1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận - VẬN TẢI VÀ BẢO HIỂM TRONG NGOẠI THƯƠNG - đề tài - Nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành Logistics Việt Nam

23 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành Logistics Việt Nam
Trường học Đại học Ngoại Thương
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 572,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liên Hợp Quốc Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản lý logistics, Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002: Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệ

Trang 1

ngành Logistics Việt NamCùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sảnxuất ra ngày càng nhiều Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống nhưchất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnhtranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyênnhiên vật liệu và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất củadoanh nghiệp Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơntrong lĩnh vực kinh doanh Hệ thống Logistics góp phần vào việc phân bố các ngành sảnxuất một cách hợp lý để đảm bảo sự cân đối và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốcdân Việc ứng dụng hệ thống Logistics là một bước phát triển cao hơn của công nghệ vậntải.

Xuất phát từ vai trò ngày càng quan trọng của ngàng Logistics, Nhóm nghiên cứu

quyết định lựa chọn chủ đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành Logistics Việt Nam”.Bài thảo luận của Nhóm gồm 2 phần chính

- Phần I : Tổng quan về Logistics

- Phần II : Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngànhLogistics Việt Nam

Trang 2

Phụ lục :

I Tổng quan về Logistics 3

1 Khái niệm về Logistics 3

2 Phân loại Logistics 5

3 Phân loại Logistics 6

II Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành Logistics việt Nam 8

1 Thực tế phát triển ngành Logistics ở Việt Nam 8

1.1 Điều kiện thuận lợi 9

1.2 Thực trạng về năng lực cạnh tranh ngành Logistic 11

2 Giải pháp giải quyết những nguyên nhân nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Logistics 15

3 Mục tiêu của ngành Logistics ở việt Nam tới năm 2020 19

Trang 3

I Tổng quan về Logistics

1 Khái niệm về Logistics

Thuật ngữ “Logistics” được bắt nguồn từ cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế HyLạp và La Mã Khi đó, những chiến binh có chức danh “Logistikas” được giao nhiệm vụchu cấp và phân phối vũ khí và nhu yếu phẩm, đảm bảo điều kiện cho quân sỹ hành quân

an toàn từ bản doanh đến một vị trí khác Công việc “hậu cần” này có ý nghĩa sống còntới cục diện của chiến tranh, khi các bên tìm mọi cách bảo vệ nguồn cung ứng của mình

và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương Quá trình tác nghiệp đó dần hìnhthành một hệ thống mà sau này gọi là quản lý logistics

Theo dòng lịch sử, Logistic được nghiên cứu và áp dụng sang lĩnh vực kinh doanh.Dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ “logistics” thường được hiểu là hoạt động quản lýchuỗi cung ứng (supply chain management) hay quản lý hệ thống phân phối vật chất(physical distribution management) của doanh nghiệp đó Có rất nhiều khái niệm khácnhau về logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đíchnghiên cứu về dịch vụ logistics, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau:

1 Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản lý logistics,

Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002): Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu

chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêudùng theo yêu cầu của khách hàng

2 Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương

án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả vềchi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm,cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tayngười tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng

3 Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá trình liên kế hoạch, thực

hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vậtliệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ,nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng

Trang 4

4 Trong lĩnh vực quân sự, logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch và

tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các mặt trong chiến dịch quân sự liênquan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắpđặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị

5 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần

đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa Luật quy định “Dịch vụlogistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiềucông đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các

thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hạng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù

lao”

- Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics có thểchia làm hai nhóm:

+ Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005 có

nghĩa hẹp, coi logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa Tuy nhiêncũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in

nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa” Khái niệm logistics trong

một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trongphạm vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự) Theotrường phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá

trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ Theo họ, dịch vụ logistics

mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có

nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO)

+ Nhóm định nghĩa thứ 2 về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai

đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng Theo

nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệulàm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông,phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Nhóm định nghĩa này của dịch vụlogistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch

Trang 5

vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản

lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logisitcs chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộcác khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng.Như vậy, nhà chung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn,nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất Đây

là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao

Ví dụ, khi một nhà cung cấp dịch vụ logistics cho một nhà sản xuất thép, anh ta sẽ

chịu trách nhiệm cân đối sản lượng của nhà máy và lượng hàng tồn kho để nhập phôithép, tư vấn cho doanh nghiệp về chu trình sản xuất, kỹ năng quản lý và lập các kênhphân phối, các chương trình makerting, xúc tiến bán hàng để đưa sản phẩm đến với ngườitiêu dùng

2 Phân loại Logistics

Theo phạm vi và mức độ quan trọng:

+ Logistics kinh doanh (Business logistics) là một phần của quá trình chuỗi cung ứng,

nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách có hiệu quả và hiệu lực các dòng vậnđộng và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đếnđiểm tiêu dùng nhằm thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng

+ Logistics quân đội (Military logistics) là việc thiết kế và phối hợp các phương diện hỗ

trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội Đảm bảo sựsẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này

+ Logistics sự kiện (Event logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kĩ

thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồnlực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp

+ Dịch vụ logistics (service logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình,

và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất, tài sản, con người và vật liệu nhằm hỗ trợ vàduy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh khác

Theo vị trí của các bên tham gia:

Trang 6

+ Logistics bên thứ nhất (1PL) là hoạt động logistics do người chủ sở hữu sản phẩm/

hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện để đáp ứng nhu cầu của bản thân doanh nghiệp

+ Logistics bên thứ hai (2PL) chỉ hoạt động logistics do người cung cấp dịch vụ logistics

cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng

+ Logistics bên thứ ba (3PL) là người thay mặt chủ hàng tổ chức hiện và quản lý các

dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng

+ Logistics bên thứ tư (4PL) là hình thức mà mọi hoạt động logistics được thực hiện bởi

các nhà cung ứng logistics thứ 3, và các tổ chức này bị kiểm soát bởi nhà cung ứng thứ

4, có quyển như một tổng giám sát

Theo quá trình nghiệp vụ:

+ Quá trình mua hàng (Procurement logistics) là hoạt động liên quan đến việc tạo ra các

sản phẩm và nguyên vật liệu từ nhà cung cấp bên ngoài

+ Quá trình hỗ trợ sản xuất (Manufacturing support) tập trung vào hoạt động quản trị

dòng dự trữ một cách hiệu quả giữa các bước trong quá trình sản xuất

+ Quá trình phân phối đến thị trường (Logistics distribution) liên quan đến việc cung

cấp các dịch vụ khách hàng, hỗ trợ tạo doanh thu

Theo hướng vận động vật chất:

+ Logistics đầu vào (Inbound logistics) là toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng nguyên liệu

đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp tới công ty

+ Logistics đầu ra (Outbound logistics) là toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng sản phẩm

đầu ra cho tới tay khách hàng của công ty

+ Logistics ngược (Logistics reverse) bao gồm các dòng sản phẩm, hàng hóa hư hỏng,

kém chất lượng, dòng chu chuyển ngược của bao bì đi ngược chiều trong kênhlogistics

Theo đối tượng sản phẩm:

Trang 7

+ Các hoạt động logistics cụ thể gắn liền với đặc trưng vật chất của các loại sản phẩm.Các sản phẩm có tính chất, đặc điểm khác nhau đòi hỏi các hoạt động logistics khônggiống nhau.

- Hệ thống Logistics góp phần vào việc giải quyết những vấn đề nảy sinh từ sự phân công lao động quốc tế, do quá trình toàn cầu hoá tạo ra.Các công ty xuyên quốc gia

có các chi nhánh, các cơ sở sản xuất, cung ứng và dịch vụ đặt ở nhiều nơi, ở nhiềuquốc gia khác nhau, do đó các công ty này đã áp dụng “hệ thống Logistics toàn cầu”

để đảm bảo hoạt động SXKD đạt hiệu quả cao, khắc phục ảnh hưởng của các yếu tố

cự ly, thời gian và chi phí sản xuất

- Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế.

+ Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửathị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được coi như là công cụ,

Trang 8

phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược DN Logistics tạo ra sựhữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của DN.

+ Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sảnxuất kinh doanh từ khâu đầu vào như nguyên vật liệu, phụ kiện,… tới sản phẩm cuốicùng đến tay khách hàng sử dụng

- Logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh.Trong quá trình sản xuất kinh doanh, logistics giúp nhà quản lý kiểm soát và

ra quyết định chính xác về giải quyết các vấn đề như nguồn nguyên liệu cung ứng, sốlượng và thời điểm hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hànhtrình vận tải, địa điểm, kho bãi chứa thành phẩm, bán thành phẩm…

- Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện, … tới sản phẩm cuối

cùng đến tay khách hàng sử dụng Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, liên tiếp các cuộckhủng hoảng năng lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt

là chi phí vận chuyển Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng cũng cao khiến cácdoanh nghiệp có nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì quánhiều hàng tồn kho Chính trong giai đoạn này, cách thức tối ưu hóa quá trình sảnxuất, lưu kho, vận chuyển hàng hóa được đặt lên hàng đầu Và với sự trợ giúp củacông nghệ thông tin, logistics chính là một công cụ đắc lực để thực hiện điều này

II Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành

Logistics việt Nam

1 Thực tế phát triển ngành Logistics ở Việt Nam

 Những mặt đã đạt được

Logistics có đóng góp quan trọng vào quá trình phân phối hàng hoá từ nơi sản xuấtđến người tiêu dùng và là cầu nối thương mại toàn cầu Hoạt động logistics ngày naykhông chỉ gắn liền với hoạt động kho vận, giao nhận vận tải, mà còn lên kế hoạch, sắpxếp dòng chảy nguyên, vật liệu từ nhà cung ứng đến nhà sản xuất, sau đó luân chuyển

Trang 9

hàng hóa từ khâu sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, tạo nên sự liên thông trong toàn

xã hội theo những phương án tối ưu hóa, giảm chi phí luân chuyển và lưu kho

Tại "Diễn đàn Logistics Việt Nam lần thứ nhất” năm 2013 do Bộ Công Thương phối

hợp với Bộ Giao thông vận tải tổ chức vào ngày 15/11/2013, ông Đỗ Xuân Quang, Chủtịch Hiệp hội Các doanh nghiệp (DN) dịch vụ logistics Việt Nam cho biết, hiện nay trên

cả nước có hơn 1.200 DN logistics, tăng 20% so với năm 2010, tương đương với cácnước Thái Lan, Singapore và Indonesia Trong số các công ty nội địa có khoảng 800 công

ty đang hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải và 70% là DN tư nhân

Ngoài ra, các DN logistics nội địa đã tiến hành đầu tư chiều sâu, triển khai các dịch

vụ logistics trọn gói 3PL (intergrated logistics), tham gia hầu hết vào các công đoạnlogistics trong chuỗi cung ứng của chủ hàng Từ đó, tạo ra nhiều giá trị gia tăng chongành dịch vụ và xác lập được uy tín của các đối tác, khách hàng trong và ngoài nước

Năm 2012, theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Chỉ số năng lực logistics

quốc gia (LPI) của Việt Nam đứng thứ 53 trên 155 nước khảo sát và đứng thứ 5 khu vựcASEAN Đây thực sự là thành tích đáng tự hào của ngành dịch vụ này của Việt Nam Sở

dĩ có được những kết quả như trên là bởi, ngành logistics của nước ta có nhiều tiềm năng

và thế mạnh

Theo ông Lê Xuân Sang, Phó Ban Chính sách kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu

Quản lý Kinh tế Trung ương, ngành logistics Việt Nam có rất nhiều lợi thế về địa lý và

điều kiện tự nhiên Với 3.260 km đường bờ biển, 4.639 km đường biên giới nằm trongvùng chiến lược của Đông Nam Á sẽ là những lợi thế tự nhiên dành cho cho các DNlogistics Việt Nam Đặc biệt, Việt Nam có nhiều cảng nước sâu, 6 trung tâm logistics tại 3miền của đất nước, như: Cái Lân - VOSA (Quảng Ninh), Đình Vũ (Hải Phòng), Cát Lái(TP Hồ Chí Minh), Cái Mép - Thị Vải (Vũng Tàu), Trung tâm Tiếp vận Gemadept SóngThần, Trung tâm Kho vận đa năng DAMCO (Bình Dương)

Bên cạnh đó, logistics của Việt Nam đang trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển,chính vì vậy, đây cũng là điều kiện thuận lợi để các DN logistics Việt Nam thực hiệnngay từ đầu việc áp dụng các công nghệ mới, các quy trình tiên tiến trên thế giới

Trang 10

Năm 2013, có tới 90% hàng xuất - nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng

đường biển với khoảng 500-600 triệu tấn/năm và dự kiến sẽ đạt 1.100 triệu tấn vào năm

2020 Bên cạnh đó, lượng hàng container qua cảng biển Việt Nam đạt từ 4,2 - 5 triệu TEU(khoảng 39 m³ thể tích), dự kiến đến năm 2020 con số này lên đến 7,7 triệu TEU

- DN logistics còn yếu kém thiếu sự chuyên nghiệp, năng lực tài chính còn thấp ( 80%

DN có vốn điều lệ từ 1,5 – 2 tỷ.trung bình vốn doanh nghiệp khoảng 4 tỷ)

- Năng lực cạnh tranh của DN logistics trong nước còn yếu kém

Tuy nhiên so với tiềm năng thế mạnh thì thì sự phát triển và năng lực cạnh tranhcủa ngành còn rất yếu

1.1 Điều kiện thuận lợi

Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội để phát triển và bắt kịp với trình độ phát triểnchung trên toàn thế giới Với một ngành nghề được đánh giá là gắn liền với sự phát triểncủa mỗi quốc gia như Logistics thì đây là thời điểm quan trọng để xây dựng nền tảng vàtạo bước đột phá

Điều kiện tự nhiên:

- Việt Nam được đánh giá là quốc guuia có điều kiện tư nhiên và vị trí địa lý vôcùng thuận lợi để phát triển ngành logistics với trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200

km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển, 20 sân bay và hàng trăm cửa khẩuquốc tế, quốc gia lớn nhỏ nằm dọc theo chiều dài đất nước

- Hoạt động xuất nhập khẩu trong nước diễn ra khá sôi động, tốc độ phát triển ngànhxuất nhập khẩu rất lớn, số lượng doanh nghiệp xuất nhập khẩu rất nhiều

Điều kiện nhân tạo:

- Đầu tháng 1/2010, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch chi tiết đường bộ cao tốcBắc Nam phía đông, nối từ Hà Nội đến Cần Thơ (khoảng 1.811 km) để nâng cao năng lựcvận tải Bắc-Nam, bổ sung cho tuyến quốc lộ 1A và 1B hiện tại Theo lộ trình cam kếtWTO về mở cửa thị trường logistics, Việt Nam sẽ dần mở rộng cửa để các doanh nghiệp

Trang 11

quốc tế tham gia, gồm: dịch vụ xếp dỡ container, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho bãi,dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa, các dịch vụ thực hiện thay cho chủ hàng…

- Đến 11/1/2014, Việt Nam chính thức cho phép doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài hoạt động trong lĩnh vực logistics tham gia thị trường Việt Nam Hiện nay, ngàycàng nhiều doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực đã có mặt tại thị trường trong nước và đangđầu tư, mở rộng hoạt động (như Schenker liên doanh với Gemadept, Lotte Sea, liên doanhYCH-Protrade DistriPark có mặt tại thị trường Việt Nam từ 2009, gia nhập sân chơi củacác nhà cung cấp tên tuổi như Mearsk, APL, Diethelm, Mappletree…) Đến năm 2015,Việt Nam sẽ nâng gấp đôi năng lực xếp dỡ hàng hóa so với hiện tại (khoảng 250 triệutấn/năm) (theo quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam ngày24/12/2009)

- Thời gian gần đây Việt Nam đang nỗ lực phát triển dich vụ logistics theo hướng3PL và bước đầu đã gặt hái được những thành công rất đáng khích lệ Những người làmdịch vụ 3PL trong nước am hiểu từng con đường, từng cây cầu, từng điều khoản luật lệ tạiViệt Nam, và đã thành công như Vietranstimex, Vinatrans, Sotrans, Vietfracht,Gemadept, Tranaco… Đặc biệt mới đây (1/2010) Công ty SplendID Technology đã đưacông nghệ quản lý tiên tiến RFID (Radio Frequency identification) vào Việt Nam, chínhthức đưa Việt Nam vào danh sách các nước đang triển khai công nghệ RFID Tương tự,Công ty Tân cảng Sài Gòn cũng đã áp dụng hệ thống phần mềm quản lý container tạicảng Cát Lái làm giảm được nhiều thời gian chờ đợi, lấy hàng khỏi cảng, góp phần vàoviệc giải tỏa tắc nghẽn tại cảng này

Những động thái tích cực này đang mở ra một bức tranh tươi sáng, tràn đầy hy vọng chongành logistics nước nhà trong thời gian tới Đồng thời cho ta niềm tin về một tương laikhông xa, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia hàng đầu về phát triển logistics, qua đó sẽ gópphần nâng cao vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế

1.2 Thực trạng về năng lực cạnh tranh ngành Logistic

Với những điều kiện thuận lợi kể trên, song thực tế năng lực cạnh tranh của ngànhLogistics của nước ta còn rất hạn chế

Ngày đăng: 29/03/2025, 04:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w