dụng trong giai đoạn này Những vụ việc điển hình, như sự cố
ô nhiễm môi trường biển do các hoạt động công nghiệp và hàng hải, sẽ đượcđưa ra phân tích để làm rõ thực trạng thực thi các quy định pháp luật, cũng nhưnhững khó khăn trong việc áp dụng và thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệthại Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ tổng hợp các sửa đổi, bổ sung các quy địnhpháp luật trong giai đoạn này và đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp pháp
lý hiện hành đối với việc bảo vệ môi trường biển và quyền lợi của cộng đồng
3.[4.] Bố cục đồ án
Với đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển– Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam", ngoài mục lục vàbảng biểu, nội dung đồ án được chia thành các chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về trách nhiệm bồi thường do ônhiễm môi trường biển
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường ô nhiễm môitrường biển
Chương 3: Đề xuất các giải pháp và hoàn thiện
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 1.1 Khái niệm và phân loại về ô nhiễm môi trường biển
1.1.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường biển
Ô nhiễm môi trường hiện nay đang là một trong những vấn đề cấp bách
và nhức nhối của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam Mặc dù ô nhiễm môitrường có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào, nhưng mức độ và hình thức ô nhiễm
có thể khác nhau tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế và xã hội của từngquốc gia Trong bối cảnh hiện nay, các loại ô nhiễm phổ biến bao gồm ô nhiễmkhông khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm tiếng ồn, và ô nhiễmbiển Mỗi loại ô nhiễm này đều có những tác động tiêu cực nghiêm trọng đếnchất lượng cuộc sống của con người, sức khỏe cộng đồng, và sự phát triển bềnvững của môi trường tự nhiên
Ô nhiễm môi trường có thể được định nghĩa là sự thay đổi các yếu tố tựnhiên trong môi trường, bao gồm các yếu tố vật lý, sinh học và hóa học của môitrường, làm giảm chất lượng của môi trường sống Sự thay đổi này chủ yếu docác hoạt động của con người gây ra, thông qua việc xả thải các chất độc hại,chất ô nhiễm từ các quá trình sản xuất, sinh hoạt và giao thông Tác động của ônhiễm môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn đến sựtồn tại và phát triển của các loài sinh vật khác trong tự nhiên
Ô nhiễm môi trường do doanh nghiệp thường có quy mô và mức độnghiêm trọng lớn hơn so với ô nhiễm từ các hoạt động sinh hoạt thông thường.Doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động trong các ngành côngnghiệp sản xuất, khai thác tài nguyên, và vận tải, là những nguồn chính gây ra ônhiễm môi trường Các chất thải từ các hoạt động này có thể bao gồm chất thảirắn, chất thải lỏng, khí thải, và các chất độc hại khác xả trực tiếp ra không khí,nguồn nước và đất
Trang 20Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường còn có thể do các yếu tố tự nhiên gây
ra, chẳng hạn như sạt lở đất, sự phun trào của núi lửa, hay hiện tượng nước mưamang theo bụi, bùn, đất từ các khu vực đất đai bị xói mòn vào nguồn nước Tuynhiên, những nguyên nhân tự nhiên này chỉ là một phần nhỏ trong tổng thểnguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, trong khi phần lớn vẫn xuất phát từ cáchoạt động của con người, đặc biệt là trong các quá trình sản xuất và tiêu thụ
Ô nhiễm môi trường biển là một trong những vấn đề nhức nhối và mangtính toàn cầu, đặc biệt ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia có bờ biển dài nhưViệt Nam Việc xác định chính xác khái niệm "ô nhiễm môi trường biển" khôngchỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn là nền tảng pháp lý quan trọng để xác địnhtrách nhiệm và xử lý các hành vi gây ô nhiễm
Theo Điều 3 khoản 9 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, “ô nhiễm môi
trường” được định nghĩa là: “sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm
quy chuẩn kỹ thuật môi trường và gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.” Khi áp dụng vào lĩnh vực biển, khái niệm này được mở rộng để phản ánh
đặc thù của hệ sinh thái biển – nơi có sự tương tác giữa môi trường nước mặn,sinh vật biển và các hoạt động kinh tế biển
Trong Giáo trình Luật môi trường Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2021), ô nhiễm môi trường biển được định nghĩa là: “sự suy giảm chất
lượng môi trường biển do tác động của các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học vượt quá giới hạn cho phép, làm tổn hại đến tài nguyên biển, sinh vật biển và sức khỏe con người, chủ yếu bắt nguồn từ hoạt động khai thác, vận tải, công nghiệp
và sinh hoạt của con người.”
Theo quan điểm của nhóm tác giả Nguyễn Văn Cường và cộng sự, trong
bài báo “Ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam – Nguyên nhân và giải pháp” đăng trên Tạp chí Khoa học Môi trường, số 6/2022: “Ô nhiễm môi trường biển
là hiện tượng các chất thải độc hại như dầu, kim loại nặng, rác thải nhựa, nước thải chưa qua xử lý từ đất liền hoặc từ các phương tiện hàng hải thải ra biển,
Trang 21làm suy giảm khả năng tự phục hồi và tái tạo của môi trường biển, phá vỡ cân bằng sinh thái biển.”
Tại bình diện quốc tế, Điều 1(4) Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biểnnăm 1982 (UNCLOS) định nghĩa ô nhiễm môi trường biển là:
“việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa vào môi trường biển các chất hoặc năng lượng gây ra hoặc có thể gây ra những hậu quả có hại như tổn hại đến tài nguyên sống, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, cản trở các hoạt động biển, suy giảm chất lượng sử dụng biển và làm suy thoái giá trị thẩm
mỹ hoặc môi trường.”
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy rằng điểm chung của ô nhiễm môitrường biển là sự can thiệp tiêu cực của con người vào môi trường tự nhiên biểnthông qua các hành vi như xả thải, khai thác quá mức, hoặc tai nạn trên biển(tràn dầu, chìm tàu, hóa chất độc hại) Đặc trưng nổi bật là sự lan truyền nhanh,khó kiểm soát, và ảnh hưởng diện rộng, không chỉ đến hệ sinh thái biển mà cònđến quyền lợi kinh tế, sinh kế và sức khỏe của cộng đồng ven biển
Tóm lại, ô nhiễm môi trường biển không đơn thuần là hiện tượng tựnhiên mà là kết quả trực tiếp của các hoạt động phát triển thiếu bền vững, đòihỏi một hệ thống pháp luật chặt chẽ để kiểm soát, xử lý và đặc biệt là xác định
rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi xảy ra ô nhiễm Việc làm rõ khái niệm làbước đầu cần thiết để thiết lập cơ sở pháp lý cho nghiên cứu sâu hơn trong đềtài này
1.1.2 Đặc điểm và phân loại nguồn gây ô nhiễm:
Ô nhiễm môi trường biển không chỉ là một vấn đề môi trường mà còn ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái và các ngành kinh tế biển.Các nguồn ô nhiễm biển rất đa dạng, bao gồm từ các sự cố trong quá trình vậntải biển đến những hoạt động sinh hoạt hàng ngày Dưới đây là phân tích cácnguồn gây ô nhiễm biển phổ biến:
Trang 22Bên cạnh các nguyên nhân như sự cố đâm va tàu, tràn dầu, nước ballast
và chất thải sinh hoạt, môi trường biển hiện nay còn đang phải đối mặt vớinhiều nguồn gây ô nhiễm khác, ngày càng trở nên nghiêm trọng và đa dạng hơn
Rác thải từ tàu biển (theo Phụ lục V - MARPOL 73/78)
Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra (MARPOL 73/78),đặc biệt là Phụ lục V, nghiêm cấm hành vi xả rác từ tàu ra biển Tuy nhiên, việcthực thi quy định này còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở các khu vực có giaothông hàng hải dày đặc hoặc thiếu sự kiểm soát Rác thải từ tàu bao gồm túinilon, chai nhựa, lưới đánh cá hỏng, thùng xốp, thực phẩm hư hỏng và cả dầuthải, thường được thủy thủ đoàn xả trực tiếp xuống biển để giảm chi phí xử lýtại cảng Những loại rác thải này có tính bền vững cao, không phân hủy trongnước biển, gây tác động nghiêm trọng đến sinh vật biển như cá, rùa, cá voi khichúng nuốt phải hoặc bị mắc kẹt Theo Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), ướctính mỗi năm có hàng trăm nghìn tấn rác thải được xả từ tàu ra biển, trong đó20% rác thải nhựa đại dương có nguồn gốc từ tàu Các vết dầu thải còn lại từ tàucũng có thể tích tụ trên bờ biển, ảnh hưởng đến các khu du lịch và nuôi trồngthủy sản ven biển
Nguồn ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy sản
Ngành thủy sản, dù là trụ cột kinh tế của nhiều địa phương ven biển, lạiđang gây ra nhiều vấn đề môi trường đáng lo ngại Trong hoạt động nuôi trồngthủy sản, việc sử dụng thức ăn dư thừa, chất kháng sinh, vôi, thuốc diệt tạp đãlàm tăng lượng chất thải hữu cơ đổ ra môi trường Nước thải từ ao, lồng nuôinếu không qua xử lý sẽ chảy trực tiếp ra biển, gây phú dưỡng nước, làm bùngphát tảo độc, thiếu oxy, ảnh hưởng đến các loài sinh vật khác và làm chết cáhàng loạt Ngoài ra, các cơ sở chế biến thủy sản ven biển thường xả ra biển mộtlượng lớn nước thải chứa chất béo, dầu mỡ, protein, vi khuẩn gây bệnh và hóachất làm sạch, gây mùi hôi thối, làm giảm chất lượng nước biển, ảnh hưởng đếnsức khỏe cộng đồng và ngành du lịch địa phương Thực tế tại một số tỉnh như
Trang 23Bạc Liêu, Cà Mau đã ghi nhận hiện tượng cá chết hàng loạt và vùng nước đenđặc ở cửa sông do ô nhiễm từ các hộ nuôi tôm và nhà máy chế biến hải sản.
Rác thải từ hoạt động công nghiệp và nhà máy ven biển
Tại các khu vực có các khu công nghiệp ven biển như Duyên hải miềnTrung, Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng, nhiều nhà máy sản xuấtthuộc các ngành như nhiệt điện, lọc hóa dầu, hóa chất, xi măng, luyện kim đãtrở thành nguồn phát thải chính ra biển Các loại nước thải công nghiệp thườngchứa kim loại nặng (chì, thủy ngân, cadimi…), chất hữu cơ khó phân hủy, axit,kiềm, dầu mỡ và cả vi nhựa công nghiệp, khi đổ ra biển sẽ làm nhiễm độc sinhvật biển, tích tụ qua chuỗi thức ăn và cuối cùng ảnh hưởng đến sức khỏe conngười Nhiệt thải từ các nhà máy còn làm tăng nhiệt độ nước biển cục bộ, làmrối loạn sinh sản và sinh trưởng của sinh vật biển Ví dụ điển hình là sự cố môitrường biển miền Trung năm 2016, do một nhà máy thép xả thải vượt chuẩn,khiến hàng trăm tấn cá chết và gây thiệt hại nghiêm trọng đến ngành thủy sản và
du lịch bốn tỉnh ven biển
Rác thải từ hoạt động nông nghiệp
Hoạt động nông nghiệp tại các vùng hạ lưu sông, đồng bằng ven biển cóảnh hưởng không nhỏ đến môi trường biển do dòng chảy mang theo hóa chất từđồng ruộng ra biển Việc sử dụng tràn lan phân bón hóa học, thuốc trừ sâu,thuốc diệt cỏ, chất kích thích tăng trưởng đã dẫn đến hiện tượng rửa trôi, đặcbiệt vào mùa mưa Các hóa chất này làm tăng hàm lượng nitrat, phosphat và cácchất độc trong nước biển, gây hiện tượng nở hoa tảo, nước đổi màu, thiếu oxy,ảnh hưởng đến hệ sinh thái đáy biển Ngoài ra, rác nông nghiệp như vỏ baothuốc trừ sâu, túi nilon bọc cây, chai nhựa chứa hóa chất nông nghiệp cũngthường bị vứt bỏ trực tiếp ra kênh, rạch, và cuối cùng chảy ra biển Ở vùng venbiển miền Tây Nam Bộ, hiện tượng này diễn ra rất phổ biến, dẫn đến ô nhiễmtrầm trọng tại các cửa sông như sông Hậu, sông Tiền
Ô nhiễm rác thải nhựa từ sản xuất và tiêu dùng nội địa
Trang 24Ngoài các nguồn thải nhựa từ sinh hoạt, một lượng lớn rác nhựa cũng đến
từ các hoạt động sản xuất, vận chuyển, đóng gói và thương mại Rác thải nhựacông nghiệp như màng co, ống dẫn, pallet nhựa, thùng chứa, vỏ bao bì nhựa quy
mô lớn thường không được thu gom đúng cách Khi các khu công nghiệp vàtrung tâm logistics đặt gần cửa sông hoặc biển, các loại rác này rất dễ trôi ra đạidương theo dòng chảy Sự hiện diện của vi nhựa từ sản xuất công nghiệp cũng
là một mối đe dọa lớn Vi nhựa không thể bị phân hủy sinh học, lại có khả nănghấp phụ các chất độc như dioxin, PCB, kim loại nặng, và bị sinh vật biển ănphải, cuối cùng đi vào chuỗi thức ăn của con người Theo UNEP, khoảng 15%lượng vi nhựa đại dương đến từ hoạt động sản xuất nhựa công nghiệp
Sự cố đâm va tàu và xác tàu
Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm biển nghiêm trọng là các sự
cố đâm va tàu Khi xảy ra sự cố này, tàu có thể bị vỡ hoặc chìm, dẫn đến việc rò
rỉ dầu và các chất độc hại vào biển Theo một báo cáo từ Tổ chức Hàng hảiQuốc tế (IMO), hàng năm có hơn 100 sự cố đâm va tàu lớn trên toàn cầu, gây rahàng triệu lít dầu bị tràn ra biển Điều này không chỉ gây ô nhiễm nước mà còn
để lại các mảnh vỡ của tàu, phát tán các hóa chất độc hại, làm suy giảm chấtlượng môi trường biển Việc các xác tàu chìm xuống biển có thể kéo dài ônhiễm trong nhiều năm, đặc biệt là khi tàu mang theo các chất hóa học nguyhiểm như kim loại nặng và các chất hữu cơ độc hại
Trang 25năng trao đổi khí của biển và làm suy giảm các rạn san hô, gây mất đa dạng sinhhọc biển.
Nước ballast
Nước ballast được tàu chở hàng sử dụng để duy trì sự ổn định khi dichuyển Tuy nhiên, nước ballast chứa rất nhiều sinh vật và mầm bệnh từ cácvùng biển khác nhau, khi được xả ra các vùng biển mới có thể gây ô nhiễm vàthay đổi hệ sinh thái địa phương Một báo cáo của IMO cho thấy mỗi năm cókhoảng 10 tỷ tấn nước ballast được xả ra biển, chứa đựng hàng triệu sinh vậtngoại lai, vi khuẩn và các mầm bệnh có thể xâm nhập vào các hệ sinh thái biểnkhác Điều này có thể làm gián đoạn sự cân bằng sinh học của các loài sinh vậtbiển bản địa và tạo điều kiện cho các loài sinh vật xâm lấn phát triển mạnh mẽ,gây tổn hại nghiêm trọng đến sự đa dạng sinh học của các vùng biển tiếp nhận
Chất thải sinh hoạt và sinh vật ngoại lai
Chất thải sinh hoạt từ các tàu thuyền, các khu vực ven biển và các hoạtđộng du lịch biển đang ngày càng gia tăng, góp phần làm ô nhiễm nghiêm trọngcác đại dương Các chất thải này bao gồm rác thải nhựa, thức ăn thừa và cácchất thải hóa học từ sinh hoạt của con người Theo báo cáo của Tổ chức Môitrường Liên Hợp Quốc (UNEP), mỗi năm, khoảng 8 triệu tấn rác thải nhựa được
xả vào đại dương từ các nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu đến từ sinh hoạt vàsản xuất của con người Các mảnh nhựa nhỏ và các vật dụng nhựa khác khôngchỉ gây hại cho các sinh vật biển mà còn xâm nhập vào chuỗi thức ăn biển, ảnhhưởng đến sức khỏe của con người Các loài sinh vật biển như cá, rùa và chimbiển dễ dàng nuốt phải rác nhựa, dẫn đến chấn thương và thậm chí tử vong
Ngoài chất thải sinh hoạt, sinh vật ngoại lai cũng là một nguồn ô nhiễmnghiêm trọng Các loài sinh vật ngoại lai, khi xâm nhập vào các hệ sinh tháibiển mới, có thể phá vỡ cân bằng sinh học, cạnh tranh với các loài bản địa vềthức ăn và không gian sống Theo các nghiên cứu, khoảng 40% loài sinh vậtngoại lai trong hệ sinh thái biển hiện nay đã xâm nhập vào môi trường mới quanước ballast của tàu
Trang 26Tại Việt Nam, ô nhiễm biển đang trở thành vấn đề cấp bách, đặc biệt là ônhiễm rác thải nhựa Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam
là một trong những quốc gia có tỷ lệ xả rác nhựa vào biển cao, với khoảng 0,28triệu tấn rác nhựa được xả ra biển mỗi năm Một nghiên cứu của UNEP cũngchỉ ra rằng, lượng rác thải nhựa này đang đe dọa trực tiếp đến các hệ sinh tháibiển và các loài sinh vật biển Rác thải nhựa gây tắc nghẽn hệ thống sinh tháibiển, làm giảm chất lượng nước biển và tác động nghiêm trọng đến ngành dulịch, ngư nghiệp, đặc biệt ở các khu vực ven biển Việt Nam cũng đối mặt với sựgia tăng chất thải sinh hoạt, trong đó có 10-15% chất thải sinh hoạt tại các khuvực ven biển chưa được xử lý đúng cách, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêmtrọng
Như vậy, các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển có đặc điểm và tácđộng rất đa dạng, từ các sự cố đâm va tàu, tràn dầu đến các hoạt động sinh hoạt
và sự xâm nhập của sinh vật ngoại lai Để giảm thiểu ô nhiễm, cần có các giảipháp phòng ngừa hiệu quả, từ việc cải thiện công nghệ vận tải biển đến việctuyên truyền ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển
1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môi trường biển
cố và tái tạo hệ sinh thái biển đã bị tác động
Trang 27Cụ thể, khi có hành vi ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng đến môi trườngbiển, cá nhân hoặc tổ chức gây ra ô nhiễm phải chịu trách nhiệm về việc khắcphục hậu quả Điều này có thể bao gồm việc chi trả chi phí phục hồi môitrường, khôi phục các sinh cảnh bị ô nhiễm, xử lý chất thải, và các hoạt độngkhác nhằm hạn chế tác động xấu tiếp tục lan rộng Việc yêu cầu bồi thường này
có thể được thực hiện qua các cơ chế pháp lý, bao gồm hành chính hoặc tố tụngdân sự
Bản chất pháp lý
Trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môi trường biển mang bản chất làmột nghĩa vụ dân sự Điều này có nghĩa là các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm cóthể bị yêu cầu bồi thường thiệt hại cho các bên bị ảnh hưởng thông qua các cơchế pháp lý, chẳng hạn như hành chính hoặc tố tụng dân sự Khi xảy ra hành vi
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ra thiệt hại vật chất hoặc sức khỏecho con người và sinh vật biển, các tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ phải chịu tráchnhiệm bồi thường
Trong pháp luật Việt Nam, trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môitrường biển được quy định tại Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 và các vănbản hướng dẫn thi hành Điều này thể hiện rõ cam kết của Nhà nước trong việcbảo vệ tài nguyên biển, khuyến khích các tổ chức và cá nhân bảo vệ môi trườngbiển, đồng thời đảm bảo rằng việc ô nhiễm sẽ không chỉ bị xử lý qua các biệnpháp hành chính, mà còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Các quyđịnh này khẳng định rằng tổ chức hoặc cá nhân gây ô nhiễm phải chịu tráchnhiệm dân sự, không chỉ bằng việc chấm dứt hành vi gây ô nhiễm mà còn phảibồi thường cho các bên bị thiệt hại về môi trường và sức khỏe
Hệ thống pháp lý này cũng phản ánh sự chuyển hướng trong nhận thức vàquản lý môi trường của Việt Nam, nơi trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiênnhiên được đặt lên hàng đầu, và việc yêu cầu các cá nhân, tổ chức gây ô nhiễmphải chịu trách nhiệm là một phần trong chiến lược dài hạn bảo vệ và phát triểnbền vững môi trường biển
Trang 281.2.2 Mối liên hệ giữa trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hành chính, hình sự Các loại trách nhiệm pháp lý về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển
Các loại trách nhiệm pháp lý về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môitrường biển
Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển là một phần trong cơchế pháp lý nhằm xử lý các hành vi gây tổn hại đến môi trường Trách nhiệmpháp lý không tồn tại đơn lẻ mà có sự kết nối chặt chẽ giữa các hình thức: hình
sự, hành chính, dân sự và kỷ luật Sự phối hợp này nhằm đảm bảo xử lý toàndiện hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả và bảo vệ quyền lợi của các cá nhân,cộng đồng và môi trường tự nhiên
1 Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường biển là mộttrong những biện pháp pháp lý mạnh mẽ nhất nhằm bảo vệ tài nguyên biển vàđảm bảo sự phát triển bền vững cho môi trường sống của con người và các sinhvật biển Trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng trong những trường hợp hành vi
vi phạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với
hệ sinh thái biển, sức khỏe cộng đồng, hoặc thậm chí tính mạng của con người.Điều này không chỉ phản ánh cam kết của pháp luật trong việc bảo vệ môitrường mà còn nhấn mạnh sự cần thiết phải trừng trị nghiêm khắc đối với nhữnghành vi phá hoại nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Theo Điều 235 và Điều 238 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2017), các hành vi vi phạm về ô nhiễm môi trường biển được phânloại rõ ràng, với những mức hình phạt cụ thể dành cho cả cá nhân và pháp nhân.Điều 235 quy định về tội gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các hành vi xảthải vượt mức cho phép, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường biển.Theo đó, các cá nhân vi phạm có thể bị phạt tù lên đến 7 năm, đồng thời phảichịu phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 3 tỷ đồng Đối với các pháp nhân, mức phạt
Trang 29gây ô nhiễm có tính chất nghiêm trọng Những mức phạt này không chỉ nhằmmục đích trừng phạt mà còn có tác dụng răn đe mạnh mẽ, giúp nâng cao ý thứcbảo vệ môi trường trong cộng đồng và trong các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Điều 238 của Bộ luật Hình sự quy định về tội hủy hoạinguồn lợi thủy sản, áp dụng cho những hành vi như sử dụng hóa chất độc hại,chất nổ để đánh bắt thủy sản, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển
và nguồn lợi thủy sản Hành vi này không chỉ phá hoại môi trường mà còn đedọa trực tiếp đến sinh kế của ngư dân và các cộng đồng sống nhờ vào nguồn lợibiển Mức phạt đối với tội này có thể lên đến 10 năm tù, một hình phạt khắcnghiệt nhằm ngăn chặn và loại bỏ hành vi khai thác hủy hoại nguồn tài nguyênbiển
Điều đặc biệt trong các vụ án hình sự liên quan đến ô nhiễm môi trườngbiển là trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tòa án hình sự có thể yêu cầu các cánhân hoặc tổ chức vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho những người bị ảnhhưởng trực tiếp, phục hồi môi trường theo quyết định của tòa án Đây là mộttrong những điểm nổi bật của pháp luật Việt Nam khi không chỉ dừng lại ở việc
xử phạt hành vi phạm tội mà còn yêu cầu phục hồi những thiệt hại mà hành vinày gây ra Quy định này giúp đảm bảo quyền lợi cho các nạn nhân, bao gồm cảcộng đồng bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và những tổn thất về tài sản, sức khỏe,hoặc môi trường sống
Mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại trong lĩnhvực ô nhiễm môi trường biển thể hiện một chính sách pháp lý hoàn thiện vàtoàn diện, với mục tiêu không chỉ trừng trị mà còn khôi phục lại môi trường vàtài nguyên biển đã bị tàn phá Quy định này cũng khẳng định cam kết của phápluật Việt Nam trong việc bảo vệ môi trường biển, đồng thời thúc đẩy sự thamgia của cộng đồng, các tổ chức và cá nhân vào công cuộc bảo vệ và phục hồimôi trường sống
2 Trách nhiệm hành chính
Trang 30Trách nhiệm hành chính là một hình thức xử lý vi phạm pháp luật tronglĩnh vực bảo vệ môi trường, áp dụng đối với những hành vi gây ô nhiễm màchưa đủ nghiêm trọng để bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hànhchính nhằm mục đích ngừng ngay hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả ô nhiễm
và bảo vệ môi trường, đồng thời đảm bảo các tổ chức và cá nhân vi phạm phảichịu trách nhiệm về hành động của mình, dù không phải lúc nào cũng yêu cầubồi thường thiệt hại trực tiếp cho các nạn nhân
Theo Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/07/2022 của Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, có một số quyđịnh quan trọng về mức phạt và các biện pháp xử lý đối với hành vi gây ônhiễm biển Cụ thể, tại Khoản 4 Điều 19, tổ chức có hành vi thải chất thải nguyhại vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 5 lần trở lên hoặc gây sự cố môi trường nghiêmtrọng sẽ bị phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng Đây là mức phạt rất cao,nhằm răn đe các hành vi làm ô nhiễm môi trường biển, đặc biệt là trong bốicảnh các hoạt động công nghiệp, khai thác tài nguyên biển đang gia tăng
Bên cạnh đó, Điều 22 của nghị định quy định việc phạt tiền từ 100 triệuđồng đến 500 triệu đồng đối với các hành vi không có hệ thống xử lý nước thảiđạt chuẩn, dẫn đến việc xả trực tiếp chất thải ra biển, gây ô nhiễm môi trường.Đây là hành vi vi phạm khá phổ biến, nhất là trong các khu vực sản xuất côngnghiệp và chế biến thủy sản Quy định này không chỉ xử phạt mà còn yêu cầucác tổ chức, cá nhân vi phạm phải đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn, từ
đó giúp bảo vệ các nguồn tài nguyên nước và sinh vật biển
Ngoài việc áp dụng mức phạt tiền, các biện pháp khắc phục hậu quả cũngđóng vai trò quan trọng trong trách nhiệm hành chính Các biện pháp này có thểbao gồm: buộc khôi phục tình trạng ban đầu của môi trường, chi trả chi phí xử
lý ô nhiễm hoặc dừng ngay các hoạt động gây ô nhiễm và thu hồi giấy phéphoạt động Các biện pháp này không chỉ nhằm ngừng ngay hành vi gây hại màcòn giúp phục hồi lại môi trường bị tổn thương, bảo vệ sự sống của hệ sinh thái
Trang 31Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý trong xử phạt hành chính là nghĩa vụ bồithường thiệt hại trực tiếp cho các cá nhân bị ảnh hưởng không phải lúc nào cũngđược yêu cầu Trái ngược với trách nhiệm hình sự, trong xử phạt hành chính, sựtập trung chủ yếu nằm ở việc phục hồi môi trường và khắc phục các tác độngtiêu cực của hành vi vi phạm đối với hệ sinh thái biển Điều này có thể gây ra sựkhác biệt trong việc bảo vệ quyền lợi của các nạn nhân so với khi xử lý hình sự,khi các nạn nhân có thể được yêu cầu bồi thường thiệt hại trực tiếp.
Tuy nhiên, trách nhiệm hành chính vẫn đóng vai trò hết sức quan trọngtrong việc giảm thiểu và ngừng ngay các hành vi vi phạm Việc áp dụng hìnhthức xử phạt hành chính giúp can thiệp kịp thời vào các hành vi gây ô nhiễm,bảo vệ môi trường biển khỏi những thiệt hại thêm nữa Đặc biệt, trong bối cảnh
ô nhiễm biển đang trở thành vấn đề cấp bách, các biện pháp hành chính như vậy
có thể tạo ra ảnh hưởng tức thì, giúp hạn chế thiệt hại và ngăn chặn các vi phạmtái diễn
Mở rộng: Trách nhiệm hành chính không chỉ dừng lại ở việc xử phạt màcòn đóng góp vào quá trình hướng tới phát triển bền vững, khi mà việc bảo vệmôi trường và tài nguyên biển trở thành yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiệnnay Đặc biệt, trong bối cảnh sự gia tăng của các vấn đề ô nhiễm do các hoạtđộng công nghiệp và sản xuất ven biển, việc xử phạt hành chính đóng vai tròquan trọng trong việc duy trì các tiêu chuẩn môi trường và đảm bảo rằng các tổchức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này phải chịu trách nhiệm đầy đủ vềnhững tác động mà họ gây ra đối với môi trường
3 Trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự trong các vụ án liên quan đến ô nhiễm môi trườngbiển chủ yếu tập trung vào nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các cá nhân và tổchức bị thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm Trách nhiệm này được quy định tại Bộluật Dân sự năm 2015, đặc biệt tại các điều khoản từ Điều 584 đến Điều 601,với mục đích bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những đối tượng bị ảnh hưởng bởicác hành vi gây ô nhiễm
Trang 32Theo Điều 601 của Bộ luật Dân sự, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại cho môitrường bằng các nguồn nguy hiểm cao độ (như hóa chất độc hại, chất thải côngnghiệp) phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phụ thuộc vào lỗi của
họ Điều này có nghĩa là ngay cả khi các tổ chức hoặc cá nhân không có lỗi cố ýhay sơ suất trong việc gây ô nhiễm, họ vẫn phải bồi thường thiệt hại nếu hành vicủa họ gây ra tổn hại cho môi trường và các bên bị ảnh hưởng Việc này phùhợp với nguyên tắc "trách nhiệm không phụ thuộc vào lỗi" trong trường hợp ônhiễm có tính chất nguy hiểm, giúp đảm bảo rằng các nạn nhân của ô nhiễm, dù
có thể không tìm ra lỗi trực tiếp từ người vi phạm, vẫn có quyền yêu cầu bồithường thiệt hại
Cụ thể hơn, Điều 584 quy định rằng người gây thiệt hại phải bồi thườngtoàn bộ thiệt hại trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng (như thiên tai, thảmhọa) hoặc lỗi của bên bị thiệt hại Điều này giúp đảm bảo rằng các bên bị thiệthại do ô nhiễm sẽ không phải chịu gánh nặng tài chính từ sự cố môi trường mà
họ không thể kiểm soát được Các thiệt hại có thể bao gồm:
Thiệt hại về tài sản: Trong trường hợp ô nhiễm ảnh hưởng đến hoạt độngkinh tế của các cá nhân hoặc tổ chức, như nuôi trồng thủy sản hoặc đánh bắt hảisản bị ảnh hưởng do ô nhiễm, thì thiệt hại về tài sản sẽ được tính vào khoản bồithường
Thiệt hại về sức khỏe và tính mạng: Các cá nhân bị ảnh hưởng trực tiếpbởi ô nhiễm môi trường, ví dụ như các bệnh nhân bị bệnh liên quan đến ô nhiễmnước biển, có thể yêu cầu bồi thường chi phí điều trị và các khoản chi phí khácliên quan đến thiệt hại về sức khỏe hoặc tính mạng
Chi phí khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường: Đây là một phầnquan trọng trong trách nhiệm dân sự, yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm phải chitrả chi phí xử lý ô nhiễm và phục hồi môi trường Điều này không chỉ giúp khắcphục thiệt hại mà còn giúp bảo vệ hệ sinh thái biển lâu dài
Trong trường hợp các bên bị ảnh hưởng quyết định yêu cầu bồi thường
Trang 33việc bồi thường Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định pháp lý, đánh giá thiệt hạithực tế và xét xử theo quy trình tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho cácnạn nhân bị ô nhiễm.
4 Trách nhiệm kỷ luật
Trách nhiệm kỷ luật áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, ngườilao động trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức có trách nhiệm quản lý, giám sátmôi trường mà không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, để xảy ra hoặc bao che hành vigây ô nhiễm môi trường biển Căn cứ theo quy định tại:
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi 2019);
Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi 2019);
Các Nghị định của Chính phủ về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức.Các hình thức kỷ luật có thể bao gồm:
Khiển trách;
Cảnh cáo;
Hạ bậc lương;
Cách chức;
Buộc thôi việc
Việc xử lý kỷ luật nhằm nâng cao trách nhiệm thực thi pháp luật, phòngngừa tiêu cực trong quản lý và kiểm soát môi trường biển
Trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môi trường biển không tồn tại độclập mà có sự liên kết chặt chẽ với các hình thức trách nhiệm hành chính và hình
Trang 34sự trong pháp luật môi trường Sự liên kết này thể hiện trong cách thức xử lý viphạm, cũng như trong việc yêu cầu các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm phải khắcphục hậu quả và bồi thường thiệt hại cho những đối tượng bị ảnh hưởng.
Trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm hành chính là hình thức xử lý vi phạm pháp luật đối với các
tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường màkhông cấu thành tội phạm Trong trường hợp ô nhiễm môi trường biển, khi hành
vi gây ô nhiễm chưa đến mức gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc chưa đủ yếu tốcấu thành tội phạm, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính Các biện pháp này có thể bao gồm phạt tiền, yêu cầu khắcphục hậu quả ô nhiễm, yêu cầu đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm hoặc yêu cầu cảithiện công nghệ sản xuất, phòng ngừa các tác động xấu đến môi trường
Tuy nhiên, trách nhiệm hành chính không phải lúc nào cũng bao hàm yêucầu bồi thường trực tiếp cho các bên bị thiệt hại Hành vi vi phạm có thể chỉ bị
xử lý thông qua các hình thức xử phạt hành chính như phạt tiền hoặc yêu cầukhôi phục môi trường mà không yêu cầu tổ chức vi phạm phải trả lại thiệt hạitrực tiếp cho các nạn nhân bị ảnh hưởng Dù vậy, trong một số trường hợp, cơquan nhà nước có thể yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm thực hiện nghĩa vụ bồithường thiệt hại hoặc chi trả chi phí khắc phục, phục hồi môi trường, tùy theomức độ thiệt hại mà hành vi gây ra
Bên cạnh đó, trách nhiệm hành chính đóng vai trò trong việc bảo vệ môitrường và cộng đồng, đặc biệt trong việc ngừng ngay các hoạt động gây ônhiễm, hạn chế thiệt hại tiếp tục diễn ra, và yêu cầu các biện pháp sửa chữa hậuquả tức thời
Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự được áp dụng trong trường hợp hành vi gây ô nhiễmmôi trường biển nghiêm trọng, có khả năng gây thiệt hại lớn về môi trường, sứckhỏe cộng đồng và sinh vật biển Nếu hành vi vi phạm pháp luật môi trường có
Trang 35tổ chức gây ra ô nhiễm sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, có thể bị xử lý bằngcác hình thức như phạt tiền, phạt tù, hoặc các biện pháp xử lý hình sự khác.
Trong các vụ án hình sự về ô nhiễm môi trường biển, trách nhiệm bồithường thiệt hại cho các nạn nhân bị ảnh hưởng không chỉ là một nghĩa vụ bồithường dân sự mà còn là một phần của án phạt Trách nhiệm hình sự không chỉbao gồm việc xử lý hành vi phạm tội mà còn có thể yêu cầu các tổ chức, cánhân bị kết tội phải đền bù thiệt hại cho những người bị tác động, giúp khôiphục môi trường và bồi thường các tổn thất vật chất, sức khỏe do hành vi viphạm gây ra
Bên cạnh đó, trong phạm vi trách nhiệm hình sự, việc yêu cầu bồi thườngthiệt hại còn có thể được thực hiện thông qua các cơ quan tố tụng hình sự Cơquan điều tra, công tố, hoặc tòa án có thể yêu cầu đối tượng phạm tội phải chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các bên bị ảnh hưởng, thông qua quyếtđịnh của tòa án hoặc các biện pháp tố tụng hình sự
Mối liên hệ giữa trách nhiệm bồi thường và trách nhiệm hành chính, hình sự
Trách nhiệm bồi thường có thể tồn tại song song với trách nhiệm hànhchính và hình sự hoặc được áp dụng độc lập, tùy thuộc vào mức độ nghiêmtrọng của hành vi gây ô nhiễm và các quy định pháp luật liên quan
Trách nhiệm hành chính thường được áp dụng trong trường hợp hành vi
ô nhiễm không đủ nghiêm trọng để cấu thành tội phạm, nhưng vẫn yêu cầu tổchức hoặc cá nhân vi phạm phải khắc phục hậu quả ngay lập tức Trách nhiệmbồi thường thiệt hại trong trường hợp này có thể không được yêu cầu trực tiếpđối với các nạn nhân mà chỉ là biện pháp để phục hồi môi trường, ví dụ như yêucầu bồi thường chi phí khôi phục hệ sinh thái biển, xử lý chất thải Trách nhiệmhành chính thường đi kèm với các biện pháp phạt tiền và các yêu cầu khắc phục
ô nhiễm
Trách nhiệm hình sự lại áp dụng khi hành vi gây ô nhiễm có tính chất
nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển và sức khỏe con người ở
Trang 36mức độ lớn Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này là một phầntrong quy trình xử lý hình sự, ngoài các hình thức xử phạt hình sự như phạt tùhoặc phạt tiền Trách nhiệm hình sự có thể yêu cầu đối tượng phạm tội phải chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân, giúp khôi phục lại tình trạngban đầu của môi trường và bồi thường cho những thiệt hại mà họ phải chịu.
Mối liên hệ giữa trách nhiệm bồi thường và các loại trách nhiệm hànhchính, hình sự cho thấy tính đa dạng của hệ thống pháp luật trong việc xử lý cáchành vi ô nhiễm môi trường biển Trong đó, trách nhiệm hành chính giúp xử lýcác hành vi vi phạm nhanh chóng, còn trách nhiệm hình sự tập trung vào việc
xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng, với khả năng yêu cầu bồi thường thiệthại đầy đủ cho các bên bị ảnh hưởng Trách nhiệm bồi thường có thể được yêucầu thông qua các cơ chế hành chính hoặc hình sự tùy vào mức độ vi phạm vàtính chất của vụ việc
tế đóng vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập các quy định, quy trình và cơchế bồi thường thiệt hại Dưới đây là các công ước quốc tế chủ yếu liên quanđến trách nhiệm bồi thường ô nhiễm môi trường biển:
a) Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), được thông qua
vào năm 1982, là một văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định về quyền vànghĩa vụ của các quốc gia liên quan đến việc sử dụng và bảo vệ biển và đại
Trang 37môi trường biển và đưa ra các yêu cầu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ônhiễm biển gây ra.
Các quy định nổi bật của UNCLOS liên quan đến ô nhiễm biển:
Nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển: UNCLOS yêu cầu các quốc gia phải
bảo vệ và bảo tồn môi trường biển trong phạm vi quyền tài phán của mình Điềunày bao gồm việc ngừng hoặc hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm biển, nhằmgiảm thiểu tác động tiêu cực đến sinh thái biển
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Điều 235 của UNCLOS quy định rõ
rằng các quốc gia có trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây ra do ônhiễm biển Điều này bao gồm việc khôi phục lại các môi trường biển bị ônhiễm và bồi thường thiệt hại cho các quốc gia hoặc cá nhân bị ảnh hưởng
Khôi phục và bảo vệ môi trường biển: UNCLOS không chỉ yêu cầu các
quốc gia chịu trách nhiệm tài chính đối với thiệt hại ô nhiễm mà còn khuyếnkhích việc thực hiện các biện pháp khôi phục môi trường biển bị hủy hoại
Hợp tác quốc tế: Công ước này khuyến khích các quốc gia hợp tác để xử
lý các vấn đề ô nhiễm xuyên quốc gia, từ việc chia sẻ thông tin về sự cố ônhiễm biển đến việc phối hợp cứu trợ và bồi thường cho các quốc gia bị thiệthại
Với các quy định này, UNCLOS trở thành nền tảng pháp lý quan trọng đểgiải quyết vấn đề ô nhiễm biển và các trách nhiệm bồi thường liên quan, đồngthời thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ môi trường biển toàn cầu
b) Công ước về Trách nhiệm đối với Thiệt hại do Tràn Dầu (CLC 1992)
Công ước CLC 1992 (Convention on Civil Liability for Oil Pollution
Damage) được ký kết nhằm quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tràndầu gây ra trên biển Công ước này tạo ra một hệ thống bồi thường hiệu quả chocác quốc gia và tổ chức bị thiệt hại từ các sự cố tràn dầu
Các quy định nổi bật của CLC 1992:
Trang 38Trách nhiệm bồi thường của chủ tàu: Theo công ước này, chủ tàu phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tràn dầu gây ra đối với các quốc gia và
cá nhân bị ảnh hưởng Điều này áp dụng không chỉ cho các thiệt hại trực tiếpnhư tổn thất tài sản mà còn bao gồm các thiệt hại về sinh thái, môi trường biển
và các chi phí khôi phục môi trường
Mức độ trách nhiệm tài chính của chủ tàu: Công ước CLC 1992 quy
định mức trách nhiệm tài chính tối đa mà chủ tàu phải chịu đối với mỗi sự cốtràn dầu Điều này giúp đảm bảo rằng các nạn nhân của sự cố sẽ nhận được bồithường trong phạm vi trách nhiệm tài chính của chủ tàu
Bồi thường cho các quốc gia bị thiệt hại: Công ước này yêu cầu các chủ
tàu phải bồi thường cho các quốc gia mà khu vực biển của họ bị ô nhiễm từ tràndầu Việc này đảm bảo rằng các quốc gia không phải chịu gánh nặng tài chínhlớn khi khôi phục môi trường biển và giải quyết hậu quả từ sự cố ô nhiễm
Hợp tác quốc tế: Công ước CLC 1992 thúc đẩy sự hợp tác quốc tế giữa
các quốc gia để xử lý và bồi thường thiệt hại do tràn dầu, tạo ra một khung pháp
lý đồng bộ cho các quốc gia khi đối mặt với các sự cố tràn dầu trên biển
c) Công ước Quỹ Bồi Thường cho Thiệt hại do Ô nhiễm Dầu (Fund 1992)
Công ước Quỹ Bồi Thường 1992 (Fund Convention 1992) là một phần
bổ sung quan trọng cho Công ước CLC 1992, giúp hỗ trợ các quốc gia hoặccộng đồng không thể nhận bồi thường đầy đủ từ chủ tàu do giới hạn trách nhiệmtài chính của chủ tàu trong công ước CLC
Các quy định nổi bật của Fund 1992:
Tạo ra một quỹ quốc tế hỗ trợ bồi thường: Công ước Fund yêu cầu các
quốc gia tham gia đóng góp vào một quỹ quốc tế để hỗ trợ bồi thường thiệt hại
từ các sự cố tràn dầu Quỹ này được tài trợ bởi các khoản đóng góp từ các chủtàu và các công ty vận chuyển dầu, dựa trên trọng tải tàu
Bồi thường cho các nạn nhân: Khi thiệt hại do tràn dầu vượt quá mức
Trang 39thường bổ sung cho các nạn nhân, bảo vệ các quốc gia và cộng đồng bị thiệt hạikhỏi gánh nặng tài chính.
Quản lý quỹ và giải quyết tranh chấp: Công ước này cũng quy định
một cơ chế quản lý quỹ và giải quyết tranh chấp hiệu quả, giúp các nạn nhân cóthể yêu cầu bồi thường từ quỹ một cách nhanh chóng và thuận tiện
Hợp tác quốc tế: Công ước Fund khuyến khích sự hợp tác quốc tế trong
việc quản lý quỹ, đồng thời tạo ra các cơ chế thông tin và phối hợp giữa cácquốc gia và các bên liên quan để xử lý nhanh chóng các sự cố ô nhiễm dầu
Các công ước quốc tế như UNCLOS, CLC 1992, và Fund 1992 đóng vaitrò thiết yếu trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễmmôi trường biển, đặc biệt là trong các sự cố tràn dầu và các tác động từ hoạtđộng hàng hải Những công ước này không chỉ quy định trách nhiệm pháp lýcủa các quốc gia và chủ tàu mà còn thúc đẩy sự hợp tác quốc tế, tạo ra cơ chếbồi thường thiệt hại kịp thời và đầy đủ cho các nạn nhân Việt Nam có thể họchỏi và áp dụng các quy định từ các công ước này để xây dựng hệ thống pháp lý
về trách nhiệm bồi thường ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ môi trường biển vàkhôi phục các hệ sinh thái bị ảnh hưởng
1.3.2 Kinh nghiệm từ các quốc gia Nghiên cứu trách nhiệm bồi thường tại
1 số quốc gia trên Thế giới
a) Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những quốc gia đi đầu trong việc xây dựng một hệthống pháp lý chặt chẽ để bảo vệ môi trường biển và quản lý trách nhiệm bồithường thiệt hại do ô nhiễm Hệ thống pháp lý của Nhật Bản bao gồm các quyđịnh chi tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ các sự cố ô nhiễm, đặc biệt làtràn dầu, một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm biển nghiêm trọng
Bài học quan trọng mà Việt Nam có thể rút ra từ Nhật Bản là sự kết hợpgiữa luật pháp quốc gia và hợp tác quốc tế trong việc xử lý các sự cố ô nhiễm.Nhật Bản đã ký kết và tuân thủ các công ước quốc tế như UNCLOS và CLC
Trang 401992, giúp họ xây dựng một cơ chế pháp lý vững chắc để xử lý các vấn đề liênquan đến trách nhiệm bồi thường ô nhiễm biển.
Một điểm đặc biệt quan trọng trong hệ thống của Nhật Bản là cơ chế ứngphó nhanh chóng và hiệu quả với các sự cố ô nhiễm, đặc biệt là các sự cố tràndầu Nhật Bản đã xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và đội ngũ cứu hộ chuyênnghiệp, đảm bảo rằng các sự cố được xử lý kịp thời, giảm thiểu thiệt hại đối vớimôi trường và cộng đồng Họ cũng áp dụng các biện pháp đền bù nhanh chóngcho các nạn nhân bị ảnh hưởng, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đối với nềnkinh tế và bảo vệ sự công bằng xã hội
Một bài học nữa từ Nhật Bản là sự ràng buộc trách nhiệm chặt chẽ đốivới các tổ chức, cá nhân gây ra ô nhiễm Các doanh nghiệp, đặc biệt là trongngành dầu khí và vận tải biển, phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với thiệt hạimôi trường do họ gây ra, bao gồm việc bồi thường thiệt hại cho các bên bị ảnhhưởng và chi trả chi phí phục hồi môi trường
b) Hàn Quốc
Hàn Quốc cũng là một quốc gia có hệ thống pháp lý rất mạnh mẽ trongviệc xử lý ô nhiễm biển và trách nhiệm bồi thường thiệt hại Một điểm nổi bậttrong hệ thống của Hàn Quốc là sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật quốc gia vàcác cam kết quốc tế Hàn Quốc đã ký kết và thực thi đầy đủ các công ước quốc
tế như UNCLOS, CLC 1992, và Công ước Fund 1992, giúp họ có một khungpháp lý toàn diện để giải quyết các sự cố ô nhiễm biển, đặc biệt là trong cáctrường hợp tràn dầu Việc tuân thủ các công ước quốc tế này giúp Hàn Quốckhông chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn đảm bảo sự hợp tác quốc tế trong việcgiải quyết các sự cố ô nhiễm biển
Bài học quan trọng mà Việt Nam có thể học từ Hàn Quốc là sự tổ chức vàphát triển các cơ chế giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại thông qua hệthống tố tụng dân sự Hàn Quốc có hệ thống tố tụng hiệu quả để giải quyết cácvấn đề bồi thường thiệt hại, giúp các nạn nhân của ô nhiễm môi trường biển có