Trong những năm qua, đặc biệt từ sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở
Trang 1
LUẬN VĂN:
Chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại
học về làm việc ở chính quyền cơ sở
Trang 2
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã chứng minh rằng, chính quyền trung ương yếu hay mạnh, đất nước thịnh hay suy, sự nghiệp thành hay bại đều có nguyên nhân từ thái độ đánh giá và năng lực tổ chức xây dựng chính quyền cơ
sở Trong quan điểm của Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định, chính quyền cơ sở là gốc của chính quyền cách mạng Chính quyền cơ sở có vững vàng thì nhà nước và chế
độ mới vững vàng Quan điểm đó đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị
Chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn) là nơi trực tiếp giải quyết công việc của người dân, là nơi thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước
và có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương Chính quyền cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị của nước ta
Vì vậy, xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị cấp cơ sở là đòi hỏi khách quan của chính sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là điều kiện tất yếu đảm bảo cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong những năm qua, đặc biệt từ sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị
lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị ở cơ sở phường, xã, thị trấn", các cấp chính quyền cơ sở thường xuyên
được chăm lo củng cố, kiện toàn bước đầu đã tạo ra những chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở, đem lại sự đồng thuận xã hội, ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ngày càng được đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, được rèn luyện, thử thách và trưởng thành trong thực tiễn Tuy nhiên, đứng trước nhu cầu, nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới, hệ thống chính trị cấp cơ sở bộc lộ nhiều hạn chế, trong đó vấn đề cán bộ, công chức làm việc ở chính quyền cơ sở là một hạn chế quan trọng làm chất lượng hoạt động của hệ thống chính quyền cơ sở bất cập trước đòi hỏi thực tiễn Điều này khiến cho chính quyền cơ sở trở thành khâu yếu nhất trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay
Trang 3
Đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống chính quyền cơ sở có vai trò hết sức quan trọng, họ là những người thường xuyên tiếp xúc và trực tiếp quan hệ với nhân dân; tổ chức vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và các hoạt động về đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở địa phương
Tuy vậy, đội ngũ cán bộ, công chức làm việc ở chính quyền cơ sở vẫn còn nhiều bất cập, thiếu về số lượng, yếu về chất lượng đặc biệt là chất lượng, trình độ đào tạo; năng lực quản lý, điều hành chưa đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ mới
Để từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cơ sở đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu; đảm bảo tính kế thừa, chuyển tiếp giữa các thế hệ một cách liên tục và vững chắc cần phải tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là: "Kiện toàn bộ máy chính quyền cấp
cơ sở có sức quản lý, giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền những vấn đề cuộc sống đặt
ra và nhân dân đòi hỏi " Bên cạnh chính sách bồi dưỡng, đào tạo các cán bộ, công chức
đang làm việc thì vấn đề thu hút đội ngũ trí thức được đào tạo cơ bản về làm việc ở chính quyền cơ sở là một giải pháp rất đáng quan tâm, đặc biệt là thu hút những sinh viên đã tốt nghiệp ở các trường đại học, một bộ phận đông đảo của đội ngũ trí thức, những người có trình độ, tuổi trẻ, nhiệt huyết và họ là những người đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm
Thế nhưng, trong thực tế, để có một đội ngũ cán bộ công chức cấp cơ sở trẻ tuổi, có trình độ đại học không đơn giản Hầu hết các sinh viên ra trường, kể cả sinh viên cử tuyển cũng tìm cách ở lại thành phố lập thân, lập nghiệp; một phần vì họ muốn tiến thân với những kiến thức đã được trang bị trong giảng đường đại học, một phần vì phần lớn sinh viên vẫn có quan niệm về làm việc ở phường, xã là không tương xứng với trình độ mà họ được đào tạo Hơn nữa, sinh viên mới ra trường về công tác tại cơ sở thì dù có lý lịch tốt như thế nào, năng lực giỏi tới đâu cũng chỉ là nhân viên bình thường, rồi từng bước phấn đấu rất gian nan, ở nhiều địa phương sinh viên về làm việc ở chính quyền cơ sở không được phân công nhiệm vụ đúng với khả năng của họ, những kiến nghị, sáng kiến của sinh viên mới tốt
Trang 4
nghiệp đại học không được coi trọng do định kiến "ngựa non háu đá", "trứng khôn hơn vịt"; trong khi đó công việc luôn đòi hỏi trách nhiệm cao do thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với dân nhưng chế độ đãi ngộ đối với cán bộ công chức công tác ở chính quyền cơ sở còn chưa tương xứng Qua quá trình phấn đấu, họ rất dễ nản lòng, vì trong môi trường ấy họ rất lạc lõng, thiệt thòi nên sẵn sàng bỏ việc đi tìm việc khác nhiều tiện nghi hơn, dễ tiến thân hơn Cũng trong tình trạng chung đó của cả nước, hệ thống chính quyền cơ sở ở Nghệ
An cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế mà một trong những nguyên nhân cơ bản là do đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở ở đây chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới Trong thời gian qua, để giải quyết vấn đề này, các cấp chính quyền ở Nghệ An cũng đã đưa ra nhiều giải pháp, chính sách để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức làm việc ở chính quyền cơ
sở nhưng vẫn chưa có một chính sách nào để thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học Trong khi đó, tại Hội nghị Trung ương chín khoá X, Đảng ta đã đưa ra chủ trương: " Nghiên cứu chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ học sinh, sinh viên xuất sắc, các nhà khoa học trẻ tuổi để bổ sung cán bộ cho các lĩnh vực công tác" [33, tr.57]
Trước thực tiễn đó đặt ra nhu cầu cấp thiết phải hoạch định một chính sách cụ thể thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở nhằm trả lời cho
câu hỏi: Làm thế nào để sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc, gắn bó lâu dài và phát
huy hết khả năng, năng lực của họ ở hệ thống chính quyền cơ sở?
Nhận thức được vấn đề này, tôi chọn đề tài " Chính sách thu hút sinh viên tốt
nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở " làm luận văn thạc sĩ Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu chính sách nâng cao chất lượng và thu hút nguồn nhân lực có trình độ về làm việc ở chính quyền cơ sở đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau: Xây dựng Đảng, Chủ nghĩa xã hội, Kinh tế chính trị, Chính trị học Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố dưới dạng đề tài khoa học, chuyên đề, khảo sát, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài báo đăng tải trên các sách, báo, tạp chí
Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu như:
Trang 5
- Đề tài khoa học do PGS, TS Nguyễn Phú Trọng chủ biên (2002): "Luận cứ khoa học
cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Đề tài khoa học Độc lập cấp Nhà nước do GS, TS Hoàng Chí Bảo chủ nhiệm:
"Nghiên cứu một số vấn đề nhằm củng cố tăng cường hệ thống chính trị cơ sở trong sự
nghiệp đổi mới và phát triển ở nước ta hiện nay" Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Kỷ yếu khoa học tập I,II,III
- Đề tài khoa học cấp Bộ do PGS, TS Nguyễn Đăng Thành chủ nhiệm (2002):
"Chính sách và những vấn đề cơ bản chi phối việc hoạch định chính sách ở Việt
Nam" Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học
- GS, TS Hoàng Chí Bảo (2002) "Hệ thống chính trị cấp xã - hiện trạng và
những vấn đề đặt ra", Thông tin chính trị học, (2) tr 13 - 18
- Nguyễn Đặng (2004), Chính sách, chế độ đối với những cán bộ, công chức xã,
phường, thị trấn, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Nxb Lao động Thương binh và xã
hội
- Đề tài của TS Vũ Hoàng Công (2002) "Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm,
xu hướng và giải pháp" - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
Liên quan đến đề tài còn có luận văn:
- "Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn hiện nay - vấn đề và giải pháp", Luận văn
thạc sĩ Cấn Thị Dung (2003)
- "Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở tỉnh Nghệ
An", Luận văn thạc sĩ Trần Ngọc Danh (2005)
- "Hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kom Tum
hiện nay", Luận văn thạc sĩ Võ Trọng Khoa (2007)
- "Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Hậu Giang hiện nay", Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc
Trang (2008)
Trang 6
Ngoài ra còn có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã có những công trình, bài viết
về vấn đề thu hút nguồn nhân lực cho chính quyền cơ sở đã được đăng tải trên các tạp chí, các kỷ yếu khoa học, trên mạng Internet
Nhìn chung, trên các bình diện khác nhau, các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đi sâu, làm rõ và đưa ra những luận cứ khoa học cùng với những kinh nghiệm thực tiễn nhằm củng cố và tăng cường hệ thống chính trị cơ sở; nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức làm việc ở chính quyền cơ sở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó, một giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc ở chính quyền cơ sở là thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao; chu trình hoạch định chính sách và những quy định cụ thể về chính sách chế độ đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Đó là nguồn tư liệu quý giá và những gợi ý về phương pháp luận giúp tôi kế thừa trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài của mình
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về vấn đề chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở dưới góc độ chính trị học, đặc biệt là đối với một tỉnh có nhiều đặc thù như ở Nghệ An vẫn chưa có tác giả nào thực hiện Vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này với mong muốn góp phần luận giải những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra từ đó đề xuất một chính sách mới giải quyết phần
nào vấn đề đó
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích: Trên cơ sở làm rõ quy trình hoạch định chính sách công, phân tích
nhu cầu lựa chọn chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc tại chính quyền cơ sở tỉnh Nghệ An, luận văn đề xuất việc xây dựng và ban hành, triển khai chính sách này nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích đó luận văn có nhiệm vụ đề xuất các quá
trình cơ bản sau đây:
- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạch định chính sách công
- Phân tích nhu cầu khách quan của việc lựa chọn chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở (qua thực tế ở Nghệ An)
Trang 7
- Xác định nội dung, ban hành và đưa ra một số giải pháp có tính định hướng cho việc triển khai thực hiện chính sách đó
3.3 Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu nghiên cứu lý luận về vấn đề hoạch định
chính sách; nghiên cứu thực trạng sinh viên tốt nghiệp đại học và chính quyền cơ sở ở Nghệ An từ sau Đại hội Đảng lần thứ X
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên lý thuyết về chính sách
công; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách thu hút nguồn nhân lực cho chính quyền cơ sở, đồng thời tác giả cũng kế thừa có chọn lọc các phương pháp nghiên cứu của các công trình và những bài viết của nhiều tác giả khác đã được công bố
4.2 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Cung cấp luận chứng, luận cứ cho một sáng kiến chính sách về thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
- Góp phần hệ thống hoá những bước cơ bản trong quy trình hoạch định chính sách công
- Góp phần nâng cao nhận thức lý luận về vai trò của hệ thống chính quyền cơ sở
và vai trò của chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức làm việc ở chính quyền cơ sở
Trang 8- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy ở các Trung tâm Chính trị, Trường Chính trị tỉnh và trường đại học nước ta nói chung, ở Nghệ An nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, gồm có 2 chương và
5 tiết
Chương 1
cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoạch định chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học
về làm việc ở chính quyền cơ sở
1.1 Một số vấn đề lý luận về hoạch định chính sách công
1.1.1 Các cách tiếp cận chính sách công
1.1.1.1 Quan niệm về chính sách công (Public Policy)
Chính sách là khái niệm thường được đề cập trong khoa học hành chính nhưng thực sự nó còn là phạm trù của khoa học chính trị
Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rộng rãi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội Hiểu một cách đơn giản, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình
Theo James Anderson: "Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo
đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm" Hay
Trang 9
“Chính sách cũng là những hoạt động nên hay không nên làm do nhà nước quyết định lựa chọn”[50, tr.45]
William Jenkin: “Chính sách cũng là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn
nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được mục tiêu đó” (William Jenkin, 1978) [50, tr.56] Căn cứ từ hiện thực chính sách ở nước ta, từ góc độ nghiên cứu khác nhau các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra một số quan niệm về chính sách:
- Từ cách phân biệt "chính sách" theo "nghĩa rộng" và "chính sách" theo "nghĩa hẹp" Các tác giả Nguyễn Hữu Đổng và Lê Minh Quân định nghĩa:" chính sách với nghĩa rộng (nghĩa chung nhất) là tổng thể các quan điểm, các biện pháp mà chủ thể lãnh đạo, quản lý (Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội ) tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt đến một mục tiêu nào đó trong một khoảng thời gian nhất định" Còn
"chính sách" theo nghĩa hẹp, là một "quy định cụ thể nào đó nhằm thực hiện đường lối, nhiệm vụ trong một thời gian nhất định"[35, tr.45]
- Trong bài "Mấy khía cạnh lý luận về chính sách", tác giả Vũ Hoàng Công đưa ra định nghĩa: "chính sách là các tổng thể những quy định pháp lý có tính nhất quán, thể hiện thái độ quan điểm của nhà nước trong việc khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động nào đó trong các lĩnh vực nào đó của một số đối tượng nào đó của xã hội "[63, tr.200]
- Theo tác giả Nguyễn Đăng Thành, "chính sách là tập hợp những văn bản theo một hướng nhất định được quyết định bởi chủ thể cầm quyền nhằm quy định quá trình hành động của những đối tượng nào đó, để giải quyết những vấn đề mà nhóm chủ thể - đối tượng đó quan tâm theo một phương thức nhất định để phân bổ giá trị "[63, tr.12]
Về nghĩa hẹp, các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chính phủ, chính sách của một bộ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội
Các tổ chức, các hiệp hội, đoàn thể có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vi một tổ chức, hiệp hội hay đoàn thể đó Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ
Trang 10Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L Cochran and Eloise F Malone, 1995) [50, tr.158]
Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính phủ/ chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnh hưởng tới đời sống của công dân (B Guy Peters, 1999) [50, tr.92]
Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003) [50, tr 109]
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách hình thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004) [50, tr.95]
Trang 11
B Guy Peter: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh
hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân” (B Guy Peter, 1990) [50, tr.130]
Hoa Kỳ: Chính sách công là tất cả những công việc mà chính quyền thi hành đến
dân [18, tr.183]
Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể được nhìn nhận như sau:
Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính
phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước
Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công thể hiện hoạt động cũng như quản lý đối
với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hoá, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế
Thứ ba, một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để:
Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hoá, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và khu vực tư; quản lý nguồn lực công một cách có hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn
Nói cách khác, chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước
Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn đang
là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi Dưới đây chúng tôi muốn dẫn chứng một số định nghĩa chính sách công khá tiêu biểu của các học giả nước ngoài
và trong nước để cùng tham khảo trước khi đi đến một định nghĩa thích hợp
William Jenkin cho rằng: " Chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được các mục tiêu đó" [50, tr.75]
Định nghĩa này nhấn mạnh các mặt sau:
Trang 12Thứ nhất, không giống như các định nghĩa khác, nó không bàn luận về "mục tiêu"
hay "mục đích" của chính sách Các chính sách là các chương trình hành động riêng biệt; việc áp dụng các chính sách không có nghĩa là tất cả những ai đồng tình với chính sách sẽ có cùng một mục đích như nhau Trên thực tế, một số chính sách ra đời không phải vì sự nhất trí về mục tiêu mà bởi vì nhiều nhóm người khác nhau đồng tình với chính sách đó với nhiều nguyên do khác nhau (tuy nhiên, theo chúng tôi, dù các nhóm khác nhau có những mục tiêu khác nhau, song bản thân mỗi chính sách vẫn phản ánh những mục tiêu nhất định của Chính phủ)
Thứ hai, định nghĩa của Dye thừa nhận rằng, các chính sách phản ánh sự lựa chọn
làm hay không làm Việc quyết định không làm có thể cũng quan trọng như việc quyết định làm Điều này hoàn toàn hợp lý trong trường hợp Chính phủ ra quyết định không can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước
Thứ ba, một điểm được nhấn mạnh ở đây là các chính sách không chỉ là những đề
xuất của Chính phủ về một vấn đề nào đó, mà cũng là cái được thực hiện trên thực tế Nói cách khác, định nghĩa của Dye về những cái mà Chính phủ làm hoặc không làm, chứ không phải là cái mà họ muốn làm hoặc lập kế hoạch để làm
Wiliam N Dunn cho rằng: "Chính sách công là một kết hợp phức tạp những lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra" [50, tr.123] Ông dùng thuật ngữ "sự lựa chọn" - đây là
Trang 13B Guy Peter đưa ra định nghĩa: "Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân" [36, tr 65] Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sống của người dân với tư cách là một cộng đồng
Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm chính sách như sau: "Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá…."[46, tr 105]
Định nghĩa này không làm rõ được thực chất của chính sách, chỉ đưa ra một cách chung chung là những chuẩn tắc (chuẩn tắc là gì?) để thực hiện đường lối, trong một thời gian nhất định và trên những lĩnh vực cụ thể Định nghĩa như vậy không chỉ nói về chính sách, mà có thể hiểu là bất kỳ một kế hoạch, một hoạt động nào đó
Trong cuốn sách "Chính sách kinh tế - xã hội", các tác giả đồng nhất chính sách công với chính sách kinh tế - xã hội và đưa ra định nghĩa:"chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội " Định nghĩa này tuy có cố gắng nêu lên một cách đầy đủ các yếu tố cấu thành chính sách kinh
Trang 14
tế - xã hội nước ta, song lại có những sự trùng lặp như: quan điểm - tư tưởng, giải pháp
- công cụ, đối tượng - khách thể quản lý
Tuy có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về chính sách công như đã nêu trên, song điều đó không có nghĩa chính sách công mang những bản chất khác nhau Thực ra, tuỳ theo quan niệm của mỗi tác giả mà các định nghĩa đưa ra nhấn mạnh vào đặc trưng này hay đặc trưng khác của chính sách công Những đặc trưng này phản ánh chính sách công từ các góc độ khác nhau, song chúng đều hàm chứa những nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách công
Trên cơ sở nghiên cứu về chính sách công, chúng tôi thấy có những đặc trưng cơ bản nhất như sau:
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước Nếu chủ thể ban hành
các "chính sách tư" có thể là các tổ chức tư nhân, các đoàn thể chính trị - xã hội, cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước để điều tiết hoạt động trong phạm vi tổ chức, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó thì chủ thể ban hành chính sách công chỉ có thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước Vấn đề ở đây là các cơ quan trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể ban hành chính sách công , vừa là chủ thể ban hành "chính sách tư" Sự khác biệt là ở chỗ các "chính sách tư" do các cơ quan nhà nước ban hành là những chính sách chỉ nhằm giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ cơ quan đó, không có hiệu lực thi hành bên ngoài phạm vi cơ quan
Chính sách công do nhà nước ban hành nên có thể coi chính sách công là chính sách của nhà nước Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương các cấp…
ở nước ta, trên sách báo, chúng ta thường bắt gặp cụm từ "chính sách của Đảng và Nhà nước", vì vậy có ý kiến cho rằng, Đảng cũng là chủ thể ban hành chính sách công Điều này có thể giải thích bằng thực tế đặc thù của nước ta ở Việt Nam, Đảng cộng sản
là lực lượng chính trị chủ yếu và duy nhất lãnh đạo nhà nước thông qua việc vạch ra cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách - đó chính là những căn cứ chỉ đạo
để nhà nước ban hành các chính sách công Như vậy, về thực chất, các chính sách công
là do Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (chủ yếu là Chính phủ đề ra) Các
Trang 15
chính sách này là sự cụ thể hoá về đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân
Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động hoặc không hành
động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó, mà còn bao gồm những hành vi thực hiện các dự định nói trên
Chính sách công trước hết thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách nhằm làm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào đó Song, nếu chính sách chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản thì nó vẫn chưa phải là một chính sách chính sách công còn phải bao gồm các hành vi thực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế
Nhiều người hiểu chính sách công một cách đơn giản là những chủ trương của nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được kết quả nhất định thì những chủ trương đó chỉ là khẩu hiệu mà thôi
Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời
sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định Chính sách công là một quá trình hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định Khác với các loại công cụ quản lý khác như chiến lược, kế hoạch của nhà nước là những chương trình hành động tổng quát, bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc điểm của chính sách công là chúng được đề ra và được thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra trong xã hội Chính sách công chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại hoặc có nguy cớ chắc chắn xuất hiện một vấn đề cần giải quyết Vấn đề chính sách công được hiểu là một mâu thuẫn hoặc một nhu cầu thay đổi hiện trạng xuất hiện trong đời sống kinh tế - xã hội đòi hỏi nhà nước sử dụng quyền lực công để giải quyết Có thể nói, vấn đề chính sách là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách (bao gồm các giai đoạn hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách ) Việc giải quyết những vấn đề nói trên nhằm vào những mục tiêu mà nhà nước mong muốn đạt được
Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau Trước hết,
chúng ta không nên đồng nhất khái niệm quyết định ở đây với các quyết định hành
Trang 16
chính, càng không thể coi đó chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước Khái niệm quyết định ở đây có ý nghĩa rộng hơn, nó có thể được coi như một sự lựa chọn hành động của nhà nước Các quyết định này có thể bao gồm cả luật, các quyết định dưới luật, thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói
và hành động của họ Song, chính sách không đồng nghĩa với một đạo luật riêng biệt hay một văn bản nào đó Chính sách là một chuỗi hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hoặc nhiều cấp khác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài Một chính sách có thể được thể chế hoá thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lý cho việc thực thi, song nó còn gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc mà có tính định hướng, kích thích phát triển
Trên thực tế, một chính sách thực sự của nhà nước được kết nối lại từ vô số các quyết định và các hành động riêng biệt Chẳng hạn, chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ những nỗ lực cải cách các doanh nghiệp nhà nước, nó được chính thức đề cập đến trong Quyết định 217/HĐBT (14/11/1987) và được tiếp nối bằng một loạt các quyết định của nhà nước và các cấp, các ngành về vấn
đề này Nghị định 44/Chính phủ của Chính phủ ngày 29/6/1998 và việc thực thi Nghị định đó đã mở ra một chặng đường mới của chính sách cổ phần hoá ở nước ta Chúng ta
có thể thấy, chính sách này sẽ còn tiếp diễn lâu dài trong tương lai
Từ những phân tích trên, thuật ngữ chính sách công có thể hiểu như sau: "Chính sách
công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong một thời gian nhất định của đời sống kinh tế -
chính trị - xã hội theo mục tiêu xác định"
Như vậy, chính sách công là một bộ phận của chiến lược, bao gồm những giải
pháp và công cụ để thực hiện mục tiêu chiến lược
1.1.1.2 Hoạch định chính sách công
Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản của nhà nước sử dụng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ở mỗi giai đoạn phát triển, yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách công luôn được đặt ra Để làm được điều đó cần có sự hoàn thiện quy
Trang 17
trình chính sách, trong đó quy trình hoạch định chính sách - bước khởi đầu đặc biệt quan
trọng của quy trình chính sách
Chính sách công do nhà nước ban hành để giải quyết một hoặc một số vấn đề liên
quan lẫn nhau đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định
(tuy nhiên không phải vấn đề nào nảy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội cũng cần có
chính sách điều chỉnh) Việc giải quyết nhằm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào
đó Khi nói tới chính sách công là bao gồm những dự định của nhà hoạch định chính
sách và các hành vi thực hiện những dự định đưa lại kết quả thực tế Vì vậy chính sách
công được hiểu là "những quy định về sự ứng xử của nhà nước với các vấn đề phát sinh
trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc
đẩy xã hội phát triển theo định hướng" [42, tr.21] Hay chính sách công cũng chính là
"một chuỗi các quyết định hành động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung
đang được đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định" [44, tr.53]
ở nước ta, chính sách thể hiện như một công cụ quản lý của Nhà nước và được hiến định tại Điều 26 Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2001: "Nhà nước thống nhất
quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách…" Như vậy, chính
sách công là một trong những công cụ cơ bản được nhà nước sử dụng để thực hiện chức
năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước
Đối với một chu trình chính sách thường bắt đầu từ việc hoạch định chính sách,
tiếp theo là thực thi chính sách và sau đó thực hiện phân tích chính sách để điều chỉnh,
bổ sung chính sách Như vậy, hoạch định chính sách là bước khởi đầu trong chu trình
chính sách Đây là bước đặc biệt quan trọng Hoạch định chính sách đúng đắn, khoa học
sẽ xây dựng được chính sách tốt, là tiền đề để chính sách đó đi vào cuộc sống và mang lại
hiệu quả cao Ngược lại, hoạch định sai cho ra đời chính sách không phù hợp với thực tế,
thiếu tính khả thi sẽ mang lại hậu quả không mong muốn trong quá trình quản lý Những
tổn hại này không chỉ tạm thời, cục bộ mà nó ảnh hưởng lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh
vực, ngành nghề khác nhau
Trang 18
Sơ đồ 1.1: Chu trình chính sách công
Hoạch định chính sách công là công việc thường xuyên của nhà nước và được xây dựng thành quy trình Quy trình hoạch định chính sách công chính là trình tự, công đoạn để tạo ra một chính sách công Hiện nay, quy trình hoạch định chính sách do nhà nước ban hành,
Sơ đồ 1.2: Hệ thống các bước hoạch định chính sách
Hoạch định chính sách
Thực thi chính sách
duy tri chính sách
các tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị -
xã hội,
xã hội kiến nghị
Cơ quan
có thẩm quyề
n và
dự thao
chín
h sách
cơ ban
chính sách
và các biện pháp
cụ thể
các uỷ ban của Quốc hội
Trang 19
Quy trình hoạch định chính sách ở nước ta được thực hiện tuần tự các bước như sau: Nêu lý do hoạch định chính sách, xây dựng dự thảo các phương án chính sách, lựa chọn phương án dự thảo tốt nhất, hoàn thiện phương án đã chọn, thẩm định phương án chính sách, quyết nghị ban hành chính sách, công bố chính sách Trong thực tế, các chính sách công của nước ta chủ yếu được thể chế hoá bằng nghị quyết của Chính phủ nên quy trình hoạch định chính sách công được tiến hành theo quy định ban hành nghị quyết của Chính phủ tại các Điều 59, 60, 61, 62, 63, 64 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, sửa đổi năm 2002
Thời gian qua, việc hoạch định chính sách công ở nước ta đã cho ra đời nhiều chính sách phù hợp với thực tế, thực thi đem lại hiệu quả mà biểu hiện cụ thể là đã góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới Tuy nhiên, quy trình hoạch định chính sách công như nêu trên cũng bộc
lộ một số tồn tại, đó là: các kiến nghị hoạch định chính sách chủ yếu xuất phát từ các cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước Việc dự thảo chính sách thường
do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan đặc biệt của Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Như vậy, chính sách công được ban hành dựa trên suy xét, phân tích tình hình thực tế và trên cơ sở những mong muốn quản lý của từng cơ quan nhà nước Sự tham gia đề xuất ý tưởng hoạch định chính sách, hoặc đóng góp vào xây dựng các phương án, biện pháp chính sách của các đối tượng bị ảnh hưởng bởi chính sách là rất hạn chế Rất ít các chính sách công được ban hành xuất phát từ ý tưởng của những đối tượng bị chính sách chi phối, ảnh hưởng và các biện pháp thực hiện chính sách do những nhà quản lý xây dựng nên Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho một số chính sách có tính khả thi thấp, hoặc thực thi không mang lại hiệu quả như nhà quản lý mong muốn Bên cạnh đó, các ý tưởng hoạch định chính sách được đề xuất, và dự thảo chính sách chủ yếu do cơ quan nhà nước (chủ yếu do các
bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện) thì dễ nảy sinh tình trạng cục bộ, bản vị; đề xuất dựa trên mong muốn, mục đích quản lý của ngành, địa phương do mình quản lý mà không tính tới tổng thể chung Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và căn cứ vào tình hình quản lý, các bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố để đề xuất
Trang 20
dự thảo chính sách trong lĩnh vực quản lý được giao cũng chính là cơ quan dự thảo, do
đó thiếu sự phối hợp giữa các bộ, ngành nên chính sách thiếu tính toàn diện Biểu hiện
cụ thể của thực trạng này là có một vấn đề nhiều bộ, ngành ra chính sách thực hiện nhưng có những vấn đề lớn thì lại không có bộ, ngành nào tham gia đề xuất, xây dựng chính sách Dẫn tới tình trạng tạo "khoảng trống" trong quản lý nhà nước không có chính sách để điều chỉnh
Việc hoạch định chính sách công của nhà nước hiện nay chủ yếu được tiến hành theo quy trình soạn thảo, ban hành nghị quyết của Chính phủ Trong khi đó, nghị quyết của Chính phủ là văn bản quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện Hiện nay, quy trình hoạch định chính sách công được thực hiện theo quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 sửa đổi 2002 còn mang tính chất khung chưa phân công
rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và cả chế tài đối với tập thể hoặc cá nhân trong từng khâu, công đoạn từ soạn thảo, lựa chọn phương án, thẩm định, ban hành…
Quy trình hoạch định chính sách còn khép kín; việc lấy ý kiến tham gia của các đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của chính sách còn ít, nếu có thì còn hình thức; việc tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành chưa thể hiện tính chủ động Mặt khác, chưa có quy định cụ thể để huy động được trí tuệ của nhân dân, các chuyên gia, các nhà khoa học tham gia vào hoạch định chính sách là vô hình chung làm hạn chế cách nhìn nhận, giải quyết vấn đề Chẳng hạn, trong hoạch định chính sách, việc dự báo chính sách rất quan trọng Tuy nhiên, thời gian qua, ở nước ta việc dự báo chính sách còn yếu kém Dự báo chính sách phải dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn Nếu trong hoạch định chính sách không có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học thì việc dự báo chính sách gặp rất nhiều khó khăn Trong quá trình hoạch định chính sách công chưa tạo được kênh thông tin tốt nhất để tiếp thu ý kiến đóng góp của những đối tượng chịu ảnh hưởng của chính sách (Việc này ảnh hưởng tới tính tự giác thực hiện chính sách…) Trong khi đó, chính sách không thể là ý muốn chủ quan của cơ quan nhà nước, càng không phải là ý chí áp đặt của cá nhân có thẩm quyền mà xuất phát từ hiện thực khách quan, từ việc tìm kiếm, phát hiện, nhận thức một cách biện chứng các vấn đề nảy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội và có các
Trang 21
phương án giải quyết phù hợp với thực tế (Từ thực tiễn để hoạch định chính sách,
đó cũng chính là biểu hiện tính khách quan của chính sách) Một chính sách đúng đắn phải từ thực tế khách quan
Trong việc hoạch định chính sách công cần phải có sự tổng kết, phân tích, đánh giá tình hình, tác động ảnh hưởng tới quá trình thực hiện chính sách, các biện pháp thực hiện chính sách và từ đó làm căn cứ để lựa chọn phương án chính sách phù hợp với thực
tế
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, cần thiết phải hoàn thiện quy trình hoạch định chính sách công của nhà nước ta trong thời kỳ mới Với việc lấy Chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở (qua thực tế tỉnh Nghệ An ) làm trường hợp cụ thể, tác giả đề xuất một phương án mới cho quy trình hoạch định chính sách đó là việc các nhà khoa học, những người hoạt động thực tiễn trực tiếp chịu tác động của vấn đề chính sách đó đề xuất ý tưởng hoạch định chính sách lên các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cơ quan đó có thể xem xét nếu đó là một ý tưởng hay, một vấn đề cấp thiết thì bổ sung hoàn thiện và đưa chính sách đó vào cuộc sống
1.1.2 Lựa chọn, hoạch định chính sách công
1.1.2.1 Lý do hoạch định chính sách
Khi hoạch định một chính sách, trước tiên phải thuyết phục được ý chí chủ thể về
sự cần thiết phải giải quyết vấn đề bằng công cụ chính sách và qua chủ thể thuyết phục các đối tượng thực thi chính sách về lợi ích kinh tế, xã hội,… của chính sách sẽ ban hành Đây được coi là phần mở đầu của một chính sách, để người tiếp cận có thể nắm được tầm quan trọng của việc giải quyết vấn đề chính sách Toàn bộ nội dung thuyết phục đó được gọi là lý do hoạch định chính sách
Vấn đề chính sách được hiểu là những mâu thuẫn nảy sinh trong các lĩnh vực hoạt động cần được giải quyết bằng chính sách để thoả mãn nhu cầu nhất định của xã hội Như vậy có thể thấy vấn đề chính sách là hạt nhân của chính sách, nó hướng các mục tiêu, giải pháp cần có của chủ thể hoạch định chính sách vào giải quyết vấn đề, đồng
Trang 22- Tính thời cơ của việc ban hành chính sách
- Khả năng giải quyết vấn đề chính sách của nhà nước
- Khả năng tồn tại của chính sách với các công cụ quản lý nhà nước
- Kết quả và hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách so với yêu cầu quản lý nhà nước
- Phải trình bày những căn cứ khoa học để hoạch định chính sách và những căn cứ ban hành chính sách của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các căn cứ được nêu ngắn gọn, xác thực với điều kiện hoàn cảnh của đất nước và nên hướng vào vấn đề chính sách
1.1.2.2 Ban hành chính sách
Sau khi nhà hoạch định dự thảo những nội dung chi tiết của chính sách, để chính sách được chính thức ban hành phải trải qua một bước rất quan trọng, đó là quyết nghị chính sách
Quyết nghị chính sách là hình thức pháp lý hoá chính sách trước khi đưa vào thực hiện để cho chính sách có được sức mạnh công quyền, thu hút được sự tham gia của cơ quan nhà nước các cấp, của mọi tầng lớp nhân dân
ở nước ta, với những chính sách do trung ương ban hành, theo quy định của Hiến pháp việc quyết nghị chính sách do hai cơ quan thực hiện là Quốc hội và Chính phủ Quốc hội quyết định những chính sách lớn cơ bản còn Chính phủ quyết định những chính sách cụ thể Việc quyết nghị chính sách thường diễn ra trong các phiên họp Chính phủ sau khi đã xin ý kiến của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản, do các thành viên Chính phủ biểu quyết theo quy định của Luật tổ chức Chính phủ Chính sách được
Trang 23do đại diện cơ quan soạn thảo đưa ra và khi có quá nửa tổng số thành viên uỷ ban nhân dân biểu quyết tán thành Chính sách chính thức có hiệu lực khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thay mặt Uỷ ban nhân dân tỉnh ký ban hành
Chính sách đã được ban hành nhưng để cho các cơ quan quản lý nhà nước và mọi tầng lớp nhân dân biết để thực hiện, cơ qua ban hành chính sách cần phải công bố chính sách bằng nhiều hình thức (kênh thông tin) để chính sách đến được với người dân như : Đăng công báo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, qua các phương tiện báo chí, phát thanh truyền hình…
1.1.2.3 Triển khai chính sách
Triển khai chính sách là giai đoạn biến ý đồ chính sách thành hiện thực, nói cách khác đây là bước tổ chức thực thi chính sách để thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung
Một khi chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội thì tính đúng đắn của chính sách được khẳng định ở mức cao hơn, được cả xã hội thừa nhận, nhất là đối tượng thụ hưởng chính sách
Thứ nhất, để triển khai chính sách một cách có hiệu quả, nhiệm vụ tiên quyết là
xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, đây là bước cần thiết quan trọng vì
* "Nghị quyết của Chính phủ được ban hành để quyết định chính sách cụ thể về xây dựng kiện toàn bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở, hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của các
cơ quan Nhà nước cấp trên; bảo đảm thực hiện Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân
và công dân; thực hịên chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quyết định chủ trương, chính sách cụ thể về ngân sách Nhà nước, tiền tệ, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh; thống nhất quản
lý công tác đối ngoại của Nhà nước, các biện pháp chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; phê duyệt các điều ước thuộc thẩm quyền của Chính phủ."
Trang 24về quy chế, nội quy tổ chức và điều hành thực thi chính sách
Thứ hai, phổ biến tuyên truyền chính sách Đây là công đoạn tiếp theo sau khi
chính sách đã được thông qua Nó cũng cần thiết vì giúp cho nhân dân, các cấp chính quyền hiểu được về chính sách và giúp cho chính sách được triển khai thuận lợi và có hiệu quả
Để làm được việc tuyên truyền này thì chúng ta cần phải đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, trang thiết bị kỹ thuật vì đây là đòi hỏi của thực tế khách quan
Việc tuyên truyền này cần phải được thực hiện thường xuyên liên tục, ngay cả khi chính sách đang được thực thi, với mọi đối tượng và trong khi tuyên truyền phải sử dụng nhiều hình thức như tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp…
Thứ ba, phân công phối hợp thực hiện chính sách: một chính sách thường được
thực hiện trên một địa bàn rộng lớn và nhiều tổ chức tham gia do đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý để hoàn thành tốt nhiệm vụ Mặt khác các hoạt động thực thi mục tiêu là hết sức đa dạng, phức tạp, chúng đan xen, thúc đẩy lẫn nhau, kìm hãm, bởi vậy việc phối hợp các cấp các ngành để triển khai một chính sách chủ động khoa học, sáng tạo sẽ có hiệu quả cao và duy trì ổn định
Thứ tư, duy trì chính sách Đây là bước làm cho chính sách tồn tại được và phát
huy tác dụng trong môi trường thực tế
Để duy trì được chính sách đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều yếu tố, như nhà nước là người tổ chức thực thi chính sách phải tạo điều kiện và môi trường để chính sách được thực thi tốt
Trang 25
Đối với người chấp hành chính sách phải có trách nhiệm tham gia tích cực vào thực thi chính sách Nếu các việc này được tiến hành đồng bộ thì việc duy trì chính sách
là việc làm không khó
Thứ năm, điều chỉnh chính sách, việc làm này rất cần thiết, diễn ra thường xuyên
trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Nó được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Thông thường cơ quan nào lập chính sách thì có quyền điều chỉnh chính sách)
Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách, chỉ điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu Hoạt động này phải hết sức cẩn thận và chính xác, không làm biến dạng chính sách ban đầu
Thứ sáu, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách.Bất cứ triển khai
chính sách nào cũng phải kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo các chính sách được thực hiện đúng và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực
Các cơ quan nhà nước thực hiện việc kiểm tra này và nếu tiến hành thường xuyên thì giúp nhà quản lý nắm vững được tình hình thực thi chính sách từ đó có những kết luận chính xác về chính sách
Công tác kiểm tra này cũng giúp cho các đối tượng thực thi nhận ra những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách
Thứ bảy, đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm Khâu này được tiến hành liên
tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình này ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ chính sách ở việc đánh giá này phải được tiến hành đối với cả các cơ quan nhà nước và đối tượng thực hiện chính sách
Trang 26
Sơ đồ 1.3: Triển khai chính sách 1.2 Lựa chọn chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở tỉnh Nghệ An - Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về ban hành chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở
Có thể khẳng định rằng, trong bất cứ giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng, cán
bộ và công tác cán bộ cũng đều giữ vị trí đặc biệt quan trọng, cán bộ là một trong những nhân tố cơ bản quyết định thành công hay thất bại của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:"cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém"
Nghị quyết trung ương 3 khoá VIII của Đảng về chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá tiếp tục khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công
phân công phối
hợp kiểm tra đôn đốc
điều chỉnh bổ
sung
đáp ứng yêu cầu cấp dưới
Triển khai chính
sách
duy tri tiến độ
Trang 27
hay thất bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng đảng"[27, tr.20] Đại hội X của Đảng cũng đã chỉ rõ: một trong những giải pháp nhằm đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phải là: "Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài, dù là đảng viên hay người ngoài Đảng" [31, tr.51]
Trên cơ sở những quan điểm về cán bộ, chính sách đối với cán bộ nói chung, Đảng cũng đã đưa ra những quan điểm về đội ngũ cán bộ ở cấp cơ sở và vấn đề thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc ở chính quyền cơ sở Đảng ta nhận định đó là những người trực tiếp tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Nghị quyết trung ương 5 (khoá IX) chỉ rõ:
Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở [30, tr.167-168] Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khoá X Đảng ta nêu rõ chủ trương về ban hành chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác ở cơ sở :
Thực hiện mạnh mẽ chủ trương trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá…tạo bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở" và
"để trẻ hoá và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở, cần sớm ban hành chính sách thu hút để thực hiện chủ trương đưa sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng về công tác ở xã, phường, thị trấn…[32, tr.100]
Tại Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khoá X, Đảng ta tiếp tục khẳng định điều này và yêu cầu tăng cường việc nghiên cứu chính sách đó Đảng đã khẳng định:
Trang 28
Nghiên cứu chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ học sinh, sinh viên xuất sắc, các nhà khoa học trẻ tuổi để bổ sung cán bộ cho các lĩnh vực công tác [33, tr.257]
Đội ngũ cán bộ ở chính quyền cơ sở cơ sở là những người làm việc trong bộ máy chính quyền và các tổ chức đoàn thể quần chúng của hệ thống chính trị cấp cơ sở Trách nhiệm của đội ngũ cán bộ này là thay mặt Đảng và Nhà nước trực tiếp lãnh đạo, quản lý xã hội đến tận người dân Họ trực tiếp phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực của công dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân ở cơ sở, động viên quần chúng làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước Họ là mối liên hệ giữa Đảng với dân, là hiện thân niềm tin của dân đối với Đảng Chính thông qua đội ngũ cán bộ này mà ý Đảng lòng dân được thống nhất, làm cho Đảng
và Nhà nước ở cơ sở ăn sâu bám rễ trong lòng quần chúng, tạo nên mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân, trực tiếp xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ…Vì thế, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ngang tầm nhiệm vụ mới đồng thời củng cố và kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong từng giai đoạn cách mạng
1.2.2 Nhu cầu đòi hỏi cho việc lựa chọn
1.2.2.1 Vị trí của chính quyền, cán bộ, công chức ở cấp cơ sở
Chính quyền cơ sở bao gồm Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, được bầu theo Hiến pháp và pháp luật Theo quy định của pháp luật, "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng
và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên" Theo Điều 2, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 thì:"Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở"
Trang 29
ở nước ta, chính quyền cấp xã gồm xã, phường, thị trấn là chính quyền cơ sở, cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền địa phương Ba loại hình này có nhiều nét chung nhưng cũng có những điểm khác biệt Sự khác biệt đó thể hiện ở các mối quan hệ trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, truyền thống, tính cộng đồng, địa lý, dân cư…Chính quyền cấp xã có vai trò vị trí đặc biệt quan trọng không chỉ trong cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước mà còn là yếu tố chi phối mạnh mẽ tới đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của các cộng đồng dân cư và toàn thể người dân trong địa bàn; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là mắt xích quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhân dân Mọi chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước đều phải được thực hiện ở cấp
xã
Chính quyền cơ sở theo quan niệm chung còn được xác định là "trụ cột", "trung tâm" của hệ thống chính trị cơ sở trong tổ chức, triển khai mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đảm bảo cho nó đi vào cuộc sống Chính quyền cơ sở với chức năng, thẩm quyền được thể chế hoá theo phân cấp cùng với
cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ, công chức có thể thực hiện điều đó, mà khó có tổ chức nào ở cơ sở thay thế được
Đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở đã đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ, công
vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị cơ
sở nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở Có thể nói, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân cho đến nay
Xuất phát từ quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng, "cán bộ là cái gốc của mọi công việc"[54, tr.269], "công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém"[54, tr.273] Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII của Đảng đã khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng…Cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi
Trang 30
mới Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở…Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn Với vị trí là "nền tảng cơ sở", vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã được thể hiện qua bốn mối quan hệ: với đường lối, chính sách và pháp luật; với bộ máy chính quyền; với công việc; với quần chúng nhân dân:
Quan hệ giữa đường lối, nhiệm vụ chính trị với cán bộ, công chức chính quyền cơ
sở là mối quan hệ nhân quả Đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở có phẩm chất
và năng lực tốt mới có thể cụ thể hoá, bổ sung hoàn chỉnh đường lối Không có đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã vững mạnh thì dù đường lối, nhiệm vụ chính trị
có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực Như vậy, cán bộ, công chức chính quyền cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng
và Nhà nước
Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn ở đây, vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng nhân dân Trên ý nghĩa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng"[55, tr.269]
Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là nhân tố chủ yếu, hàng đầu và là nhân tố
"động" nhất của bộ máy chính quyền cấp xã; là người tổ chức và điều hành hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã Song đến lượt mình, cán bộ, công chức chính quyền cấp xã lại chịu sự chi phối, ràng buộc bởi quy định của tổ chức Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã buộc người cán bộ, công chức chính quyền cơ sở phải hành động theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định Tổ chức bộ máy chính quyền khoa học và
Trang 31
hợp lý sẽ nhân sức mạnh của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã lên gấp bội Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã có sức mạnh khi gắn với tổ chức chính quyền và nhân dân Nếu tách rời khỏi tổ chức chính quyền thì cán bộ, công chức chính quyền cấp xã mất sức mạnh quyền lực và hiệu lực do nhân dân tạo nên
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, đội ngũ cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã với tư cách là người thực thi pháp luật càng có vai trò, vị trí quan trọng trong việc góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt trong triển khai, tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống
Cán bộ, công chức chính quyền cấp xã và đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã là lực lượng "nòng cốt" trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cấp
xã Nói cách khác, mỗi cán bộ, công chức chính quyền cấp xã và đội ngũ ấy đang được giao thực hiện khối lượng công việc rộng, nhiều và có tác động ảnh hưởng lớn trong việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quản theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở Đồng thời, chính họ cũng có khả năng đóng góp một khối lượng lớn ý kiến đề xuất với các cơ quan nhà nước cấp trên để xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp hướng tới nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở gần dân có vai trò trực tiếp bảo đảm
kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hình thức vi phạm pháp luật Họ cũng là những người đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác làm cho
bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả Thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình
Trong hệ thống chính trị nước ta, cán bộ cơ ở (xã, phường, thị trấn) là những người ngoài việc trực tiếp lãnh đạo và tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn phải trực tiếp giải quyết hằng ngày, hằng giờ những vấn đề dân quyền, dân sinh, dân trí ở cơ sở Do vậy, xây dựng đội ngũ
Trang 32
cán bộ, công chức cấp cơ sở vững mạnh là yêu cầu cơ bản và cấp bách nhằm đảm bảo
ổn định chính trị - xã hội, tạo ra động lực mới phát huy nội lực từ cơ sở Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nền tảng của mọi công tác là cấp xã"[53, tr.458] và
"cấp xã là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi"[53, tr.371]
Nhận thức được vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã trong quá trình xây dựng đất nước Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá IX đã xác định: xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở là một trong ba vấn đề cơ bản, bức xúc nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở Tuy nhiên, trong nhận thức và việc làm vẫn có những ý niệm đơn giản về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã, chưa thấy hết được tính quyết định của họ đối với hoạt động quản lý hành chính ở cơ sở Việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với họ cũng chưa tương xứng
Đội ngũ cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã là một lực lượng nòng cốt ở cấp chính quyền cơ sở, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việc chuẩn hoá và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
là đòi hỏi tất yếu, cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp cơ sở
Theo thống kê, đội ngũ cán bộ chuyên trách và cán bộ công chức cấp xã trong toàn tỉnh hiện nay có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bậc đại học chiếm tỉ lệ rất thấp Đây là khó khăn không nhỏ đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của Nghệ An
Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là do chế độ tiền lương đối với cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã còn thấp, không tạo được động lực để khuyến khích cán bộ, công chức cấp xã học tập, nâng cao trình độ để thực hiện nhiệm vụ, cũng như chưa tạo ra lực hút đủ mạnh đối với các đối tượng có trình độ chuyên môn về công tác tại cơ sở Vì vậy, xây dựng một chế độ ưu đãi hợp lý dành cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là góp phần tạo lực hút đối với nguồn nhân lực có trình độ như sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học về phục vụ chính quyền cơ sở; đồng thời giảm thiểu chi phí
Trang 33
dành cho việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã không đủ trình độ
và năng lực
1.2.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội và chính trị tỉnh Nghệ An
* Khái quát về kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội và chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạch định, triển khai chính sách nói chung và chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại chính quyền cơ sở nói riêng Chính vì vậy, trước khi xem xét đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Nghệ An và những nội dung cần có cho chính sách thu hút sinh viên
về làm việc ở xã, phường, thị trấn ở Nghệ An, cần khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An
Vị trí địa lý: Nghệ An nằm ở khu vực trung tâm Bắc miền Trung, có toạ độ địa lý
18°33′ đến 19°25′ vĩ Bắc và từ 102°53′ đến 105°46 kinh Đông, cách thủ đô Hà Nội 297
Km về phía Bắc, cách cố đô Huế 306 Km về phía Nam Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phía Đông giáp Biển Đông
Địa hình: phức tạp, bị chia cắt bởi các hệ thống núi đồi, sông suối, hướng nghiêng
từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam Địa - Kinh tế Nghệ An rất đa dạng về miền sinh thái,
có đủ các vùng núi cao, trung du, đồng bằng đô thị, ven biển, biên giới, hải đảo
Khí hậu: Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt Mùa nắng -
nóng kèm thêm gió lào, nhiệt độ nhiều ngày lên đến 38- 41oC gây khô hạn kéo dài, thường có mưa lớn kèm theo lụt, bão Mùa lạnh thường kèm theo khô hanh và rét đậm
Đất đai: Diện tích đất tự nhiên là 16.487km², trong đó 3/4 là miền núi, vùng cao
Diện tích đất nông nghiệp là 18 vạn hécta, trong đó có 3 vạn hécta đất đỏ Bazan có khả năng trồng các loại cây công nghiệp; 115 vạn hécta có khả năng lâm nghiệp, trong đó
có 60 vạn hécta rừng với trữ lượng gỗ 40 triệu mét khối
Điều kiện và tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội :
Dân số: tỉnh Nghệ An (theo điều tra dân số ngày 01/04/2009) có 2.913.055 người,
mật độ trung bình là 177 người/km² Trong đó, số người trong độ tuổi lao động là 1,7 triệu người, hằng năm được bổ sung trên 3 vạn lao động trẻ, trong đó 15% được đào tạo
Trang 34
nghề Số người được đào tạo chủ yếu thuộc đồng bằng, thành thị, còn ở miền núi cao không đáng kể* Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 7 dân tộc anh em cùng sinh sống, người Kinh chiếm 85% dân số sống hầu hết trên địa bàn tỉnh, tập trung chủ yếu ở đồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 15% dân số (Thái, H' Mông, Khơ mú, Thổ, ơ đu, Đan Lai) chủ yếu sống rải rác ở miền núi, vùng cao
Về hành chính: Tỉnh Nghệ An có 20 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố
Vinh, thị xã Cửa Lò, thị xã Thái Hoà, 10 huyện miền núi: Quế Phong, Tương Dương,
Kì Sơn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương và 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Diễn Châu, Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Yên Thành, Quỳnh Lưu Có 474 đơn vị hành chính cấp xã gồm 432 xã, 25 phường, 17 thị trấn, trong đó: 115 đơn vị thuộc vùng cao; 127 vùng núi thấp và 227 thuộc vùng đồng bằng ven biển ( với 5.639 khối xóm)
Số lượng đơn vị hành chính cấp xã lớn, quy mô từng đơn vị hành chính không đồng đều Các xã miền núi, vùng cao thường có diện tích rất lớn nhưng dân số ít Các xã đồng bằng thì ngược lại, diện tích nhỏ nhưng dân số rất đông Một số xã, phường có quy mô lớn như: số xã có 10.000 người trở lên là 55 (chiếm 11,6 %), đặc biệt xã Diễn Yên (Diễn Châu) 14.278 người, xã Nghĩa Lộc (Nghĩa Đàn) 14.183 người, Hưng Bình (TP.Vinh) 20.905 người Số xã có diện tích tự nhiên từ 10.000 ha trở lên là 43 (chiếm 9,07%), đặc biệt là xã Châu Khê (Con Cuông) 43.888,13 ha; Thông Thụ (Quế Phong) 42.130,97 ha Điều này dẫn tới khối lượng, độ phức tạp trong quản lý điều hành của từng đơn vị xã không giống nhau Do vậy, yếu tố số lượng cán bộ và tổ chức bộ máy của từng xã cũng cần có quy định khác nhau nhất định [17, tr.35]
Về văn hoá - xã hội: Nghệ An là vùng đất có nền văn hoá lâu đời, xuất hiện vào
hàng sớm nhất trong lịch sử Việt Nam với những minh chứng các di chỉ khảo cổ thời tiền sử Khắp nơi ở xứ Nghệ, ở đâu cũng ghi đậm dấu ấn lịch sử, văn hoá, những điển tích, truyền thống về địa linh, nhân kiệt Nằm trong mạch ngầm của truyền thống cách
*
Theo điều tra của Sở Lao động, Thương binh và xã hội: số lao động có trình
độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên chiếm 1,5%, số có trình độ đại học trở lên
là 0,8%
Trang 35
mạng và đấu tranh kiên dũng, Nghệ An đã sinh dưỡng biết bao anh hùng, hào kiệt: Mai Thúc Loan, Nguyễn Xí, Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Hồ Tùng Mậu, Phan Đăng Lưu, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai…Đặc biệt, mảnh đất địa linh, nhân kiệt, khí thiêng sông núi, truyền thống lịch sử văn hoá muôn đời đã kết tinh lại trong một người con kiệt xuất của quê hương - Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất
ở các xã, bản, làng, thôn, xóm của Nghệ An đều có những phong tục, tập quán, với nền văn hoá dân gian độc đáo Người Nghệ An nổi tiếng bởi sự thông minh, hiếu học, cần
cù, chịu rèn luyện, trung thực, đoàn kết, thuỷ chung
Hệ thống giáo dục đào tạo ở Nghệ An có quy mô khá lớn và toàn diện (3 trường đại học, 4 trường cao đẳng, 5 trường trung cấp, trường chính trị tỉnh, 2 trung tâm giáo dục thường xuyên, 19 trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và nhiều trung tâm dạy nghề…)
Với đặc điểm tự nhiên, đất đai, tài nguyên, dân số và truyền thống văn hoá, truyền thống cách mạng của mình, Nghệ An có nhiều thuận lợi để khai thác tiềm năng, phát huy lợi thế phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện và vững chắc Trong thời gian gần đây, kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đã có bước phát triển khá mạnh mẽ, cơ cấu kinh
tế chuyển dịch đúng hướng, văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được tăng cường, đời sống nhân dân được cải thiện
* Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội những năm qua
Phát huy truyền thống và những tiềm năng, lợi thế sẵn có, cùng với cơ chế chính sách thông thoáng, Nghệ An đã tập trung khai thác nội lực, thu hút ngoại lực tạo nên dấu ấn mới cho xứ Nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong những năm qua, thắng lợi có ý nghĩa lớn nhất là kinh tế phát triển nhanh và đúng hướng, tốc độ tăng trưởng GDP khá cao, riêng năm 2008 đạt 10,6% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: nông nghiệp giảm từ 31,03% (năm 2007) xuống 30,48%, công nghiệp, xây dựng tăng 32,01% lên 32,53%; dịch vụ tăng 36,96% lên 36,99% Mặc dù không điều chỉnh chỉ tiêu kinh tế, xã hội khi lạm phát xuất hiện nhưng 18/22 chỉ tiêu về kinh tế - xã hội vượt kế hoạch đề, đặc biệt một số chỉ tiêu chủ yếu như tốc độ tăng
Trang 36
trưởng kinh tế, thu ngân sách, tổng sản lượng lương thực, giá trị sản xuất công nghiệp
và giảm tỷ lệ đói nghèo
Các ngành kinh tế tăng trưởng mạnh đã tạo đà tăng thu ngân sách, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 2.801.514 triệu đồng, đạt 128% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao Huy động vốn đầu tư và xây dựng đạt khá: tổng nguồn vốn huy động đạt 16.619 tỷ đồng/ KH 16.500- 17.000 tỉ đồng Kết cấu hạ tầng kỹ thuật được tăng cường đầu tư xây dựng, nâng cấp Bằng công sức đóng góp của nhân dân, hệ thống giao thông, thuỷ lợi ở nông thôn từng bước được hoàn thiện Diện mạo thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, Thái Hoà
và các thị trấn, thị tứ ngày càng khang trang, xanh sạch đẹp, bộ mặt nông thôn khởi sắc
Không chỉ chú trọng phát triển kinh tế, Nghệ An còn rất quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội Đặc biệt trong sự nghiệp giáo dục- đào tạo, phát huy truyền thống hiếu học, phong trào thi đua học tập được phát triển mạnh Hằng năm, số lượng học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng không ngừng tăng Các chương trình văn hoá cơ sở phát huy hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Đến năm 2008, toàn tỉnh có trên 85% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, phong trào thể dục thể thao quấn chúng phát triển mạnh
Quốc phòng- an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, giữ vững ổn định chính trị ở tất cả các vùng, miền trong toàn tỉnh (vùng tôn giáo, vùng dân tộc thiểu số và miền núi biên giới hải đảo…
* Những khó khăn, hạn chế
Nghệ An là một tỉnh giàu tiềm năng và lợi thế trong phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh những thuận lợi căn bản và những thành tựu đã đạt được, tỉnh Nghệ An đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức Đó là xa các cực tăng trưởng và các trung tâm kinh tế - văn hoá lớn của cả nước nên sức thu hút đầu tư thấp, phải vươn lên bằng nội lực của chính mình Diện tích Nghệ An lớn nhất cả nước, địa hình phức tạp, đồi núi chiếm 83%, có 419 km đường biên giới, dân số đông với nhiều tộc người thiểu số và tôn giáo; thiên nhiên khắc nghiệt, hậu quả chiến tranh nặng nề; điểm xuất phát về kinh tế thấp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, hệ thống hạ tầng xã hội còn yếu kém
Trang 37
là những rào cản không nhỏ trong quá trình phát triển Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh hầu như phải xây dựng lại từ đầu sau chiến tranh
Trên 2/3 diện tích tự nhiên bao gồm 242 xã, với 1,4 triệu dân thuộc 7 dân tộc trong
đó chủ yếu là dân tộc thiểu số cùng sinh sống thuộc khu vực miền núi, vùng cao; địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi nhiều núi đèo, sông suối; cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn; đồng bào du canh, du cư còn nhiều, dân trí thấp, đời sống của các đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn
Tài nguyên, thiên nhiên phong phú về chủng loại nhưng trữ lượng nhỏ, lại nằm vùng sâu, khó khai thác công nghiệp
Công tác quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở cũng gặp khó khăn, đặc biệt
ở huyện miền núi: Diện tích rộng, các xã, bản ở cách xa nhau, giao thông bị chia cắt, thông tin bị gián đoạn…đặc biệt trong những mùa nước lũ
Nghệ An có tiềm năng lớn về lao động Tuy nhiên, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề còn thấp Sự phân bố dân số và trình độ dân trí không đồng đều, trình độ cán bộ cơ
sở còn có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng, miền, đặc biệt đội ngũ cán bộ cơ sở ở vùng cao trình độ còn rất thấp
Bên cạnh truyền thống văn hoá với những bản sắc tốt đẹp rất đáng trân trọng, thì con người xứ Nghệ thường nóng nảy, bảo thủ, còn ảnh hưởng không ít tư tưởng phong kiến, tính cục bộ địa phương Đây là một hạn chế của con người Nghệ An Phần đông những người đỗ đạt thường đi "thoát li", ít ở lại quê hương sinh sống, lập nghiệp, cống hiến tài năng góp phần xây dựng quê hương Mặt khác, do tư tưởng hẹp hòi, cục bộ nên cũng khó khăn trong việc thu hút nguồn lực từ bên ngoài về tham gia xây dựng làng xã, quê hương
Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý và điều hành đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị nói chung và chính quyền cơ sở nói riêng Đó cũng chính là rào cản hạn chế sự đóng góp của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An
Một điểm đặc thù khác cũng phải lưu ý ở Nghệ An là ngay ở cơ sở xã, phường đã có một đội ngũ đông đảo các đồng chí cán bộ đảng viên có quá trình công tác, có trình độ, còn
Trang 38
nhiệt huyết về nghỉ hưu tham gia công tác Bên cạnh thuận lợi thì đó cũng là một thách thức đòi hỏi hệ thống chính trị cơ sở, cán bộ cơ sở phải không ngừng trau dồi phẩm chất đạo đức và khả năng lãnh đạo
Cho đến nay, so với tình hình chung cả nước, Nghệ An vẫn là một tỉnh nghèo Mức tăng trưởng kinh tế vẫn ở dạng tiềm năng Nền kinh tế chủ yếu vẫn là kinh tế nông nghiệp, đến năm 2008 trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn (30,48%), so với công nghiệp, xây dựng (32,53%); chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, hiệu quả sản xuất chưa cao; sức cạnh tranh của sản phẩm nội tỉnh yếu Tốc độ đô thị hoá chậm Thu nhập bình quân đầu người mới chỉ bằng 64% mức bình quân chung cả nước, nội lực trong dân còn rất mỏng, nguồn thu ngân sách chỉ mới đáp ứng được 62% nhu cầu thường xuyên, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao (7,84% theo chuẩn mới) Lao động thiếu việc làm còn lớn
Nhiều vấn đề xã hội như: Tệ nạn ma tuý, tham nhũng, lãng phí, tội phạm còn diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông còn nhiều, an ninh biên giới, vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo vẫn còn nhiều vấn đề đáng lo ngại
Đời sống của nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa vẫn còn rất nhiều khó khăn
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp uỷ đảng ở một số đảng bộ cơ sở còn hạn chế Hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở vùng biên giới, vùng dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều bất cập, cải cách hành chính chưa có bước tiến bộ đáng kể
Với những đặc điểm và hạn chế nêu trên, gây những khó khăn nhất định trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa bàn Do vậy, đòi hỏi cán bộ, Đảng viên và mọi người dân Nghệ An nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức ở chính quyền cơ sở nói riêng phải luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm, vừa tháo vát, mưu trí, vừa phải có sức khoẻ, đồng thời phải có kiến thức trình độ nhất định về các mặt để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của Tỉnh trong giai đoạn mới
Thông qua việc xem xét, phân tích kỹ những điều kiện, môi trường sống và làm việc của người cán bộ công chức cấp xã để thấy được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình hoạt động công tác, cũng như trong việc phấn đấu rèn luyện, học tập
Trang 39
và trưởng thành đối với người cán bộ, công chức ở chính quyền cơ sở Đồng thời cũng nhìn nhận những điều kiện sinh sống, học tập, quê hương của nhưng sinh viên tốt nghiệp đại học, đối tượng thu hút về công tác ở chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh Nghệ An Đây cũng là những căn cứ thực tiễn để tác giả đề xuất những nội dung thu hút và kiến nghị giải pháp đúng và phù hợp: đảm bảo giữa tính đổi mới và tính
kế thừa, vừa đảm bảo những tiêu chí tuyển dụng, chế độ đãi ngộ theo tiêu chuẩn chung, vừa đáp ứng yêu cầu cụ thể, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An Nhằm thu hút được những sinh viên có trình độ khá giỏi, phẩm chất đạo đức tốt, có ý chí vươn lên về công tác tại chính quyền cơ sở để từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trẻ tuổi, có trình độ chuyên môn và trình độ lý luận tốt, năng động, nhiệt huyết đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới - giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước
1.2.2.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở ở Nghệ An
* Khái quát chung về thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở tỉnh Nghệ An
Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã:
Căn cứ tiêu chuẩn quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ nội vụ thì các chức danh cán bộ chuyên trách như: Bí thư, Phó bí thư
và Thường trực Đảng uỷ; Chủ tịch và Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ở khu vực đồng bằng, đô thị phải có trình độ chính trị và chuyên môn từ trung cấp trở lên Riêng đối với các chức danh cán bộ chuyên trách còn lại như: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thì tiêu chuẩn phải có trình độ văn hoá trung học cơ sở trở lên, được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ lĩnh vực công tác Hiện tại, toàn tỉnh có 4987 cán bộ chuyên trách, trong đó có 2203 người chưa qua đào tạo (chiếm tỷ lệ 44 %), 237 người có trình độ sơ cấp (5%), 1482 người trình độ trung cấp và cao đẳng (30%), 1065 trình độ đại học và sau đại học (21%)
Trang 40
Theo đó, tổng số cán bộ chuyên trách cấp xã đạt chuẩn về chuyên môn so với quy định là 2547 trường hợp (chiếm 51%), tổng số cán bộ chuyên trách cấp xã chưa đạt chuẩn về chuyên môn theo quy định là 2440 trường hợp (chiếm 49 %) (phụ lục 1)
Thực tế cho thấy, số lượng cán bộ chuyên trách cấp xã, lực lượng lãnh đạo nòng cốt ở cơ sở chưa đạt chuẩn về chuyên môn còn rất lớn, việc nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ này là nhiệm vụ cấp bách đối với cấp chính quyền cơ sở nhằm phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh nhà
Đối với công chức cấp xã
Căn cứ tiêu chuẩn quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ nội vụ thì 7 chức danh công chức cấp xã như: Trưởng Công an, Chỉ huy Trưởng Quân sự, Tài chính - Kế toán, Tư pháp - Hộ tịch, Địa chính - Xây dựng, Văn phòng - Thống kê, văn hoá - xã hội phải có chuyên môn từ trung cấp trở lên và có chuyên ngành phù hợp chức danh công chức đảm nhận
Hiện tại, toàn tỉnh có 4138 công chức cấp xã, trong đó có 624 người chưa qua đào tạo (chiếm tỷ lệ 15.1%), 102 người có trình độ sơ cấp (2.5%), 2 824 người có trình độ trung cấp và cao đẳng (68.2%), và 587 người có trình độ đại học (14.2 %)
Theo đó, tổng số công chức cấp xã đạt chuẩn về chuyên môn theo quy định là
3411 trường hợp (chiếm tỷ lệ 82%), tổng số công chức cấp xã chưa đạt chuẩn về chuyên môn theo quy định là 724 trường hợp (chiếm tỷ lệ 18 %) (phụ lục 2)
Căn cứ Nghị định số 121/2003/NĐ- CP ngày 21/10/2003 và Thông tư liên tịch số 34/2004/TTLT/BNV-BTC-BLĐTBVXH ngày 14/5/2004 của liên Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính - Bộ Lao động Thương binh và xã hội thì đến ngày 31/12/2006, 05 chức danh công chức cấp xã (Tài chính - Kế toán, Tư pháp - Hộ tịch, Địa chính - Xây dựng, Văn phòng - Thống kê, văn hoá - xã hội) phải đào tạo chuẩn theo Quyết định số 04/2004/QĐ- BNV, nếu không đạt chuẩn phải xem xét giải quyết từng trường hợp cụ thể Trong khi đó, đến thời điểm cuối năm 2008, theo số liệu thống kê cho thấy chất lượng công chức của tỉnh còn khá thấp so với trình độ chuẩn theo Quyết định số 04/2004/QĐ- BNV cũng như thực tế yêu cầu quản lý đặt ra đối với tỉnh Nghệ An