Theo nhiều nghiên cứu cho thấy nước ta có loại hình trâu to thường gọi là trâu Ngố có khối lượng KL cơ thể 400-500 kg, nếu dùng trâu đực này làm giống sẽ góp phần cải tạo tầm vóc trâu nh
Trang 1Nghiên cứu sử dụng trâu đực ngoại hình to phối với trâu cái được tuyển chọn nâng
cao tầm vóc trâu địa phương
Mai Văn Sánh
Bộ môn nghiên cứu Trâu – Viện Chăn Nuôi
Tác giả để liên hệ: TS Mai Văn Sánh, Trưởng Bộ môn nghiên cứu Trâu; Trưởng Phòng Đào Tạo và Thông Tin Viện Chăn Nuôi
ĐT: (04)8 386 125/ (04) 8 385 023 / 0912585 495; Email: mvsanh@netnam.vn
abstract
Effects of body size of buffalo bulls on growth of buffalo calves
Eight Swamp bufalo bulls (4 big size and 4 small size bulls) and 240 buffalo cows (120 selected and
120 non-selected) were used to evaluate the effects of bull size and selected buffalo cows on body weight and growth of calves Experimental animals were allocated into 4 groups: 1- big size bulls and selected cows; 2 - big size bulls and non-selected cows; 3 - smalls size bulls and selected cows and 4 - smalls size bulls and non-selected cows (control group) Each bull was used to breed with 15 selected cows and 15 non-selected cows
Body weight of calves at 3, 6, 12 and 24 months of age was highest in calves of group 1, then by group 2 and then group 3 while lowest was found in control group Calves weight of big size bulls and selected cows group was higher 10-15% than calves in small bulls and non-selected cows group at all ages The figures of body sizes were similar to that of body weight
It is concluded that use of big size bulls and selected buffalo cows are the good solution for improving body size and growth of calves
Key words: big size bulls, selected buffalo cows, birth weight, growth, body size
Đặt vấn đề Trâu nội thích ứng và phát triển tốt trong điều kiện sinh thái nước ta Chúng có nhược điểm là tầm vóc nhỏ, sinh trưởng chậm, thành thục muộn, khoảng cách lứa đẻ dài, khả năng cho thịt thấp Những năm qua công tác giống trâu của ta làm chưa tốt, nên trên thực tế đàn trâu đang có hiện tượng bị chọn lọc ngược Nhiều vùng trâu to bị bán đi giết thịt, trâu nhỏ được giữ lại cho cày kéo là chính và cũng đồng thời làm giống, đàn trâu cái thì chưa được chọn lọc Vì vậy có nơi tầm vóc đàn trâu đã có chiều hướng giảm
Theo nhiều nghiên cứu cho thấy nước ta có loại hình trâu to (thường gọi là trâu Ngố) có khối lượng (KL) cơ thể 400-500 kg, nếu dùng trâu đực này làm giống sẽ góp phần cải tạo tầm vóc trâu nhỏ các địa phương Kinh nghiệm từ Thái Lan và một số nước khác cho thấy chương trình quốc gia về tạo trâu đực giống và chọn trâu cái tốt đã góp phần cải thiện đáng kể tầm vóc đàn trâu địa phương (Aleko Alexiev, 1998; Charan Chantalakhana và Pakapun Skunmun, 2002)
Mục đích của đề tài là đánh giá ảnh hưởng của trâu đực và đàn trâu cái chọn đến
KL của nghé, làm cơ sở đề xuất giải pháp giống về cải tạo tầm vóc đàn trâu địa phương
Vật liệu và phương pháp
Đề tài được tiến hành tại xã Vân Hòa, huyện Ba Vì, Hà Tây, nơi có nhiệt độ trung bình 24,20C (biến động từ 16,7 đến 30,70C); ẩm độ trung bình 80,7% (biến động từ 70 đến 91,4%) và lượng mưa trung bình hàng năm 158,27 mm (biến động từ 11,9 đến 435,2 mm)
Đối tượng nghiên cứu: đàn trâu nội nuôi trong điều kiện của nông dân
Phương pháp theo dõi:
- Cân KL trâu bằng cân điện tử, đo một số chiều đo chính của trâu (VN, DTC, CV) bằng thước dây, thước gậy
Trang 2- Phỏng vấn nông dân về tình hình sinh sản, nuôi dưỡng đàn trâu bằng các câu hỏi đã chuẩn bị trước theo phương pháp điều tra nhanh nông thôn
- Chọn những trâu cái sinh sản có KL trưởng thành từ cao nhất trở xuống đến trung bình đàn, kết hợp tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách hai lứa đẻ từ trung bình trở lên
- Tuyển trâu đực Ngố từ Tuyên Quang có đủ tiêu chuẩn của trâu đực giống (5-6 tuổi, đẹp
về ngoại hình, đã có nghé sinh ra), KL cơ thể bình quân 528 kg
- Đàn trâu đực địa phương cũng chọn những con tốt nhất trong đàn theo tiêu chuẩn trên
và có KL trung bình 400 kg để đưa vào thí nghiệm
- Tổng số gia súc thí nghiệm là 8 trâu đực giống (4 trâu Ngố, 4 trâu địa phương) và 240 trâu cái sinh sản (120 trâu cái được chọn và 120 trâu đại trà) Thí nghiệm được tiến hành với hai yếu tố ảnh hưởng là trâu đực và trâu cái ở hai mức độ khác nhau là chọn
và không chọn, các lô thí nghiệm (TN) được bố trí như sau:
+ Lô TN 1: trâu đực Ngố với trâu cái đã chọn
+ Lô TN 2: trâu đực Ngố với trâu cái đại trà
+ Lô TN 3: trâu đực đại trà với trâu cái đã chọn
+ Lô đối chứng (ĐC): trâu đực đại trà với trâu cái đại trà
- Cách bố trí trâu đực giống và trâu cái sinh sản: để tránh ảnh hưởng của từng cá thể đực giống trong TN, mỗi trâu đực giống sẽ được phối với 15 trâu cái đã tuyển chọn và 15 trâu cái đại trà Như vậy ở mỗi lô TN và ĐC gồm có 4 trâu đực giống và 60 trâu cái sinh sản
- Trâu đực giống và trâu cái được đánh số, có sổ theo dõi từng nhóm, từng lô
- Khi trâu cái động dục được phối giống và giữ tại nhà đến khi hết động dục
- Trâu TN được nuôi dưỡng theo điều kiện của dân là chăn thả kết hợp bổ sung thức ăn (TA) tại chuồng vào ban đêm
- Trâu nghé TN đều được tiêm phòng định kỳ, nghé sinh ra được tẩy giun theo quy trình của thú y
- Nghé được theo mẹ tự bú đến khi tự cai sữa
- Cân KL nghé sinh ra ở các mốc tuổi sơ sinh, 3, 6, 12, 24 tháng tuổi bằng cân điện tử
- Đo kích thước một số chiều đo cơ thể bằng thước dây và thước gậy
- Cân đo gia súc vào buổi sáng trước khi trâu ăn hay đi chăn thả
- Số liệu được phân tích phương sai ANOVA, phương trình và hệ số tương quan sử dụng Regssion trên chương trình Minitab 13.0
Kết quả và thảo luận Hiện trạng đàn trâu địa phương trước khi tiến hành đề tài
Khảo sát, đánh giá chất lượng đàn trâu địa phương về tầm vóc, khả năng sinh trưởng, sinh sản (gồm 448 trâu cái và 69 trâu đực từ 36 tháng tuổi trở lên), đồng thời khảo sát 54 nghé đực và 79 nghé cái (6-24 tháng tuổi) Dựa vào hai chỉ tiêu chính để đánh giá chất lượng và làm cơ sở cho việc tuyển chọn đàn trâu cái là sinh trưởng (KL và các chiều đo cơ thể) và khả năng sinh sản
Bảng 1: Khối lượng cơ thể đàn trâu địa phương (kg) qua các mốc tuổi (năm 2002)
Tháng tuổi
Trang 318 9 175 ± 18,8 18 167 ± 16,9
Có thể thấy trâu địa phương có KL cơ thể thấp, thuộc loại hình nhỏ (thường gọi là trâu Gié) Mặc dù đàn trâu ở đây vẫn tăng đều qua các năm nhưng trâu cái không được chọn lọc, trâu đực giữ lại từ trong đàn sinh ra qua nhiều đời, trâu đực giống vừa có tầm vóc bé vừa không có sự hoán đổi vì vậy có thể xảy ra hiện tượng đồng huyết trong đàn Năm 1999, Vũ Duy Giảng và CS đã điều tra đánh giá tình hình phát triển đàn trâu miền Bắc thấy rằng KL đàn trâu hiện tại thấp so với những số liệu điều tra trước đây Số liệu chung của nhiều địa phương là ở 2 năm tuổi trâu đực chỉ đạt 234 kg, trâu cái 183 kg, còn riêng ở Phổ Yên (Thái Nguyên) trâu đực trưởng thành là 334 kg, trâu cái trưởng thành 306 kg Mai Văn Sánh và CS (1995) điều tra trâu ở Bình Sơn, Thái Nguyên cũng thấy KL trâu vùng này thấp, trâu đực trưởng thành 326 kg, trâu cái trưởng thành 312 kg Nếu so với các số liệu điều tra trên thì KL trâu ở đây còn khá hơn các vùng kia
Kết quả về khối lượng và sinh trưởng của đàn nghé thí nghiệm
Khối lượng nghé qua các mốc tuổi
KL cơ thể trung bình của trâu đực giống Ngố là 528 kg, trâu đực đại trà là 400 kg, đàn trâu cái được chọn là 358 kg và trâu cái đại trà là 330 kg Sau khi phân lô, KL của trâu bố và trâu mẹ như sau: lô TN1 có trâu đực 530 kg, trâu cái 359 kg; lô TN2 có trâu đực 530 kg, trâu cái 330 kg; lô TN3 có trâu đực 400 kg, trâu cái 357 kg và lô ĐC có trâu đực 400 kg, trâu cái 329 kg
Bảng 2: Khối lượng cơ thể nghé thí nghiệm (kg) sơ sinh, 3, 6, 12 và 24 tháng tuổi
L« TN1 L« TN2 L« TN3 L« §C Tuổi và tính
biệt nghé n (Mean±SD) n (Mean±SD) n (Mean±SD) n (Mean±SD) đ
ực
33 24,2a ± 1,7 30 23,0 b ± 1,5 28 21,4 bc ± 1,8 30 20,9 c ±1, 2 S¬
sinh
cái 28 23,3 a ± 1,8 30 22,6 a ± 1,8 31 20,9 b ± 1,3 30 20,3 b ± 1,1 đ
ực
33 56,6 ab ±
3,8
29 54,4 ab ±
3,6
24 50,6 b ± 2,6 23 48,7 c ± 2,9
3
Tháng
cái 28 56,0 b ± 4,2 28 52,6 b ± 3,2 27 50,0 c ± 3,3 24 48,4 c ± 3,3 đ
ực
32 88,9 a ± 4,6 28 84,2 ab ±
5,2 24 80,8 bc ± 4,7 23 77,6 c ± 4,5
6
Tháng
cái 26 87,4 a ± 4,4 28 82,8 ab ±
4,4 25 78,6 bc ± 3,9 23 77,3 c ± 3,6 đ
ực
24 154,6 a
±8,8
22 148,9 a ±8,9 19 139,1b ±10,4 22 135,9 b ±9,5
12
Tháng
cái 22 151,0 a
±9,5
22 147,2 a ±9,7 21 136,9 b±10,8 18 132,5
b±10,0 đ
ực
11 254,8a ±10,5 7 246,6a±11,8 8 234.6b ±10,7 6 229,7b ±10,5
24
Tháng
cái 8 248,4a ±11,5 8 244,9 a ±9,7 6 230,2 b±10,3 5 227,8b ±11,2
* Các chữ cái khác nhau theo hàng ngang biểu hiện sự khác nhau có ý nghĩa (P<0,05)
Trang 4KL sơ sinh, 3, 6, 12 và 24 tháng tuổi của nghé lô TN1 là cao nhất, tiếp đó là lô TN2 rồi đến lô TN3 và thấp nhất là lô ĐC KL cơ thể nghé ở các mốc tuổi có khác nhau giữa các lô, nhưng giữa lô TN1 và lô TN2 khác nhau không nhiều; cũng như vậy, giữa lô TN3
và lô ĐC cũng khác nhau không nhiều, trong khi giữa lô TN1, TN2 có sai khác đáng kể
so với lô TN3 và lô ĐC (P<0,05), điều đó chứng tỏ ảnh hưởng của trâu đực Ngố đến KL con khá lớn
So với KL đàn trâu điều tra trước khi TN, KL nghé của các lô TN và ĐC đều cao hơn, vì trong thời gian TN, các hộ nuôi trâu tham gia đều áp dụng kỹ thuật chăn nuôi trâu
và các phương pháp chế biến dự trữ TA mùa đông, vì vậy đã làm giảm đáng kể các ảnh hưởng của ngoại cảnh và KL đàn nghé được cải thiện rõ rệt Theo khảo sát của Hà Phúc Mịch (1985), KL nghé sơ sinh là 21 kg, lúc 6 tháng là 79,5 kg và 12 tháng là 132 kg, chỉ tương đương với KL nghé ở lô đại trà và thấp hơn các lô TN Thái Lan sau 10 năm thực hiện chương trình chọn lọc nhân thuần, KL nghé sơ sinh tăng từ 28,4 lên 30,6 kg (7,7%), lúc cai sữa 8 tháng tuổi tăng từ 121 lên 167 kg (38%), lúc 2 năm tuổi tăng từ 268 lên 317
kg (18%) (Chantalakhana và Skunmun, 2002)
Kết quả TN này chứng tỏ nghé của trâu đực Ngố với trâu cái được chọn là tốt nhất, tiếp theo là nghé của trâu đực Ngố với trâu cái đại trà, rồi đến nghé của trâu đực đại trà với trâu cái chọn lọc và thấp nhất là nghé của trâu đực đại trà với trâu cái đại trà Như vậy ảnh hưởng của trâu đực đến KL con sinh ra lớn hơn so với ảnh hưởng của mẹ Nói cách khác sử dụng trâu đực Ngố làm giống đã cải thiện đáng kể KL sơ sinh và sinh trưởng của nghé
Bảng 3 Khối lượng nghé của các lô thí nghiệm so với nghé lô đối chứng (%)
chứng
So với nghé đại trà (lô ĐC), KL sơ sinh, 3, 6, 12 và 24 tháng tuổi của nghé lô TN1 cao hơn 10-15%, nghé lô TN2 cao hơn 7,5-10,6% trong khi nghé lô TN3 chỉ cao hơn 1,7-2,7% nghĩa là KL nghé hai lô có bố là đực Ngố cao hơn đại trà nhiều hơn so với nghé lô
có mẹ được chọn, hay nói cách khác ảnh hưởng của trâu đực bố đến KL con lớn hơn ảnh hưởng của trâu cái mẹ
Sự khác biệt giữa các lô TN so với ĐC có xu hướng giảm dần khi tuổi nghé tăng lên là do ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh tăng dần đã làm giảm ảnh hưởng của yếu tố di truyền, tuy vậy sự khác biệt đó vẫn rất rõ rệt
Bảng 4 ảnh hưởng của khối lượng bố, mẹ đến khối lượng con sinh ra
KL nghé (kg) từ sđ sinh đến 24 tháng tuổi đKhối lượng bố,
mẹ
KL bố,
Trang 5Trâu mẹ đại trà 330 21,7 52,9 80,6 141,1 238,5
Sự chênh lệch về KL nghé sơ sinh của trâu bố Ngố ngoại hình to và trâu bố đại trà ngoại hình nhỏ là 23,3 kg so với 20,8 kg (2,5 kg), trong khi chênh lệch giữa KL nghé của trâu mẹ chọn và trâu mẹ đại trà chỉ là 22,5 kg so với 21,7 kg (0,8 kg) Chênh lệch KL nghé các giai đoạn sau cũng theo xu hướng tương tự như vậy Kết quả đã chứng minh rất
rõ ảnh hưởng của KL trâu bố và trâu mẹ đối với đàn con
Kích thước các chiều đo cơ thể
Tầm vóc của gia súc được thể hiện qua KL cơ thể và kích thước các chiều đo KL
cơ thể luôn luôn có tương quan thuận với kích thước các chiều đo cơ thể Khi kích thước
cơ thể tăng thì KL tăng Trong trường hợp thể trạng bình thường thì KL gia súc thể hiện tầm vóc, tuy nhiên ở từng giai đoạn sinh trưởng của gia súc non kích thước các chiều đo
cơ thể tăng nhưng KL tăng không theo tỷ lệ của kích thước, đó là giai đoạn phát triển xương, còn khi gia súc già thì có xu hướng ngược lại, KL có thể tăng nhưng kích thước không tăng theo tỷ lệ do chủ yếu là tích luỹ mỡ
Bảng 5 Kích thước một số chiều đo cơ thể nghé 12 và 24 tháng tuæi
Lô TN1 Lô TN2 Lô TN3 Lô đC Tính biệt và
tuổi nghé
(tháng) n (Mean±SD) n (Mean±SD) n (Mean±SD) n (Mean±SD)
§ùc 12 t 24 97,8 ± 1,9 22 96,7 ± 2,6 19 93,2 ± 2,1 22 92,2 ± 2,3 C¸i 12 t 22 97,9 ± 1,7 22 96,1 ± 1,8 21 92,7 ± 2,1 18 91,8 ± 2,5
§ùc 24 t 11 113,3 ± 2,0 7 112,0 ± 1,0 8 111,3 ± 2,7 6 110,3 ± 1,5
Cao
vây
C¸i 24 t 8 111,4 ± 3,9 8 110,6 ± 1,2 6 109,3 ± 2,1 5 109,2 ±1,5
§ùc 12 t 24 131,6 ±7,6 22 128,1 ± 7,1 19 123,2 ± 5,0 22 119,2 ± 8,8 C¸i 12 t 22 131,3 ± 5,2 22 127,6 ± 5,0 21 124,3 ± 6,5 18 117,1 ± 6,8
§ùc 24 t 11 158,1 ± 2,5 7 157,4 ± 3,5 8 153,1 ± 3,3 6 152,8 ± 2,9
Vòng
ngực
C¸i 24 t 8 156,4 ±1,9 8 155,3 ± 3,2 6 152,7 ± 2,2 5 151,8 ± 2,3
§ùc 12 t 24 97,6 ± 2,6 22 96,7 ± 3,1 19 93,2 ± 3,2 22 92,0 ± 1,9 C¸i 12 t 22 97,5 ± 2,4 22 96,3 ± 2,1 21 92,3 ± 2,8 18 91,4 ± 2,0
§ùc 24 t 11 125,4 ± 0,7 7 124,9 ± 1,2 8 121,7 ± 1,4 6 120,4 ± 1,4
Dài
thân
chéo
C¸i 24 t 8 124,3 ± 0,9 8 123,5 ± 2,3 6 120,3 ± 1,5 5 120,2 ± 1,1 Cũng có kết quả tương tự như KL cuả nghé, các chiều đo cao vây, vòng ngực và dài thân chéo của nghé 12 và 24 tháng tuổi cũng cao nhất ở lô trâu đực Ngố ngoại hình to phối với trâu cái được chọn lọc, tiếp theo là nghé của lô trâu đực ngoại hình to phối với trâu cái đại trà, rồi đến nghé của lô trâu đực đại trà phối với trâu cái chọn lọc và cuối cùng thấp nhất là nghé của lô trâu đực đại trà phối với trâu cái đại trà
Trong TN này, kích thước các chiều đo cơ thể nghé ở tất cả các lô được theo dõi từ
sơ sinh đến 24 tháng tuổi, kết hợp với KL cơ thể thấy rằng nghé phát triển theo quy luật sinh trưởng gia súc nói chung, đó là quy luật phát triển không đồng đều giữa các giai đoạn, nghé phát triển mạnh nhất ở thời kỳ mới sinh, sau đó giảm dần, tương tự như những kết quả thu được của Nguyễn Đức Thạc (1983), Lê Đăng Đảnh và CS (1995) trên trâu nội, của Mai Văn Sánh (1996) trên trâu Murrah và trâu lai F1
Trang 6Tương quan giữa khối lượng trâu bố, trâu mẹ với khối lượng của nghé
Các nhà khoa học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa KL nghé sơ sinh với KL của bố
mẹ và thấy rằng có sự tương quan thuận giữa KL nghé sơ sinh và KL cơ thể của bố mẹ Bảng 6 Các phương trình hồi quy và hệ số tương quan giữa khối lượng nghé các tháng
tuổi với khối lượng trâu bố Tuổi nghé
(tháng)
quan
Độ tin cậy
x
x
x
x
* Y là khối lượng nghé các tháng tuổi, x là khối lượng trâu bố
Bảng 7 Phương trình hồi quy, hệ số tương quan giữa khối lượng nghé các tháng tuổi với
khối lượng trâu mẹ Tuổi nghé
(tháng)
quan
Độ tin cậy
x
x
x
x
x
Trang 7Rõ ràng ảnh hưởng của KL bố đến KL sơ sinh và sinh trưởng của nghé khá lớn, tương quan thuận rất chặt chẽ (r = 0,68-0,87), trong khi ảnh hưởng của KL mẹ cũng có tương quan thuận, nhưng thấp hơn (r = 0,15-0,28) Tương tự những kết quả thu được ở trên, Topanurak và CS (1991) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến KL sơ sinh và khả năng sinh trưởng của nghé thấy rằng trâu đầm lầy có KL sơ sinh bị ảnh hưởng bởi KL trâu bố, giới tính, ngoài ra còn bị ảnh hưởng bởi lứa đẻ và năm sinh với độ tin cậy rất cao (P<0,01) Nguyễn Đức Thạc (1983) khi nghiên cứu về sinh trưởng của nghé, nhận thấy
KL sơ sinh có tương quan thuận với KL trâu mẹ, tính trên 65 lứa đẻ, hệ số tương quan giữa KL mẹ và KL sơ sinh r = + 0,71 Theo Intaramongkol và CS (1991), KL cai sữa 240 ngày tuổi của trâu bị ảnh hưởng bởi KL, tuổi của bố, mẹ, giới tính, mùa vụ và năm sinh Tương quan giữa khối lượng nghé sơ sinh và khối lượng các giai đoạn sau
KL sơ sinh của trâu cũng tương quan thuận với KL cơ thể chúng ở những lứa tuổi
kế tiếp Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt và ổn định, người ta có thể dựa vào KL sơ sinh của nghé để đánh giá và dự đoán khả năng sinh trưởng giai đoạn sau, và nó cũng là chỉ tiêu quan trọng trong chọn giống
Bảng 8 Các phương trình hồi quy và hệ số tương quan giữa khối lượng nghé sơ sinh với
khối lượng nghé các giai đoạn sau Tuổi nghé
(tháng)
quan
Độ tin cậy
x
x
x
x
* Y là khối lđợng nghé các tháng tuổigiai đoạn sau, x là khối lđợng nghé sđ sinh
Hệ số tương quan giảm dần theo tuổi của nghé chứng tỏ nghé càng lớn, ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh càng tăng và đã làm giảm ảnh hưởng của yếu tố di truyền Như trên
đã nêu, nghé TN nuôi trong điều kiện của dân, không kiểm soát hết được điều kiện nuôi dưỡng, nhiều trường hợp không đáp ứng được nhu cầu của nghé nên chúng sinh trưởng không đúng như tiềm năng sinh học Vì vậy để phát huy hết tiềm năng di truyền cần phải nuôi đủ nhu cầu dinh dưỡng của nghé
Kết luận
1 KL nghé sơ sinh lớn nhất là lô trâu đực Ngố với trâu cái được chọn (đực 24,2 kg
và cái 23,3 kg), tiếp theo là lô trâu đực Ngố với trâu cái đại trà (đực 23,0 kg và cái 22,6 kg), sau đó đến lô trâu đực đại trà với trâu cái được chọn (đực 21,4 kg và cái 20,9 kg), và nhỏ nhất là lô trâu đực đại trà với trâu cái đại trà (đực 20,9 kg và cái 20,3 kg) KL nghé các giai đoạn tiếp theo cũng tương tự như KL sơ sinh, lô trâu đực Ngố với trâu cái được
Trang 8chọn lớn hơn 10-15% so với lô trâu đực đại trà với trâu cái đại trà Kích thước các chỉều
đo cơ thể nghé sơ sinh, 3, 6, 12 và 24 tháng theo quy luật tương tự như KL nghé
2 Tương quan giữa KL nghé với KL trâu bố là thuận, chặt chẽ (r = 0,68-0,87), giữa
KL nghé với KL trâu mẹ cũng thuận nhưng hệ số tương quan thấp hơn (r = 0,15-0,28) ảnh hưởng của trâu bố đối với KL nghé sinh ra lớn hơn ảnh hưởng của trâu mẹ, chênh lệch về KL nghé của trâu bố Ngố ngoại hình to và trâu bố đại trà ngoại hình nhỏ là 23,3
kg so với 20,8 kg (2,5 kg), trong khi chênh lệch giữa KL nghé của trâu mẹ chọn và trâu
mẹ đại trà chỉ là 22,5 kg so với 21,7 kg (0,8 kg) Tương quan giữa KL nghé sơ sinh với
KL nghé các giai đoạn sau là thuận và chặt chẽ (r= 0,52-0,72)
3 KL nghé của trâu đực Ngố ngoại hình to lớn hơn rõ rệt (P<0,05) so với nghé của trâu đực địa phương (sơ sinh 23,3 kg so với 20,8 kg và 24 tháng 249,3 kg so với 213 kg)
KL nghé của trâu mẹ chọn lớn hơn nghé của trâu mẹ đại trà nhưng không rõ rệt (sơ sinh 22,5 kg so với 21,7 kg và 24 tháng 243,9 kg so với 238,5 kg) Sử dụng trâu đực Ngố ngoại hình to làm giống là biện pháp tốt để nâng cao tầm vóc trâu, nếu kết hợp với chọn lọc thường xuyên đàn trâu cái sẽ có hiệu quả cao hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Aleko Alexiev, 1998 The water buffalo St Kliment Ohridski University Press, Sofia
Charan Chantalakhana and Pakapun Skunmun (2002) Sustainable Smallholder Animal Systems in the Tropics Kasetsart University Press, Thailand
Hà Phúc Mịch (1985) Một số nhận xét bước đầu về khả năng sinh trưởng của trâu lai F1 Murrah x Việt nam Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp, 1985, trang 424-426
Intaramongkol, J.; S Topanurak and S Intaramongkol (1991) Factors influencing weaning weight in swamp buffalo and correction factors for adjusting this trait due to age of dam Annual report
1898-1991 The national buffalo research and development project, Bangkok, Thailand, pp 26-35
Le Đang Đanh, Chau Chau Hoang, Nguyen Kim Cuong, Pham Trong Nghia, Tran Van Chinh, Nguyen Van Phat and John Perkins (1995) Management and performance of village cattle and buffalo – a case study from Phuoc Thanh village Exploring Approaches to Research in the Animal Sciences in Vietnam A Workshop held in Hue, 31 Jul.-3 Aug., 1995, pp 90-93
Mai Văn Sánh (1996) Khả năng sinh trưởng, sinh sản, cho sữa thịt của trâu Murrah nuôi ở Sông Bé và kết quả lai tạo với trâu nội Luận án PTS Nông nghiệp
Mai Văn Sánh (1998) Vai trò của con trâu trong sản xuất Nông nghiệp và đời sống cùng các biện pháp thúc đẩy đàn trâu phát triển TC Nông nghiệp Công nghiệp thực phẩm, số 11, 1998, pp 485-486 Mai Van Sanh, Nguyen Duc Thac, Dao Lan Nhi and R J Petheram (1995) Buffalo rearing in a mountainous village of Vietnam Exploring Approaches to Research in the Animal Sciences in Vietnam A Workshop held in Hue, 31 Jul.-3 Aug., 1995, pp161-166
Nguyễn Đức Thạc (1983) Một số đặc điểm về sinh trưởng, cho thịt sữa của loại hình trâu to miền Bắc và khả năng cải tạo với trâu Murrah Luận án PTS Nông nghiệp
Topanurak, S.; J Intaramongkol, P Ratanapunna, S Intaramongkol, S Tumwasorn and C Chatalakhana (1991) Factors affecting growth performance in Thai swamp buffalo Annual report 1898-1991 The national buffalo research and development project, Bangkok, Thailand, pp 17-25
Vũ Duy Giảng, Nguyễn Trọng Tiến, Nguyễn Xuân Trạch và CTV (1999) Báo cáo kết quả thực hiện đề tài: Điều tra đánh giá và định hướng phát triển đàn trâu miền Bắc VN./