1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022

106 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Tác giả Nguyễn Thị Minh Trang
Người hướng dẫn ThS. Đào Mỹ Hằng
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Ngân hàng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (12)
  • 2. Tổng quan nghiên cứu (14)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (17)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (18)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (18)
  • 6. Kết cấu nghiên cứu (18)
  • CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG, XÃ HỘI, QUẢN TRỊ (ESG) ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (19)
    • 1.1. Tổng quan về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) và công bố thông tin ESG (19)
      • 1.1.1 Khái niệm về ESG và công bố thông tin ESG (19)
      • 1.1.2. Đo lường công bố thông tin ESG (28)
      • 1.1.3. Lợi ích khi công bố thông tin ESG đối với các NHTM (29)
    • 1.2. Tổng quan về khả năng sinh lời của các NHTM (30)
      • 1.2.1. Khái niệm về khả năng sinh lời của các NHTM (30)
      • 1.2.2. Các chỉ số đánh giá và cách thức đo lường khả năng sinh lời của các NHTM (31)
      • 1.3.1. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) (33)
      • 1.3.2. Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy Theory) (35)
      • 1.3.3. Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) (37)
  • CHƯƠNG II: CƠ SỞ DỮ LIỆU & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (41)
    • 2.1. Cơ sở dữ liệu (41)
    • 2.2. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu (41)
    • 2.3. Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu (42)
      • 2.3.1. Biến phụ thuộc (42)
      • 2.3.2. Biến độc lập (43)
      • 2.3.3. Biến kiểm soát (55)
    • 2.4. Thiết lập mô hình nghiên cứu (56)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (57)
  • CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (60)
    • 3.1. Thống kê mô tả (60)
    • 3.2. Phân tích tương quan giữa các biến (60)
    • 3.3. Phân tích kết quả hồi quy (61)
    • 3.4. Kiểm định đa cộng tuyến VIF (62)
    • 3.5. Kiểm định mô hình phù hợp (63)
    • 3.6. Kiểm định khuyết tật mô hình (63)
    • 3.7. Kết quả hồi quy FGLS (64)
  • CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG, KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN (67)
    • 4.1.1. Tổng quát thực trạng công bố thông tin ESG (67)
    • 4.1.2. Thực trạng công bố thông tin các chủ đề ESG cụ thể (69)
    • 4.2. Kiến nghị (75)
      • 4.2.1. Đối với Chính phủ (75)
      • 4.3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước (76)
      • 4.3.3. Đối với các Ngân hàng Thương mại (78)
    • 4.3. Những đóng góp mới của bài nghiên cứu (85)
      • 4.3.1. Đóng góp về mặt khoa học (85)
      • 4.3.2. Đóng góp về mặt thực tiễn (85)
    • 4.4. Hạn chế nghiên cứu (86)
    • 4.5. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo (86)
  • KẾT LUẬN (40)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (90)
  • PHỤ LỤC (100)

Nội dung

Do vậy, nhằm mở rộng nghiên cứu liên quan đến ESG và làm rõ tác động của việc công bố thông tin ESG đến ngành ngân hàng, tác giả chọn đề tài “Tác động của công bố thông tin môi trường, x

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) đã trở thành yếu tố quyết định trong việc định hình mô hình kinh doanh tương lai, buộc các doanh nghiệp phải chuyển đổi mạnh mẽ ESG cung cấp khuôn khổ đánh giá tác động của doanh nghiệp lên môi trường và xã hội, đồng thời thẩm định chất lượng quản trị Nhu cầu về thông tin ESG ngày càng gia tăng, giúp các bên liên quan đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra quyết định Việc áp dụng và báo cáo ESG không chỉ tạo lợi thế cạnh tranh mà còn nâng cao vị thế trên thị trường, thúc đẩy đổi mới và cải tiến liên tục, đáp ứng kỳ vọng cao của khách hàng và các bên liên quan về trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường.

Trong ngành Ngân hàng, việc thực hành ESG và tích hợp ba yếu tố vào chiến lược tổng quát sẽ giúp ngân hàng nâng cao tính khả thi và sinh lời dài hạn Nghiên cứu của Kulal và cộng sự (2023) cùng Shen và cộng sự (2016) cho thấy việc công bố thông tin về hoạt động xã hội có tác động tích cực đến hiệu suất tài chính Mishra và cộng sự (2023) nhấn mạnh rằng công bố thông tin môi trường không chỉ cải thiện danh tiếng mà còn tạo lợi thế cạnh tranh Gangi và cộng sự (2018) chứng minh rằng các ngân hàng thực hiện chính sách thân thiện với môi trường có thể giảm thiểu rủi ro về danh tiếng Nghiên cứu của Esteban-Sanchez và cộng sự (2017) cho thấy mối quan hệ tốt với cộng đồng được đánh giá tích cực bởi nhà đầu tư, từ đó khuyến nghị ngân hàng tích hợp các vấn đề xã hội vào cơ chế quản trị Tóm lại, thực hành và công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị đang trở thành xu hướng quan trọng trong ngành ngân hàng.

2 tất yếu trong ngành ngân hàng, đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương lai bền vững cho các tổ chức tài chính

Trong những năm gần đây, ESG đã trở thành xu thế quan trọng trong ngành Ngân hàng tại Việt Nam, với nhiều Quyết định và Chỉ thị từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nhằm thúc đẩy áp dụng các tiêu chí này Ngành Ngân hàng, với vai trò huyết mạch của hệ thống tài chính, có khả năng tác động lớn đến môi trường và xã hội thông qua các dịch vụ tài chính Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, với thiệt hại ước tính lên đến 523 tỉ USD vào năm 2050 Do đó, việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn ESG trở nên cấp thiết để các ngân hàng có thể truyền tải mục tiêu bền vững đến khách hàng, củng cố niềm tin và danh tiếng, cũng như đạt được lợi nhuận Các ngân hàng có thể nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ thông qua các khoản vay bền vững, và việc công bố thông tin ESG sẽ nâng cao năng lực quản trị và giá trị thương hiệu Tuy nhiên, việc triển khai ESG vẫn đang ở giai đoạn đầu và gặp nhiều thách thức như thiếu hụt nguồn lực và công cụ đo lường hiệu quả Điều này đặt ra câu hỏi về mức độ quan tâm và thực hành ESG của các ngân hàng Việt Nam, cũng như lợi ích thực tế mà việc công bố thông tin ESG mang lại.

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến các vấn đề môi trường, xã hội và quản trị Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc đánh giá hoạt động ESG tại các doanh nghiệp mà chưa chú trọng phân tích sâu hơn về các đối tượng liên quan.

Nghiên cứu hiện tại tập trung vào tác động của việc công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2018-2022 Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các ngân hàng cụ thể hoặc phân tích tác động của trách nhiệm xã hội, do đó, nghiên cứu này nhằm mở rộng hiểu biết về ESG và ảnh hưởng của nó đến ngành ngân hàng.

Tổng quan nghiên cứu

Trong thời đại thông tin, việc công bố dữ liệu trên báo cáo ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư, khách hàng và các bên liên quan Nhiều cuộc tranh luận đã diễn ra xung quanh tác động của việc công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị đối với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện với các bối cảnh, phạm vi và phương pháp khác nhau để làm rõ vấn đề này.

2.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Yuen và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng hoạt động môi trường, xã hội và quản trị (ESG) có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của 487 ngân hàng toàn cầu trong giai đoạn 2006-2021 Dữ liệu được thu thập từ cơ sở dữ liệu Thomson Reuter Eikon và phân tích bằng phương pháp hồi quy GMM cho thấy việc áp dụng tiêu chuẩn ESG có thể làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng, dẫn đến giảm lợi nhuận, thể hiện qua các chỉ số ROA và ROE.

Trong nghiên cứu của Abdulla Al-Jalahma và cộng sự (2020), 26 ngân hàng niêm yết tại các nước GCC đã được khảo sát trong giai đoạn 2016-2019 Nghiên cứu này đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), đồng thời xem xét các biến kiểm soát như SIZE, FINLEV, GDP và GROWTH Kết quả thực nghiệm cho thấy

4 thấy ESG có tác động tiêu cực đến ROE và không có ý nghĩa thống kê trong mô hình ROA

Amina Buallay (2019) đã tiến hành nghiên cứu trên 235 ngân hàng Châu Âu trong giai đoạn 2007 đến 2016, sử dụng chỉ số CBTT ESG từ cơ sở dữ liệu Bloomberg Nghiên cứu áp dụng hai loại biến kiểm soát: biến vĩ mô (GDP, GOV) và biến đặc thù ngành ngân hàng (FLEV, TA) Kết quả cho thấy việc công bố thông tin về ESG của ngân hàng có tác động tích cực đến chỉ số ROA và ROE.

Nghiên cứu của Imad Mohamed Feneir (2023) về tác động của công bố thông tin môi trường và xã hội đến khả năng sinh lời của 12 ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy không có mối tương quan giữa các biến độc lập (SOD và END) và các biến phụ thuộc (ROA, ROE) Nghiên cứu sử dụng SIZE, LEV và AGE làm biến kiểm soát trong mô hình phân tích Việc đo lường biến công bố thông tin được thực hiện thông qua phân tích nội dung trong báo cáo thường niên và báo cáo phát triển bền vững theo tiêu chuẩn GRI.

Nghiên cứu của Marina Brogi và cộng sự (2019) đã phân tích mối quan hệ giữa việc công bố thông tin ESG và lợi nhuận của các công ty, được đo bằng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Nhóm tác giả đã phát triển chỉ số ESG cho một mẫu lớn các công ty niêm yết tại Mỹ, dựa trên dữ liệu MSCI ESG KLD STATS từ năm.

Nghiên cứu từ năm 2000 đến 2016 với 17.358 quan sát đã phân chia mẫu thành ba nhóm: doanh nghiệp ngành công nghiệp, ngân hàng và công ty bảo hiểm Kết quả cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa hoạt động ESG và ROA, đặc biệt mối quan hệ này mạnh hơn ở nhóm ngân hàng so với nhóm doanh nghiệp ngành công nghiệp.

2.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để phân tích ảnh hưởng của thực hành và công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến các ngân hàng Trong nghiên cứu của Bui Thi Thu Loan và cộng sự (2024), nhóm tác giả đã áp dụng phương pháp GLS và phân tích nội dung từ báo cáo của 24 ngân hàng thương mại, tập trung vào 12 chủ đề liên quan đến ESG theo Hướng dẫn Tài chính.

Công bằng quốc tế (Fair Finance Guide International) chỉ ra rằng việc công bố thông tin về ESG có tác động tích cực đến hiệu suất tài chính của ngân hàng Đặc biệt, các báo cáo riêng lẻ về môi trường (E) và quản trị (G) cũng góp phần nâng cao hiệu quả tài chính.

Nghiên cứu của Thich Van Nguyen và cộng sự (2022) dựa trên 29 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2019 đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa trách nhiệm xã hội (CSR) và hiệu quả tài chính Nhóm tác giả đã phát triển 30 chỉ mục để đo lường mức độ công bố thông tin CSR, bao gồm trách nhiệm môi trường, trách nhiệm đối với người lao động và trách nhiệm cộng đồng, với điểm số 1 cho việc công bố thông tin và 0 cho việc không công bố Kết quả nghiên cứu cho thấy CSR có ảnh hưởng tích cực đến các chỉ số tài chính như ROA, ROE và NIM của các ngân hàng.

Nghiên cứu của Nguyễn Bích Ngọc (2018) đã khảo sát mối quan hệ giữa việc tiết lộ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và hiệu quả tài chính của các ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2016 Nghiên cứu sử dụng phân tích nội dung 179 báo cáo thường niên của ngân hàng để thu thập dữ liệu về CSR, gán điểm cho thông tin được và không được đề cập Biến ROA được sử dụng để đo lường hiệu quả tài chính, cùng với các biến kiểm soát như LTA, EA, LA và NEA Kết quả phân tích dữ liệu bằng phương pháp ước OLS cho thấy mối quan hệ tiêu cực đáng kể giữa việc tiết lộ CSR và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

Nghiên cứu của Phạm Thu Trang và cộng sự (2022) đã phân tích ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội đến lợi nhuận của 18 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2017-2022 Kết quả cho thấy rằng việc thực hiện trách nhiệm xã hội không chỉ nâng cao hình ảnh thương hiệu mà còn góp phần tăng cường lợi nhuận cho các ngân hàng này.

Năm 2021, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích nội dung báo cáo thường niên để đo lường mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội (CBTT), sử dụng thang điểm từ 1-4 Cụ thể, 4 điểm được gán cho thông tin trình bày trong một chương riêng, 3 điểm cho thông tin trong một tiểu mục, 2 điểm cho thông tin nằm một phần trong tiểu mục với tiêu đề riêng, và 1 điểm cho thông tin rải rác trong các câu văn Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc thực hiện và công bố thông tin trách nhiệm xã hội có tác động tích cực đến tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) nhưng lại có tác động tiêu cực đến tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản (NIM).

Tác giả nhận thấy rằng tại Việt Nam, các nghiên cứu về tác động của công bố thông tin ESG đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại còn hạn chế so với các quốc gia khác Điều này mở ra cơ hội cho các nghiên cứu trong tương lai, nhằm đánh giá toàn diện cách mà các ngân hàng thương mại tại Việt Nam áp dụng các tiêu chí ESG trong hoạt động kinh doanh và ảnh hưởng tích cực của những nỗ lực này đến kết quả tài chính Do đó, tác giả quyết định tiến hành nghiên cứu tập trung vào ngành ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2018.

Năm 2022 đánh dấu giai đoạn quan trọng khi cung cấp nhiều dữ liệu hơn về hoạt động ESG của các ngân hàng, giúp nâng cao khả năng đánh giá toàn diện và chính xác hơn về hiệu suất bền vững của họ.

Bảng tổng hợp các nghiên cứu được tác giả trình bày trong Phụ lục 2

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tác động của việc công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2018 cho thấy rằng các ngân hàng chú trọng đến các yếu tố ESG không chỉ nâng cao uy tín mà còn cải thiện hiệu quả tài chính Việc tích cực thực hiện các chính sách ESG giúp các ngân hàng thu hút khách hàng và nhà đầu tư, từ đó gia tăng lợi nhuận Đồng thời, sự minh bạch trong công bố thông tin ESG cũng góp phần giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự bền vững trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại.

- Tính toán và đo lường công bố thông tin ESG của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022

Xây dựng một mô hình nghiên cứu hiệu quả là cần thiết để đo lường tác động của việc công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đối với khả năng sinh lời của doanh nghiệp Mô hình này sẽ giúp phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố ESG và hiệu suất tài chính, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp trong việc ra quyết định.

- Đưa ra kết luận và đánh giá thực trạng công bố thông tin ESG của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022

- Đề xuất khuyến nghị và giải pháp nhằm cải thiện công bố thông tin ESG và cải thiện khả năng sinh lời của các ngân hàng

Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa việc công bố thông tin ESG và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Câu hỏi đặt ra là liệu có sự liên kết giữa hai yếu tố này và nếu có, thì mối quan hệ đó là tích cực hay tiêu cực.

Các ngân hàng thương mại (NHTM) cần xem xét liệu những lợi ích từ việc công bố thông tin về ESG có đủ để bù đắp cho chi phí mà họ đã đầu tư vào việc thực hiện và công bố các thông tin này hay không Việc minh bạch thông tin ESG không chỉ giúp nâng cao uy tín của ngân hàng mà còn thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư và khách hàng, từ đó tạo ra giá trị lâu dài cho ngân hàng.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích định tính được xây dựng dựa vào các nghiên cứu trước đó và bộ chỉ tiêu GRI, nhằm phát triển bộ tiêu chí đánh giá ESG cho nghiên cứu từ thông tin công bố trong báo cáo thường niên và báo cáo phát triển bền vững Tác giả đã mã hóa thông tin từ dữ liệu tính toán theo bộ tiêu chí đánh giá, đồng thời thu thập khả năng sinh lời của ngân hàng từ các trang web cung cấp dữ liệu tài chính và thị trường.

- Phương pháp định lượng: tác giả sử dụng phần mềm STATA để mô tả dữ liệu và kiểm định mô hình, từ đó đưa ra kết quả nghiên cứu.

Kết cấu nghiên cứu

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu được chia thành 4 phần chính, trong đó:

Chương I trình bày cơ sở lý thuyết về tác động của việc công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò quan trọng của ESG trong việc nâng cao uy tín và sự tin tưởng từ phía khách hàng, đồng thời cải thiện hiệu suất tài chính của ngân hàng Việc áp dụng các tiêu chuẩn ESG không chỉ giúp các ngân hàng đáp ứng yêu cầu của thị trường mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững trong ngành tài chính.

Chương II: Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương III: Kết quả nghiên cứu

Chương IV: Thực trạng, kiến nghị và kết luận

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG, XÃ HỘI, QUẢN TRỊ (ESG) ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tổng quan về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) và công bố thông tin ESG

1.1.1 Khái niệm về ESG và công bố thông tin ESG

ESG, viết tắt của Environmental (Môi trường), Social (Xã hội) và Governance (Quản trị), là ba yếu tố chính để đánh giá sự phát triển bền vững và hiệu quả hoạt động của tổ chức, đồng thời phản ánh tác động của tổ chức đối với cộng đồng và môi trường Khái niệm ESG xuất phát từ CSR (Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp) do Howard Bowen giới thiệu vào năm 1953, và được phát triển thêm bởi các nhà nghiên cứu như M Friedman và A.B Carroll Tuy nhiên, CSR thường bị coi là khái niệm trừu tượng, gây khó khăn trong việc xác định các tiêu chí cụ thể cho doanh nghiệp ESG ra đời nhằm giải quyết vấn đề này bằng cách cung cấp các chỉ số định lượng rõ ràng cho nhà đầu tư và khách hàng Ba thành tố của ESG bao gồm: (i) E – khía cạnh môi trường, liên quan đến hiệu quả năng lượng, phát thải khí nhà kính và quản lý chất thải; (ii) S – khía cạnh xã hội, bao gồm tiêu chuẩn lao động, đa dạng giới và quan hệ cộng đồng; (iii) G – khía cạnh quản trị, có ảnh hưởng lớn đến hai yếu tố còn lại.

Cấu trúc hội đồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tầm nhìn chiến lược về phát triển bền vững, đồng thời đảm bảo sự tuân thủ quy định và minh bạch trong thù lao cho ban quản lý Bên cạnh đó, việc chống tham nhũng và hối lộ cũng cần được chú trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức (SRTC, 2024).

Tích hợp ESG (Môi trường, xã hội và quản trị) được PRI định nghĩa là việc đưa các yếu tố này vào phân tích tài chính và quyết định đầu tư một cách có hệ thống Các vấn đề môi trường bao gồm phát thải khí nhà kính, ô nhiễm và năng lượng tái tạo; trong khi các vấn đề xã hội liên quan đến quyền con người, tiêu chuẩn lao động và sức khỏe tại nơi làm việc Về quản trị, các vấn đề bao gồm cấu trúc hội đồng quản trị và đạo đức kinh doanh Theo Deloitte, ESG có ba trụ cột chính: Môi trường, nơi các công ty chú trọng đến khí thải và bảo tồn đa dạng sinh học; Xã hội, phản ánh quản lý nhân sự và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng; và Quản trị, bao gồm quyền cổ đông và các chính sách chống tham nhũng.

Trong ngành ngân hàng, báo cáo ESG theo Vadali (2024) bao gồm ba nội dung chính: (i) Môi trường, phản ánh các chính sách và hoạt động liên quan đến biến đổi khí hậu, phát thải carbon, đầu tư vào năng lượng tái tạo và quản lý dấu chân carbon; (ii) Xã hội, đề cập đến tác động của ngân hàng đối với nhân viên, khách hàng và cộng đồng, bao gồm quyền con người, mức độ hài lòng của khách hàng và tài chính hòa nhập; (iii) Quản trị, liên quan đến cấu trúc và thực tiễn quản lý ngân hàng, nhấn mạnh sự đa dạng trong hội đồng quản trị.

KPMG cho rằng việc tích hợp ESG trong các ngân hàng không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn cải thiện hiệu suất kinh tế Các ngân hàng cần chú trọng đến rủi ro và cơ hội ESG trong dịch vụ tài chính, đồng thời xây dựng chiến lược phát triển bền vững và tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh Cam kết thực hiện mục tiêu không phát thải ròng và tích hợp tiêu chí ESG vào mô hình hoạt động cốt lõi là điều cần thiết Ngân hàng cũng cần nâng cao nhận thức về ESG trong tổ chức và áp dụng các tiêu chí này vào quyết định phát triển sản phẩm Đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật và báo cáo thông tin ESG minh bạch sẽ củng cố uy tín và trách nhiệm xã hội của ngân hàng, đồng thời mở ra cơ hội kinh doanh mới thông qua chính sách bền vững.

ESG là một trong những chỉ số quan trọng nhất để đánh giá hoạt động của doanh nghiệp trong phát triển bền vững, tập trung vào việc quản lý hiệu quả các yếu tố môi trường, xã hội và thực hiện quản trị doanh nghiệp đúng đắn Bài nghiên cứu này ủng hộ quan điểm về ESG của PRI và Vadila như là cơ sở lý luận chính.

1.1.1.2 Công bố thông tin ESG

Bản chất và phương thức công bố thông tin ESG

Ngày càng nhiều tổ chức quản lý trên thế giới nhận thức được tầm quan trọng của thông tin phi tài chính và chính sách ESG trong việc đánh giá sự phát triển bền vững và rủi ro tiềm ẩn của doanh nghiệp Kết quả khảo sát của KPMG cho thấy 69% CEO trong số 1.325 CEO từ 11 thị trường toàn cầu cho rằng các bên liên quan yêu cầu báo cáo và minh bạch hơn về các vấn đề bền vững, trong khi 72% tin rằng yêu cầu giám sát từ các bên liên quan đang gia tăng.

Các vấn đề về ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) đang ngày càng trở nên quan trọng, với việc công khai thông tin nhằm tăng cường tính minh bạch và tuân thủ quy định từ chính phủ và nhà đầu tư Theo PWC, việc công bố chỉ số phát triển bền vững hiện nay là yếu tố cạnh tranh then chốt giữa các doanh nghiệp, tập trung vào ba khía cạnh chính: (i) Môi trường: quản lý phát thải khí nhà kính và nước thải; (ii) Xã hội: đảm bảo đa dạng và công bằng trong quản lý lao động; (iii) Quản trị: xây dựng đạo đức kinh doanh và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Báo cáo Edelman cho thấy 88% nhà đầu tư tin rằng các công ty chú trọng đến ESG sẽ có cơ hội lợi nhuận tốt hơn trong dài hạn so với những công ty không quan tâm đến vấn đề này.

Theo Tạ Thị Thúy Hằng (2019), doanh nghiệp có nhiều phương thức công bố thông tin tới các bên liên quan, bao gồm gặp gỡ, đối thoại, và trao đổi thông tin về các dự án trách nhiệm xã hội Để thực hiện các hoạt động này, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương tiện truyền tin như cuộc họp, sự kiện công cộng, báo cáo, và trang web Trong đó, báo cáo thường niên là hình thức phổ biến và bắt buộc trong ngành ngân hàng, cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động của ngân hàng trong năm qua Hình thức này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn duy trì sự minh bạch, tuân thủ pháp luật, và cung cấp thông tin cần thiết cho cổ đông, nhà đầu tư, và các bên liên quan về tình hình tài chính, mục tiêu ESG và tiềm năng phát triển tương lai Qua báo cáo thường niên, ngân hàng thể hiện cam kết của mình đối với trách nhiệm xã hội.

Quản trị rủi ro bền vững là yếu tố then chốt trong chiến lược phát triển lâu dài, giúp tăng cường uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường tài chính.

Các chuẩn mực công bố ESG

Hiện nay, có nhiều khung khổ và tiêu chuẩn khác nhau cho việc công bố thông tin ESG, bao gồm ba khía cạnh môi trường, xã hội và quản trị, phù hợp với các mô hình kinh doanh khác nhau Các khung khổ cung cấp hướng dẫn về cách thức báo cáo ESG, trong khi các tiêu chuẩn xác định nội dung cần công bố Theo Hung Ninh (2024), các báo cáo khoa học cần sử dụng bộ dụng cụ và tiêu chuẩn phù hợp để đảm bảo tính chính xác và khả năng so sánh Mặc dù nhiều doanh nghiệp đã cố gắng đánh giá theo các tiêu chuẩn phổ biến, nhưng họ vẫn chưa hiểu rõ yêu cầu công bố và sự khác biệt giữa các bộ tiêu chuẩn Điều này dẫn đến nội dung báo cáo thiếu tính thống nhất và rõ ràng Nguyễn Thị Hòa (2024) đề xuất rằng các ngân hàng nên tham khảo các chuẩn mực công bố thông tin quốc tế như SASB, TCFD và GRI để xây dựng cơ sở dữ liệu về ESG, giúp cải thiện chất lượng báo cáo và tính minh bạch trong thông tin.

Lực lượng Đặc nhiệm về Tiết lộ Tài chính (Task Force on Climate-Related

TCFD, được thiết lập bởi "Lực lượng Đặc nhiệm về Tiết lộ Tài chính liên quan đến khí hậu", là khung ESG nhằm tăng cường quy định về yếu tố môi trường (E) trong bộ tiêu chuẩn ESG Khung báo cáo này bao gồm 4 hạng mục chính mà các tổ chức được khuyến nghị trình bày trong báo cáo của họ.

Sáng kiến TCFD, được khởi xướng bởi Ủy ban Ổn định Tài chính (FSB) vào năm 2015, nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch trong báo cáo về rủi ro và cơ hội tài chính liên quan đến biến đổi khí hậu Đến năm 2017, TCFD đã phát triển một bộ hướng dẫn chi tiết để hỗ trợ các tổ chức trong việc công bố thông tin này.

13 khuyến nghị được chia thành 4 hạng mục chính, nhằm cung cấp khung khổ cho các công ty trong việc tiết lộ tác động tài chính của biến đổi khí hậu trong báo cáo tài chính Những khuyến nghị này giúp nhà đầu tư, tổ chức cho vay và các bên liên quan khác có thể đánh giá và đưa ra quyết định thông minh hơn về rủi ro và cơ hội tài chính liên quan đến biến đổi khí hậu.

Bảng 1.1: Công bố Thông tin theo TCFD Quản trị Chiến lược Quản lý rủi ro Chỉ số và mục tiêu

Công bố thông tin quản trị của tổ chức xung quanh rủi ro và cơ hội liên quan đến khí hậu

Công bố thông tin về tác động thực tế và tiềm năng của rủi ro khí hậu là rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh Các tổ chức cần đánh giá các cơ hội và thách thức liên quan đến khí hậu để xây dựng chiến lược và kế hoạch tài chính hiệu quả Việc này không chỉ giúp tăng cường khả năng chống chịu mà còn tạo ra giá trị bền vững cho doanh nghiệp trong tương lai.

Công bố thông tin về cách tổ chức xác định, đánh giá và quản lý rủi ro liên quan đến khí hậu

Tổng quan về khả năng sinh lời của các NHTM

1.2.1 Khái niệm về khả năng sinh lời của các NHTM

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ngày càng phức tạp và biến động, ngành ngân hàng đang đối mặt với nhiều thách thức lớn Các ngân hàng cần nỗ lực không ngừng để duy trì sự ổn định và phát triển bền vững Hiệu quả hoạt động là yếu tố then chốt giúp các ngân hàng thương mại tồn tại và thích ứng với những thay đổi này.

Khả năng sinh lời là thước đo quan trọng nhất cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng, được xem xét dựa trên kết quả kinh doanh và nguồn lực sử dụng (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2017) Đây là nền tảng giúp các ngân hàng đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh Theo Yong Tan (2014), khả năng sinh lời cũng là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong môi trường cụ thể Lợi nhuận lành mạnh và bền vững đóng vai trò then chốt trong việc duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.

Khả năng sinh lời được xem là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá hiệu suất hoạt động và năng lực cạnh tranh của ngân hàng (Scott và cộng sự, 2011) Nghiên cứu của Menicucci và cộng sự (2016) chỉ ra rằng, ở cấp độ vi mô, lợi nhuận là điều kiện tiên quyết để ngân hàng có thể cạnh tranh hiệu quả Lợi nhuận không chỉ phản ánh thành quả mà ngân hàng đạt được, mà còn là yếu tố cần thiết để tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của thị trường tài chính Ở cấp độ vĩ mô, những ngân hàng có lợi nhuận cao có khả năng chịu đựng tốt hơn trước những tác động tiêu cực, đồng thời góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính Tối đa hóa lợi nhuận và khả năng sinh lời là mục tiêu hàng đầu mà các ngân hàng thương mại (NHTM) hướng tới Việc đánh giá khả năng sinh lời không chỉ giúp ngân hàng xem xét lại tình hình kinh doanh mà còn tạo điều kiện cho các nhà quản lý xây dựng những kế hoạch phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động (Đoàn Việt Hùng, 2016).

1.2.2 Các chỉ số đánh giá và cách thức đo lường khả năng sinh lời của các NHTM

Theo Boshkoska (2013), khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng được đánh giá qua các chỉ số như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và thu nhập lãi ròng cận biên (NIM), nhằm phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng một cách chính xác hơn.

Chỉ số ROA (Return on Assets)

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là chỉ số tài chính quan trọng, giúp đánh giá mối quan hệ giữa lợi nhuận ròng và tổng tài sản của ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định ROA cho biết hiệu quả sử dụng tài sản, cụ thể là lợi nhuận thu được từ mỗi đồng tài sản bình quân.

21 động kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Nguyễn Thanh Phương và cộng sự (2022)

ROA = (Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản) × 100%

Chỉ số ROA (Return on Assets) thể hiện khả năng sinh lợi từ tài sản của ngân hàng Một ROA cao cho thấy ngân hàng có hiệu quả trong việc tạo ra lợi nhuận, trong khi ROA thấp có thể là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc sử dụng tài sản hoặc vấn đề về lợi nhuận ROA là chỉ số quan trọng mà các nhà đầu tư, cơ quan giám sát và chuyên gia ngân hàng sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Đồng thời, tỷ suất lợi nhuận trên tài sản cũng chịu ảnh hưởng từ mùa vụ kinh doanh và lĩnh vực hoạt động của ngân hàng.

Người phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ nên sử dụng tỷ số này để so sánh giữa doanh nghiệp với toàn ngành hoặc với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành, đồng thời thực hiện so sánh trong cùng một thời kỳ (Đoàn Việt Hùng, 2016).

Chỉ số ROE (Return on Equity)

Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ số quan trọng đánh giá khả năng sinh lời của khoản đầu tư trên mỗi đồng vốn đầu tư Theo nghiên cứu của Rivard và cộng sự (1997), ROE không chỉ phản ánh khả năng sinh lời mà còn thể hiện hiệu quả quản lý của ngân hàng trong việc sử dụng nguồn vốn từ cổ đông để tạo ra lợi nhuận.

ROE = (Lợi nhuận ròng/ Vốn chủ sở hữu) x 100%

Chỉ số ROE là một công cụ quan trọng để đánh giá khả năng sinh lợi của ngân hàng, đồng thời phản ánh cách thức ngân hàng sử dụng vốn để thúc đẩy hoạt động kinh doanh ROE cao cho thấy ngân hàng đang tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn cổ đông, mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư từ khoản đầu tư của họ.

Chỉ số NIM (Net Interest Margin)

Chỉ số NIM là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng, phản ánh năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên trong việc duy trì sự tăng trưởng của nguồn thu so với mức chi phí tăng lên.

NIM = (Thu nhập lãi thuần/ Tổng tài sản sinh lời từ lãi bình quân) x 100% Trong đó:

Thu nhập lãi thuần = "Thu nhập lãi và thu nhập tương tự" - "Chi phí lãi và chi phí tương tự"

Tổng tài sản sinh lời bình quân bao gồm tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các tổ chức tài chính khác, chứng khoán đầu tư, cho vay khách hàng và mua nợ, tất cả đều không tính dự phòng rủi ro NIM (Net Interest Margin) là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả và khả năng sinh lợi từ hoạt động tín dụng của ngân hàng Nếu NIM dương, ngân hàng đang có lợi nhuận và khả năng tạo lợi nhuận từ các khoản đầu tư tăng lên; ngược lại, NIM âm cho thấy ngân hàng đang thua lỗ và các hoạt động đầu tư không hiệu quả.

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là chỉ số tài chính quan trọng nhất ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng, được nhiều nghiên cứu tại Việt Nam sử dụng để đo lường khả năng sinh lời (Inrdriyani và cộng sự, 2023; Nguyễn Thanh Phương và cộng sự, 2022; Hà Văn Dũng và cộng sự, 2017; Rivard và cộng sự, 1997) Các nghiên cứu như của Dương Thị Ánh Tiên (2022), Nguyễn Thị Phương Thảo (2021) và nhiều tác giả khác cũng xác nhận vai trò của ROA trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Vì vậy, tác giả quyết định chọn ROA làm chỉ tiêu chính để phân tích khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại trong nghiên cứu này.

1.3 Tác động của công bố thông tin ESG tới khả năng sinh lời của các NHTM

Mối quan hệ giữa ESG và hiệu quả hoạt động đã được nghiên cứu qua nhiều lý thuyết nổi bật như lý thuyết hợp pháp, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết tổ chức, lý thuyết tín hiệu/tiết lộ và lý thuyết quản lý Mỗi lý thuyết mang đến một cái nhìn riêng về cách thức tích hợp các nguyên tắc ESG có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việc phân tích chi tiết từng lý thuyết sẽ giúp làm sáng tỏ tác động của việc công bố thông tin ESG đối với khả năng sinh lời của các ngân hàng.

1.3.1 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory)

Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) do Freeman phát triển nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các tổ chức đối xử công bằng với tất cả bên liên quan, bao gồm cổ đông, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ Thành công của tổ chức không chỉ dựa vào lợi nhuận cho cổ đông mà còn phụ thuộc vào lợi ích cho nhân viên, nhận diện thương hiệu và sự tham gia cộng đồng Lý thuyết này cũng khẳng định rằng khi có sự xung đột lợi ích giữa các bên liên quan, tổ chức cần phải cân bằng quyền lợi của họ Việc áp dụng lý thuyết này giúp giải thích tác động của công bố thông tin ESG đến khả năng sinh lời của ngân hàng.

Dựa trên lý thuyết các bên liên quan, việc công bố thông tin ESG mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng, góp phần nâng cao khả năng sinh lời Theo Bui Thi Thu Loan và cộng sự (2024), minh bạch trong thông tin ESG cải thiện hiệu quả tài chính của ngân hàng Khi ngân hàng công bố rõ ràng các thông tin về môi trường, xã hội và quản trị, họ không chỉ xây dựng niềm tin mà còn tạo sự hài lòng cho các bên liên quan Niềm tin và sự hài lòng này rất quan trọng trong việc thu hút khách hàng, nhà đầu tư và giữ chân nhân tài, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng.

CƠ SỞ DỮ LIỆU & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

THỰC TRẠNG, KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

Ngày đăng: 16/02/2025, 01:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Al-Jalahma, A., Al-Fadhel, H., Al-Muhanadi, M., & Al-Zaimoor, N. (2020, November). Environmental, social, and governance (ESG) disclosure and firm performance: Evidence from GCC banking sector. In 2020 International Conference on Decision Aid Sciences and Application (DASA) (pp. 54-58).IEEE Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2020 International Conference on Decision Aid Sciences and Application (DASA)
Tác giả: Al-Jalahma, A., Al-Fadhel, H., Al-Muhanadi, M., & Al-Zaimoor, N
Năm: 2020
2. Al-Khouri, R., & Basith, A. A. A. (2022). The status of environmental, social, and governance voluntary disclosure in the GCC banking industry: does it pay to be socially responsible?. In Empirical Research in Banking and Corporate Finance (Vol. 21, pp. 155-189). Emerald Publishing Limited Sách, tạp chí
Tiêu đề: The status of environmental, social, and governance voluntary disclosure in the GCC banking industry: does it pay to be socially responsible
Tác giả: Al-Khouri, R., Basith, A. A. A
Nhà XB: Emerald Publishing Limited
Năm: 2022
3. Anh, T. T. X., & Linh, N. T. (2023). Ảnh hưởng của môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam. Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế, 23(158), 1-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam
Tác giả: Anh, T. T. X., Linh, N. T
Nhà XB: Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế
Năm: 2023
4. Aulia, A., Febriyanti, F., & Umi, L. P. (2023). Trend analysis of ESG disclosure on green finance performance in Indonesia, Malaysia & Singapore Exchanges. JAK (Jurnal Akuntansi) Kajian Ilmiah Akuntansi, 10(1), 79-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trend analysis of ESG disclosure on green finance performance in Indonesia, Malaysia & Singapore Exchanges
Tác giả: Aulia, A., Febriyanti, F., Umi, L. P
Nhà XB: JAK (Jurnal Akuntansi) Kajian Ilmiah Akuntansi
Năm: 2023
5. Bình, C. V. (2023). Phát triển ngân hàng bền vững tại Việt Nam dưới góc nhìn từ mô hình phát triển ngân hàng bền vững của các nước thành viên APEC. Tạp chí Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngân hàng bền vững tại Việt Nam dưới góc nhìn từ mô hình phát triển ngân hàng bền vững của các nước thành viên APEC
Tác giả: Bình, C. V
Nhà XB: Tạp chí Ngân hàng
Năm: 2023
6. Boshkoska, M. (2013). The profitability of banking sector in Republic of Macedonia. International journal of Economics and Finance, 5(3), 143-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The profitability of banking sector in Republic of Macedonia
Tác giả: Boshkoska, M
Nhà XB: International journal of Economics and Finance
Năm: 2013
7. Botosan, C. A., Plumlee, M. A., & Wen, H. (2011). The relation between expected returns, realized returns, and firm risk characteristics. Contemporary accounting research, 28(4), 1085-1122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The relation between expected returns, realized returns, and firm risk characteristics
Tác giả: C. A. Botosan, M. A. Plumlee, H. Wen
Nhà XB: Contemporary accounting research
Năm: 2011
8. Brogi, M., & Lagasio, V. (2019). Environmental, social, and governance and company profitability: Are financial intermediaries different?. Corporate Social Responsibility and Environmental Management, 26(3), 576-587 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Social Responsibility and Environmental Management, 26
Tác giả: Brogi, M., & Lagasio, V
Năm: 2019
9. Buallay, A. (2019). Is sustainability reporting (ESG) associated with performance? Evidence from the European banking sector. Management of Environmental Quality: An International Journal, 30(1), 98-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is sustainability reporting (ESG) associated with performance? Evidence from the European banking sector
Tác giả: Buallay, A
Nhà XB: Management of Environmental Quality: An International Journal
Năm: 2019
10. Buallay, A. M., Wadi, R. M. A., Kukreja, G., & Hassan, A. A. (2020). Evaluating ESG disclosures of Islamic banks: Evidence from the organization of Islamic cooperation members. International Journal of Innovation and Sustainable Development, 14(3), 266-287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating ESG disclosures of Islamic banks: Evidence from the organization of Islamic cooperation members
Tác giả: A. M. Buallay, R. M. A. Wadi, G. Kukreja, A. A. Hassan
Nhà XB: International Journal of Innovation and Sustainable Development
Năm: 2020
12. Chi, M. H., & Mỹ, H. H. (n.d.). Tác động của công bố Thông Tin ESG đến Hiệu quả Hoạt động Tài Chính. https://www.hoiketoanhcm.org.vn/vn/trao-doi/tac-dong-cua-cong-bo-thong-tin-esg-den-hieu-qua-hoat-dong-tai-chinh/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của công bố Thông Tin ESG đến Hiệu quả Hoạt động Tài Chính
Tác giả: Chi, M. H., Mỹ, H. H
Nhà XB: Hội Kế Toán Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: n.d.
13. Ching, H. Y., & Gerab, F. (2017). Sustainability reports in Brazil through the lens of signaling, legitimacy and stakeholder theories. Social Responsibility Journal, 13(1), 95-110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Responsibility Journal, 13
Tác giả: Ching, H. Y., & Gerab, F
Năm: 2017
15. Clarkson, P. M., Fang, X., Li, Y., & Richardson, G. (2013). The relevance of environmental disclosures: Are such disclosures incrementally informative?.Journal of accounting and public policy, 32(5), 410-431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The relevance of environmental disclosures: Are such disclosures incrementally informative
Tác giả: P. M. Clarkson, X. Fang, Y. Li, G. Richardson
Nhà XB: Journal of accounting and public policy
Năm: 2013
16. Dewi, K., & Monalisa, M. (2016). Effect of corporate social responsibility disclosure on financial performance with audit quality as a moderating variable. Binus Business Review, 7(2), 149-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Binus Business Review, 7
Tác giả: Dewi, K., & Monalisa, M
Năm: 2016
17. Do, L. N. L., Le, L. H., & Le, D. N. L. (2021). Determinants of Banks Profitability: Case of Vietnam Listed Commercial Banks. European journal of business and management research, 6(6), 168-175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of Banks Profitability: Case of Vietnam Listed Commercial Banks
Tác giả: Do, L. N. L., Le, L. H., Le, D. N. L
Nhà XB: European journal of business and management research
Năm: 2021
18. Dũng, H. V., & Anh, N. Đ. H. (2017). Ảnh hưởng của thu nhập phi truyền thống đến khả năng sinh lời và rủi ro của ngân hàng thương mại Việt Nam.Tạp chí Khoa học Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh-Kinh tế và Quản trị kinh doanh, 12(2), 45-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thu nhập phi truyền thống đến khả năng sinh lời và rủi ro của ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Dũng, H. V., Anh, N. Đ. H
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh-Kinh tế và Quản trị kinh doanh
Năm: 2017
19. Dương, N. T., Hà, Đ. T. T., & Huyền, T. T. (2024). ESG lending - Chiến Lược Thực Thi Của Các Ngân Hàng thương Mại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: ESG lending - Chiến Lược Thực Thi Của Các Ngân Hàng thương Mại Việt Nam
Tác giả: Dương, N. T., Hà, Đ. T. T., Huyền, T. T
Năm: 2024
20. Ersoy, E., Swiecka, B., Grima, S., ệzen, E., & Romanova, I. (2022). The impact of ESG scores on Bank Market Value? evidence from the U.S. Banking Industry. Sustainability, 14(15), 9527.21. ESG in banking. (n.d.).https://kpmg.com/xx/en/home/insights/2022/05/esg-in-banking.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of ESG scores on Bank Market Value? evidence from the U.S. Banking Industry
Tác giả: Ersoy, E., Swiecka, B., Grima, S., ệzen, E., Romanova, I
Nhà XB: Sustainability
Năm: 2022
23. Feneir, I. (2023). Examine the Effect of the Environmental and Social Disclosures on Profitability: Evidence from the Turkish Banking Sector.Finance and Business Economies Review, 7(1), 248-257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Examine the Effect of the Environmental and Social Disclosures on Profitability: Evidence from the Turkish Banking Sector
Tác giả: Feneir, I
Nhà XB: Finance and Business Economies Review
Năm: 2023
11. Các ngân hàng của ASEAN chưa tích hợp yếu tố về môi trường và xã hội trong các hoạt động và đầu tư. (n.d.).https://vietnam.panda.org/?313032%2FCc-ngn-hng-ca-ASEAN-cha-tch-hp-yu-t-v-mi-trng-v-x-hi-trong-cc-hot-ng-v-u-t Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Tổng quan về Bộ Tiêu chuẩn GRI - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Hình 1.1 Tổng quan về Bộ Tiêu chuẩn GRI (Trang 27)
Hình 1.2: So sánh GRI, SASB và TCFD theo The Conference Board - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Hình 1.2 So sánh GRI, SASB và TCFD theo The Conference Board (Trang 28)
Hình 1.3: Cơ hội cho tài chính bền vững theo PWC - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Hình 1.3 Cơ hội cho tài chính bền vững theo PWC (Trang 30)
Bảng 2.2: Bảng câu hỏi đánh giá thông tin ESG   CHỦ ĐỀ KÝ - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Bảng 2.2 Bảng câu hỏi đánh giá thông tin ESG CHỦ ĐỀ KÝ (Trang 50)
Bảng 3.1: Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Bảng 3.1 Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu (Trang 60)
Bảng 3.2: Kết quả ma trận tương quan giữa các biến - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Bảng 3.2 Kết quả ma trận tương quan giữa các biến (Trang 60)
Bảng 3.4: Kiểm định đa cộng tuyến (VIF) - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Bảng 3.4 Kiểm định đa cộng tuyến (VIF) (Trang 62)
Bảng 3.7: Kết quả hồi quy FGLS - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Bảng 3.7 Kết quả hồi quy FGLS (Trang 64)
Hình 4.1: Biểu đồ về kết quả CBTT ESG trung bình của các ngân hàng - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Hình 4.1 Biểu đồ về kết quả CBTT ESG trung bình của các ngân hàng (Trang 67)
Hình 4.2: Biểu đồ về mức độ CBTT ESG trung bình theo chủ đề giai đoạn - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Hình 4.2 Biểu đồ về mức độ CBTT ESG trung bình theo chủ đề giai đoạn (Trang 68)
Hình 4.3: Biểu đồ về mức độ CBTT Môi trường - Xã hội - Quản trị trung - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Hình 4.3 Biểu đồ về mức độ CBTT Môi trường - Xã hội - Quản trị trung (Trang 69)
Hình 4.4: Biểu đồ về mức độ công bố thông tin Môi trường (ENV) giai - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Hình 4.4 Biểu đồ về mức độ công bố thông tin Môi trường (ENV) giai (Trang 71)
Hình 4.5: Biểu đồ về mức độ công bố thông tin Xã hội (SOC) giai đoạn - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Hình 4.5 Biểu đồ về mức độ công bố thông tin Xã hội (SOC) giai đoạn (Trang 73)
Hình 4.6: Biểu đồ về mức độ công bố thông tin Quản trị (GOV) giai đoạn - Khóa luận tốt nghiệp Ngân hàng: Tác động của công bố thông tin môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2018-2022
Hình 4.6 Biểu đồ về mức độ công bố thông tin Quản trị (GOV) giai đoạn (Trang 74)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm