1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Ô nhiễm môi trường biển – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật việt nam

78 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Ô nhiễm môi trường biển – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Người hướng dẫn Lương Thị Kim Dung
Trường học Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
Chuyên ngành Luật môi trường biển và bồi thường thiệt hại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, hội thảo khoa học "Bảo vệ môi trường biển và phát triển bềnvững ở Việt Nam" 2021 do Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển tổ chức, đã tổng hợp nhiều tham luận mang tính t

Trang 1

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN

( )

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

HẢI PHÒNG - 2025

Trang 2

BỘ XÂY DỰNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

(font Times New Roman, cỡ chữ 20, in hoa, đậm và không nghiêng)

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

NGÀNH: ; MÃ SỐ:

CHUYÊN NGÀNH:

Người hướng dẫn:

HẢI PHÒNG - 2025

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn cô Lương Thị Kim Dung đã nhiệt tình hướngdẫn và hỗ trợ em trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp này Cảm ơn cácthầy cô trong khoa đã truyền đạt kiến thức và giúp đỡ em trong suốt quá trình họctập

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn đồng hành, động viên vàtạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, em xin cảm ơn các bạn bè và đồng nghiệp đã chia sẻ, giúp đỡ emtrong quá trình thực hiện đồ án này

Hải Phòng, ngày tháng năm 2025

Tác giả(Chữ ký)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thựchiện trong quá trình học tập tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam Mọi nội dungtrong bài đều là kết quả của quá trình nghiên cứu độc lập và không sao chép từ bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tôi chịu trách nhiệm về tính trung thực và tínhxác thực của các thông tin, số liệu cũng như các tài liệu tham khảo đã được sửdụng trong bài luận văn

Tôi cam kết rằng bài luận văn này chưa từng được nộp cho bất kỳ cơ sở giáodục nào khác dưới bất kỳ hình thức nào, và không vi phạm các quy định về đạođức nghiên cứu khoa học Tất cả các ý tưởng, phân tích và kết luận trong bàinghiên cứu đều là của riêng tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cácgiảng viên, chuyên gia trong lĩnh vực

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy côgiáo trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Những đóng góp quý báu này đãgiúp tôi hoàn thành công trình này

Hải Phòng, ngày tháng năm 2025

Tác giả(Chữ ký)

Trang 5

MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN TN

5 TTHK Thiệt hại hàng không

6 QLMT Quản lý môi trường

7 BLLS Bộ luật Lợi ích Sự nghiệp

8 TTTH Trách nhiệm thiệt hại

9 TN&MT Tài nguyên và Môi trường

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1 Hình 2.1: Thủ tục, trình tự khởi kiện và xét xử tại tòa án 41

2 Hình 2.2: Vụ tràn dầu tàu Anh tại Vũng Tàu 54

4 Hình 2.4: Vụ chìm tàu nước ngoài tại cảng Cái Mép 58

5 Hình 2.5: Tình trạng xả thải không phép tại một số khu công

nghiệp ven biển

61

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

LỜI CAM ĐOAN 3

MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN TN 4

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 5

MỤC LỤC 6

MỞ ĐẦU 9

1 Tính cấp thiết của đề tài 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Bố cục đồ án 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 13

1.1 Khái niệm và phân loại về ô nhiễm môi trường biển 13

1.1.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường biển 13

1.1.2 Đặc điểm và phân loại nguồn gây ô nhiễm: 14

1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môi trường biển 19

1.2.1 Định nghĩa và bản chất pháp lý 19

1.2.2 Các loại trách nhiệm pháp lý về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển 20

1.3 Pháp luật quốc tế về trách nhiệm bồi thường và kinh nghiệm cho Việt Nam 27

1.3.1 Công ước quốc tế liên quan đến trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môi trường biển 27

Trang 8

1.3.2 Nghiên cứu trách nhiệm bồi thường tại 1 số quốc gia trên Thế

giới 31

1.3.3 Bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam 34

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 37

2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển 37

2.1.1 Cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển 37

2.1.2 Các quy định pháp luật về Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường 38 2.1.3 Các quy định pháp luật về Chủ thể có trách nhiệm bồi thường39 2.1.4 Các quy định về Trình tự và thủ tục yêu cầu bồi thường 41

2.1.5 Trách nhiệm pháp lý về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển 48

2.1.6 Những bất cập trong các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ô nhiễm môi trường 50

2.1.7 Nguyên tắc và phương pháp xác định thiệt hại 52

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường qua nghiên cứu một số vụ việc điển hình 54

2.2.1 Vụ tràn dầu tàu Anh tại Vũng Tàu 54

2.2.2 Vụ việc Formosa – Hà Tĩnh 56

2.2.3 Vụ chìm tàu nước ngoài tại cảng Cái Mép 58

2.2.4 Những bất cập trong thực tiễn thi hành các yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường 63

Trang 9

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH

NHIỆM BỒI THƯỜNG DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 69

3.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước 69

3.1.1 Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển 69

3.1.2 Nghị quyết 55/NQ-CP và Quy hoạch bảo vệ môi trường biển đến năm 2030 69

3.1.3 Tầm nhìn đến năm 2045 về bảo vệ môi trường biển gắn với phát triển kinh tế 70

3.2 Giải pháp khắc phục những bất cập trong quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển 71

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển 71

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực tế thi hành 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

KẾT LUẬN 76

NHẬN XÉT TÓM TẮT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN 78

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với đường bờ biển dài hơn 3.260 km và vị trí địa lý chiến lược nằm tạitrung tâm Biển Đông – một trong những tuyến hàng hải sầm uất nhất toàn cầu –Việt Nam sở hữu tiềm năng to lớn trong phát triển kinh tế biển và giao thươngquốc tế Tuy nhiên, cùng với quá trình công nghiệp hóa và gia tăng hoạt động khaithác ven biển, tình trạng ô nhiễm môi trường biển tại Việt Nam đang ngày càngnghiêm trọng, gây ra những hệ lụy to lớn đối với hệ sinh thái biển, đời sống cộngđồng ngư dân cũng như an ninh môi trường Theo thống kê của Bộ Tài nguyên vàMôi trường (2023), khoảng 70% lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp tại cáckhu vực ven biển chưa qua xử lý đã bị xả trực tiếp ra biển Đặc biệt, Việt Nam hiện

là một trong năm quốc gia xả thải nhựa ra đại dương nhiều nhất thế giới, với lượngphát sinh ước tính từ 0,28 đến 0,73 triệu tấn mỗi năm

Trên thực tế, nhiều sự cố môi trường biển nghiêm trọng như vụ Formosa(2016), các vụ tràn dầu, hay tàu chở hóa chất gặp nạn đã để lại hậu quả sâu rộng cả

về kinh tế, xã hội lẫn môi sinh Tuy nhiên, việc xác lập và thực thi trách nhiệm bồithường thiệt hại trong các vụ việc đó vẫn còn nhiều bất cập: pháp luật chưa quyđịnh rõ ràng về chủ thể chịu trách nhiệm, tiêu chí đánh giá thiệt hại còn mơ hồ, quytrình xử lý kéo dài và thiếu minh bạch Hệ quả là người dân và môi trường biểntiếp tục gánh chịu thiệt hại mà không được đền bù thỏa đáng, trong khi tính răn đepháp lý cũng chưa được đảm bảo

Xuất phát từ thực trạng cấp bách nói trên, đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam” được lựa chọn nhằm phân tích, đánh giá một cách hệ thống

các quy định pháp luật hiện hành, chỉ ra những vướng mắc trong thực tiễn ápdụng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện phù hợp với điều kiện Việt Nam vàtiệm cận với xu thế pháp lý quốc tế Bên cạnh giá trị học thuật và thực tiễn, việcnghiên cứu chuyên sâu vấn đề này còn có ý nghĩa đặc biệt đối với sinh viên

Trang 11

Trường Đại học Hàng hải Việt Nam trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trườngbiển, hiểu biết pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp trong tương lai

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường biển và trách nhiệmpháp lý phát sinh từ hành vi gây ô nhiễm đã trở thành chủ đề thu hút sự quan tâmcủa nhiều học giả, nhà nghiên cứu và cơ quan lập pháp trong nước Đã có một sốcông trình nghiên cứu bước đầu đề cập đến khía cạnh này, đặc biệt là trong khuônkhổ pháp luật môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng

Một trong những công trình tiêu biểu là luận văn thạc sĩ "Trách nhiệm bồithường thiệt hại môi trường biển ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Lan (2019),trong đó tập trung phân tích thực trạng thực thi trách nhiệm bồi thường trong các

vụ ô nhiễm biển do hoạt động kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực hàng hải Tác giả đãbước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý hiện hành.Ngoài ra, bài báo khoa học “Ô nhiễm môi trường biển và trách nhiệm pháp lý của

các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm”, đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 5/2020, đã

nêu bật những vướng mắc trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm và quytrình áp dụng chế tài pháp luật Bài viết cũng chỉ ra những điểm hạn chế trong cơchế thực thi pháp luật môi trường tại Việt Nam

Bên cạnh đó, hội thảo khoa học "Bảo vệ môi trường biển và phát triển bềnvững ở Việt Nam" (2021) do Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển tổ chức,

đã tổng hợp nhiều tham luận mang tính thực tiễn và lý luận sâu sắc, trong đó cómột số bài tham luận đề cập đến trách nhiệm dân sự và trách nhiệm bồi thườngthiệt hại trong các vụ việc ô nhiễm biển, từ đó góp phần định hướng xây dựngchính sách và hoàn thiện pháp luật

Ngoài các công trình riêng biệt, nhiều giáo trình đại học về Luật Môi

trường, Luật Biển, Luật Dân sự Việt Nam cũng đã bước đầu đề cập đến trách

nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, tuy nhiên còn mang tính kháiquát, chưa đi sâu vào trường hợp đặc thù như ô nhiễm môi trường biển

Trang 12

Ở cấp độ quốc tế, có thể kể đến các công trình pháp lý quan trọng như Côngước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) – trong đó quy định rõnghĩa vụ của quốc gia trong việc bảo vệ môi trường biển và cơ chế xử lý thiệt hạikhi xảy ra ô nhiễm xuyên biên giới Bên cạnh đó, Công ước về Trách nhiệm dân sựđối với thiệt hại do ô nhiễm dầu năm 1992 (CLC 1992) và hệ thống Quỹ Bồithường thiệt hại do ô nhiễm dầu (IOPC Funds) do Tổ chức Hàng hải Quốc tế(IMO) thiết lập, đã cung cấp những cơ chế quốc tế hữu hiệu trong xác lập và thựcthi nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với các chủ tàu gây ô nhiễm môi trường biển.

Tổng thể, các công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp những nền tảng lýluận quan trọng, từ các nguyên tắc chung về trách nhiệm pháp lý đến các khungpháp lý điều chỉnh hoạt động trên biển Tuy nhiên, phần lớn các công trình vẫn chỉdừng lại ở mức đánh giá tổng quát hoặc tập trung vào một khía cạnh cụ thể, thiếu

đi một nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ônhiễm môi trường biển trong điều kiện thực tiễn và pháp luật Việt Nam hiện nay

Chính vì vậy, đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môitrường biển – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam” không chỉ

kế thừa các cơ sở lý luận, quy định pháp luật và kinh nghiệm quốc tế đã có, mà cònhướng đến việc lấp đầy khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại, cụ thể là xác lập cơchế trách nhiệm dân sự rõ ràng, khả thi và hiệu quả đối với hành vi gây ô nhiễmmôi trường biển Đây cũng là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam đangđịnh hướng phát triển kinh tế biển bền vững và hội nhập sâu rộng vào pháp luậtquốc tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các quy định pháp luật Việt Nam

liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển Cụthể, nghiên cứu tập trung vào việc phân tích các văn bản pháp lý hiện hành, baogồm các điều luật, nghị định, thông tư và các quy định cụ thể liên quan đến trách

Trang 13

nhiệm của các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường biển và cơ chế bồi thườngthiệt hại Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ xem xét các quy định về trách nhiệm pháp

lý đối với các sự cố ô nhiễm môi trường biển trong các ngành nghề có liên quan,như hàng hải, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động công nghiệp ven biển

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm

2024, trong đó nghiên cứu các vụ việc thực tế và các quy định pháp lý có liên quan

đã được áp dụng trong giai đoạn này Những vụ việc điển hình, như sự cố ô nhiễmmôi trường biển do các hoạt động công nghiệp và hàng hải, sẽ được đưa ra phântích để làm rõ thực trạng thực thi các quy định pháp luật, cũng như những khókhăn trong việc áp dụng và thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại Ngoài ra,nghiên cứu cũng sẽ tổng hợp các sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật tronggiai đoạn này và đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp pháp lý hiện hành đốivới việc bảo vệ môi trường biển và quyền lợi của cộng đồng

4 Bố cục đồ án

Với đề tài "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển –Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam", ngoài mục lục và bảngbiểu, nội dung đồ án được chia thành các chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về trách nhiệm bồi thường do ô nhiễmmôi trường biển

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường ô nhiễm môitrường biển

Chương 3: Đề xuất các giải pháp và hoàn thiện

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI

THƯỜNG DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN

1.1 Khái niệm và phân loại về ô nhiễm môi trường biển

1.1.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường biển

Ô nhiễm môi trường biển là một trong những vấn đề nhức nhối và mangtính toàn cầu, đặc biệt ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia có bờ biển dài như ViệtNam Việc xác định chính xác khái niệm "ô nhiễm môi trường biển" không chỉ có

ý nghĩa về mặt lý luận mà còn là nền tảng pháp lý quan trọng để xác định tráchnhiệm và xử lý các hành vi gây ô nhiễm

Theo Điều 3 khoản 9 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, “ô nhiễm môi

trường” được định nghĩa là: “sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm

quy chuẩn kỹ thuật môi trường và gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.”

Khi áp dụng vào lĩnh vực biển, khái niệm này được mở rộng để phản ánh đặc thùcủa hệ sinh thái biển – nơi có sự tương tác giữa môi trường nước mặn, sinh vậtbiển và các hoạt động kinh tế biển

Trong Giáo trình Luật môi trường Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội,

2021), ô nhiễm môi trường biển được định nghĩa là: “sự suy giảm chất lượng môi

trường biển do tác động của các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học vượt quá giới hạn cho phép, làm tổn hại đến tài nguyên biển, sinh vật biển và sức khỏe con người, chủ yếu bắt nguồn từ hoạt động khai thác, vận tải, công nghiệp và sinh hoạt của con người.”

Theo quan điểm của nhóm tác giả Nguyễn Văn Cường và cộng sự, trong bài

báo “Ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam – Nguyên nhân và giải pháp” đăng trên

Tạp chí Khoa học Môi trường, số 6/2022: “Ô nhiễm môi trường biển là hiện tượng các chất thải độc hại như dầu, kim loại nặng, rác thải nhựa, nước thải chưa qua xử lý từ đất liền hoặc từ các phương tiện hàng hải thải ra biển, làm suy giảm khả năng tự phục hồi và tái tạo của môi trường biển, phá vỡ cân bằng sinh thái biển.”

Trang 15

Tại bình diện quốc tế, Điều 1(4) Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biểnnăm 1982 (UNCLOS) định nghĩa ô nhiễm môi trường biển là:

“việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa vào môi trường biển các chất hoặc năng lượng gây ra hoặc có thể gây ra những hậu quả có hại như tổn hại đến tài nguyên sống, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, cản trở các hoạt động biển, suy giảm chất lượng sử dụng biển và làm suy thoái giá trị thẩm mỹ hoặc môi trường.”

Từ các định nghĩa trên, có thể thấy rằng điểm chung của ô nhiễm môitrường biển là sự can thiệp tiêu cực của con người vào môi trường tự nhiên biểnthông qua các hành vi như xả thải, khai thác quá mức, hoặc tai nạn trên biển (tràndầu, chìm tàu, hóa chất độc hại) Đặc trưng nổi bật là sự lan truyền nhanh, khókiểm soát, và ảnh hưởng diện rộng, không chỉ đến hệ sinh thái biển mà còn đếnquyền lợi kinh tế, sinh kế và sức khỏe của cộng đồng ven biển

Tóm lại, ô nhiễm môi trường biển không đơn thuần là hiện tượng tự nhiên

mà là kết quả trực tiếp của các hoạt động phát triển thiếu bền vững, đòi hỏi một hệthống pháp luật chặt chẽ để kiểm soát, xử lý và đặc biệt là xác định rõ trách nhiệmbồi thường thiệt hại khi xảy ra ô nhiễm Việc làm rõ khái niệm là bước đầu cầnthiết để thiết lập cơ sở pháp lý cho nghiên cứu sâu hơn trong đề tài này

1.1.2 Đặc điểm và phân loại nguồn gây ô nhiễm:

Ô nhiễm môi trường biển không chỉ là một vấn đề môi trường mà còn ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái và các ngành kinh tế biển.Các nguồn ô nhiễm biển rất đa dạng, bao gồm từ các sự cố trong quá trình vận tảibiển đến những hoạt động sinh hoạt hàng ngày Dưới đây là phân tích các nguồngây ô nhiễm biển phổ biến:

Bên cạnh các nguyên nhân như sự cố đâm va tàu, tràn dầu, nước ballast vàchất thải sinh hoạt, môi trường biển hiện nay còn đang phải đối mặt với nhiềunguồn gây ô nhiễm khác, ngày càng trở nên nghiêm trọng và đa dạng hơn

Rác thải từ tàu biển (theo Phụ lục V - MARPOL 73/78)

Trang 16

Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra (MARPOL 73/78),đặc biệt là Phụ lục V, nghiêm cấm hành vi xả rác từ tàu ra biển Tuy nhiên, việcthực thi quy định này còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở các khu vực có giaothông hàng hải dày đặc hoặc thiếu sự kiểm soát Rác thải từ tàu bao gồm túi nilon,chai nhựa, lưới đánh cá hỏng, thùng xốp, thực phẩm hư hỏng và cả dầu thải,thường được thủy thủ đoàn xả trực tiếp xuống biển để giảm chi phí xử lý tại cảng.Những loại rác thải này có tính bền vững cao, không phân hủy trong nước biển,gây tác động nghiêm trọng đến sinh vật biển như cá, rùa, cá voi khi chúng nuốtphải hoặc bị mắc kẹt Theo Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), ước tính mỗi năm cóhàng trăm nghìn tấn rác thải được xả từ tàu ra biển, trong đó 20% rác thải nhựa đạidương có nguồn gốc từ tàu Các vết dầu thải còn lại từ tàu cũng có thể tích tụ trên

bờ biển, ảnh hưởng đến các khu du lịch và nuôi trồng thủy sản ven biển

Nguồn ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy sản

Ngành thủy sản, dù là trụ cột kinh tế của nhiều địa phương ven biển, lạiđang gây ra nhiều vấn đề môi trường đáng lo ngại Trong hoạt động nuôi trồngthủy sản, việc sử dụng thức ăn dư thừa, chất kháng sinh, vôi, thuốc diệt tạp đã làmtăng lượng chất thải hữu cơ đổ ra môi trường Nước thải từ ao, lồng nuôi nếukhông qua xử lý sẽ chảy trực tiếp ra biển, gây phú dưỡng nước, làm bùng phát tảođộc, thiếu oxy, ảnh hưởng đến các loài sinh vật khác và làm chết cá hàng loạt.Ngoài ra, các cơ sở chế biến thủy sản ven biển thường xả ra biển một lượng lớnnước thải chứa chất béo, dầu mỡ, protein, vi khuẩn gây bệnh và hóa chất làm sạch,gây mùi hôi thối, làm giảm chất lượng nước biển, ảnh hưởng đến sức khỏe cộngđồng và ngành du lịch địa phương Thực tế tại một số tỉnh như Bạc Liêu, Cà Mau

đã ghi nhận hiện tượng cá chết hàng loạt và vùng nước đen đặc ở cửa sông do ônhiễm từ các hộ nuôi tôm và nhà máy chế biến hải sản

Rác thải từ hoạt động công nghiệp và nhà máy ven biển

Tại các khu vực có các khu công nghiệp ven biển như Duyên hải miềnTrung, Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng, nhiều nhà máy sản xuất thuộccác ngành như nhiệt điện, lọc hóa dầu, hóa chất, xi măng, luyện kim đã trở thành

Trang 17

nguồn phát thải chính ra biển Các loại nước thải công nghiệp thường chứa kimloại nặng (chì, thủy ngân, cadimi…), chất hữu cơ khó phân hủy, axit, kiềm, dầu

mỡ và cả vi nhựa công nghiệp, khi đổ ra biển sẽ làm nhiễm độc sinh vật biển, tích

tụ qua chuỗi thức ăn và cuối cùng ảnh hưởng đến sức khỏe con người Nhiệt thải

từ các nhà máy còn làm tăng nhiệt độ nước biển cục bộ, làm rối loạn sinh sản vàsinh trưởng của sinh vật biển Ví dụ điển hình là sự cố môi trường biển miền Trungnăm 2016, do một nhà máy thép xả thải vượt chuẩn, khiến hàng trăm tấn cá chết

và gây thiệt hại nghiêm trọng đến ngành thủy sản và du lịch bốn tỉnh ven biển

Rác thải từ hoạt động nông nghiệp

Hoạt động nông nghiệp tại các vùng hạ lưu sông, đồng bằng ven biển cóảnh hưởng không nhỏ đến môi trường biển do dòng chảy mang theo hóa chất từđồng ruộng ra biển Việc sử dụng tràn lan phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốcdiệt cỏ, chất kích thích tăng trưởng đã dẫn đến hiện tượng rửa trôi, đặc biệt vàomùa mưa Các hóa chất này làm tăng hàm lượng nitrat, phosphat và các chất độctrong nước biển, gây hiện tượng nở hoa tảo, nước đổi màu, thiếu oxy, ảnh hưởngđến hệ sinh thái đáy biển Ngoài ra, rác nông nghiệp như vỏ bao thuốc trừ sâu, túinilon bọc cây, chai nhựa chứa hóa chất nông nghiệp cũng thường bị vứt bỏ trựctiếp ra kênh, rạch, và cuối cùng chảy ra biển Ở vùng ven biển miền Tây Nam Bộ,hiện tượng này diễn ra rất phổ biến, dẫn đến ô nhiễm trầm trọng tại các cửa sôngnhư sông Hậu, sông Tiền

Ô nhiễm rác thải nhựa từ sản xuất và tiêu dùng nội địa

Ngoài các nguồn thải nhựa từ sinh hoạt, một lượng lớn rác nhựa cũng đến từcác hoạt động sản xuất, vận chuyển, đóng gói và thương mại Rác thải nhựa côngnghiệp như màng co, ống dẫn, pallet nhựa, thùng chứa, vỏ bao bì nhựa quy mô lớnthường không được thu gom đúng cách Khi các khu công nghiệp và trung tâmlogistics đặt gần cửa sông hoặc biển, các loại rác này rất dễ trôi ra đại dương theodòng chảy Sự hiện diện của vi nhựa từ sản xuất công nghiệp cũng là một mối đedọa lớn Vi nhựa không thể bị phân hủy sinh học, lại có khả năng hấp phụ các chấtđộc như dioxin, PCB, kim loại nặng, và bị sinh vật biển ăn phải, cuối cùng đi vào

Trang 18

chuỗi thức ăn của con người Theo UNEP, khoảng 15% lượng vi nhựa đại dươngđến từ hoạt động sản xuất nhựa công nghiệp

Sự cố đâm va tàu và xác tàu

Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm biển nghiêm trọng là các sự cốđâm va tàu Khi xảy ra sự cố này, tàu có thể bị vỡ hoặc chìm, dẫn đến việc rò rỉ dầu

và các chất độc hại vào biển Theo một báo cáo từ Tổ chức Hàng hải Quốc tế(IMO), hàng năm có hơn 100 sự cố đâm va tàu lớn trên toàn cầu, gây ra hàng triệulít dầu bị tràn ra biển Điều này không chỉ gây ô nhiễm nước mà còn để lại cácmảnh vỡ của tàu, phát tán các hóa chất độc hại, làm suy giảm chất lượng môitrường biển Việc các xác tàu chìm xuống biển có thể kéo dài ô nhiễm trong nhiềunăm, đặc biệt là khi tàu mang theo các chất hóa học nguy hiểm như kim loại nặng

và các chất hữu cơ độc hại

Tràn dầu

Tràn dầu là một trong những nguyên nhân ô nhiễm biển nổi bật và nguyhiểm Dầu khi tràn ra biển không hòa tan trong nước, tạo thành các vệt dầu trên bềmặt nước, gây hại cho các sinh vật biển, đặc biệt là cá, động vật có vỏ và các loàichim biển Theo Tổ chức Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), khoảng 5 triệuthùng dầu được tràn ra biển mỗi năm, chủ yếu do sự cố trong quá trình vận chuyểndầu hoặc trong các hoạt động khai thác dầu khí Tràn dầu gây ảnh hưởng trực tiếpđến sức khỏe sinh vật biển, làm ngạt thở các loài động vật, giảm khả năng trao đổikhí của biển và làm suy giảm các rạn san hô, gây mất đa dạng sinh học biển

Nước ballast

Nước ballast được tàu chở hàng sử dụng để duy trì sự ổn định khi dichuyển Tuy nhiên, nước ballast chứa rất nhiều sinh vật và mầm bệnh từ các vùngbiển khác nhau, khi được xả ra các vùng biển mới có thể gây ô nhiễm và thay đổi

hệ sinh thái địa phương Một báo cáo của IMO cho thấy mỗi năm có khoảng 10 tỷtấn nước ballast được xả ra biển, chứa đựng hàng triệu sinh vật ngoại lai, vi khuẩn

và các mầm bệnh có thể xâm nhập vào các hệ sinh thái biển khác Điều này có thểlàm gián đoạn sự cân bằng sinh học của các loài sinh vật biển bản địa và tạo điều

Trang 19

kiện cho các loài sinh vật xâm lấn phát triển mạnh mẽ, gây tổn hại nghiêm trọngđến sự đa dạng sinh học của các vùng biển tiếp nhận.

Chất thải sinh hoạt và sinh vật ngoại lai

Chất thải sinh hoạt từ các tàu thuyền, các khu vực ven biển và các hoạt động

du lịch biển đang ngày càng gia tăng, góp phần làm ô nhiễm nghiêm trọng các đạidương Các chất thải này bao gồm rác thải nhựa, thức ăn thừa và các chất thải hóahọc từ sinh hoạt của con người Theo báo cáo của Tổ chức Môi trường Liên HợpQuốc (UNEP), mỗi năm, khoảng 8 triệu tấn rác thải nhựa được xả vào đại dương

từ các nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu đến từ sinh hoạt và sản xuất của conngười Các mảnh nhựa nhỏ và các vật dụng nhựa khác không chỉ gây hại cho cácsinh vật biển mà còn xâm nhập vào chuỗi thức ăn biển, ảnh hưởng đến sức khỏecủa con người Các loài sinh vật biển như cá, rùa và chim biển dễ dàng nuốt phảirác nhựa, dẫn đến chấn thương và thậm chí tử vong

Ngoài chất thải sinh hoạt, sinh vật ngoại lai cũng là một nguồn ô nhiễmnghiêm trọng Các loài sinh vật ngoại lai, khi xâm nhập vào các hệ sinh thái biểnmới, có thể phá vỡ cân bằng sinh học, cạnh tranh với các loài bản địa về thức ăn vàkhông gian sống Theo các nghiên cứu, khoảng 40% loài sinh vật ngoại lai trong

hệ sinh thái biển hiện nay đã xâm nhập vào môi trường mới qua nước ballast củatàu

Tại Việt Nam, ô nhiễm biển đang trở thành vấn đề cấp bách, đặc biệt là ônhiễm rác thải nhựa Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam làmột trong những quốc gia có tỷ lệ xả rác nhựa vào biển cao, với khoảng 0,28 triệutấn rác nhựa được xả ra biển mỗi năm Một nghiên cứu của UNEP cũng chỉ rarằng, lượng rác thải nhựa này đang đe dọa trực tiếp đến các hệ sinh thái biển và cácloài sinh vật biển Rác thải nhựa gây tắc nghẽn hệ thống sinh thái biển, làm giảmchất lượng nước biển và tác động nghiêm trọng đến ngành du lịch, ngư nghiệp,đặc biệt ở các khu vực ven biển Việt Nam cũng đối mặt với sự gia tăng chất thảisinh hoạt, trong đó có 10-15% chất thải sinh hoạt tại các khu vực ven biển chưađược xử lý đúng cách, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng

Trang 20

Như vậy, các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển có đặc điểm và tác độngrất đa dạng, từ các sự cố đâm va tàu, tràn dầu đến các hoạt động sinh hoạt và sựxâm nhập của sinh vật ngoại lai Để giảm thiểu ô nhiễm, cần có các giải phápphòng ngừa hiệu quả, từ việc cải thiện công nghệ vận tải biển đến việc tuyêntruyền ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển.

1.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môi trường biển

Cụ thể, khi có hành vi ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng đến môi trườngbiển, cá nhân hoặc tổ chức gây ra ô nhiễm phải chịu trách nhiệm về việc khắc phụchậu quả Điều này có thể bao gồm việc chi trả chi phí phục hồi môi trường, khôiphục các sinh cảnh bị ô nhiễm, xử lý chất thải, và các hoạt động khác nhằm hạnchế tác động xấu tiếp tục lan rộng Việc yêu cầu bồi thường này có thể được thựchiện qua các cơ chế pháp lý, bao gồm hành chính hoặc tố tụng dân sự

Bản chất pháp lý

Trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môi trường biển mang bản chất là mộtnghĩa vụ dân sự Điều này có nghĩa là các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm có thể bịyêu cầu bồi thường thiệt hại cho các bên bị ảnh hưởng thông qua các cơ chế pháp

lý, chẳng hạn như hành chính hoặc tố tụng dân sự Khi xảy ra hành vi vi phạmpháp luật về bảo vệ môi trường, gây ra thiệt hại vật chất hoặc sức khỏe cho con

Trang 21

người và sinh vật biển, các tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm bồithường.

Trong pháp luật Việt Nam, trách nhiệm bồi thường do ô nhiễm môi trườngbiển được quy định tại Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 và các văn bản hướngdẫn thi hành Điều này thể hiện rõ cam kết của Nhà nước trong việc bảo vệ tàinguyên biển, khuyến khích các tổ chức và cá nhân bảo vệ môi trường biển, đồngthời đảm bảo rằng việc ô nhiễm sẽ không chỉ bị xử lý qua các biện pháp hànhchính, mà còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Các quy định này khẳngđịnh rằng tổ chức hoặc cá nhân gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm dân sự, khôngchỉ bằng việc chấm dứt hành vi gây ô nhiễm mà còn phải bồi thường cho các bên

bị thiệt hại về môi trường và sức khỏe

Hệ thống pháp lý này cũng phản ánh sự chuyển hướng trong nhận thức vàquản lý môi trường của Việt Nam, nơi trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiênđược đặt lên hàng đầu, và việc yêu cầu các cá nhân, tổ chức gây ô nhiễm phải chịutrách nhiệm là một phần trong chiến lược dài hạn bảo vệ và phát triển bền vữngmôi trường biển

1.2.2 Các loại trách nhiệm pháp lý về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển

Các loại trách nhiệm pháp lý về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trườngbiển

Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển là một phần trong cơ chếpháp lý nhằm xử lý các hành vi gây tổn hại đến môi trường Trách nhiệm pháp lýkhông tồn tại đơn lẻ mà có sự kết nối chặt chẽ giữa các hình thức: hình sự, hànhchính, dân sự và kỷ luật Sự phối hợp này nhằm đảm bảo xử lý toàn diện hành vi viphạm, khắc phục hậu quả và bảo vệ quyền lợi của các cá nhân, cộng đồng và môitrường tự nhiên

1 Trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường biển là mộttrong những biện pháp pháp lý mạnh mẽ nhất nhằm bảo vệ tài nguyên biển và đảm

Trang 22

bảo sự phát triển bền vững cho môi trường sống của con người và các sinh vậtbiển Trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng trong những trường hợp hành vi viphạm có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với hệsinh thái biển, sức khỏe cộng đồng, hoặc thậm chí tính mạng của con người Điềunày không chỉ phản ánh cam kết của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường màcòn nhấn mạnh sự cần thiết phải trừng trị nghiêm khắc đối với những hành vi pháhoại nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Theo Điều 235 và Điều 238 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2017), các hành vi vi phạm về ô nhiễm môi trường biển được phân loại

rõ ràng, với những mức hình phạt cụ thể dành cho cả cá nhân và pháp nhân Điều

235 quy định về tội gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các hành vi xả thải vượtmức cho phép, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường biển Theo đó,các cá nhân vi phạm có thể bị phạt tù lên đến 7 năm, đồng thời phải chịu phạt tiền

từ 500 triệu đồng đến 3 tỷ đồng Đối với các pháp nhân, mức phạt có thể lên tới 3

tỷ đồng, ngoài ra còn có thể bị đình chỉ hoạt động nếu hành vi gây ô nhiễm có tínhchất nghiêm trọng Những mức phạt này không chỉ nhằm mục đích trừng phạt màcòn có tác dụng răn đe mạnh mẽ, giúp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trongcộng đồng và trong các doanh nghiệp

Bên cạnh đó, Điều 238 của Bộ luật Hình sự quy định về tội hủy hoại nguồnlợi thủy sản, áp dụng cho những hành vi như sử dụng hóa chất độc hại, chất nổ đểđánh bắt thủy sản, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển và nguồn lợithủy sản Hành vi này không chỉ phá hoại môi trường mà còn đe dọa trực tiếp đếnsinh kế của ngư dân và các cộng đồng sống nhờ vào nguồn lợi biển Mức phạt đốivới tội này có thể lên đến 10 năm tù, một hình phạt khắc nghiệt nhằm ngăn chặn vàloại bỏ hành vi khai thác hủy hoại nguồn tài nguyên biển

Điều đặc biệt trong các vụ án hình sự liên quan đến ô nhiễm môi trườngbiển là trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tòa án hình sự có thể yêu cầu các cá nhânhoặc tổ chức vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho những người bị ảnh hưởng trựctiếp, phục hồi môi trường theo quyết định của tòa án Đây là một trong những

Trang 23

điểm nổi bật của pháp luật Việt Nam khi không chỉ dừng lại ở việc xử phạt hành viphạm tội mà còn yêu cầu phục hồi những thiệt hại mà hành vi này gây ra Quyđịnh này giúp đảm bảo quyền lợi cho các nạn nhân, bao gồm cả cộng đồng bị ảnhhưởng bởi ô nhiễm và những tổn thất về tài sản, sức khỏe, hoặc môi trường sống.

Mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực

ô nhiễm môi trường biển thể hiện một chính sách pháp lý hoàn thiện và toàn diện,với mục tiêu không chỉ trừng trị mà còn khôi phục lại môi trường và tài nguyênbiển đã bị tàn phá Quy định này cũng khẳng định cam kết của pháp luật Việt Namtrong việc bảo vệ môi trường biển, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng,các tổ chức và cá nhân vào công cuộc bảo vệ và phục hồi môi trường sống

2 Trách nhiệm hành chính

Trách nhiệm hành chính là một hình thức xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnhvực bảo vệ môi trường, áp dụng đối với những hành vi gây ô nhiễm mà chưa đủnghiêm trọng để bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hành chính nhằmmục đích ngừng ngay hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả ô nhiễm và bảo vệ môitrường, đồng thời đảm bảo các tổ chức và cá nhân vi phạm phải chịu trách nhiệm

về hành động của mình, dù không phải lúc nào cũng yêu cầu bồi thường thiệt hạitrực tiếp cho các nạn nhân

Theo Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/07/2022 của Chính phủ về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, có một số quy địnhquan trọng về mức phạt và các biện pháp xử lý đối với hành vi gây ô nhiễm biển

Cụ thể, tại Khoản 4 Điều 19, tổ chức có hành vi thải chất thải nguy hại vượt quychuẩn kỹ thuật từ 5 lần trở lên hoặc gây sự cố môi trường nghiêm trọng sẽ bị phạttiền từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng Đây là mức phạt rất cao, nhằm răn đe cáchành vi làm ô nhiễm môi trường biển, đặc biệt là trong bối cảnh các hoạt độngcông nghiệp, khai thác tài nguyên biển đang gia tăng

Bên cạnh đó, Điều 22 của nghị định quy định việc phạt tiền từ 100 triệuđồng đến 500 triệu đồng đối với các hành vi không có hệ thống xử lý nước thải đạtchuẩn, dẫn đến việc xả trực tiếp chất thải ra biển, gây ô nhiễm môi trường Đây là

Trang 24

hành vi vi phạm khá phổ biến, nhất là trong các khu vực sản xuất công nghiệp vàchế biến thủy sản Quy định này không chỉ xử phạt mà còn yêu cầu các tổ chức, cánhân vi phạm phải đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn, từ đó giúp bảo vệ cácnguồn tài nguyên nước và sinh vật biển.

Ngoài việc áp dụng mức phạt tiền, các biện pháp khắc phục hậu quả cũngđóng vai trò quan trọng trong trách nhiệm hành chính Các biện pháp này có thểbao gồm: buộc khôi phục tình trạng ban đầu của môi trường, chi trả chi phí xử lý ônhiễm hoặc dừng ngay các hoạt động gây ô nhiễm và thu hồi giấy phép hoạt động Các biện pháp này không chỉ nhằm ngừng ngay hành vi gây hại mà còn giúpphục hồi lại môi trường bị tổn thương, bảo vệ sự sống của hệ sinh thái biển vàtránh các thiệt hại tiếp diễn

Tuy nhiên, một điểm cần lưu ý trong xử phạt hành chính là nghĩa vụ bồithường thiệt hại trực tiếp cho các cá nhân bị ảnh hưởng không phải lúc nào cũngđược yêu cầu Trái ngược với trách nhiệm hình sự, trong xử phạt hành chính, sựtập trung chủ yếu nằm ở việc phục hồi môi trường và khắc phục các tác động tiêucực của hành vi vi phạm đối với hệ sinh thái biển Điều này có thể gây ra sự khácbiệt trong việc bảo vệ quyền lợi của các nạn nhân so với khi xử lý hình sự, khi cácnạn nhân có thể được yêu cầu bồi thường thiệt hại trực tiếp

Tuy nhiên, trách nhiệm hành chính vẫn đóng vai trò hết sức quan trọngtrong việc giảm thiểu và ngừng ngay các hành vi vi phạm Việc áp dụng hình thức

xử phạt hành chính giúp can thiệp kịp thời vào các hành vi gây ô nhiễm, bảo vệmôi trường biển khỏi những thiệt hại thêm nữa Đặc biệt, trong bối cảnh ô nhiễmbiển đang trở thành vấn đề cấp bách, các biện pháp hành chính như vậy có thể tạo

ra ảnh hưởng tức thì, giúp hạn chế thiệt hại và ngăn chặn các vi phạm tái diễn

Mở rộng: Trách nhiệm hành chính không chỉ dừng lại ở việc xử phạt màcòn đóng góp vào quá trình hướng tới phát triển bền vững, khi mà việc bảo vệ môitrường và tài nguyên biển trở thành yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Đặcbiệt, trong bối cảnh sự gia tăng của các vấn đề ô nhiễm do các hoạt động côngnghiệp và sản xuất ven biển, việc xử phạt hành chính đóng vai trò quan trọng trong

Trang 25

việc duy trì các tiêu chuẩn môi trường và đảm bảo rằng các tổ chức, cá nhân hoạtđộng trong lĩnh vực này phải chịu trách nhiệm đầy đủ về những tác động mà họgây ra đối với môi trường.

3 Trách nhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự trong các vụ án liên quan đến ô nhiễm môi trường biển chủ yếu tập trung vào nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho các cá nhân và tổ chức bịthiệt hại do hành vi gây ô nhiễm Trách nhiệm này được quy định tại Bộ luật Dân

sự năm 2015, đặc biệt tại các điều khoản từ Điều 584 đến Điều 601, với mục đíchbảo vệ quyền lợi hợp pháp của những đối tượng bị ảnh hưởng bởi các hành vi gây

ô nhiễm

Theo Điều 601 của Bộ luật Dân sự, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại cho môitrường bằng các nguồn nguy hiểm cao độ (như hóa chất độc hại, chất thải côngnghiệp) phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phụ thuộc vào lỗi của

họ Điều này có nghĩa là ngay cả khi các tổ chức hoặc cá nhân không có lỗi cố ýhay sơ suất trong việc gây ô nhiễm, họ vẫn phải bồi thường thiệt hại nếu hành vicủa họ gây ra tổn hại cho môi trường và các bên bị ảnh hưởng Việc này phù hợpvới nguyên tắc "trách nhiệm không phụ thuộc vào lỗi" trong trường hợp ô nhiễm

có tính chất nguy hiểm, giúp đảm bảo rằng các nạn nhân của ô nhiễm, dù có thểkhông tìm ra lỗi trực tiếp từ người vi phạm, vẫn có quyền yêu cầu bồi thường thiệthại

Cụ thể hơn, Điều 584 quy định rằng người gây thiệt hại phải bồi thườngtoàn bộ thiệt hại trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng (như thiên tai, thảm họa)hoặc lỗi của bên bị thiệt hại Điều này giúp đảm bảo rằng các bên bị thiệt hại do ônhiễm sẽ không phải chịu gánh nặng tài chính từ sự cố môi trường mà họ khôngthể kiểm soát được Các thiệt hại có thể bao gồm:

Thiệt hại về tài sản: Trong trường hợp ô nhiễm ảnh hưởng đến hoạt độngkinh tế của các cá nhân hoặc tổ chức, như nuôi trồng thủy sản hoặc đánh bắt hảisản bị ảnh hưởng do ô nhiễm, thì thiệt hại về tài sản sẽ được tính vào khoản bồithường

Trang 26

Thiệt hại về sức khỏe và tính mạng: Các cá nhân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi

ô nhiễm môi trường, ví dụ như các bệnh nhân bị bệnh liên quan đến ô nhiễm nướcbiển, có thể yêu cầu bồi thường chi phí điều trị và các khoản chi phí khác liên quanđến thiệt hại về sức khỏe hoặc tính mạng

Chi phí khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường: Đây là một phần quantrọng trong trách nhiệm dân sự, yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm phải chi trả chiphí xử lý ô nhiễm và phục hồi môi trường Điều này không chỉ giúp khắc phụcthiệt hại mà còn giúp bảo vệ hệ sinh thái biển lâu dài

Trong trường hợp các bên bị ảnh hưởng quyết định yêu cầu bồi thường thiệthại, tòa án dân sự là cơ quan có thẩm quyền để xem xét và ra quyết định về việcbồi thường Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định pháp lý, đánh giá thiệt hại thực tế

và xét xử theo quy trình tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các nạn nhân bị ônhiễm

4 Trách nhiệm kỷ luật

Trách nhiệm kỷ luật là một hình thức xử lý đối với cán bộ, công chức, viênchức, hoặc người lao động trong các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức có nhiệm vụ quản lý, giám sát môi trường, nhưng lại không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ củamình, dẫn đến việc xảy ra hoặc bao che hành vi gây ô nhiễm môi trường biển Việc

áp dụng trách nhiệm kỷ luật nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm thực thi phápluật, đồng thời phòng ngừa tiêu cực trong việc quản lý và kiểm soát môi trườngbiển

Các quy định pháp lý liên quan đến trách nhiệm kỷ luật được cụ thể hóatrong các đạo luật và nghị định sau:

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019): Luật nàyquy định về quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong việc thực thi công vụ.Theo đó, khi cán bộ, công chức vi phạm nghĩa vụ trong công tác bảo vệ môitrường hoặc có hành vi bao che, không kiểm soát ô nhiễm môi trường, họ có thể bị

xử lý kỷ luật theo các hình thức quy định

Trang 27

Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019): Tương tự, đối vớiviên chức, nếu họ vi phạm trong công tác giám sát, bảo vệ môi trường, không thựchiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ môi trường theo yêu cầu của pháp luật, họ cũng

có thể bị xử lý kỷ luật

Các Nghị định của Chính phủ về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức,viên chức: Các nghị định này quy định chi tiết về các hình thức xử lý kỷ luật trongtừng trường hợp cụ thể, bao gồm các vi phạm trong công tác bảo vệ và quản lý môitrường

Các hình thức kỷ luật có thể áp dụng đối với các cán bộ, công chức, viênchức hoặc người lao động vi phạm bao gồm:

Khiển trách: Đây là hình thức kỷ luật nhẹ nhất, áp dụng đối với những viphạm không quá nghiêm trọng, nhưng vẫn gây ảnh hưởng đến công tác bảo vệmôi trường Hình thức này nhằm nhắc nhở, cảnh tỉnh người vi phạm

Cảnh cáo: Áp dụng đối với những vi phạm nghiêm trọng hơn khi cán bộ,công chức không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nhưng chưa đủ mức

để áp dụng các hình thức kỷ luật nặng hơn Cảnh cáo cũng là biện pháp để thể hiện

sự nghiêm khắc của cơ quan nhà nước đối với những hành vi thiếu trách nhiệm

Hạ bậc lương: Đây là hình thức kỷ luật nghiêm khắc hơn, thường áp dụngđối với những vi phạm đã gây ra thiệt hại lớn trong công tác bảo vệ môi trường,nhưng chưa đến mức phải cách chức hay buộc thôi việc Hình thức này nhằm cảnhcáo nghiêm khắc và có tác động rõ rệt đến thu nhập của người vi phạm

Cách chức: Áp dụng khi cán bộ, công chức vi phạm nghiêm trọng, khônghoàn thành nghĩa vụ bảo vệ môi trường, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Hình thứcnày là biện pháp mạnh mẽ trong việc loại bỏ người vi phạm khỏi các chức vụ côngquyền

Buộc thôi việc: Là hình thức kỷ luật cao nhất đối với người lao động, viênchức hoặc cán bộ, công chức vi phạm nghiêm trọng các quy định về bảo vệ môitrường, gây hậu quả nghiêm trọng Buộc thôi việc không chỉ có tác dụng đối với

Trang 28

người vi phạm mà còn gửi một thông điệp rõ ràng về sự không khoan nhượng đốivới các hành vi gây ô nhiễm môi trường.

Mục đích của việc xử lý kỷ luật không chỉ là để xử lý hành vi vi phạm, màcòn nhằm nâng cao trách nhiệm trong việc thực thi pháp luật môi trường, từ đóphòng ngừa tiêu cực và đảm bảo rằng các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trongviệc quản lý và giám sát môi trường sẽ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, bảo vệsức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái biển Việc xử lý kỷ luật giúp tạo dựng môitrường làm việc chuyên nghiệp, có trách nhiệm và minh bạch trong công tác bảo

a) Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), được thông qua vào

năm 1982, là một văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định về quyền và nghĩa

vụ của các quốc gia liên quan đến việc sử dụng và bảo vệ biển và đại dương.UNCLOS có tầm ảnh hưởng lớn trong việc xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trườngbiển và đưa ra các yêu cầu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm biển gâyra

Các quy định nổi bật của UNCLOS liên quan đến ô nhiễm biển:

Nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển: UNCLOS yêu cầu các quốc gia phải

bảo vệ và bảo tồn môi trường biển trong phạm vi quyền tài phán của mình Điều

Trang 29

này bao gồm việc ngừng hoặc hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm biển, nhằmgiảm thiểu tác động tiêu cực đến sinh thái biển.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ việc liên quan đến ô nhiễmmôi trường biển là một nội dung quan trọng được quy định tại Điều 235 của Côngước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) Quy định này thể hiện rõnguyên tắc trách nhiệm của các quốc gia trong việc kiểm soát, ngăn chặn và khắcphục hậu quả ô nhiễm môi trường biển mà họ gây ra hoặc có liên quan Điều luậtnày không chỉ mang tính ràng buộc pháp lý, mà còn có ý nghĩa nhân đạo và bảo vệlợi ích chung của cộng đồng quốc tế trước các nguy cơ hủy hoại môi trường biển

Cụ thể, khoản 1 Điều 235 UNCLOS quy định: “Các quốc gia có trách

nhiệm thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của mình liên quan đến việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển Các quốc gia chịu trách nhiệm theo luật pháp quốc tế về thiệt hại gây ra bởi không tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế này.” Như vậy, quốc gia

không chỉ bị ràng buộc bởi nghĩa vụ thực hiện các biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm,

mà còn phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu vi phạm, kể cả trong trường hợp hành vi

vi phạm không trực tiếp do Nhà nước thực hiện mà bởi tổ chức, cá nhân dướiquyền tài phán của quốc gia đó

Tiếp theo, khoản 2 Điều 235 nhấn mạnh: “Các quốc gia phải đảm bảo rằng

các biện pháp pháp lý được thực hiện theo hệ thống pháp luật quốc gia để yêu cầu bồi thường hoặc các hình thức khắc phục khác cho thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển.” Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó yêu cầu quốc

gia không chỉ có nghĩa vụ bồi thường trong quan hệ quốc tế, mà còn phải xây dựng

hệ thống pháp luật trong nước đủ mạnh và minh bạch để tạo điều kiện cho các tổchức, cá nhân bị thiệt hại có thể khởi kiện, yêu cầu đền bù và phục hồi môi trường

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều 235 UNCLOS baogồm hai nội dung cốt lõi:

Trách nhiệm quốc tế của quốc gia: Quốc gia vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môitrường biển phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do hành vi đó gây ra, bao gồm thiệt

Trang 30

hại về môi trường, kinh tế (ví dụ: thiệt hại cho ngư dân, ngành du lịch), cũng nhưthiệt hại xuyên biên giới đối với quốc gia khác.

Nghĩa vụ xây dựng cơ chế bồi thường trong nước: Các quốc gia thành viênphải thiết lập cơ chế pháp lý trong nước để đảm bảo người bị thiệt hại (có thể là cánhân, tổ chức trong hoặc ngoài nước) có thể truy cứu trách nhiệm và yêu cầu bồithường một cách hiệu quả, kịp thời

Việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong UNCLOS mang ýnghĩa sâu xa: nó không chỉ tạo ra sự ràng buộc pháp lý giữa các quốc gia, mà cònđặt ra nghĩa vụ cụ thể trong việc phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường, gópphần vào việc duy trì ổn định sinh thái biển và bảo vệ lợi ích phát triển bền vữngtoàn cầu

Khôi phục và bảo vệ môi trường biển: UNCLOS không chỉ yêu cầu các

quốc gia chịu trách nhiệm tài chính đối với thiệt hại ô nhiễm mà còn khuyến khíchviệc thực hiện các biện pháp khôi phục môi trường biển bị hủy hoại

Hợp tác quốc tế: Công ước này khuyến khích các quốc gia hợp tác để xử lý

các vấn đề ô nhiễm xuyên quốc gia, từ việc chia sẻ thông tin về sự cố ô nhiễm biểnđến việc phối hợp cứu trợ và bồi thường cho các quốc gia bị thiệt hại

Với các quy định này, UNCLOS trở thành nền tảng pháp lý quan trọng đểgiải quyết vấn đề ô nhiễm biển và các trách nhiệm bồi thường liên quan, đồng thờithúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ môi trường biển toàn cầu

b) Công ước về Trách nhiệm đối với Thiệt hại do Tràn Dầu (CLC 1992) Công ước CLC 1992 (Convention on Civil Liability for Oil Pollution

Damage) được ký kết nhằm quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tràn dầugây ra trên biển Công ước này tạo ra một hệ thống bồi thường hiệu quả cho cácquốc gia và tổ chức bị thiệt hại từ các sự cố tràn dầu

Các quy định nổi bật của CLC 1992:

Trách nhiệm bồi thường của chủ tàu: Theo công ước này, chủ tàu phải

chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tràn dầu gây ra đối với các quốc gia và cánhân bị ảnh hưởng Điều này áp dụng không chỉ cho các thiệt hại trực tiếp như tổn

Trang 31

thất tài sản mà còn bao gồm các thiệt hại về sinh thái, môi trường biển và các chiphí khôi phục môi trường.

Mức độ trách nhiệm tài chính của chủ tàu: Công ước CLC 1992 quy

định mức trách nhiệm tài chính tối đa mà chủ tàu phải chịu đối với mỗi sự cố tràndầu Điều này giúp đảm bảo rằng các nạn nhân của sự cố sẽ nhận được bồi thườngtrong phạm vi trách nhiệm tài chính của chủ tàu

Bồi thường cho các quốc gia bị thiệt hại: Công ước này yêu cầu các chủ

tàu phải bồi thường cho các quốc gia mà khu vực biển của họ bị ô nhiễm từ tràndầu Việc này đảm bảo rằng các quốc gia không phải chịu gánh nặng tài chính lớnkhi khôi phục môi trường biển và giải quyết hậu quả từ sự cố ô nhiễm

Hợp tác quốc tế: Công ước CLC 1992 thúc đẩy sự hợp tác quốc tế giữa các

quốc gia để xử lý và bồi thường thiệt hại do tràn dầu, tạo ra một khung pháp lýđồng bộ cho các quốc gia khi đối mặt với các sự cố tràn dầu trên biển

c) Công ước Quỹ Bồi Thường cho Thiệt hại do Ô nhiễm Dầu (Fund 1992)

Công ước Quỹ Bồi Thường 1992 (Fund Convention 1992) là một phần bổ

sung quan trọng cho Công ước CLC 1992, giúp hỗ trợ các quốc gia hoặc cộngđồng không thể nhận bồi thường đầy đủ từ chủ tàu do giới hạn trách nhiệm tàichính của chủ tàu trong công ước CLC

Các quy định nổi bật của Fund 1992:

Tạo ra một quỹ quốc tế hỗ trợ bồi thường: Công ước Fund yêu cầu các

quốc gia tham gia đóng góp vào một quỹ quốc tế để hỗ trợ bồi thường thiệt hại từcác sự cố tràn dầu Quỹ này được tài trợ bởi các khoản đóng góp từ các chủ tàu vàcác công ty vận chuyển dầu, dựa trên trọng tải tàu

Bồi thường cho các nạn nhân: Khi thiệt hại do tràn dầu vượt quá mức bảo

hiểm mà chủ tàu có thể cung cấp, công ước Fund sẽ cung cấp khoản bồi thường bổsung cho các nạn nhân, bảo vệ các quốc gia và cộng đồng bị thiệt hại khỏi gánhnặng tài chính

Trang 32

Quản lý quỹ và giải quyết tranh chấp: Công ước này cũng quy định một

cơ chế quản lý quỹ và giải quyết tranh chấp hiệu quả, giúp các nạn nhân có thể yêucầu bồi thường từ quỹ một cách nhanh chóng và thuận tiện

Hợp tác quốc tế: Công ước Fund khuyến khích sự hợp tác quốc tế trong

việc quản lý quỹ, đồng thời tạo ra các cơ chế thông tin và phối hợp giữa các quốcgia và các bên liên quan để xử lý nhanh chóng các sự cố ô nhiễm dầu

Các công ước quốc tế như UNCLOS, CLC 1992, và Fund 1992 đóng vai tròthiết yếu trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môitrường biển, đặc biệt là trong các sự cố tràn dầu và các tác động từ hoạt động hànghải Những công ước này không chỉ quy định trách nhiệm pháp lý của các quốcgia và chủ tàu mà còn thúc đẩy sự hợp tác quốc tế, tạo ra cơ chế bồi thường thiệthại kịp thời và đầy đủ cho các nạn nhân Việt Nam có thể học hỏi và áp dụng cácquy định từ các công ước này để xây dựng hệ thống pháp lý về trách nhiệm bồithường ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ môi trường biển và khôi phục các hệ sinhthái bị ảnh hưởng

1.3.2 Nghiên cứu trách nhiệm bồi thường tại 1 số quốc gia trên Thế giới

a) Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những quốc gia đi đầu trong việc xây dựng một hệthống pháp lý chặt chẽ để bảo vệ môi trường biển và quản lý trách nhiệm bồithường thiệt hại do ô nhiễm Hệ thống pháp lý của Nhật Bản bao gồm các quy địnhchi tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ các sự cố ô nhiễm, đặc biệt là tràndầu, một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm biển nghiêm trọng

Bài học quan trọng mà Việt Nam có thể rút ra từ Nhật Bản là sự kết hợpgiữa luật pháp quốc gia và hợp tác quốc tế trong việc xử lý các sự cố ô nhiễm.Nhật Bản đã ký kết và tuân thủ các công ước quốc tế như UNCLOS và CLC 1992,giúp họ xây dựng một cơ chế pháp lý vững chắc để xử lý các vấn đề liên quan đếntrách nhiệm bồi thường ô nhiễm biển

Một điểm đặc biệt quan trọng trong hệ thống của Nhật Bản là cơ chế ứngphó nhanh chóng và hiệu quả với các sự cố ô nhiễm, đặc biệt là các sự cố tràn dầu

Trang 33

Nhật Bản đã xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và đội ngũ cứu hộ chuyên nghiệp,đảm bảo rằng các sự cố được xử lý kịp thời, giảm thiểu thiệt hại đối với môitrường và cộng đồng Họ cũng áp dụng các biện pháp đền bù nhanh chóng cho cácnạn nhân bị ảnh hưởng, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đối với nền kinh tế vàbảo vệ sự công bằng xã hội.

Một bài học nữa từ Nhật Bản là sự ràng buộc trách nhiệm chặt chẽ đối vớicác tổ chức, cá nhân gây ra ô nhiễm Các doanh nghiệp, đặc biệt là trong ngànhdầu khí và vận tải biển, phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với thiệt hại môitrường do họ gây ra, bao gồm việc bồi thường thiệt hại cho các bên bị ảnh hưởng

và chi trả chi phí phục hồi môi trường

b) Hàn Quốc

Hàn Quốc cũng là một quốc gia có hệ thống pháp lý rất mạnh mẽ trong việc

xử lý ô nhiễm biển và trách nhiệm bồi thường thiệt hại Một điểm nổi bật trong hệthống của Hàn Quốc là sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật quốc gia và các cam kếtquốc tế Hàn Quốc đã ký kết và thực thi đầy đủ các công ước quốc tế nhưUNCLOS, CLC 1992, và Công ước Fund 1992, giúp họ có một khung pháp lýtoàn diện để giải quyết các sự cố ô nhiễm biển, đặc biệt là trong các trường hợptràn dầu Việc tuân thủ các công ước quốc tế này giúp Hàn Quốc không chỉ bảo vệlợi ích quốc gia mà còn đảm bảo sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các sự cố

ô nhiễm biển

Bài học quan trọng mà Việt Nam có thể học từ Hàn Quốc là sự tổ chức vàphát triển các cơ chế giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại thông qua hệthống tố tụng dân sự Hàn Quốc có hệ thống tố tụng hiệu quả để giải quyết các vấn

đề bồi thường thiệt hại, giúp các nạn nhân của ô nhiễm môi trường biển có thể đền

bù thiệt hại một cách công bằng và nhanh chóng Điều này rất quan trọng trongviệc duy trì sự công bằng và bảo vệ quyền lợi của các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại

Ngoài ra, Hàn Quốc cũng có các biện pháp kiểm soát và xử lý vi phạmnghiêm ngặt, đặc biệt đối với các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường biển Các

Trang 34

tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc và yêu cầu bồi thường thiệt hại,đồng thời phải chịu các biện pháp khắc phục hậu quả.

c) Na Uy

Na Uy, một quốc gia có nền công nghiệp dầu mỏ phát triển mạnh mẽ, là một

mô hình điển hình trong việc xây dựng các hệ thống pháp lý và tài chính hiệu quảđối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm biển, đặc biệt trong ngành dầukhí Quốc gia này đã ký kết và thực thi các công ước quốc tế liên quan đến ô nhiễmbiển, đặc biệt là trong việc quản lý trách nhiệm bồi thường đối với các sự cố tràndầu, một mối nguy hại lớn đối với môi trường biển

Bài học quan trọng từ Na Uy là việc xây dựng các quỹ bảo hiểm quốc tế vàcác cơ chế tài chính hỗ trợ bồi thường thiệt hại Na Uy đã phát triển các quỹ bảohiểm dành riêng cho các sự cố ô nhiễm do hoạt động dầu khí, giúp các công ty dầukhí phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với các thiệt hại gây ra Các quỹ này đảmbảo rằng mọi thiệt hại do ô nhiễm sẽ được bồi thường đầy đủ và kịp thời cho cácnạn nhân

Việc xây dựng các quỹ bảo hiểm quốc tế và các cơ chế tài chính vững chắcgiúp Na Uy không chỉ giảm thiểu gánh nặng tài chính cho chính phủ mà còn giúpcác công ty dầu khí duy trì trách nhiệm đối với môi trường Điều này cũng tạo ramột cơ chế bảo vệ cho các nạn nhân của ô nhiễm, giúp họ được đền bù thiệt hạimột cách công bằng và nhanh chóng

Một điểm đặc biệt khác từ Na Uy là họ chú trọng đến việc đánh giá tác độngmôi trường sớm trong các dự án dầu khí và công nghiệp trên biển Việc này giúp

họ phát hiện và ngăn ngừa các sự cố ô nhiễm từ trước khi chúng trở thành vấn đềlớn, giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ môi trường biển một cách hiệu quả

Từ những kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Na Uy, Việt Nam có thểrút ra những bài học quan trọng để hoàn thiện hệ thống pháp lý và cơ chế bồithường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển Những bài học này bao gồm việcxây dựng một hệ thống pháp lý chặt chẽ và cụ thể, phát triển các cơ chế tài chính

hỗ trợ bồi thường thiệt hại, cải thiện khả năng ứng phó nhanh chóng với các sự cố

Trang 35

ô nhiễm, và tăng cường hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ môi trường biển Việc ápdụng những kinh nghiệm này sẽ giúp Việt Nam nâng cao hiệu quả trong việc bảo

vệ tài nguyên biển và xử lý trách nhiệm bồi thường một cách công bằng và hiệuquả

1.3.3 Bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam

Từ các kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam có thể rút ra một số bài học quantrọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường do ônhiễm môi trường biển Những bài học này không chỉ giúp hoàn thiện khung pháp

lý mà còn giúp nâng cao hiệu quả trong việc xử lý và khắc phục thiệt hại do ônhiễm gây ra

1 Xây dựng hệ thống pháp lý chặt chẽ và cụ thể

Một trong những bài học quan trọng mà Việt Nam có thể học từ các quốcgia như Nhật Bản, Na Uy hay Hàn Quốc là việc xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp lý về trách nhiệm bồi thường ô nhiễm môi trường biển Các công ước quốc tếnhư UNCLOS 1982, CLC 1992, và Fund 1992 cung cấp một khuôn khổ pháp lý

rõ ràng, xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia cũng như các tổ chức,

cá nhân liên quan đến ô nhiễm biển

Để áp dụng vào Việt Nam, hệ thống pháp lý cần phải được hoàn thiện, baogồm các quy định chi tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cơ chế xử lý viphạm, các biện pháp khắc phục hậu quả và quy định về mức độ phạt đối với cáchành vi vi phạm Điều này không chỉ giúp các tổ chức và cá nhân gây ô nhiễm hiểu

rõ nghĩa vụ của mình mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các tranhchấp liên quan đến ô nhiễm môi trường biển

Công ước UNCLOS (Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển) quy định cácnghĩa vụ của các quốc gia đối với việc bảo vệ môi trường biển, trong khi Công ướcCLC 1992 và Fund 1992 liên quan đến trách nhiệm của các quốc gia và các chủtàu đối với sự cố tràn dầu và thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra Việc tích hợp các quyđịnh của những công ước này vào hệ thống pháp lý của Việt Nam sẽ giúp củng cố

và hoàn thiện cơ chế bồi thường do ô nhiễm môi trường biển

Trang 36

2 Tạo ra các cơ chế tài chính để hỗ trợ bồi thường

Bài học từ các quốc gia như Na Uy và Hàn Quốc là việc thành lập các quỹbảo hiểm hoặc quỹ bồi thường cho các sự cố ô nhiễm biển là rất quan trọng Cácquốc gia này đã xây dựng những cơ chế tài chính vững chắc để hỗ trợ bồi thườngthiệt hại cho các nạn nhân của sự cố ô nhiễm, đồng thời giúp giảm bớt gánh nặngtài chính cho các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm

Việt Nam có thể học hỏi mô hình này bằng cách thành lập một Quỹ bảo vệmôi trường biển hoặc một Quỹ bồi thường thiệt hại cho các sự cố ô nhiễm, đặc biệt

là các sự cố do tràn dầu hoặc ô nhiễm từ tàu thuyền Quỹ này có thể được huyđộng từ các khoản phí, thuế hoặc đóng góp của các tổ chức, cá nhân có liên quanđến hoạt động gây ô nhiễm môi trường biển, hoặc từ các công ty bảo hiểm hoạtđộng trong lĩnh vực môi trường biển

Quỹ này sẽ không chỉ giúp đẩy nhanh quá trình bồi thường cho các nạnnhân mà còn giúp các tổ chức và cá nhân gây ô nhiễm sớm thực hiện nghĩa vụ tàichính đối với các thiệt hại mà họ đã gây ra Điều này cũng giúp giảm thiểu tácđộng của các sự cố ô nhiễm lớn đối với nền kinh tế và cộng đồng

3 Ứng phó kịp thời và hiệu quả với sự cố ô nhiễm

Một bài học quan trọng từ Nhật Bản là việc tăng cường khả năng ứng phókịp thời và hiệu quả với các sự cố ô nhiễm môi trường biển Nhật Bản có một hệthống cảnh báo và phản ứng nhanh chóng với các sự cố ô nhiễm biển, giúp giảmthiểu thiệt hại cho môi trường và các cộng đồng ven biển Điều này bao gồm việcphát hiện sớm các sự cố ô nhiễm, triển khai các biện pháp khắc phục nhanh chóng,

và tạo ra một mạng lưới liên kết giữa các cơ quan chức năng để phối hợp xử lý sựcố

Việt Nam cần xây dựng và củng cố một hệ thống phản ứng nhanh, bao gồmviệc thiết lập các trung tâm ứng phó khẩn cấp, các đội cứu hộ và ứng phó ô nhiễmbiển chuyên nghiệp Cơ chế này không chỉ giúp xử lý sự cố ô nhiễm nhanh chóng

mà còn tạo điều kiện cho việc bồi thường thiệt hại được tiến hành hiệu quả, giảmthiểu tác động tiêu cực đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng

Trang 37

4 Tăng cường hợp tác quốc tế

Việt Nam cần tăng cường hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các sự cố ônhiễm môi trường biển Tham gia và tuân thủ các công ước quốc tế về bảo vệ môitrường biển như UNCLOS, CLC 1992, và Fund 1992 không chỉ giúp Việt Namthực hiện nghĩa vụ quốc tế mà còn tạo cơ hội cho sự hợp tác giữa các quốc giatrong việc giải quyết các sự cố ô nhiễm biển vượt ngoài khả năng của một quốc giađơn lẻ

Việt Nam có thể học hỏi các mô hình hợp tác quốc tế trong việc chia sẻthông tin, công nghệ và nguồn lực để đối phó với các sự cố ô nhiễm Việc thiết lậpcác cơ chế hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực hỗ trợ tài chính và kỹ thuật,

sẽ giúp Việt Nam ứng phó tốt hơn với các sự cố ô nhiễm có tính chất xuyên quốcgia hoặc liên quan đến các hoạt động của các công ty quốc tế

Thông qua việc áp dụng các bài học này từ các quốc gia như Nhật Bản, Na

Uy, và Hàn Quốc, Việt Nam có thể xây dựng một hệ thống pháp lý mạnh mẽ, đồng

bộ, và có khả năng ứng phó nhanh chóng và hiệu quả đối với các sự cố ô nhiễmmôi trường biển Việc này không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên biển mà còn đảm bảocông bằng xã hội và bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Trang 38

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI

THƯỜNG DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN

2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển

2.1.1 Cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển

Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có một số văn bản pháp lý điềuchỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường biển.Tuy nhiên, các quy định này vẫn mang tính rải rác, thiếu sự thống nhất và liên kếtchặt chẽ, gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020

Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật môitrường hiện hành, quy định nền tảng về các nguyên tắc bảo vệ môi trường, nghĩa

vụ của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, và quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Điều

162 của Luật nêu rõ: “Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, gây sự cố môi

trường có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và chi trả chi phí khắc phục ô nhiễm,

sự cố môi trường” (Quốc hội, 2020).

Tuy nhiên, Luật chỉ quy định nguyên tắc chung, chưa cụ thể hóa trình tự,thủ tục bồi thường, phương pháp xác định mức độ thiệt hại, hoặc trách nhiệm liênđới giữa các chủ thể trong trường hợp ô nhiễm đa nguồn

Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng tại Điều 584 và Điều 601 Cụ thể, Điều 584 quy định: “Người nào do lỗi của

mình gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường”; còn Điều 601 đề cập đến

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Tuy nhiên, các điều khoản này mang tính bao quát, không được thiết kếchuyên biệt cho các vụ việc liên quan đến ô nhiễm môi trường biển – một loại thiệt

Trang 39

hại mang tính phức tạp, diện rộng, khó xác định cụ thể người bị hại và mức thiệthại.

Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015

Luật này có vai trò xác lập quyền quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyênbiển, trong đó nhấn mạnh đến trách nhiệm của các chủ thể trong việc phòng ngừa,ứng phó và khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường biển (Điều 65) Tuy nhiên, luậtkhông có chương mục riêng quy định rõ về cơ chế bồi thường thiệt hại, dẫn đếnkhoảng trống pháp lý khi áp dụng trong thực tế

Luật Tài nguyên nước năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2023)

Dù không trực tiếp điều chỉnh ô nhiễm môi trường biển, nhưng Luật Tàinguyên nước lại có liên quan mật thiết, nhất là trong các trường hợp ô nhiễm bắtnguồn từ nguồn thải ra sông, hồ đổ ra biển Luật quy định nguyên tắc bảo vệ chấtlượng nguồn nước, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước và xảthải (Điều 6, Điều 30) Tuy nhiên, khía cạnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫncòn chưa rõ ràng và chưa liên kết chặt chẽ với các luật chuyên ngành khác

Các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan

Ngoài các luật nêu trên, một số nghị định và thông tư như Nghị định số45/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường,Thông tư 02/2022/TT-BTNMT về đánh giá thiệt hại môi trường cũng có đề cậpđến trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại môi trường Tuy nhiên, các vănbản này thường chỉ quy định ở mức nguyên tắc, chưa đủ tính hướng dẫn cụ thể để

cơ quan nhà nước và người dân có thể áp dụng hiệu quả

2.1.2 Các quy định pháp luật về Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường

Chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định pháp luật

Pháp luật Việt Nam hiện hành, tiêu biểu là Luật Bảo vệ môi trường năm

2020 tại khoản 1 Điều 162, đã xác định rõ rằng các chủ thể có quyền yêu cầu bồithường thiệt hại do ô nhiễm môi trường bao gồm cá nhân, tổ chức và cộng đồngdân cư Quy định này thể hiện quan điểm tiến bộ khi mở rộng phạm vi chủ thểkhông chỉ gói gọn trong những người trực tiếp bị tổn thất về tài sản hay sức khỏe,

Ngày đăng: 02/05/2025, 21:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phạm Tiến Tỉnh, Lê Hồng Bang, Hoàng Văn Oanh, Lý thuyết thiết kế tàu thủy, NXB Giao thông vận tải, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết thiết kế tàu thủy
Tác giả: Phạm Tiến Tỉnh, Lê Hồng Bang, Hoàng Văn Oanh
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2010
[2]. Nguyễn Văn Hòa, Pháp luật về bảo vệ môi trường biển, NXB Chính trị quốc gia, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo vệ môi trường biển
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2017
[4]. Đặng Thị Lan, Pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Tác giả: Đặng Thị Lan
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2019
[5]. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo tổng kết tình hình ô nhiễm môi trường biển năm 2020, Hà Nội, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình ô nhiễm môi trường biển năm 2020
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2021
[7]. Nguyễn Minh Tuấn, Tổ chức và hoạt động quản lý môi trường biển tại Việt Nam, NXB Pháp lý, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động quản lý môi trường biển tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn
Nhà XB: NXB Pháp lý
Năm: 2015
[8]. Võ Thị Thanh Thảo, Pháp luật về bảo vệ quyền lợi cộng đồng trong bồi thường thiệt hại môi trường, NXB Hồng Đức, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi cộng đồng trong bồi thường thiệt hại môi trường
Tác giả: Võ Thị Thanh Thảo
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2021
[3]. Trần Minh Hoàng, Ô nhiễm môi trường biển và các giải pháp xử lý, Tạp chí Môi trường, Tập 5, Trang 35-40, 2018 Khác
[6]. Lê Thị Mai, Pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, Tạp chí Luật học, Tập 3, Trang 22-28, 2019 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. 2: Vụ tràn dầu tàu Anh tại Vũng Tàu - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Ô nhiễm môi trường biển – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật việt nam
Hình 2. 2: Vụ tràn dầu tàu Anh tại Vũng Tàu (Trang 55)
Hình 2. 3: Vụ việc Formosa – Hà Tĩnh Tóm tắt vụ việc: Vào tháng 4 năm 2016, Công ty Formosa Hà Tĩnh đã xả - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Ô nhiễm môi trường biển – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật việt nam
Hình 2. 3: Vụ việc Formosa – Hà Tĩnh Tóm tắt vụ việc: Vào tháng 4 năm 2016, Công ty Formosa Hà Tĩnh đã xả (Trang 57)
Hình 2. 4: Vụ chìm tàu nước ngoài tại cảng Cái Mép - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Ô nhiễm môi trường biển – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật việt nam
Hình 2. 4: Vụ chìm tàu nước ngoài tại cảng Cái Mép (Trang 59)
Hình 2.5: Tình trạng xả thải không phép tại một số khu công nghiệp - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Ô nhiễm môi trường biển – thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật việt nam
Hình 2.5 Tình trạng xả thải không phép tại một số khu công nghiệp (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w