Nhận thức được tầm quan trọng đó, tácgiả quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Tác động của cơ chế quản trị côngty, đặc điểm công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính tại các c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Tiểu luận phương pháp nghiên cứu nâng cao
Đề tài: Tác Động Của Cơ Chế Quản Trị Công Ty, Đặc Điểm Công Ty Đến Tính Kịp Thời Của Báo Cáo Tài Chính Tại Các Công Ty Niêm Yết
Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Họ và tên: Phạm Xuân Đông
Trang 2TP.HCM, Tháng 05/2021
Trang 3MỤC LỤC
1 Giới thiệu 1
1.1 Vấn đề nghiên cứu và tính cấp thiết 1
1.2 Khe hổng nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.6 Đóng góp của đề tài 5
1.7 Tổng quan phương pháp nghiên cứu 5
2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan 6
2.1 Các khái niệm liên quan 6
2.1.1 Tính kịp thời của báo cáo tài chính 6
2.1.2 Cơ chế quản trị công ty 8
2.2 Cơ sở lý thuyết liên quan 9
2.2.1 Lý thuyết thông tin hữu ích 9
2.2.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 10
2.2.3 Lý thuyết người đại diện 11
2.3 Các nghiên cứu liên quan và giả thuyết nghiên cứu 12
2.3.1 Tác động của cơ chế quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính 12
2.3.2 Tác động của các yếu tố đặc điểm công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính 15
3 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu 17
3.1 Phương pháp nghiên cứu 17
3.1.1 Mô hình nghiên cứu 17
3.1.2 Phương pháp ước lượng và dữ liệu nghiên cứu 20
4 Đề cương chi tiết 22
5 Tiến độ thực hiện nghiên cứu 24
6 Danh mục tài liệu tham khảo 24
Trang 41 Giới thiệu
1.1 Vấn đề nghiên cứu và tính cấp thiết
Trong những năm gần đây, thị trường chứng khoán trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng đang có những bước phát triển tích cực Thực tế cho thấy thịtrường chứng khoán ngày càng trở nên hoàn thiện về cấu trúc, gia tăng quy mô vàkhẳng định được vai trò là kênh dẫn vốn hữu hiệu trong nền kinh tế Trước sự pháttriển mạnh mẽ và tích cực của thị trường chứng khoán, việc cổ phần hóa đặt ranhiều thách thức cho các doanh nghiệp về sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyềnquản lý trong công ty
Đối với hầu hết các công ty cổ phần, xung đột về lợi ích giữa chủ sở hữu vàngười quản lý là một vấn đề tất yếu Lý thuyết ủy nhiệm và lý thuyết thông tin bấtcân xứng cho thấy người quản lý là người nắm rõ về tình hình tài chính và kinhdoanh của công ty, trong khi đó, chủ sở hữu hay các cổ đông của công ty lại khôngtrực tiếp tham gia cũng như không thực hiện vai trò giám sát của mình Đối vớinhững cổ đông này, báo cáo tài chính được kiểm toán là nguồn thông tin đáng tincậy duy nhất được công bố trên thị trường vốn (Leventis và cộng sự, 2005) và khiđược công bố kịp thời, báo cáo tài chính sẽ đảm bảo được tính hữu ích cho nhữngbên có nhu cầu sử dụng (Givoly và Palmon, 1982) Do đó, sự chính xác và kịp thờicủa thông tin được cung cấp trên báo cáo tài chính sẽ giúp cho các nhà đầu tư củng
cố niềm tin cũng như đảm bảo tiếp cận thông tin nhanh chóng nhằm giúp họ cónhững quyết định đầu tư kịp thời và hiệu quả
Tính kịp thời là một thuộc tính thông tin quan trọng của báo cáo tài chính(BCTC) (Carslaw và Kaplan, 1991) và sự chậm trễ trong việc phát hành BCTC sẽlàm tăng sự không chắc chắn liên quan đến các quyết định đầu tư (Ashton và cộng
sự, 1987) Tác động tiêu cực của việc không kịp thời báo cáo tài chính đã trở thànhmột mối lo ngại ở cả các nước phát triển và đang phát triển Mối lo ngại này chủyếu xuất phát từ rủi ro do ảnh hưởng của độ trễ thời gian lập báo cáo tài chính đếnchất lượng báo cáo tài chính Tại Việt Nam, khung pháp lý điều chỉnh hoạt độngcông bố thông tin luôn được chú trọng hoàn thiện từ khi thị trường chứng khoán
Trang 5hình thành Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số bất cập trong việc công bố thông tintrên thị trường chứng khoán Việt Nam làm cho tính minh bạch và công khai củathông tin tài chính bị giảm sút Trong đó, chậm công bố thông tin báo cáo tài chính
là vi phạm khá phổ biến của công ty đại chúng, các tổ chức kinh doanh chứngkhoán
Chính vì vậy, việc tìm hiểu các yếu tố quyết định đến tính kịp thời sẽ là công
cụ mang tính định hướng trong chính sách quản lý thị trường vốn (Owusu-Ansah,2000) và tăng cường việc ra quyết định cũng như giảm hiện tượng bất cân xứng vềthông tin
Bên cạnh đó, ý thức tự giá và tinh thần trách nhiệm của các doanh nghiệptrong việc công bố báo cáo tài chính kịp thời chưa cao, còn mang tính đối phó dẫnđến chất lượng thông tin còn thấp Có thể nói, những vấn đề trên đã góp phần củng
cố thêm sự cần thiết của việc công bố báo cáo tài chính đã được kiểm toán kịp thời,chính xác nhằm đảm bảo lợi ích cho các cổ đông nói riêng và những người sử dụngthông tin trên báo cáo tài chính nói chung và nhằm duy trì tính minh bạch của thôngtin trên thị trường vốn
Với những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp giúp cácdoanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thể khắc phục tìnhtrạng chậm trễ trong việc công bố báo cáo tài chính hiện nay là thật sự quan trọng
và cần thiết Bên cạnh đó, quản trị công ty được thực hiện tốt sẽ đóng vai trò là một
hệ thống giám sát hiệu quả, đồng thời là một biện pháp hữu ích trong việc công bốbáo cáo tài chính kịp thời, từ đó góp phần nâng cao chất lượng công bố thông tincủa doanh nghiệp (Beekes và Brown, 2006) Nhận thức được tầm quan trọng đó, tác
giả quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Tác động của cơ chế quản trị công
ty, đặc điểm công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.
1.2 Khe hổng nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xác định các nhân tố ảnh hưởng đếntính kịp thời trong việc công bố các thông tin trên báo cáo tài chính Chẳng hạn như
Trang 6nghiên cứu Khalid Alkhatib và Qais Marji (2012), Robert H Ashton và cộng sự(1989), Stephen Owusu-Anahsa và Stergios Leventis (2006), Amr Ezat và AhmedEl-Masry (2008), Hussein Ali Khasharmeh và Khaled Aljifri (2010), Ziyad Mustafa
M Al-Shwiyat (2013) Các nghiên cứu trên đều đã chỉ ra được nhiều yếu tố đặcđiểm công ty có tác động đến tính kịp thời của báo cáo tài chính của các công tyniêm yết
Tuy nhiên, Abdesalam và Street (2007), Dogan, Coskun và Celik (2007) chorằng báo cáo tài chính kịp thời không phải lúc nào cũng phục vụ lợi ích của người
sử dụng báo cáo tài chính, mà phục vụ lợi ích của các nhà quản lý khi thực hiệnnhiệm vụ quản lý của họ Do đó, tồn tại sự gia tăng khoảng cách báo cáo kịp thời.Bởi vì, quyết định trình bày hay không trình bày báo cáo tài chính đúng hạn phầnlớn phụ thuộc vào các đặc điểm quản trị công ty như quy mô hội đồng quản trị, tínhđộc lập của hội đồng quản trị, tính độc lập của ủy ban kiểm toán và các thuộc tínhquản trị công ty khác (Uwuigbe và cộng sự, 2018)
Ngoài nhu cầu ngày càng cao về chất lượng báo cáo tài chính, nghiên cứu vềđặc điểm quản trị công ty và tính kịp thời của báo cáo tài chính đã được thực hiện ởcác nước phát triển (Davies & Whiittred, 1980; OECD, 2004; McGee & Yuan,2011; Mohamad, Shafie & Wan-Hussin, 2010; Omar & Ahmed, 2016) Tuy nhiên,kết quả tại các nước phát triển lại không đúng với các nước đang phát triển Có thểthấy, các kết quả về mối quan hệ giữa quản trị công ty và tính kịp thời của báo cáotài chính còn hỗn hợp và không nhất quán (Turel, 2010; Appah & Emeh, 2013;Asuquo, Imobhio & Izedonmi, 2015; Akogo, Mgbame & Ogaide, 2015; Uwuigbe
và cộng sự, 2018)
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ khe hổng nghiên cứu trên, luận án có các mục tiêu tổng quát vàmục tiêu cụ thể như sau:
Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu này xem xét tác động của quản trị công
ty, đặc điểm công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính tại các công ty niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 7 Mục tiêu cụ thể: để đạt được mục tiêu tổng quát, nghiên cứu này có các
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:Các yếu tố đặc điểm công ty nào có tác động đến tính kịp thời của báo cáo tàichính tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
Tác động của quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính tại cáccông ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào?
Các hàm ý chính sách nào nhằm đảm bảo tính kịp thời của báo cáo tài chínhcũng như nâng cao chất lượng báo cáo tài chính?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tác động của cơ chế quản trị công ty, đặc điểm công
ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính Báo cáo tài chính được xem xét đến trongnghiên cứu này phải được thực hiện kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành với mẫu 548 doanh nghiệp
niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX, do đây là hai Sàn Giao dịch Chứng khoán lớnnhất tại Việt Nam với tính thanh khoản cao, đồng thời có khối lượng thông tin đượccông bố lớn và dễ tiếp cận, phù hợp hơn cho mục đích nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành từ năm 2014 đến năm
2019 Giai đoạn này được chọn dựa trên tính đầy đủ của các dữ liệu nghiên cứu Cụthể dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là tương đối lớn với mẫu 548 doanhnghiệp trong khoảng thời gian 6 năm sẽ bao gồm 3288 quan sát Đồng thời, một số
Trang 8biến liên quan đến cơ chế quản trị công ty phải thu thập thủ công từ nhiều báo cáokhác nhau như Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên
1.6 Đóng góp của đề tài
Về mặt lý thuyết, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp bằng chứng chotác động của quản trị công ty và các đặc điểm của công ty đến tính kịp thời của báocáo tài chính Kết quả nghiên cứu này sẽ củng cố và bổ sung cho các lý thuyết tàichính doanh nghiệp đương đại như lý thuyết thông tin hữu ích, lý thuyết người đạidiện, lý thuyết các bên liên quan
Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp giúp các doanh nghiệpniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thể khắc phục tình trạng chậmtrễ trong việc công bố BCTC hiện nay là thật sự quan trọng và cần thiết Bên cạnh
đó, quản trị doanh nghiệp được thực hiện tốt sẽ đóng vai trò là một hệ thống giámsát hiệu quả, đồng thời là một biện pháp hữu ích trong việc công bố BCTC kịp thời,
từ đó góp phần nâng cao chất lượng công bố thông tin của doanh nghiệp
1.7 Tổng quan phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp địnhtính và định lượng cụ thể như sau:
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn liên quan đến tình trạng chậm trễ báocáo tài chính của các doanh nghiệp, tác giả liên hệ và vận dụng các lý thuyết như lýthuyết thông tin hữu ích, lý thuyết người đại diện, lý thuyết các bên liên quan, kếthợp với lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước để phát triển các giả thuyếtnghiên cứu, từ đó thiết lập và đề xuất các biến cho mô hình hồi quy để kiểm chứngcác giả thuyết được đề xuất
Trên cơ sở dữ liệu bảng cân bằng được thu thập từ báo cáo tài chính và báocáo thường niên kiểm toán của các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên hai sànchứng khoán HOSE và HNX trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019, tác giả sửcác phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng Có nhiều phương pháp hồi quy dữ liệubảng truyền thống, trong đó FEM, REM là các phương pháp hồi quy thường được
sử dụng Tuy nhiên, khi mô hình có các biến nghiên cứu với độ trễ, hiện tượng nội
Trang 9sinh sẽ xảy ra và các phương pháp hồi quy FEM, REM thường dẫn đến hiện tượng
tự tương quan, phương sai sai số thay đổi trong mô hình Do đó, Arellano và Bond(1991) đề xuất sử dụng phương pháp hồi quy GMM để khắc phục các hiện tượngnêu trên Về mặt lý thuyết, GMM bao gồm 2 phương pháp là GMM sai phân
(DGMM) và GMM hệ thống (SGMM) Tuy nhiên, Blundell và Bond (1998) cho
rằng khi biến phụ thuộc có mối tương quan cao giữa các giá trị hiện tại và giá trị ởthời kỳ trước đó, và số thời kỳ là không quá dài thì phương pháp ước lượng DGMM
là không hiệu quả do các biến công cụ sử dụng được đánh giá là không đủ mạnh
Blundell và Bond (1998) đã mở rộng phương pháp ước lượng DGMM với việc xem
xét đồng thời hệ thống hai phương pháp ước lượng (mô hình cơ bản, GMM và môhình DGMM) gọi chung là ước lượng GMM hệ thống (System Generalized method
of moments – SGMM) Trong nghiên cứu này, do giai đoạn thời gian 2014 – 2019
là không quá dài và dữ liệu tài chính của các công ty niêm yết thường có mối tươngquan cao giữa giá trị hiện tại và giá trị ở thời kỳ trước đó nên tác giả sử dụngphương pháp ước lượng GMM hệ thống (SGMM)
2 Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Tính kịp thời của báo cáo tài chính
Theo IASB (2018), mục đích của việc lập và trình bày BCTC là cung cấp cácthông tin kế toán hữu ích cho các quyết định đầu tư và tín dụng Thông tin tài chínhchỉ được xem là hữu ích khi chúng đáp ứng được đồng thời hai đặc điểm định tính
cơ bản là tính liên quan và trình bày trung thực Ngoài ra, bên cạnh khả năng sosánh, tính kiểm chứng và dễ hiểu thì tính kịp thời là một trong bốn đặc điểm địnhtính nâng cao giúp góp phần cải thiện tính hữu ích của thông tin Cụ thể, Khungkhái niệm của IASB đã chỉ ra rằng tính kịp thời là thông tin có sẵn cho người sửdụng ra quyết định kịp thời và có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của họ
Để giải thích tính kịp thời của BCTC, các nghiên cứu của Al-Ajmi (2008),Fakhfakh Sakka và Jarboui (2016) và Al Daoud và cộng sự (2015) đã chia nhỏ tínhkịp thời thành hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn kiểm toán (audit
Trang 10period), đại diện bằng biến phụ thuộc ARL (Audit Report Lag) được tính bằng sốngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày kiểm toán viên (KTV) ký vào báocáo kiểm toán (BCKT) Giai đoạn thứ hai là giai đoạn sau kiểm toán (interimperiod), đại diện bằng biến phụ thuộc MRL (Management Report Lag) được xácđịnh bằng số ngày kể từ ngày KTV ký BCKT đến ngày doanh nghiệp công bốBCTC ra công chúng Tùy vào cách chọn của người nghiên cứu, ngày công bố cóthể là ngày họp Đại hội cổ đông thường niên của công ty khi hội đồng quản trị(HĐQT) chính thức trình bày BCTC trước tất cả cổ đông đồng thời công khai báocáo lên trang web chính thức của công ty (Haldar và Mishra, 2016) hoặc là ngàyBCTC được công bố trên website của Sở Giao dịch chứng khoán (Al-Ajimi, 2008).Giai đoạn tổng (total period) bao gồm hai giai đoạn trên, đồng nghĩa với việc đolường bằng số ngày tính từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày doanh nghiệpcông bố BCTC ra công chúng Đây được xem là cách xác định chính xác nhất vì đốivới những quốc gia có sự khác biệt rõ rệt giữa ngày KTV ký vào BCKT đến ngàyBCTC được kiểm toán đó được công bố ra công chúng Tuy nhiên, vì một số hạnchế trong việc tiếp cận và xác định chính xác ngày mà BCTC được doanh nghiệpcông bố ra công chúng, cách xác định tính kịp thời được nhiều tác giả sử dụng phổbiến là dựa vào khoảng thời gian kể từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày KTV
ký BCKT, tức chỉ bao gồm giai đoạn kiểm toán (audit period) Hay nói cách khác,tính kịp thời của BCTC của một doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào thời giankiểm toán độc lập Điều này đồng nghĩa rằng, thông tin được trình bày trên BCTCđược cung cấp càng kịp thời khi thời gian thực hiện kiểm toán độc lập càng ngắn.Ngược lại, thời gian kiểm toán độc lập càng kéo dài thì doanh nghiệp công bốBCTC càng chậm, thông tin càng trở nên lỗi thời và càng giảm đi tính hữu ích, từ
đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin
Trong bối cảnh tại Việt Nam, việc công bố BCTC của các công ty niêm yếtđại chúng là bắt buộc và được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của Nhànước Theo Chuẩn mực Kế toán số 01 của Hệ thống các Chuẩn mực Kế toán ViệtNam được ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31
Trang 11tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, kịp thời là một trong những yêucầu cơ bản đối với kế toán, được định nghĩa là “các thông tin và số liệu kế toán phảiđược ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không đượcchậm trễ” Căn cứ vào Thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính, “công ty đạichúng phải công bố BCTC năm được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấpthuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng Về thời hạn công bốBCTC năm, Công ty đại chúng phải công bố BCTC năm đã được kiểm toán trongthời hạn 10 ngày, kể từ ngày tổ chức kiểm toán ký BCKT nhưng không vượt quá 90ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính Trong trường hợp công ty đại chúng khôngthể hoàn thành việc công bố BCTC năm trong thời hạn nêu trên do phải lập BCTCnăm hợp nhất hoặc BCTC năm tổng hợp; hoặc do các công ty con, công ty liên kếtcủa công ty đại chúng cũng phải lập BCTC có kiểm toán, BCTC năm hợp nhất hoặcBCTC năm tổng hợp thì Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xem xét gia hạn thời giancông bố BCTC năm khi có yêu cầu bằng văn bản của công ty, nhưng tối đa khôngquá 100 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính bảo đảm phù hợp với quy địnhpháp luật liên quan”.
Tóm lại, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thời gian kiểm toán độc lập
để xác định tính kịp thời của BCTC và tính kịp thời được xác định bằng logarit tựnhiên của số ngày được xác định từ ngày kết thúc năm tài chính đến ngày ký BCKTđộc lập Giữa tính kịp thời (TIMS) và thời gian kiểm toán (ARL) có mối quan hệnghịch chiều với nhau Hay nói cách khác, thời gian kiểm toán càng ngắn thì tínhkịp thời của BCTC càng đảm bảo
2.1.2 Cơ chế quản trị công ty
Cadbury (1992) định nghĩa quản trị công ty trên các khía cạnh kiểm soát, tàichính hoặc các khía cạnh khác đảm bảo công ty hoạt động đúng hướng và đúnghướng Okaiwele (2018) trong các nghiên cứu của mình coi quản trị công ty là mộttập hợp các quy tắc có ảnh hưởng đến kỳ vọng về việc thực hiện kiểm soát cácnguồn lực trong một công ty Shuker và MdAminul (2012) đã định nghĩa quản trịcông ty là một loại cấu trúc do các công ty đặt ra mà họ được kiểm soát và chỉ đạo
Trang 12để thúc đẩy sự lâu dài của tổ chức Liu, Harris và Omar (2013) đã định nghĩa quảntrị công ty là một cơ chế nội bộ được thiết kế để nâng cao sự quan tâm của cổ đông
và tạo điều kiện cho các nhà quản lý minh bạch và chịu trách nhiệm về các vấn đềliên quan đến hoạt động của công ty cũng như việc ra quyết định
Theo Mahrani và Soewarno (2018) và Hassan (2016) cơ chế quản trị công tyđược đo lường thông qua tính độc lập của HĐQT, tính sở hữu của HĐQT và chấtlượng kiểm toán
Tính độc lập của HĐQT được thể hiện thông qua tỷ lệ thành viên độc lập củahội đồng quản trị Biến số này được đo lường bằng số lượng thành viên trong hộiđồng quản trị ở bên ngoài công ty so với tổng số thành viên của hội đồng quản trị
Tính sở hữu của HĐQT được thể hiện thông qua tỷ lệ sở hữu cổ phiếu củahội đồng quản trị Biến số này được đo lường bằng cách lấy tổng số cổ phiếu được
sở hữu theo cá nhân của hội đồng quản trị chia cho tổng số cổ phiếu lưu hành
Chất lượng kiểm toán Biến số này được đo lường như một biến giả nhận giátrị là 1 nếu công ty lựa chọn đơn vị kiểm toán thuộc nhóm Big4 (bao gồm Deloitte,PWC, E&Y, KPMG), nhận giá trị là 0 nếu công ty lựa chọn đơn vị kiểm toán khôngthuộc nhóm Big4
2.2 Cơ sở lý thuyết liên quan
2.2.1 Lý thuyết thông tin hữu ích
Theo Staubus (2013), lý thuyết này cho rằng mục tiêu của kế toán là cungcấp thông tin hữu ích cho người sử dụng để đưa ra quyết định kinh tế Lý thuyếtthông tin hữu ích cũng đề cập đến các khái niệm về cân bằng lợi ích - chi phí, làmột khía cạnh quan trọng cần xem xét khi thiết lập các tiêu chuẩn (Godfrey và cộng
sự, 2003) Theo Godfrey và cộng sự (2010), khi đề cập đến lý thuyết thông tin hữuích sẽ có bốn giả thuyết về thông tin tài chính được nhắc đến, đó là: thứ nhất, luôntồn tại sự mất cân đối thông tin giữa người lập và người sử dụng thông tin trênBCTC; thứ hai, nhu cầu của người sử dụng thông tin là không được xác định trước
và cần xác định thông qua các dẫn chứng thực tế; thứ ba, việc đáp ứng thông tin củangười sử dụng được thực hiện thông qua những bên có lợi ích liên quan đến tình
Trang 13hình tài chính của doanh nghiệp; cuối cùng, tính hữu ích của thông tin cần đượcđánh giá trong mối tương quan giữa lợi ích và chi phí khi thực hiện công tác kếtoán
Áp dụng vào vấn đề công bố thông tin trên BCTC, lý thuyết thông tin hữuích yêu cầu BCTC phải cung cấp các thông tin cần thiết và kịp thời cho việc raquyết định của người sử dụng, đặc biệt là đối với hai nhóm đối tượng sử dụng chính
là nhà đầu tư và chủ nợ
2.2.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Lý thuyết thông tin bất cân xứng được đề xuất bởi George (1970) Thông tinbất cân xứng, hay còn gọi là thông tin không đối xứng chỉ xảy ra khi hai bên trongcùng một giao dịch không có cùng một lượng thông tin như nhau, hay một bên sẽ cólượng thông tin đầy đủ, chất lượng và có lợi hơn so với bên còn lại Nói một cáchkhác, thông tin bất cân xứng là việc các bên tham gia vào trong một giao dịch và cốtình che đậy các thông tin có liên quan Kết quả của bên có ít thông tin hơn so vớibên còn lại là sẽ ở thế yếu và có những quyết định kém chính xác và phù hợp hơn.Thông tin bất cân xứng là nguồn gốc chính dẫn đến sự thất bại của thị trường, lànguyên nhân gây ra hai hệ quả, bao gồm sự lựa chọn đối nghịch hay được gọi là sựlựa chọn bất lợi (adverse selection) và vấn đề rủi ro đạo đức (moral hazard)
Vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng vào nghiên cứu này có thể thấy sựtrầm trọng hơn của hiện tượng thông tin bất cân xứng cũng như quyền lợi của đa sốnhững cổ đông bị bất lợi trong việc tiếp nhận thông tin sẽ ngày càng gia tăng nếuBCTC của công ty không được cung cấp một cách kịp thời và nhanh chóng Do đó,
hệ thống quản trị của chính công ty lại là một cơ chế góp phần hỗ trợ việc công bốBCTC một cách kịp thời đến công chúng và giảm thiểu các vấn để có nguy cơ phátsinh, trong đó có hiện tượng thông tin bất cân xứng McGee & Yuan (2011) đã từng
đề cập rằng một đặc điểm của quản trị doanh nghiệp tốt đó là việc công bố BCTCmột cách kịp thời Bên cạnh đó, Habib và Jiang (2015) cũng cho rằng hệ thống quảtrị doanh nghiệp hoạt động tốt sẽ đóng một vai trò rất quan trọng bởi nó sẽ đảm bảoviệc các thông tin của công ty được công bố kịp thời và thông qua đó giúp phân bổ
Trang 14nguồn lực hiệu quả và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.
2.2.3 Lý thuyết người đại diện
Lý thuyết người đại diện, hay được gọi là học thuyết chủ nợ được trình bày
và công nhận trong một công bố vào năm 1976 bởi hai tác giả là Jensen vàMeckling và sau đó là Fama và Jensen (1983) Lý thuyết này tập trung nghiên cứumối quan hệ giữa hai bên, đó là bên ủy quyền và bên được ủy quyền Đối với cácCTCP, người điều hành công ty phải là chủ sở hữu thực sự của công ty đó, họ chính
là những cổ đông nắm giữ cổ phần, tham gia góp vốn vào hoạt động kinh doanh sảnxuất của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc công ty huy động vốn trên thị trường bằngcách phát hành không giới hạn số cổ phiếu sẽ khiến cho nhiều người có thể thành cổđông của công ty và quyền sở hữu doanh nghiệp sẽ trở nên bị phân tán hơn Do đó,việc thu thập và thống nhất ý kiến giữa các cổ đông trong công ty để có thể đưa racác quyết định sau cùng là một điều khá khó khăn để triển khai Vậy nên, trong thực
tế, các cổ đông không thực sự đứng ra để quản lý, điều hành công ty mà sẽ ủyquyền cho BGĐ điều hành mà họ đã bỏ phiếu bầu chọn BGĐ sẽ là người đại diệncho toàn thể chủ sở hữu hợp pháp của công ty, thay mặt cổ đông công ty bàn bạc vàđưa ra quyết định trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng như kỳ vọng sẽmang lại những giá trị, lợi ích lớn nhất dành cho họ Do sự xuất hiện của mối quan
hệ ủy nhiệm này đã gây ra sự tách biệt giữa một bên là quyền sở hữu và một bên làquyền quản lý doanh nghiệp Vấn đề lớn nhất chính là trong các quyết định củaBGĐ đối với công ty, liệu các quyết định sau cùng có hoàn toàn được thực hiện dựatrên lợi ích lớn nhất của cổ đông hay đó chỉ là vì phục vụ lợi ích cá nhân họ Do sựxung đột về lợi ích giữa hai bên khiến BGĐ - bên được ủy nhiệm sẽ đưa ra cácquyết định vì lợi ích riêng của cá nhân và gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổđông - bên ủy nhiệm của công ty, đây được gọi là vấn đề đại diện (agency problem)
Để giải quyết vấn đề này, các cổ đông của công ty sẽ tìm biện pháp để có thểkiểm soát và ràng buộc lợi ích của BGĐ gắn liền với lợi ích của toàn thể cổ đông.Jensen và Meckling (1976) cho rằng người đại diện sẽ chỉ hành động vì lợi ích củangười ủy nhiệm nhiều hơn khi người ủy nhiệm có một hệ thống kiểm tra, giám sát
Trang 15và đánh giá các hoạt động của người đại diện Do đó, để loại trừ vấn đề đại diện,quản trị doanh nghiệp được xem là một trong số những biện pháp phổ biến được sửdụng Barker và Owsen (2002) đã cho rằng quản trị doanh nghiệp đóng vai trò làmột hệ thống quản lý nhằm hạn chế những hành vi không phù hợp của BGĐ trongcông ty bằng việc gắn liền lợi ích của chính họ với lợi ích của toàn thể cổ đông.Beekes và Brown (2006) đã chỉ ra rằng chất lượng của hoạt động công bố thông tintrong doanh nghiệp sẽ được thực hiện tích cực và hiệu quả nếu doanh nghiệp có một
hệ thống quản trị tốt Ngoài ra, Habib và Jiang (2015) cũng cho rằng hệ thống quảntrị doanh nghiệp tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cũng như hỗ trợ tích cực đếnquá trình kiểm toán độc lập, đây là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc đảmbảo được tính kịp thời của BCTC Al Daoud và cộng sự (2015) cũng đề cập đếnviệc quản trị doanh nghiệp chặt chẽ sẽ giúp làm giảm rủi ro và củng cố hệ thốngkiểm soát nội bộ của doanh nghiệp Một khi hệ thống kiểm soát nội bộ trong từngdoanh nghiệp được cải thiện thì độ tin cậy của các thông tin được trình bày trênBCTC càng cao và các rủi ro sai sót mang tính trọng yếu sẽ càng trở nên thấp hơn
Do đó, KTV sẽ có thể giảm bớt một số thủ tục và rút ngắn nhiều thời gian trongcông tác kiểm toán BCTC cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu một hệ thống quản trị
có nhiều khiếm khuyết với khả năng xảy ra các vấn đề đại diện cao hơn sẽ khiếncho các KTV sẽ phải dành nhiều thời gian hơn để thực hiện thêm các thủ tục bổsung, phân tích chi tiết và kiểm tra một cách đầy đủ và kỹ lưỡng hơn đối với cáchoạt động của BGĐ trước khi đưa ra quyết định cuối cùng về ý kiến chính thức vềtình hình tài chính của công ty sau kiểm toán, điều này dẫn đến tính kịp thời củaBCTC sẽ mất nhiều thời gian hơn và sẽ không được đáp ứng
2.3 Các nghiên cứu liên quan và giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Tác động của cơ chế quản trị công ty đến tính kịp thời của báo cáo tài chính
Khi cơ chế quản trị công ty thể hiện qua tỷ lệ thành viên độc lập của hộiđồng quản trị Theo Afify (2009), chức năng giám sát của HĐQT sẽ được nâng caokhi số lượng thành viên độc lập tăng lên Trong những công ty không có sự tách
Trang 16biệt rõ ràng giữa sở hữu và quản lý, các thành viên trong HĐQT thường chịu ảnhhưởng bởi chính lợi ích của các cổ đông lớn hơn là phục vụ cho lợi ích của công ty
và những người khác có liên quan Do đó, cần phải có thành viên độc lập hay thànhviên không độc lập để đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích chung và lợi ích công ty,nâng cao vai trò giám sát, đảm bảo công ty phát triển phù hợp với chiến lược đề ra.Thành viên độc lập được kỳ vọng là những người có thể đưa ra những ý kiến đónggóp công bằng, khách quan, giải quyết được các mâu thuẫn nội bộ đồng thời cungcấp được những kiến thức, kinh nghiệm từ nhiều lĩnh vực khác nhau cho HĐQT.Các thành viên độc lập được kỳ vọng rằng họ sẽ đưa ra những ý kiến phê bình đốivới các hành động hoặc quyết định không phù hợp của ban điều hành và bảo vệquyền lợi cho các cổ đông Khi một HĐQT không điều hành có tính độc lập càngcao, thể hiện qua tỷ lệ số thành viên độc lập trên tổng số thành viên của HĐQT cànglớn thì thu nhập cổ đông càng lớn, đồng thời tăng cường hiệu quả kiểm soát đáng
kể, gia tăng khả năng phát hiện ra những hành vi thao túng lợi nhuận hay nói cáchkhác là sai sót hiện hữu trên BCTC và rút ngắn thời gian kiểm toán (Shukeri vàIslam, 2012) Nghiên cứu của Afify (2009), Al Daoud và cộng sự (2015), và Singh
và Sultana (2011) cũng đưa ra kết quả tương tự, cho rằng doanh nghiệp có tỷ lệgiám đốc độc lập trong HĐQT càng cao thì sẽ càng đảm bảo được tính kịp thời củaBCTC Trong nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng rằng tính độc lập của HĐQT cao cóthể làm gia tăng tính kịp thời của BCTC Như vậy, giả thuyết nghiên cứu là:
Giả thuyết H1: tính độc lập của HĐQT có tác động tích cực đến tính kịp thời của BCTC
Khi cơ chế quản trị công ty thể hiện qua tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của hội đồngquản trị Quyền sở hữu cổ phần đặc trưng bởi tỷ lệ cổ phiếu mà một người nắm giữtại công ty Quyền sở hữu cổ phần của HĐQT được xác định bằng tổng tỷ lệ cổphần mà các thành viên của HĐQT nắm giữ Afify (2009) đã chứng minh rằng donhu cầu thông tin bình đẳng giữa các cổ đông Hay nói cách khác, không có cổ đôngnào muốn chi phối nhiều thông tin hơn cổ đông khác, do đó BCTC sẽ được công bốsớm Tuy nhiên, những ý kiến về mối quan hệ số lượng cổ đông, tỷ lệ sở hữu của