Với nội dung cơ bản là triết lý nhân sinh về nỗi khổ và cách thức tu luyện đạo đức, hướng tới sự giải thoát con người khỏi nỗi khổ cuộc đời, Phật giáozđã nhanh chóng thu hút đơng đảo các
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA SAU ĐẠI HỌC
Tiểu luận
NÓ TRONG VẤN ĐỀ GIẢI THOÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Họ và tên sinh viên : Lưu Tiến Hải
Thứ tự trong danh sách : 17
Hà Nội, tháng 7 năm 2021
Trang 2Mục lục
Mở đầu 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: 5
4 Ý nghĩa lý luận và đóng góp thực tiễn 5
CHƯƠNG I: QUAN NIỆM GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO 5
1 Những tiền đề, điều kiện hình thành quan niệm về giải thoát trong Phật Giáo 5
1.1 Khái niệm về Giải thoát: 6
1.2 Những tiền đề, điều kiện hình thành quan niệm về giải thoát trong Phật Giáo 6
2 Quan niệm về giải thoát trong Phật giáo nguyên thủy 8
2.1 Vì sao phải giải thoát: 8
2.2 Nguyên nhân nỗi khổ mỗi người 9
2.3 Đích giải thoát – Niết bàn: 10
2.4 Con đường giải thoát: 10
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN NIỆM GIẢI THOÁT ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 11
2.1 Xu hướng biến đổi căn bản trong tinh thần giải thoát của Phật Giáo Việt Nam hiện nay 11
2.2 Ảnh hưởng của quan niệm về giải thoát tới Việt Nam hiện nay 13
2.3 Giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của quan niệm về giải thoát 15
Kết Luận 16
Trang 3Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáozlà một tôn giáo lớn, một trường phái triết học lớn, Phật giáo ra đời vào khoảng cuối thế kỷ thứzVI trước Công nguyên ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nepan bây giờ Đây là thời kỳ phát triển cực thịnh của đạo Bà la môn về mặt tôn giáo lẫn chính trị xã hội Đạo Phật ra đời trên thực tế
là sự phủ nhận chế độ đẳng cấp khắc nghiệt của đạo Bà la môn Với nội dung cơ bản là triết lý nhân sinh về nỗi khổ và cách thức tu luyện đạo đức, hướng tới sự giải thoát con người khỏi nỗi khổ cuộc đời, Phật giáozđã nhanh chóng thu hút đông đảo các tín đồ trong và ngoài nước Tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân,zcó ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa, đạo đức, an ninh quốc phòng của đất nước Nghiên cứu về ảnh hưởng của thế giới z quan Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người dân đồng bằng sông Hồng hiện nay, z tác giả xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất, cứu cánh của Phật giáo là giúp con người thoát khỏi nỗi khổ muôn đời Thế giới quan Phật giáo tồn tại vững chãi trên một nền tảng tư tưởng sâu sắc, đó là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về vị trí của conzngười trong thế giới đó Theo nghĩa rộng, thế giớiiquan là hệ thống nhữngi i i i iquan niệm về thế giới, vị trí, vai trò của cuộc sống của con người và loài người trong thế giới Vì vậy, nghiên cứu Phật giáo nói chung, thế giới quan Phật giáo nói riêng tất yếu sẽ phải quan tâm đến các vấn đề thế giới quan triết học về thế giới, vềzcon người, và về xã hội Những phương pháp nhận thức, ứng xửzvới thế giới, với con người,imối quani i ihệ giữaithế giớii zvà con người, giữa cá nhân với cộng đồng xã hội mang lại nhiều giá trị to lớn qua nhiều thế kỷ ở nhiều nền văn hóa khác nhau Việc nghiên cứu thế giới quan Phật giáo trong một hệ thống chỉnh thể bao gồm cấu trúc ba mặt quan niệm về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới là việc làm rất quan trọng để góp phần hiểu đúng, đủ sâu sắc hơn về Phật giáo
Kết quả của nhiềuzcông trình nghiên cứu choi i i i ithấy: Quan niệm về thế giới, về có ảnh hưởng quan trọng tới sự hình thành nhân cách, lối sống và hành vi của con người Việc nghiên cứu thế giới quan Phật giáo là cần thiết nhằm kế thừa những giá trị hợp lý, định hướng thế giới quan, phươngiphápiluận đúng đắn cho nhậni i i i ithức và hành động của con người Việt Nam hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày nay z Thứ hai, Phật giáo là một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần người dân Việt Với thếigiớiiquaniđộc đáo, Phậti i igiáo trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn hóa dân tộc Trong bối cảnh hiện nay, Phật giáo có những biến chuyển mạnh mẽ cùng với sự chuyển mình của cả nước z
Phật giáo đã được du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên Do có nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng, vănihóaibản địa nên Phật giáo đã nhanhi i i i i i ichóng trở thành một thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Theo dòng chảy lịch sử, tinh thần từ bi hỷ xả, khoan dung, độ lượng, hòa bình hòa hợp, hướng thiện, giải thoát con người khỏi đau khổ của Phật giáo đã thấm trong nếp sống, nếp nghĩ của đại đa số người Việt Nam z
Trang 4Ngày nay, xã hội Việt Nam hôm nay đứngitrướcinhiềui icơ hội cho sự phát triển i giàu mạnh, song cùng với đó là rất nhiều khó khăn, thách thức Quá trình phát triển chịu ảnh hưởng hai mặt tích cựci ivà tiêu cực của cơ chế thịi i i i i itrường, hội nhập kinh tế quốc tế kéo theo xu thế toàn cầu hóa, mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khiến cho đời sống tinh thần con người có nhiều chao đảo, bất an Trong bối cảnh đó, Phật giáo với con đường thoát khổ đã trở thànhimột phầni iđời sốngi itinhithần của một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân Việc phát huy vai trò của Phật giáo với những giá trị nhân bản
có vai trò hết sức quan trọng trong việc giải thoát cho con người đã trở thành “phần bù” của thế giới thực tại,iđáp ứng đượci i inhuicầuitâmilinh, góp phần giải tỏa nỗi đau khổ tinh thần, khoảng trống và nỗi thất vọng trong lòng người, lập lại trạng thái cân bằng nhất định
có thể giúp con người sống hài hòa hơn cho đời sống tinh thần của mình Điều này cũng là một cơ sở để lý giải về sự hồiisinh của Phậti i igiáo nóii iriêng và tôn giáo nói chung trong giai đoạn hiện nay z
Phật giáo dễ dàng điivào lòngi ingười, có táci i idụng hoàn thiện nhân cách đạo đức, hướng con người đến lối sống vị tha, bình đẳng và bác ái Phật giáo đã trở thành một trong những hệ tư tưởng - tôn giáoi icó sứcisốngilâu dài,i itồn tại cho đến ngày nay, đã ảnh i hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần con người Việt Nam Phật giáo Việt Nam luôn gắn liền vận mệnhiđất nước, thăngi i ihoaicùngidân tộc trong mọi hoàn cảnh và trải qua mọi thời đại Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo có truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc z
Chính vì vậy, nghiên cứu chỉnh thể thế giới quan Phật giáo, nhất là nghiên cứu ảnh hưởng đến đời sống ngườiidân và đến vấn đề giải thoát ở Việti i i i i i i i iNam hiện nay nhằm tìm
ra những giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực là vấn đềi icó ýinghĩa lý luậni i i ivà thực tiễni icấp thiết Với tầm quan trọng và ý nghĩa như vậy, tôi chọn đề tài: “TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG VẤN ĐỀ GIẢI THOÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” làm đề tài nghiên cứu tiểu luận của mình z
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiênicứu: Tiểu luận hệ thốngi i i i ihóa về phật giáo nguyên thủy và ảnh hưởng của nó trong vấn đề giải thoátzở Việt Nam, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặtitích cực, hạn chế mặti i i i itiêu cực của quan niệm này i Nhiệm vụ: để đạt được mục đích trên, Tiểu luận cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ nội dung về Phật Giáo nguyên zthủy z
- Phân tích thực trạng ảnh hưởng của nó trong vấn đề giải thoát ở Việt Nam hiện nay z
Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực ảnhihưởng của Phật giáo nguyêni i i i ithủy đối với đời sống tinh thần người dân nói chung và vấn đề giải thoát ở Việt Nam hiện nay z
Trang 53 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Phật Giáo nguyên thủy; đời sống tinh thần và ảnh hưởng của thế giới quan Phật giáo đối với vấn đề giải thoát ở Việt Nam hiện nay z
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của Phật Giáo nguyên thủy và ảnh hưởng của nó đến đời sống, vấn đề giải thoát ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay z
- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của của Phật Giáo nguyên thủy và ảnh hưởng của nó đến vấn đề giải thoát ở Việt Nam hiện nay z
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thế giới quan Phật giáo trong một hệ thống chỉnh thể quan niệm vềithế giới, vị trí và vai tròi i i i i i icủa coni ingười trong thế giới Trong phạm vi tiểu luận này trọng tâm là nghiên cứu, tập trung làm rõ ảnh hưởng của phật giáo nguyên thủy đến vấn đề giải thoát ở Việt Nam zzzz
4 Ý nghĩa lý luận và đóng góp thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần hệ thống hóa sự phát triển của Phật Giáo nguyên thủy và ảnh hưởng của nó tới cuộc sống con người Việt Nam và đặc biệt là trong vấn đề giải thoát ở Việt Nam hiện nay zz
- Đóng góp thực tiễn: zz
o Đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng cho sự kế thừa có chọn lọc quan niệm này ở Việt Nam hiện nay
o Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề có liên quan
CHƯƠNG I: QUAN NIỆM GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO
1 Những tiền đề, điều kiện hình thành quan niệm về giải thoát trong Phật Giáo Trong sự phát triểnzcủa kinh tế - xã hội luôn luôn sinh ra những mâu thuẫn Vào z khoảng thế kỷ thứzVI trước Công nguyên Ấn Độ có lực lượng lao động dồi dào, có trình
độ phát triển cao Sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội dẫn đến sự phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt, đã tạo điều kiện cho đạo Bà La Môn (Brahmanism) cũng gọi Ấn giáo hay Ấn Độ giáo phát triển cực kỳ thịnh vượng cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị xã hội zz
Chính sự phân biệt đẳng cấpztrong xã hội vô cùng khắc nghiệt đã khiến cho những người thuộc giai cấp Thủ Đà La căm ghét chế độ phân biệt đẳng cấp Trước tình hình xã hội như vậy đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng chống lại đạo Bà la môn và chế độ giai cấp của nó Tiêu biểu có đạo Phật với tinh thần bình đẳng, bác ái và tình yêu thương con người đã đáp ứng nguyện vọng của đông đảo tầngilớp trong xã hội Người sáng tạo ra Phật giáo là thái tử Siddhartha (Tất Đạt Đa), năm 29 tuổi ông quyết định từ bỏ cuộc sống trần tục để ra đi tìm phương thuốc chữa khổ đâu cho nhân thế Thích Ca đã kế thừ tư tưởng truyền thống của Ấn Độ cổ đại để sáng lập ra Phật giáo, trường phái vô thần, vô ngã, nhìn thẳng vào nỗi khổ đau nhân thế và tìm con đường giải thoát từ sự nỗ lực của bản thân con
Trang 6người Cốt lõi tư tưởng của Thích Ca là bàn về nỗi khổ, giải thích nguyên nhân nỗi khổ và tìm con đường thoát khổ Những nội dung đó tậpitrung trong thuyết “Tứ diệu đế”: Khổ
đế là sự thật về bản chất đau khổ của đời sống i Tập đế là những nguyên nhân sâu xa của những nỗi khổ ở trên, con người vì vô minh, vì nghiệp tích tập bao đời mà mãi trầm luân trong bể khổ Diệt đế, không chỉ nói về khổ và nguyên nhân của khổ, đức Phật còn chỉ cho chúng ta thấy rằng có thể tận diệt khổ đau, chấm dứt luân hồi sinh tử, đạt được giác ngộ giải thoát chân thật Đạo đế chân lý này chỉ ra con đường cụ thể để diệt trừ những nguyên nhân của sự đau khổ dẫn đến an lạc Đây không phải là cách tu tập khổ hạnh, mà bằng trí tuệ để đạt đến sự giải thoát đó là Bát chính đạo ii
1.1 Khái niệm về Giải thoát:
“Giải thoát” igiải thích theo lối triết tự: “Giải” nghĩa là gỡ ra, cởi ra, chia tách ra, i
“thoát” ilà vượt lên mọi sự ràng buộc “Giải thoát; có nghĩa là cởi bỏ, vượt lên mọi sự i ràng buộc iiiiii
Ngoài ra theo “từ điển Phật học Hán – Việt” Giải thoát có nghĩa là lìa bỏ mọi trói buộc mà tự tại iCởi bỏ sự trói buộc của hoặc nghiệp, thoát ra khỏi khổ quả tam giới Còn
có tên gọi khác là Niết Bàn, bởi vì dùng thể Niết Bàn là lìa bỏ sự trói buộc Còn chỉ tên i gọi khác củaiThiền định như tam giải thoát, bất tư nghị giải thoát iii
1.2 Những tiền đề, điều kiện hình thành quan niệm về giải thoát trong Phật Giáo 1.2.1 Môi trường tự nhiên: iiiii
Ấn độ là một nước có địa hình và khí hậu phức tạp Là một quốc gia nằm ở châu
Á nhưng lại bị ngăn cách bở dãyiHymalaya – dãy núi cao nhất thế giới Hai mặt Đông – Tây giápiẤn Độ Dương Chính địa hình trên đã khiến cho Ấn Độ trở thành một khu i i vực tương đối riêng biệt, ít quan tâm tới thế giới bên ngoài, tại điều kiện giúp cho đất nước này bảo tồn được bản sắc văn hóa của mình iiiiii
Thiên nhiên Ấn Độ đa dạng và phức tạp với miền bắc lắm sống ngòi (sông Hằng, i sống Ấn), đồng ruộng, miền nam lắm rừng nhiều núi, đã tạo thành tính đa dạng và phức tạp của văn hóaiẤn đồng thời in dấu ấn khá đậm nét trong nền văn hóa, đặc biệt là tôn giáo – triết học Ấn Độ Với núi rừng, đồng bằng rộng lớn, người dân Ấn Độ xa xưa hoàn i i toàn có thể sinh sống dự vào gạo, sữa, lúa, rau quả, mật ong,… mà không cần giết động vật Ngoài ra thờiiẤn Độ cổ, các lớp học đa phần nằm ở trong rừng núi tĩnh mịch, đây là
cơ sở để giải thích tại sao tư duy Ấn Độ có xu hướng trầm tư, mặc tưởng và hướng nội, khác với những nền văn minh xuất phát từ phươngiTây iiiiiiiiiiii
Ngoài ra, khí hậu ởiẤn Độ cũng vô cùng khắc nghiệt Hằng năm, iẤn Độ có những tháng hè nóng bỏng có khi lên tới 40 độ, sau thời gian dài khô nóng là những cơn mưa như trút nước, mang theo cả thiên tai, lũ lụt, tàn phá mùa màng, cuốn trôi nhà cửa Ta thấy, đâu đó triết lý “vô thường vô ngã” được đúc rút từ bóng dáng tự nhiên bất định tại
Ấn Độ iiiiiiiiiii
Trang 7Discover more
from:
Document continues below
Triết học Mác
Lênin
Học viện Ngân hàng
710 documents
Go to course
TRIẾT học chương 1 học viện ngân hàng
Triết học
6
Thực tiễn và vai trò của thực tiễn N10
Triết học
15
Đề cương môn Triết học Mác Lênin Học…
Triết học
8
01.PLT01H Phạm Thị Khánh…
Triết học
21
Tiểu luận Phật giáo
và ảnh hưởng của n…
39
Trang 81.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội: ii
Về mặt kinh tế: iẤn Độ là nền văn minh gắn liền với sản xuất nông nghiệp Ở thời
kỳ cổ đại, sản xuất vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp, công cụ lao động thô sơ, năng suất thấp, quan hệ trao đổi công xã rất hạn chế Quan hệ sản xuất thời kỳ này chủ yếu là chế
độ công xã nông thôn và chế độ quốc hữu về ruộng đất Hình thức kinh tế này cộng với tính chất phức tạp của môi trường tự nhiên đã khiến cho năng suất sản xuất thấp, tốc độ phát triển chậm chạp Mặt khác, địa hình hiểm trở cũng khiến cho Ấn Độ ít có quan hệ ngoại giao với các nước khác, kinh tế xã hội rơi vào trạng thá ngừng trệ Hình ảnh bánh
xe, công cụ lao động và công cụ chiến tranh chủa yếu của người Ấn Độ cổ đại đã trở thành tư tưởng chính về kiếp luân hồi và lý tường “chuyển pháp luân” trong Phật giáo
Về mặt chính trị - xã hội:iPhật giáo ra đời trong thời kỳ xã hội có sự phân biệt đẳng cấp trở nên khá rõ nét Đo là chế độ xã hội tồn tại trên sự phân biệt màu da, dòng dõi, nghề nghiệp,… Thời đó, iĐạo Bà la môn Đạo Bà-La-Môn là đạo phổ biến nhất ở Ấn i i
Độ, phân chia xã hội Ấn Độ làm 5 giai cấp bao gồm: Giai cấp trên hết là cáciGiáo sĩ, tăng
lữiBà La Môn (Brahman); Giai cấp sau đó là i iSát Đế Lỵ (Kshastriya); Giai cấp thứ ba là
Vệ Xá (Vaisya); Giai cấp thứ tư là Thủ Đà La (Sudra); Giai cấp cuối cùng lài iChiêniĐà
La (Ba-ri-a, Pariah, Dalit) iĐặc biệt Giai cấpiTăng lữ Bà-La- Môn dựa vàoithế lực tôn giáo để củng cố địa vị và quyền lợi của họ Họ tìm đủ phương pháp để bảo hộ và duy trì i chế độ giai cấp, nương theo thần thoại, chế ra Luật pháp Manu, kỳ thị giai cấp, không cho i i
gả cưới giữa 2igiai cấp khác nhau, ai sinh ra trong giai cấp nào thì phải ở mãi trong giai i cấp đó suốt đời iTầng lớp nô lệ cũng chỉ được coi là một tài sản, một công cụ biết nói, phải lao động cực nhọc, chịu hình phạt nhục nhã iiii
Những đặcitrưng trên của xã hội Ấn Độ là một trong những căn nguyên để giải i i i thích tại saoitư tưởng giải thoát trở thành vấn đề trung tâm của các môn phái tôn giáo, đặc i i biệt là Phật giáo xuất hiện với khát vọng giải thoát chính là một kiểu phản kháng lại chế
độ xã hội bất công Việc đề xướng con đường giải thoát bằng diệt dục, ibằng việcichống đối mọi ham muốn về dnah lợi đã phản ánh khá sâu sắc những mâu thuẫn xã hội trong i i thời kỳ này iiiii
1.2.3 Đặc điểmitư duy Ấn Độ:
Tư duyiẤn Độ là tư duy hướng nội: i i Đốiitượng của triết họciẤn Độ làicuộc sống tinh thầnibên trong mỗi con người và nhiệm vụ của nó là phải khai phá được mảnh đất i i i tâm hồni iđể phát hiện ra giái itrị đíchithực của con người Và cũng chính vì vậy, cái đích i trong tinhithầnigiải thoát của triết học Ấn Độ phải chinh phục được tự ngã, nói như Phật i i giáo, “làm chủ được tâm là làm chủ được thế giới” Mặt khác, vì tưi iduyihướng nội nên triết học Ấn gắn rất chặt, thậm chí hòa quyện làm một với tôn giao Cũng vì thế mà yếu i i i
tố duy tâm, thần bí có khuynh hướng trội hơn trong triết họciẤn Độ iii
Tư duy Ấn Độ là tư duy hướng tới cái phổ quát mà coi nhẹ cái cá nhân: i Đối với người Ấn, cái cá nhân không quan trọng, tên tuổi cá nhân hay anh hùng dân tộc khồn có ý nghĩa trọng yếu màichỉ là sự thể hiện có giới hạn của cái tồn tại phổ quát” Bởi thế, triết
Triết học Mác Lênin 97% (79)
Quy luật mâu thuẫn
- Bài tập nhóm
Triết học
16
Trang 9học Ấn Độ coi giải thoát là sự hợp nhất giữa cái tôi cá biệt (tiểu ngã) với cái tôi phổ quát (Đại ngã), cao hơn là thủ tiêu hoàn toàn cái tôi cá nhân (thuyết vô ngã trong Phật giáo)
Sử sáchiẤnithường không có khái niệmithời gianichính xác mà chỉ là ángichừng Qna niệm về thời gian tuyến tính đã bị phá vỡ bởi quan niệm về kiếp luân hồi bất tận và sự vĩnh cửu củaiNiết Bàn Giải thoát trong Phật giáo là đạt tới trạng thái Niết Bàn với sự ngưng đọng vĩnh hằng của không – thời gian trong tâm thức con người Khi hướng vào tâm tìm giải thoát, Phật giáo đã phát hiện ra sức, mạnh nội tâm vô hình, ikhó kiểm soát trong con người nhưng khi nhìn thế giới trong dòng chảy vô thường, thấy sự vô tự tính i i i của sự vật nên đã đi tới triết lý vô ngã, từ đó cho rằng muốn giải thoát khỏi khổ đau phải phủ định cái ngã bằng diệt dục và diệt sinh iiiiiiiii
2 Quanniệm về giải thoát trong Phật giáo nguyên thủy
2.1 Vì sao phải giải thoát:
TheoiPhật giáo, con người phải tìm giải thoáti i ilàbởi vì cuộc đời là bể khổ, nỗi khổ nhiều hơn cát sốngiHằng, áo cà sa tượng trưng cho vô lượng nỗi khổ,…Nỗi khổ theo Phật i giáo được khái quát sâu sắc, thành bản chất của nhân sinh và nỗi khắc khoải của con người tìm giải thoát và cũngi iđượciThích Ca đúcikếtihành tám nỗi khổ trong bài thuyết pháp đầu tiền là:iSinh,iLão, Bệnh,i iTử, oán tăng hội, ái biệt ly, thủ ngũ uẩn, sở cầu bất đắc
Về sau, các trường pháiiPhật giáo chi ra nhiều loại khổ: Nhị khổ gồm nội khổ (404 loại i bệnh tật là thânikhổ, buồn phiền ghen ghét là tâm khổ) và ngoại khổ (bị giặc ác, hổ lang i i làm hại, gặp tai nạn,…).iChung quy lại nỗi khổ cũng xoay quanh bát khổ: i iii
Xét trên phương diện thứ nhất, nỗi khổ nhìn từ góc độ vật chất - sinh lý, nỗiikhổ thông thường củaiviệc không hài lòng với cuộc đời mà bất kỳ ai có khi chưa được giải i i i thoát Đó là nỗi khổ sinh, lão,ibệnh tử (là những nỗi khổ căn bản của đờii ingườiivà là cốt lõi trong giáo lýiPhật giáo)
Xét trên phương diện thứ hai, nỗi khổ nhìn từ góc độ tinh thần, tâm lý, “nỗi khổ tiếp theo một niềm vui tàn tạ” (hoại khổ) Nỗi khổ này nảy sinh do việc những gì được coi là là hạnh phúc lại rất mong manh, trôi qua nhanh chóng, để lại niềm tiếc nuối cho con người Đó là những nỗi khổ ghét nhau cứ phải gặp nhau, phải sốn cùng nhau (oán tăng hội), yêu thương nhau mà phải chia lìa (ái biệt ly khổ), mong muốn mà không được đáp ứng (sở cầu bất đắc khổ)
Xét trên phương diện thứ ba, nỗi khổ của việc “triền miên trong ngũ trọc giả hợp” (hành khổ) “ngũ ngọc giả hợp” là sự phối hợp giả tạm củ năm yếu tố (ngũ uẩn) tạo thành thân tâm con người, cái gọi là “bản ngã”, “cái tôi”: 1 Sắc uẩn: hình thể là do tứ đại là đất, nước, lửa, gió tạo thành 2 Thọ uẩn: cảm giác, cảm tình 3 Tưởng uẩn: tư tưởng 4 Hành uẩn: những hoạt động của thân, khẩu, ý 5 Thức uẩn: phản ứng của sáu yêu tố nội giới tương ứng với sáu yếu tố ngoại giới i
Luật vô thường là luật về sự luân chuyển không ngừng của vạn vật trong vũ trụ Theo Phậtigiáo,imọi sự vật hiện tượng đều phải trải qua bốn thời kỳ: sinh, trụ, dị, diệt i i i i i i i Trong bốn thời kỳ đó, thời kỳ trụ lại hết sức ngắn ngủi, chỉ bằng một satna (hay bằng một
Trang 10cái nháy mắt) TrongiKinh Phật thường có cụm từ “sắc sắc không không”i i i i i i i i i iđể nói về sự
vô thường của đời sống Vì thế gian vô thường nên mọi vật đều vô tự tính Sự vô tự tính thể hiện thành phạm trù vô ngã ở con người Phật giáo cho rằng không có một cái ngã thường hằng, ổn định tuyệt đối ở con người và vạn vật Cuộc sốn được ví như dòng thác
đổ, chảy mau và trôi xa, không có phút nào ngừng chảy
Theo triết lý nhà Phật, thế gian là vô thường con người là vô ngã nhưng do mê lầm, khaoikhát một sự thường hằng nên con người cố níu giữi i i i i i i i i i inhững mong manh ảo giác, cố tìm mọi cách thỏa mãn dục tầm thường Đau khổ nảy sinh từ mâu thuẫn của lòng khát khao về cái vô hạn,itrường cửu trong khi đời người là hữu hạn, nảy sinh từ những i i i i i i i i con người đã hiểu về lẽ vô thường của cuộc đời nên sống gấp, cố gắng tận dụng mọi khoái lạc bằng mọi cách, kể cả những điều tội lỗi
Theo Đạo phật,ingay trong “Khổi i iđế” cũng thừa nhận có hạnh phúc, do đó không i i i phải ai cũng đều phảiichối bỏ cuộc sống, từ bỏ chốn phàmi i i i i i i itràn để sống cô đơn mà mỗi người một căn duyênikhác nhau nên có thể lựa chọn một cách sốngi i i i i i i i i khác nhau Tuy nhiên, được sinh vào một thế giới khổ đau sẽ có giá trị hơn bở vì khổ đau sẽ khiến cho con người khát khao, nỗ lực tìm giải thoát (bạt khổ dữ lạc)
2.2 Nguyên nhân nỗi khổ mỗi người
Phật giáoicho rằng, vấn đề đau khổ chính là vấn đề sống chết Cuộc đời con i i i i i i i người là một chuỗi những khổ đauidoidự giữa sự sống và cái chết Con người quán i i i i i i thông ba đời trong vòng sinh tử luân hồi bở sự chi phối của luật nhân duyên Đó cũng là quan niệm của Phật giáo về nhân duyên và nghiệp báo luân hồi
Theo lập luận củaiThích Ca,i i12inguyêninhân dẫn đếni i inỗi khổ của con người là: i i i
12 Già chết; già do 11 Sinh;isinhidoi10.iHữu: ýi imuốn sinh tồn, hiệni i i ihữu; hữu do 9 Thủ: sức bám víu, níuikéo vào sự sống; thủi i i i ido 8 Ái: lòng khao khát, ham muốn dục i i i i i vọng; ái do 7 Thụ: cảm giác, tình cảm nảy sinh do thân tâm tiếp xúc; thụ do 6 Xúc: sự tiếp xúc của sáu giác quanicủaiconingười với 6 thuộc tính ngoạii i i i i igiới; xúc do 5 Lục nhập – tên gọi khác sáu giác quan của con người với 6 thuộc tính ngoại giới khiến cho ngoại cảnh trôi vào trong tiềmithức; sáu căn có được là do 4.i i i i i i i iDanh sắc là cơ chế tâm linh, hình hài hay sự hội họp của các yêu tố vật chất và tinh thần; danh sắc lại do 3 Thức ý thức ban
sơ của thai nhi; thứcidoi2 Hànhi ilàihoạtiđộng mù quáng hướngi i i itớiisự sống; hành do 1
Vô minh: hay sự mê lầm, không sáng suốt Mười hai khâu của nhân duyên theo hai chiều thuận nghịch cũng là mộtivòngitròn khépi ikínicủa bánhi ixe sinhi itửiluânihồi qua ba đời, trong đó nguyên nhânido đời sống quá khứi i i i igồmi ivô minh vài ihành, nguyên nhân do đời sống hiện tại gồm thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, và nguyên nhân do đời sống tương lai gồm ái, thủ, hữu, sinh, lão, tử
Phật giáo choirằngihạnhiphúc hay bất hạnh của con người là do những hành vi, i i i i i i i nghiệp từ kiếp trước mình tạo nên và bản thân mỗi con người đều phải chịu trách nhiệm trước nhữngihànhivi đó.i iNếu nghiệp thiện, con ngườii i i i isẽ đượci ihưởngihạnh phúc về sau
và ngược lại Hayicòn được gọi là nghiệp báo luân hồi, nghiệp gắni i i i i i i i i ibó với đời sống, chi