1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an

180 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Năng Lực Tiếng Pháp Của Học Sinh Trung Học Phổ Thông Dưới Tác Động Của Một Số Nhân Tố Xã Hội: Nghiên Cứu Trường Hợp Trường Chuyên Hà Nội Amsterdam Và Trường Chu Văn An
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga
Người hướng dẫn GS.TS. Đỗ Việt Hùng
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ THANH NGA NĂNG LỰC TIẾNG PHÁP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ XÃ HỘI:

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH NGA

NĂNG LỰC TIẾNG PHÁP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ

XÃ HỘI: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG CHUYÊN

HÀ NỘI AMSTERDAM VÀ TRƯỜNG CHU VĂN AN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội, 2020

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH NGA

NĂNG LỰC TIẾNG PHÁP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHÂN TỐ

XÃ HỘI: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG CHUYÊN

HÀ NỘI AMSTERDAM VÀ TRƯỜNG CHU VĂN AN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 9229020

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS Đỗ Việt Hùng

Hà Nội, 2020

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện, Khoa Ngôn ngữ học, Phòng đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học: GS TS

Đỗ Việt Hùng đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu

và giúp đỡ tôi hoàn thành luận án Bên cạnh đó, luận án này sẽ không thể hoàn thành nếu không có những ý kiến đóng góp vô cùng quý báu của GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, GS.TS Vũ Văn Đại, GS.TS Nguyễn Văn Khang, PGS.TS

Vũ Thị Thanh Hương cùng nhiều thầy cô khác

Tôi xin cảm ơn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, phòng Thư ký Biên tập khoa học xã hội và nhân văn đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận án

Cuối cùng tôi xin cản ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Mặc dù đã hết sức cố gắng hoàn thiện luận án, song không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý quý báu của Quý thầy

cô và các bạn đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Thanh Nga

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NGUYỄN THỊ THANH NGA

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI………

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU………

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU………

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………

5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN………

6 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN…………

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN………

1 3 5 8 14 14 15 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… 16

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 16

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ 16

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về năng lực tiếng Pháp 20

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về đánh giá năng lực ngôn ngữ 23

1.1.4 Tình hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực ngoại ngữ 25

1.1.5 Nhận xét 33

1.2 Cơ sở lí luận 35

1.2.1 Một số vấn đề lí thuyết ngôn ngữ học xã hội liên quan cách tiếp cận đề tài luận án 35

1.2.2 Khái niệm Khung mô tả năng lực ngôn ngữ 48

Tiểu kết……… 54

CHƯƠNG 2: MÔ TẢ NĂNG LỰC TIẾNG PHÁP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (Trường hợp trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam và trường THPT Chu Văn An) 57

2.1 Mô tả mẫu 59

2.1.1 Đặc trưng cá nhân 59

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 6

2.1.2 Đặc trưng gia đình 62

2.1.3 Nhận xét 65

2.2 Năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông theo các kĩ năng 66

2.2.1 Kĩ năng nghe 67

2.2.2 Kĩ năng nói……… 75

2.2.3 Kĩ năng đọc 90

2.2.4 Kĩ năng viết 94

2.3 Đánh giá chung 99

Tiểu kết……… 107

CHƯƠNG 3: NHỮNG NHÂN TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC TIẾNG PHÁP CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (Trường hợp trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam và trường THPT Chu Văn An) 110

3.1 Đặc điểm cá nhân 112

3.1.1 Sự ảnh hưởng của nhân tố thời điểm bắt đầu học ngoại ngữ đến năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông 113

3.1.2 Sự ảnh hưởng của nhân tố động cơ, thái độ của học sinh đến năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông 116

3.1.3 Sự tác động của nhân tố trải nghiệm cá nhân đến năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông 120

3.2 Đặc điểm gia đình 121

3.2.1 Sự tác động của nhân tố gia đình có người biết tiếng Pháp ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông……… 122

3.2.2 Sự tác động của nhân tố định hướng gia đình đối với năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông 125

3.3 Đặc điểm văn hoá-xã hội 128

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 7

3.3.1 Sự tác động của yếu tố công nghệ thông tin đối với năng lực tiếng

Pháp của học sinh trung học phổ thông 128 3.3.2

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

162

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CCTSL: cơ chế tâm - sinh lí

CEFR: Common European Framework of Reference for Languages: Learning, Teaching, Assessment - khung tham chiếu Châu Âu

CMEC: Council of Ministers of Education Canada - Hội đồng Bộ trưởng Giáo dục Canada

CNTT: công nghệ thông tin

GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo

KNLNNVN: khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam

NLCL: năng lực chiến lược

NLDH: năng lực dụng học

NLDN: năng lực diễn ngôn

NLGT: năng lực giao tiếp

Trang 9

Bảng 2.3 Tỉ lệ có tham gia các các hoạt động nghe tiếng Pháp ở ngoài

lớp học theo tuổi/khối học và giới tính

69

Bảng 2.4 Mức độ hiểu khi nghe, xem chủ điểm yêu thích 71 Bảng 2.5 Những khó khăn đối với kĩ năng nghe tiếng Pháp 72 Bảng 2.6 Mức độ quan trọng của kĩ năng nghe hiểu 75 Bảng 2.7 Tần suất giao tiếp tiếng Pháp ở lớp theo khối 77 Bảng 2.8 Hoạt động giao tiếp tiếng Pháp ở đâu/với ai của học sinh 78 Bảng 2.9 Đối tượng giao tiếp ở trường của các em học sinh 80 Bảng 2.10 Tần suất sử dụng tiếng Pháp để giao tiếp ở nhà 83

Bảng 2.12 Đối tượng giao tiếp ở nhà của các em học sinh 85 Bảng 2.13 Tần suất giao tiếp tiếng Pháp ở ngoài xã hội 86 Bảng 2.14 Địa điểm các bạn học sinh giao tiếp tiếng Pháp 87 Bảng 2.15 Đối tượng giao tiếp của học sinh ngoài xã hội 88 Bảng 2.16 Kết quả thường đạt đối với kĩ năng nói của học sinh 88 Bảng 2.17 Mức độ quan trọng của hoạt động giao tiếp 89 Bảng 2.18 Mức độ hiểu đối với kĩ năng đọc hiểu 91 Bảng 2.19 Mức độ đọc sách báo truyện tiếng Pháp 92 Bảng 2.20 Những khó khăn đối với hoạt động đọc 93 Bảng 2.21 Kết quả thường đạt đối với kĩ năng đọc hiểu của học sinh 94 Bảng 2.22 Tần suất viết bằng tiếng Pháp của học sinh 96 Bảng 2 23 Những khó khăn thường gặp đối với kĩ năng viết của học sinh 97 Bảng 2.24 Những lỗi hay mắc đối với kĩ năng viết của học sinh 98

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 10

Bảng 2.25 Điểm viết thường đạt của các em học sinh 99 Bảng 2.26 Kết quả tự đánh giá năng lực ngoại ngữ theo tuổi 100 Bảng 2.27 Kết quả tự đánh giá năng lực ngoại ngữ theo giới tính 102 Bảng 3.1 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá theo tương quan

với nhân tố động lực và thái độ với tiếng Pháp

117

Bảng 3.2 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá theo tương quan

với việc tự học tiếng Pháp

119

Bảng 3.3 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá theo tương quan

với trải nghiệm bản thân

120

Bảng 3.4 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá theo tương quan

với nhân tố gia đình có người biết tiếng Pháp và sử dụng tiếng Pháp trong gia đình

122

Bảng 3.5 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá theo tương quan

với nhân tố bối cảnh sử dụng tiếng Pháp trong gia đình

124

Bảng 3.6 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá tốt theo tương

quan với yếu tố định hướng gia đình vì thích tiếng Pháp

125

Bảng 3.7 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá tốt theo tương

quan với yếu tố công nghệ thông tin của học sinh

131

Bảng 3.8 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá theo tương quan

với yếu tố điều kiện xã hội

135

Bảng 3.9 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá theo tương quan

với yếu tố cơ hội công việc

137

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Thời gian bắt đầu học và lí do học tiếng Pháp của học sinh 62 Biểu đồ 2.2 Người định hướng theo học tiếng Pháp cho học sinh 63 Biểu đồ 2.3 Lí do gia đình định hướng học tiếng Pháp cho học sinh 64 Biểu đồ 2.4 Điểm của kĩ năng nghe hiểu theo khối và giới tính của học sinh 74 Biểu đồ 2.5 Tần suất giao tiếp tiếng Pháp ở lớp theo giới tính học sinh 77 Biểu đồ 2.6 Mức độ hiểu đối với kĩ năng đọc hiểu 90 Biểu đồ 2.7 Tần suất viết tiếng Pháp của học sinh 95 Biểu đồ 2.8 Tỉ lệ đánh giá mức độ thành thạo ở 4 kĩ năng theo giới tính học

sinh

102

Biểu đồ 2.9 Kết quả đạt được 4 kĩ năng của học sinh THPT 104 Biểu đồ 2.10 Tỉ lệ học sinh có các chứng chỉ Delf, Dalf tiếng Pháp 106 Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ học sinh đạt 4 kĩ năng từ loại khá trở lên theo tương quan

với các đặc điểm cá nhân và khối lớp

112

Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá theo tương quan với

nhân tố thời điểm bắt đầu học tiếng Pháp

115

Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá tốt theo tương quan

với yếu tố định hướng gia đình vì sang Pháp học tập

127

Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ học sinh có năng lực tiếng Pháp khá tốt theo tương quan

với yếu tố giao tiếp với người nước ngoài

138

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Việt Nam là quốc gia đang trên đường phát triển và hội nhập quốc tế

Điều đó có tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước, trong đó

có nền giáo dục Để giáo dục Việt Nam có thể hội nhập với giáo dục của các nước trên thế giới, vươn tầm quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện các quyết sách mạnh mẽ nhằm thúc đẩy việc học ngoại ngữ trong nhà trường Bởi lẽ ngoại ngữ được xem như là chìa khoá để phát triển của một quốc gia, là công cụ bắt buộc phải có để làm việc trong môi trường toàn cầu hóa, là phương tiện tốt nhất để tiếp cận với tri thức hiện đại Hiểu được tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT)

đã ban hành Đề án Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc

dân giai đoạn 2008-2020 với mục tiêu là đổi mới toàn diện việc dạy và học

ngoại ngữ trong các trường và biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay theo đánh giá chung, khả năng ngoại ngữ của người Việt còn hạn chế Việc trang bị cho mình một thứ tiếng nước ngoài để đáp ứng xu thế hội nhập và trở thành công dân toàn cầu còn mang tính tự phát Ngoài những vấn đề thuộc về chính sách và nhu cầu xã hội, chúng tôi cho rằng việc học ngoại ngữ cũng như hiệu quả và chất lượng đạt được của nó còn phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, trong đó

có nhân tố xã hội Tuy nhiên cho đến nay, gần như chưa có công trình nghiên cứu nào về sự ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đối với kết quả học ngoại ngữ nói chung và tiếng Pháp nói riêng của học sinh Việt Nam Đây được xem là một hướng nghiên cứu mới góp phần hiện thực hóa mục tiêu

mà Bộ GD&ĐT đã đề ra là nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ ở tất

cả các cấp học

1.2 Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường mà Bộ

GD&ĐT đề ra được xem là mục tiêu chung cho tất cả các ngoại ngữ đang

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 13

được giảng dạy trong hệ thống giáo dục phổ thông nước ta Tuy nhiên mỗi ngoại ngữ lại có đặc thù riêng Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ toàn cầu

và là ngoại ngữ số một trên thế giới và ở Việt Nam Ngoại ngữ này được giảng dạy phổ biến trong tất cả các trường học và được sử dụng rộng rãi trong đời sống văn hóa xã hội Một số ngoại ngữ khác cũng đang khá phát triển ở nước ta hiện nay như tiếng Tây Ba Nha, tiếng Đức, tiếng Nhật v.v tuy nhiên đó lại không phải là thực trạng đối với tiếng Pháp Tác giả Vương Toàn (2013) có cùng quan điểm như vậy khi cho rằng: “Chúng ta

có thể giải thích thực trạng hiện nay một phần bởi sự bùng nổ tiếng Anh trong thời đại toàn cầu hóa Nhưng so với các ngoại ngữ khác, một câu hỏi được đặt ra: tại sao tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn và cả tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha v.v lại có sự phát triển tương đối ở Việt Nam? Và tại sao đây không phải là trường hợp cho tiếng Pháp” Thực tế cho thấy, từ khi nước ta gia nhập cộng đồng Pháp ngữ vào năm 1970, tiếng Pháp không ngừng được quan tâm và giảng dạy Là một trong 88 thành viên chính thức của Cộng đồng Pháp ngữ, song hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với một thực tế đó là tiếng Pháp đang mất dần vị thế ở nước ta, chất lượng và kết quả học tập ngoại ngữ này chưa xứng tầm Đây cũng là vấn đề được Chính phủ hai nước thảo luận khá nhiều nhằm tháo gỡ các khó khăn hiện nay và thúc đẩy công tác giảng dạy tiếng Pháp, tăng quy mô, số lượng học sinh tiếng Pháp ở Việt Nam Năm 2019, trong buổi làm việc với đại diện

Bộ GD&ĐT Việt Nam, Đại sứ Bertrand Lortholary khẳng định chủ trương này là quyết tâm chính trị của Chính phủ Pháp và được hai nước quan tâm phát triển như là một lĩnh vực hợp tác tốt đẹp nhất trong mối quan hệ hợp tác ngoại giao giữa hai nước Chúng tôi cho rằng để khôi phục lại vị thế cho tiếng Pháp cũng như là việc dạy và học có hiệu quả ngoại ngữ này ở Việt Nam, một đất nước đang trên đà phát triển về mọi phương diện, nhân

tố xã hội giữ vai trò hết sức quan trọng Tuy nhiên cho đến nay, chưa có

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 14

công trình nghiên cứu tổng thể nào về các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của người học nói chung và của học sinh nói riêng tại nước ta cũng như trên thế giới Như vậy luận án thực hiện việc nghiên cứu các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến việc học tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông là yêu cầu hết sức quan trọng và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay

Điểm lại các công trình nghiên cứu đã công bố trước luận án này chúng tôi nhận thấy đã có khá nhiều công trình đề cập đến tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ, thảo luận về phương pháp giảng dạy từng ngoại ngữ, từng kĩ năng cụ thể Bên cạnh đó cũng có khá nhiều các công trình nghiên cứu về năng lực ngoại ngữ nói chung và năng lực tiếng Pháp nói riêng, song đều là các nghiên cứu để phục vụ cho phương pháp giảng dạy hay kiểm tra đánh giá ngoại ngữ Việc tìm hiểu về năng lực ngoại ngữ trong mối quan hệ với các nhân tố xã hội thì gần như chưa có Nói cách khác những công trình này đều tiếp cận quá trình dạy và học ngoại ngữ từ góc độ ngôn ngữ học và giáo dục học Tuy nhiên chưa có công trình nào quan tâm đến vai trò, hay tác động của các yếu tố xã hội đối với việc phát triển năng lực ngoại ngữ Đây là một sự thiếu vắng đáng tiếc vì thực tiễn dạy và học ngoại ngữ khẳng định rằng các nhân tố xã hội có tác động không nhỏ đến quá trình hình thành và phát triển năng lực ngoại ngữ ở người học, nhất là trong bối cảnh xã hội có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngoại ngữ như hiện nay Vì những lí do đó chúng tôi đã lựa chọn đề tài

nghiên cứu Năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác

động của một số nhân tố xã hội: Nghiên cứu trường hợp trường chuyên Hà

hội Đây là một cách tiếp cận mới và cần thiết vì qua đó chúng ta xác định được những đường lối chính sách, ứng xử xã hội hợp lí để đạt được mục tiêu mà chính phủ hai nước đề ra

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 15

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu năng lực tiếng Pháp thực tế của học sinh THPT

ở một số trường chuyên ở Hà Nội và làm sáng tỏ tác động của một số nhân tố

xã hội tới năng lực đó ở học sinh, luận án hướng đến mục đích giúp nâng cao năng lực tiếng Pháp cho học sinh và tìm lại vị thế của ngoại ngữ này trong hệ thống giáo dục cũng như trong đời sống xã hội ở nước ta Ngoài ra kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần vào việc hoạch định chính sách ngoại ngữ phù hợp ở Việt Nam

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:

1/ Năng lực tiếng Pháp thực tế của học sinh THPT lớp chuyên và song ngữ tiếng Pháp ở Hà Nội như thế nào ?

2/ Các nhân tố xã hội nào ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT lớp song ngữ và chuyên Pháp tại Hà Nội ?

2.3 Giả thuyết nghiên cứu

Để trả lời hai câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:

1/ Năng lực thực tế của học sinh THPT khối lớp song ngữ và chuyên Pháp tại Hà Nội đáp ứng được yêu cầu của Bộ GD&ĐT

2/ Các nhân tố xã hội (cá nhân, gia đình, văn hóa-xã hội) có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành và phát triển năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT khối lớp song ngữ và chuyên Pháp tại Hà Nội

2.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án hướng tới nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau:

1/ Nghiên cứu các mô hình lí thuyết liên quan đến luận án

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 16

- Hệ thống hóa lí thuyết về ngôn ngữ học xã hội: năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, biến ngôn ngữ, biến xã hội và mối quan hệ giữa biến ngôn ngữ và biến xã hội;

- Lí thuyết về khung mô tả năng lực ngôn ngữ: khung tham chiếu Châu

Âu và khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam

2/ Khảo sát thực trạng năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT lớp chuyên và song ngữ ở Hà Nội

3/ Chỉ ra được các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT lớp chuyên và song ngữ ở Hà Nội

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của các em học sinh THPT lớp song ngữ và chuyên ở

Hà Nội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi nghiên cứu về không gian

Hà Nội được chọn làm địa bàn khảo sát của luận án bởi lẽ đây được xem

là một trong những thành phố lớn của Việt Nam có số lượng trường dạy tiếng Pháp ở hệ THPT nhiều nhất so với cả nước Cụ thể có sáu trường, trong đó có năm trường theo hệ thống giáo dục Việt nam (THPT Chuyên Ngữ, THPT Chu Văn An, THPT chuyên Amsterdam, THPT Chuyên Nguyễn Huệ - Hà Đông, THPT Sơn Tây) và một trường theo hệ thống giáo dục của Pháp (THPT Quốc

tế Pháp Alexandre Yersin) Hà Nội cũng là thành phố luôn đi đầu trong việc thực hiện các chính sách đổi mới giáo dục của Bộ GD&ĐT Học sinh trên địa bàn Hà Nội được xem như là có mọi điều kiện (xã hội, trường lớp, gia đình v.v.) tốt nhất cả nước Đây được xem là nhân tố vô cùng quan trọng trong việc học tập nói chung và học ngoại ngữ nói riêng

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 17

Hệ thống các trường THPT có tiếng Pháp là ngoại ngữ 1 ở Hà Nội được đánh giá là không đồng đều về trình độ tiếng Pháp cũng như về điều kiện giảng dạy và học tập Luận án nghiên cứu về các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT không thể rải đều cho tất các các nhóm trường Chúng tôi lựa chọn khảo sát những trường về cơ bản là ở tốp cao, có điều kiện tốt nhất, để qua đó thấy được với điều kiện tốt như thế thì năng lực tiếng Pháp của các em học sinh đạt được là như thế nào ? Kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra hai mặt của vấn đề Nếu học sinh của hai trường này đạt kết quả học khá tốt đáp ứng được mục tiêu của Bộ GD&ĐT thì chúng tôi cho rằng đây sẽ là hướng phát triển tích cực cho tiếng Pháp trên địa bàn Hà Nội cũng như cả nước Ngược lại, nếu như học sinh trong những trường có mọi điều kiện học tập tốt như vậy mà kết quả vẫn không đảm bảo thì Chính phủ và các nhà làm chính sách giáo dục cần xem lại chương trình giảng dạy tiếng Pháp ở nước ta vì như thế có nghĩa là chương trình chưa đi đúng hướng

Với mục đích nghiên cứu trường hợp như vậy, luận án chọn hai trường

là THPT chuyên Hà Nội Amsterdam và THPT Chu Văn An Đây là những trường có truyền thống lâu đời tại Hà Nội, trong đó tiếng Pháp được giảng dạy từ nhiều năm nay Hiện nay, đây là hai trường duy nhất còn có cả hai lớp song ngữ và lớp chuyên Pháp Một số trường khác như trường THPT Chuyên Nguyễn Huệ trước đây cũng có cả hai lớp song ngữ và lớp chuyên Pháp tuy nhiên giờ chỉ còn duy trì lớp chuyên Năm 2017, hai trường này đã được cấp nhãn hiệu rất có uy tín LabelFrancEducation Đây là một nhãn hiệu xuất sắc được trao cho các trường được đánh giá tốt nhất về chất lượng giảng dạy tiếng Pháp trong chương trình song ngữ tiếng Pháp Hiện nay trên thế giới chỉ có

209 trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt được nhãn hiệu này Gần như 100% học sinh trong tổng số 333 em khối tiếng Pháp của

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 18

hai trường này đều học tiếng Pháp từ lớp 1 của Chương trình tiếng Pháp tăng cường của Bộ GD&ĐT

Chúng tôi cho rằng, với hai trường THPT tốp đầu này, học sinh sẽ có được những điều kiện tốt nhất Mục tiêu của luận án khảo sát năng lực tiếng Pháp của học sinh không phải để đưa ra các phương pháp học tập theo đường hướng giáo học pháp mà là tìm hiểu các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến kết quả học ngoại ngữ này của học sinh Như vậy, với sự quan tâm thích đáng từ phía

xã hội, nhà trường, gia đình và sự trang bị tốt từ cá nhân, chúng tôi cho rằng điều đó sẽ thể hiện rõ nhất mối quan hệ giữa các nhân tố xã hội trên với năng lực tiếng Pháp của học sinh Ở những trường có điều kiện không tốt bằng, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố xã hội sẽ không rõ ràng Đây là những lí

do luận án chọn hai trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam và THPT Chu Văn An là địa bàn khảo sát và học sinh khối tiếng Pháp của hai trường làm khách thể nghiên cứu

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu về thời gian

Luận án được thực hiện trong khoảng thời gian 3 năm từ tháng 8/2016 – 8/2019 Tuy nhiên, việc điều tra nghiên cứu ở địa bàn hai trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam và THPT Chu Văn An chỉ được thực hiện trong khoảng thời gian hơn 1 năm, từ tháng 3/2018 đến tháng 4/2019 Năm đầu tiên, chúng tôi dành thời gian để tìm hiểu về hệ thống, chương trình giảng dạy của nhà trường; phỏng vấn, trao đổi với Ban Giám hiệu nhà trường và các giáo viên giảng dạy tiếng Pháp để nắm được những thông tin cơ bản nhất về chương trình tiếng Pháp và đặc thù của học sinh khối tiếng Pháp Năm thứ 2, chúng tôi thực hiện việc khảo sát, điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn đối với 333 học sinh và 8 giáo viên dạy tiếng Pháp của hai trường Để đảm bảo tiến độ của luận án chúng tôi kết thúc khảo sát vào tháng 4/2019, là thời điểm trước khi khi kết thúc năm học 1 tháng Điều đó đảm bảo tính cập nhật của số liệu thống kê và các vấn đề nghiên cứu mang tính thời sự Song hạn chế gặp

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 19

phải là vào thời điểm này học sinh chưa tham gia hết các cuộc thi chứng chỉ tiếng Pháp, đặc biệt là đối với học sinh lớp 12 Các em thường thi vào cuối

năm học để đăng kí vào các trường Đại học nước ngoài

3.2.3 Phạm vi nghiên cứu về khách thể

Phạm vi về khách thể của luận án là nghiên cứu trên mẫu 333 học sinh của hai khối lớp song ngữ và chuyên tiếng Pháp tại hai trường THPT chuyên

Hà Nội Amsterdam và Trường THPT Chu Văn An

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài luận án làm về năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội được nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học xã hội, vì vậy việc thu thập và xử lí tư liệu đóng vai trò hết sức quan trọng

4.1 Phương pháp thu thập tư liệu

Để tiến hành thu thập tư liệu cho đề tài, chúng tôi áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp định lượng và phương pháp định tính

4.1.1 Thu thập dữ liệu trong tiếp cận định lượng

Chọn mẫu là một trong những khâu đầu tiên trong quá trình thu thập

tư liệu trong tiếp cận phương pháp định lượng Học sinh khối tiếng Pháp được lựa chọn từ hai trường THPT tiêu biểu của Hà Nội (Trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam và Trường THPT Chu Văn An) Các thông tin chi tiết về mẫu được trình bày trong phần nội dung về địa bàn nghiên cứu Nói chung, về cơ bản các em học sinh được chọn làm đối tượng điều tra đều có trình độ tiếng Pháp cơ bản và khá đồng đều; được sống và học tập trong môi trường điều kiện xã hội đảm bảo Điều đó giúp cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố xã hội như: gia đình, văn hóa - xã hội, cá nhân v.v có được những kết quả chân thực và khách quan Cụ thể, số lượng mẫu như sau:

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 20

có các số liệu này là vì những lí do khách quan và chủ quan Lí do khách quan

là số lượng học sinh tuyển sinh hàng năm thay đổi Bên cạnh đó nhân tố chủ quan là có khá nhiều học sinh, đặc biệt là học sinh trường chuyên Amsterdam, chỉ học lớp 10 hoặc lớp 11 ở Việt Nam, sau đó sẽ đi du học nước ngoài Vì vậy, số lượng học sinh lớp 12 bao giờ cũng ít đi so với ban đầu và so với các khối khác

Thông tin định lượng được thu thập qua Bảng hỏi Bảng hỏi là công cụ

đo lường quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội Chính nhờ những câu hỏi đặt ra trong bảng hỏi mà chúng ta có thể có được thông tin về các nhân tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu Đối với nội dung nghiên cứu của luận án, các câu hỏi đặt ra trong bảng hỏi để thu thập thông tin về thực trạng năng lực tiếng Pháp và các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh

Bảng hỏi được thiết kế bao gồm có 3 phần chính: (1) Thông tin cá nhân (2) Nội dung chính (3) Câu hỏi chung Trong đó phần (1) có 9 câu hỏi

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 21

nhằm khai thác thông tin về cá nhân và gia đình của học sinh tham gia phỏng vấn Phần (2) nội dung chính bao gồm 25 câu hỏi, tập trung khai thác về mức độ sử dụng, khó khăn, thái độ, kết quả của học sinh đối với bốn kĩ năng tiếng Pháp (nghe-nói-đọc-viết) Trong đó kĩ năng nghe (6 câu);

kĩ năng nói (11 câu); kĩ năng viết (4 câu) và kĩ năng đọc hiểu (4 câu) Các câu hỏi của bốn kĩ năng không giống nhau Trong đó kĩ năng nghe và nói

có số lượng câu hỏi nhiều hơn hẳn hai kĩ năng còn lại bởi trong việc học tập ngoại ngữ nói chung và tiếng Pháp nói riêng, kĩ năng nghe-nói là hai kĩ năng trọng tâm và phức tạp hơn Đặc biệt là đối với kĩ năng nói có ưu thế hơn các kĩ năng khác là nó có thể vận dụng linh hoạt được ở nhiều không gian, thời gian như lớp học, gia đình hay xã hội Trong khi đó các kĩ năng khác phạm vi sử dụng khá hạn chế Đó là lí do kĩ năng nói có nhiều câu hỏi nhất nhằm khai thác triệt để các thông tin hữu ích Thang đo tần suất trong bảng hỏi được trình bày về cơ bản với 5 mức độ từ cao đến thấp: rất thường xuyên, khá thường xuyên, bình thường, khá không thường xuyên, không thường xuyên Tuy nhiên cũng có một số ít các câu hỏi có thang đo ở 3 hoặc 7 mức độ nhằm phù hợp với tình hình thực tế nghiên cứu Phần (3) bao gồm 15 câu hỏi chung, hướng tới việc thu thập các thông tin chi tiết hơn về các hoạt động tiếng Pháp của các em học sinh

Trước khi phát bảng hỏi tại địa bàn khảo sát, việc thử nghiệm bảng hỏi

đã được thực hiện Đây được xem là một khâu nằm trong bước điều tra thử nói chung và thử bảng hỏi trên mẫu có đặc trưng tương tự như mẫu thật Mẫu thử được chọn là 10 học sinh lớp chuyên Pháp của Trường THPT Chuyên Ngoại ngữ Đây là những đối tượng có trình độ và điều kiện học tập khá tương đương với các mẫu chính Thao tác này đã giúp chúng tôi có được nhiều sửa đổi, bổ sung các thông tin hợp lí và hữu ích để hoàn chỉnh công cụ thu thập dữ liệu

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 22

4.1.2 Thu thập dữ liệu trong tiếp cận định tính

Sau khi tiến hành phương pháp định lượng bằng cách sử dụng công cụ

đo lường là bảng hỏi, chúng tôi nhận thấy còn có một số thông tin cần được làm sáng tỏ và tìm hiểu sâu hơn nữa để có thể giải thích cho mối quan hệ giữa các nhân tố xã hội đối với năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT Thu thập thông tin định tính bằng phương pháp phỏng vấn định tính tiếp tục được tiến hành Trong đó các câu hỏi mở được sử dụng cho đối tượng tham gia phỏng vấn là giáo viên dạy tiếng Pháp và học sinh khối tiếng Pháp của cả hai trường THPT trên

Để thu thập thông tin định tính đối với học sinh, luận án sử dụng hình thức thảo luận nhóm tập trung (Focus Group Discussion) Lí do chọn cách phỏng vấn này xuất phát từ kết quả của phỏng vấn thử (thực hiện đồng thời cùng phiếu điều tra như đã trình bày trên đây) Khi phỏng vấn sâu thử đối với một số học sinh THPT, chúng tôi nhận thấy tồn tại các bất cập như sau: một

số bạn học sinh tỏ ra khá dè dặt, nhút nhát Các học sinh này thường không đưa ra được đầy đủ thông tin hoặc ngại tự đánh giá bản thân Bên cạnh đó có những bạn rất mạnh dạn, cởi mở, song lại khá khiêm tốn, luôn nhận mức độ thấp hơn so với thực lực bản thân Cả hai trường hợp trên nếu tham gia vào phỏng vấn sâu từng cá nhân đều có nguy cơ dẫn đến hoặc không thu thập được nhiều thông tin hoặc những thông tin thiếu chính xác Ngược lại, nếu như áp dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung, sẽ có sự tương tác giữa các học sinh với nhau trong quá trình thảo luận Chẳng hạn bạn A nói rằng mình nói tiếng Pháp không tốt nhưng bạn B lại phản biện cho rằng, không phải vậy, bạn ý nói rất tốt, toàn đạt điểm giỏi v.v Như vậy chúng tôi tin rằng cách thức thảo luận nhóm tập trung sẽ thu được thông tin một cách phong phú, khách quan và chính xác Trong nghiên cứu này, nhóm mẫu tham gia thảo luận gồm 6 bạn học sinh Luận án thực hiện phỏng vấn trên 3 nhóm, tương ứng với ba khối (10, 11, 12)

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 23

Tác giả Nguyễn Hữu Minh (2016) cho rằng mặc dù nguyên tắc chung là sắp xếp thuần nhất các nhóm, nhưng trong một số trường hợp nhà nghiên cứu

có thể tổ chức thảo luận nhóm không thuần nhất nhằm một mục tiêu cụ thể nào đó Luận án đã lựa chọn các nhóm học sinh theo hướng này Các nhóm được xây dựng có điểm thuần nhất là cùng độ tuổi Song để đạt được hiệu quả cao hơn về thông tin thu thập được, luận án lựa chọn nhóm có các điểm không đồng nhất Ví dụ như trong nhóm sẽ có: học sinh có người trong gia đình biết tiếng Pháp; học sinh không có người trong gia đình biết tiếng Pháp; học sinh đã được đi Pháp và các nước trong cộng đồng Pháp ngữ, học sinh chưa bao giờ được đi đến các nước nói tiếng Pháp v.v Ngoài ra, chúng tôi còn quan tâm đến sự cân bằng về nhân tố giới tính trong mỗi nhóm nhằm mục đích đưa lại các kết quả khách quan và chính xác đúng với mục đích nghiên cứu là tìm hiểu năng lực tiếng Pháp của học sinh theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội

Để thu thập thông tin định tính đối với giáo viên, chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu với từng cá nhân Việc áp dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung đối với giáo viên là tương đối phức tạp và không cần thiết bởi lẽ đặc thù của môi trường trường học là các giáo viên chỉ đến trường khi có tiết dạy Như vậy để gặp được một nhóm giáo viên cho một cuộc phỏng vấn là không đơn giản Hơn nữa họ đều là những người có chính kiến và phản biện độc lập nên không phụ thuộc vào nhân tố cá nhân hay tập thể Các câu hỏi cho phỏng vấn sâu đối với giáo viên là những câu hỏi mở nhằm mục đích làm rõ thêm thông tin liên quan đến hoạt động dạy và học tiếng Pháp ở trường lớp cũng như tìm hiểu thêm về đặc điểm cá nhân, gia đình của các

em học sinh

Ghi âm và Ghi chép: Khi tiến hành phỏng vấn, chúng tôi đã xin phép

được sử dụng máy ghi âm Đây là phương tiện hữu hiệu đảm bảo có được thông tin đầy đủ và được ghi lại chính xác nhất sau cuộc phỏng vấn Tuy

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 24

nhiên, chúng tôi vẫn áp dụng thêm hình thức ghi chép Những thông tin về tên tuổi, cử chỉ, thái độ…của người được phỏng vấn khi trao đổi được ghi chép lại một cách vắn tắt

Quan sát: là kĩ năng được chúng tôi sử dụng trong suốt quá trình ghi âm

tại các trường học.Việc tiến hành quan sát giúp chúng tôi nhận thấy những thái độ, động cơ v.v của các em học sinh trong việc học tiếng Pháp

4.2 Phương pháp xử lí tư liệu

Nghiên cứu đã thực hiện điều tra bảng hỏi đối với 333 em học sinh nên

đề tài đã sử dụng phần mềm Epidata - là phần mềm quản lí, nhập số liệu và xây dựng các văn bản để nhập số liệu định lượng Sau đó số liệu được nhập chuyển sang phần mềm SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) là một chương trình máy tính dùng để xử lí và phân tích dữ liệu sơ cấp - là các thông tin định lượng được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu, thường được sử dụng rộng rãi trong các các nghiên cứu điều tra xã hội học và kinh tế lượng Phần mềm SPSS được thiết kết để thực hiện các bước thống kê từ thống kê mô tả đến thống kê suy luận Nghiên cứu này sử dụng các chức năng làm sạch dữ liệu xây dựng và xử lí biến số, quản lí dữ liệu và phân tích dữ liệu, sử dụng phương pháp thống kê mô tả như tính tần suất, tính điểm trung bình để xác định các đặc trưng mẫu và thực trạng năng lực học tiếng Pháp của học sinh THPT và sử dụng phân tích tương quan để xác định biến số độc lập ảnh hưởng tới năng lực học tiếng Pháp của học sinh THPT hệ chuyên ngữ và song ngữ

4.3 Các phương pháp khác

Ngoài hai phương pháp nghiên cứu chính là định lượng và định tính, đề tài còn áp dụng một số phương pháp khác như: phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng trong việc tìm hiểu các luận án, luận văn, sách chuyên khảo, bài báo, tạp chí có nội dung liên quan; phương pháp thống kê, so sánh

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 25

nhằm đối chiếu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh theo các biến ngôn ngữ xã hội như tuổi, giới, gia đình, xã hội v.v

5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

Có thể nói, đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ nói chung và năng lực tiếng Pháp nói riêng theo hướng ngôn ngữ học xã hội Luận án thực hiện được một số điểm mới sau:

- Mô tả được thực trạng năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông khối lớp chuyên và song ngữ tại Hà Nội

- Chỉ ra được những nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông

6 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

Đề tài luận án có tính cấp thiết, mang ý nghĩa lí luận và thực tiễn cao

6.1 Về lí luận

- Luận án đóng góp cho ngành ngôn ngữ học xã hội thêm một công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp nói riêng và năng lực ngoại ngữ nói chung

- Những kết quả nghiên cứu này giúp kiểm nghiệm một số giả thuyết về mối quan hệ giữa một số biến xã hội (giới tính, tuổi, điều kiện gia đình, xã hội v.v.) với biến ngôn ngữ (năng lực ngoại ngữ)

6.2 Về thực tiễn

- Luận án cung cấp cho ngành giáo dục nói chung và chương trình đào tạo tiếng Pháp nói riêng một bức tranh tổng thể về thực trạng năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT chương trình tiếng Pháp tăng cường, hệ 12 năm

- Từ kết quả phân tích về các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh như giới tính, tuổi, điều kiện gia đình, xã hội v.v , nghiên cứu giúp cho các nhà sư phạm và hoạch định chính sách có thêm cơ sở để có những chiến lược giảng dạy và chính sách phù hợp với thực tế Điều đó góp

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 26

phần quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình dạy và học tiếng Pháp nói riêng

và ngoại ngữ nói chung ở Việt Nam đạt được kết quả tốt nhất

- Kết quả nghiên cứu của luận án còn mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng nữa là góp phần khẳng định được vị trí của tiếng Pháp ở Việt Nam trong thực tế hiện nay Tiếng Pháp không những vẫn nhận được sự quan tâm của các nhà sư phạm và hoạch định chính sách, mà cả các nhà nghiên cứu khoa học

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án

Chương 3: Những nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh trung học phổ thông (Trường hợp trường THPT chuyên Hà Nội Amsterdam và trường THPT Chu Văn An)

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 27

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Ở chương này, luận án sẽ trình bày hai nội dung: tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận liên quan đến luận án Đề tài nghiên cứu về năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT và các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT Chính bởi vậy, nội dung liên quan đến tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án tập trung vào các vấn đề sau: tình hình nghiên cứa về năng lực ngôn ngữ, các công trình nghiên cứu về năng lực tiếng Pháp, tình hình nghiên cứu về đánh giá năng lực ngôn ngữ và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực ngoại ngữ của học sinh Phần cơ sở lí luận, thứ nhất, luận án tập trung vào một số vấn đề lí thuyết ngôn ngữ học xã hội liên quan cách tiếp cận đề tài luận án như các khái niệm: năng lực ngôn ngữ (NLNN), năng lực giao tiếp (NLGT), biến ngôn ngữ, biến xã hội.Thứ hai, luận án làm rõ các khái niệm về khung mô tả năng lực ngôn ngữ, bao gồm: khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam (KNLNNVN) và khung tham chiếu châu

Âu về ngôn ngữ (CEFR)

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, trong khoa học giáo dục nói chung và giảng dạy ngoại ngữ nói riêng, những vấn đề xung quanh khái niệm “năng lực” đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Xuất phát từ nội dung nghiên cứu của luận án liên quan đến năng lực tiếng Pháp, trước tiên chúng tôi thực hiện công việc tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

NLNN (linguistic competence) là khái niệm đã được các tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm nay Đi đầu phải kể đến tác giả

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 28

Chomsky Khi nghiên cứu về NLNN, ông cho rằng NLNN là di truyền, bẩm sinh Nó là một tiềm năng sinh học vốn có của loài người Theo đó, biết một ngôn ngữ là khả năng nhận biết và tạo ra các câu đúng ngữ pháp mà không sử dụng trước đó Chính bởi vậy Chomsky (1965) đã bàn đến khái niệm NLNN

và theo đó cũng chính là năng lực ngữ pháp (NLNP-grammatical competence) hay hành năng như sau: “NLNN là kiến thức của con người về ngôn ngữ mà thực chất là kiến thức cú pháp của tiếng mẹ đẻ” Tác giả sử dụng thuật ngữ NLNN để làm rõ sự khác biệt giữa ngữ năng (competence) và ngữ thi (performance) và cho rằng đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngữ năng chứ không phải là lời nói hay hành vi ngôn ngữ

Tác giả Halliday (1970, 1972) cũng nói đến NLNN nhưng điểm khác biệt với Chomsky là ông tiếp cận NLNN mang tính chất ngữ nghĩa xã hội học Ông cho rằng cần phải đặt ngôn ngữ trong văn cảnh tình huống của nó

mới có thể hiểu hết các chức năng của một cấu trúc ngữ pháp

Hội đồng Bộ trưởng Giáo dục Canada (Council of Ministers of Education Canada), viết tắt CMEC (2013) cũng sử dụng khái niệm NLNN và

có quan điểm gần với Chomsky Ngoài ra CMEC còn đề cập đến việc đánh giá NLNN và cho rằng cần dựa theo bốn kĩ năng cơ bản của việc học một

ngoại ngữ là: nghe-nói-đọc-viết

Với nhóm các tác giả coi khái niệm NLNN là cốt lõi, chúng tôi tạm gọi

đó là quan điểm truyền thống để phân biệt với các quan điểm khác về sau

Đại diện tiêu biểu cho nhóm không cùng quan điểm truyền thống phải

kể đến tác giả Dell Hymes Hymes (1971) cho rằng kiến thức về một ngôn

ngữ không chỉ hạn định ở các quy tắc ngữ pháp mà cần phải có các kiến thức

về tâm lí, xã hội Ông gọi đó là NLGT (communicative competence) Hymescũng chính là người tạo ra khái niệm NLGT và nó trở thành tiền đề cho các nghiên cứu về ngôn ngữ sau này Cụ thể là Widdowson, người có cùng quan điểm với Hymes Ông cho rằng NLGT của người nói bao gồm cả sự hiểu biết

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 29

về hệ thống các quy tắc ngữ pháp để tạo ra những câu đúng lẫn sự hiểu biết về những quy tắc mà tạo cho người nói có khả năng sử dụng chúng một cách phù hợp để thực hiện những hành vi tu từ phong cách trong những tình huống xã hội nhất định Canale và Swain (1980) và Savignon (1983) đều nói đến NLGT và có khá nhiều quan điểm tương đồng khi cho rằng NLGT bao gồm

NLNP, năng lực ngôn ngữ xã hội (NLNNXH-sociolinguistic competence),

năng lực chiến lược (NLCL-strategic competence) và năng lực diễn ngôn

(NLDN-discourse competence)

Bachman (1990) cũng nói đến NLGT và cho rằng nó bao gồm hai thành tố chính: năng lực tổ chức (NLNP, NLDN); năng lực ngữ dụng

(NLND-pragmatics competence) (NLNNXH và năng lực tạo lời)

Rivers (1973) cho rằng quá trình học ngôn ngữ là tiến trình từ luyện tập cấu trúc có kiểm soát đến sử dụng ngôn ngữ sáng tạo trong giao tiếp Như vậy tuy không trực tiếp đề cập đến hai khái niệm NLNN hay NLGT nhưng ông ngầm nói đến NLGT Tuy nhiên tác giả không nói rõ NLGT bao gồm những

điểm theo trường phái hiện đại

Như vậy, các tác giả nước ngoài đi theo hai trường phái Thứ nhất

đó là xem NLNN và NLGT là hai phạm trù độc lập Thứ hai, NLNN là một trong các thành tố cấu tạo nên NLGT Song về cơ bản phần lớn quan điểm của các giả đều thiên về xu hướng thứ hai, theo trường phái hiện đại

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 30

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Các nhà nghiên cứu Việt Nam có xu hướng theo trường phái hiện đại, coi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là NLGT Tác giả Nguyễn Văn Khang (1999) đồng tình với quan điểm của Dell Hymes về các phạm trù của NLGT và cũng cho rằng NLNP là một yếu tố cấu tạo nên NLGT Đỗ Bá Quý (2005, 2009) cũng có quan điểm tương tự như vậy khi cho rằng mục tiêu của việc học ngôn ngữ nói chung và ngoại ngữ nói riêng là NLGT, chứ không chỉ hạn chế ở NLNP và NLNN Bởi lẽ nếu người học chỉ có kiến thức về ngôn ngữ thì chưa đủ để có thể thực hành giao tiếp có hiệu quả Tác giả cho rằng NLGT được cấu thành từ ba thành tố: năng lực tri thức thế giới, NLNN và NLCL giao tiếp

Dư Ngọc Ngân (2016) cho rằng từ những năm 70 của thế kỉ trước, phương pháp dạy ngoại ngữ theo hướng giao tiếp đã được hình thành và ngày càng được ứng dụng rộng rãi Theo cách tiếp cận giao tiếp, việc dạy tiếng như một ngoại ngữ/một ngôn ngữ thứ hai không còn chú trọng yêu cầu phải nắm vững các kiến thức ngữ pháp như một đối tượng độc lập, mà thay vào đó, những cấu trúc ngữ pháp được đề cập đến như chúng được sinh ra trong hoạt động giao tiếp Mục tiêu hình thành NLGT cho người học được đặt lên hàng đầu, thậm chí, một vấn đề được đặt ra là nên hay không nên chú ý một cách hiển ngôn đến ngữ pháp Như vậy tuy không thể hiện trực tiếp, nhưng tác giả cũng ngầm ý cho rằng NLGT bao hàm NLNN

Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế (2009) sử dụng khái niệm NLGT nhằm diễn đạt các kĩ năng giao tiếp: nghe-nói-đọc-viết trong việc đưa ra định hướng

về kiểm tra, đánh giá tiếng Pháp Trong khi đó Bộ GD&ĐT (2009, 2010) đã

sử dụng cả hai khái niệm NLGT và NLNN Trong đó, NLNN bao gồm hai yếu tố là ngữ pháp và từ vựng, NLGT là bốn kĩ năng: nghe-nói-đọc-viết Như vậy NLNN và NLGT là hai phạm trù độc lập, không liên quan đến nhau

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 31

Như vậy các tác giả Việt Nam thể hiện quan điểm về NLGT bằng các cách diễn đạt khác nhau Có tác giả chỉ nói đến NLGT, có tác giả đề cập đến

cả NLGT và NLNN Song ở trường hợp thứ hai này thì phần lớn đều cho rằng NLNN là yếu tố cấu tạo nên NLGT Duy nhất chỉ có Bộ GD&ĐT đưa ra quan điểm về NLGT và NLNN là hai phạm trù độc lập, tương đương nhau, không cái nào thuộc cái nào Song về cơ bản phần lớn quan điểm của các tác giả trong nước đều cho rằng NLGT là cốt lõi, cùng quan điểm với các tác giả nước ngoài

Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước cho thấy có khá nhiều quan điểm khác nhau về NLNN và NLGT Trong đó nổi trội lên 2 xu hướng sau đây: xem NLNN và NLGT là hai phạm trù độc lập, tương đương nhau, không cái nào thuộc cái nào / NLNN là một trong các thành tố cấu tạo nên NLGT Song về cơ bản phần lớn quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước đều thiên về quan điểm thứ hai Điều đó

có nghĩa là trong giáo dục ngoại ngữ nói chung, tiếng Pháp nói riêng, theo đường hướng giao tiếp là nhiệm vụ trọng tâm, cốt lõi Việc đánh giá năng lực ngoại ngữ của người học cũng phải theo hướng đó

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về năng lực tiếng Pháp

Nội dung nghiên cứu của luận án liên quan trực tiếp đến năng lực tiếng Pháp, việc thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu đối với các công trình về năng lực tiếng Pháp trong và ngoài nước là việc làm cần thiết

1.1.2.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Năng lực tiếng Pháp là chủ đề nghiên cứu của nhiều cá nhân và tổ chức trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia sử dụng tiếng Pháp Những năm

1990, Hội đồng châu Âu đã ban hành Khung tham chiếu ngôn ngữ chung Châu Âu (CEFR) để xây dựng các hệ thống thẩm định năng lực ngôn ngữ Tiếng Pháp là một trong những ngoại ngữ nằm trong khung tham chiếu đó Chương trình đã ban hành các cấp độ để đánh giá năng lực tiếng Pháp cho

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 32

phù hợp với tiêu chuẩn mà CEFR đưa ra Tiếp đó, Trung tâm đánh giá ngôn ngữ Canada - Centre des niveaux de compétence linguistique canadiens (2006) đã nghiên cứu chương trình tiếng Pháp cho những người

dân nhập cư Công trình có tên Cấp độ năng lực ngôn ngữ của người

Canada, đối với tiếng Pháp là ngoại ngữ hai cho người trưởng thành Việc

đưa ra các cấp độ năng lực phù hợp sẽ là cơ sở cho các chương trình đào tạo tiếng Pháp tại Canada Mới đây CMEC (2013) công bố chương trình nghiên cứu về NLNN đối với việc giảng dạy có hiệu quả tiếng Pháp Các nghiên cứu trên phần lớn là nằm trong chính sách phát triển ngôn ngữ của các quốc gia, vùng và khu vực Chính bởi vậy, hướng nghiên cứu về NLNN thường ở tầm vĩ mô Năng lực tiếng Pháp được đánh giá theo tiêu chuẩn các cấp độ để phù hợp với việc giảng dạy và học tập ngôn ngữ này như một ngoại ngữ hai

Ngoài ra cũng có một số công trình nghiên cứu về NLNN tiếng Pháp

là các luận án Tiến sĩ ngôn ngữ học Tác giả Rouhollah Rahmatian (1996) thực hiện công trình nghiên cứu về sự thụ đắc năng lực ngôn ngữ tiếng Pháp đối với sinh viên Iran Đối tượng nghiên cứu của luận án là NLNN tiếng Pháp Tuy nhiên đó là một hướng nghiên cứu so sánh giữa tiếng Pháp

và tiếng Ba Tư ở một số yếu tố cụ thể như: cụm từ, danh từ (danh từ, loại,

số lượng, yếu tố quyết định v.v.) và động từ (khái niệm, hình thái học, các lớp học, các chức năng, các thành tựu, thời gian ngữ pháp và sử dụng động

từ trong cả hai ngôn ngữ) Nghiên cứu không phân chia năng lực theo các kĩ năng: nghe-nói-đọc-viết Đây là một luận án về lí luận dạy học ngoại ngữ

Tiếp theo, tác giả Mutta (1999) nghiên cứu về năng lực từ vựng tiếng Pháp của sinh viên Phần Lan Luận án tập trung vào nghiên cứu kĩ năng diễn đạt viết đối với người học tiếng Pháp Tác giả chỉ ra rằng, cách thức

để đạt được năng lực từ vựng tiếng Pháp tốt nhất đó là học tập trong môi trường tiếng Pháp tự nhiên Sau đó, việc học tập ở những nơi đào tạo tiếng

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 33

Pháp cũng là điều kiện tốt để lĩnh hội từ vựng Cuối cùng tác giả chỉ ra rằng các kĩ năng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, song để lĩnh hội được tốt nhất từ vựng thì không thể bỏ qua kĩ năng đọc, đặc biệt là các thể loại văn bản khác nhau Như vậy, đây là một nghiên cứu về giáo học pháp, song tác giả cũng đề cập đến một số yếu tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp, cụ thể là đối với kĩ năng diễn đạt viết đó là các yếu tố được học tập trong môi trường tiếng Pháp tự nhiên hay những nơi sử dụng tiếng Pháp 1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Liên quan đến năng lực tiếng Pháp của học sinh Việt Nam, chúng tôi mới chỉ tìm thấy hai công trình là luận án tiến sĩ của các tác giả Nguyễn Phương Nga và Nguyễn Việt Anh

Nguyễn Phương Nga (2012) nghiên cứu về sự phát triển kĩ năng diễn đạt nói đối với học sinh trong lớp song ngữ ở Tiểu học Tác giả cho rằng trong việc dạy và học tiếng nước ngoài nói chung và tiếng Pháp nói riêng, người ta nhắm vào việc lĩnh hội được một cách hài hòa bốn năng lực: nghe-nói-đọc-viết Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để tìm thấy được những sự hứng thú, động lực đối với năng lực nói cho các em học sinh song ngữ lớp

4, 5 Đây là một công trình nghiên cứu về phương pháp sư phạm và dạy học đối với tiếng Pháp Nội dung liên quan của luận án sẽ được làm rõ trong các phần tiếp theo

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Việt Anh (2012) về kiểm tra - đánh giá năng lực viết tiếng Pháp ở các trường đại học ngoại ngữ ở Việt Nam Mục đích của nghiên cứu nhằm phân tích hiện trạng của việc đánh giá năng lực viết tiếng Pháp trong các trường đại học ngoại ngữ ở nước ta và xây dựng một khung tham chiếu đánh giá năng lực viết theo đường hướng phát triển năng lực viết Như vậy đây là một nghiên cứu thuộc lĩnh vực giáo học pháp

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 34

Tóm lại, điểm qua tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, nghiên cứu năng lực tiếng Pháp cũng được các tác giả khá quan tâm Song đó là những nghiên cứu ở tầm vĩ mô hoặc trường hợp với các kĩ năng

cụ thể như: viết, nói hay ngữ pháp, từ vựng v.v., chưa có nghiên cứu nào tổng hoà trên bốn kĩ năng: nghe-nói-đọc-viết Điểm đáng chú ý là các luận

án đã thực hiện đều đi theo hướng là giáo học pháp, về phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá v.v., chưa có nghiên cứu nào về năng lực tiếng Pháp theo hướng nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội như là các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng Pháp

1.1.3.Tình hình nghiên cứu về đánh giá năng lực ngôn ngữ

Có thể nói, các chương trình đào tạo mới nhất hiện nay của nước ta đều đang thực hiện nhiều cải cách Một trong những cải cách đó là tập trung vào việc kiểm tra đánh giá năng lực đối với người học Luận án lựa chọn tổng quan tình hình nghiên cứu về đánh giá năng lực đối với ngôn ngữ tiếng Việt

và tiếng nước ngoài tại Việt Nam

1.1.3.1 Đánh giá năng lực ngôn ngữ tiếng Việt

Trong việc đưa ra mục tiêu hàng đầu của việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông, tác giả Vũ Thị Thanh Hương (2006) cho rằng cần phải rèn luyện cho các em sử dụng tốt cả bốn kĩ năng: nghe-nói-đọc-viết Như vậy

về đánh giá năng lực tiếng Việt nói riêng và ngôn ngữ nói chung, tác giả cho rằng cần phải dựa vào bốn kĩ năng cơ bản trên

Theo tác giả Nguyễn Thị Hiên (2014), khi đánh giá năng lực tiếng Việt không phải là ở việc xem các em hiểu đúng hay sai nghĩa của từ, biết đây là từ ghép còn kia là từ láy, tạo ra những kết hợp đúng hay sai quy tắc tiếng Việt

mà là ở việc các em có sử dụng được từ ngữ đã học đó vào trong hoạt động giao tiếp hay không Như vậy, mặc dù không hề nhắc đến hai khái niệm NLNN hay NLGT, tuy nhiên nếu chiếu theo các quan điểm truyền thống và cận hiện đại, thì dường như nội dung của bài viết chính là đề cập đến vấn đề

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 35

này Hay nói cách khác, theo tác giả để đánh giá năng lực của học sinh, không phải chỉ dựa vào NLNN và còn phải mở rộng ra đánh giá theo NLGT

Hoàng Quốc (2015) cho rằng khi tiếp cận NLNN ở các kĩ năng nói-đọc-viết, một số kĩ năng lại được chia nhỏ hơn nữa như: nghe hiểu-không nói được, nghe hiểu-nói được; nghe hiểu-viết được; nói được-viết được Song theo tác giả việc đánh giá năng lực phải được dựa trên bốn kĩ năng: nghe- nói- đọc-viết

nghe-1.1.3.2 Đánh giá năng lực ngôn ngữ tiếng nước ngoài

Nguyễn Phương Nga (2012) cho rằng trong việc dạy và học tiếng nói chung và tiếng Pháp nói riêng, người ta nhắm vào việc lĩnh hội được một cách hài hòa bốn năng lực: nghe-nói-đọc-viết Như vậy tác giả cho rằng để đánh giá năng lực, cần tập trung vào các kĩ năng: nghe-nói-đọc-viết

Tác giả Nguyễn Mai Hương (2013) và Phạm Thu Hà (2017) trong khi

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao và đánh giá năng lực tiếng Anh cho sinh viên, cùng đưa ra quan điểm rằng cần phải đánh giá theo 4 kĩ năng: nghe-nói-đọc-viết

Vũ Thị Thanh Hương (2013) bàn về năng lực ngoại ngữ và thái độ của học sinh, sinh viên đối với việc dạy-học ngoại ngữ trong nhà trường Tác giả không nhắm vào một ngoại ngữ cụ thể nào, mà điều tra trên diện rộng, với một ngoại ngữ mà các em biết tốt nhất Khách thể nghiên cứu cũng khá linh động, học sinh từ lớp 5 đến lớp 12, sinh viên của nhiều trường đại học Để tìm hiểu năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên, tác giả dựa vào việc đánh giá bốn kĩ năng cơ bản: nghe-nói-đọc-viết Ở một nghiên cứu khác về đánh giá năng lực ngoại ngữ của giáo viên, tác giả cũng cho rằng cần phải đánh giá ở bốn kĩ năng nghe-nói-đọc-viết Như vậy theo tác giả đánh giá năng lực ngoại ngữ, dù cho bất kì đối tượng nào cũng phải dựa vào bốn kĩ năng cơ bản trên

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 36

Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế (2009) trong chương trình Hướng dẫn

giảng dạy môn tiếng Pháp cấp THPT cũng cho rằng phải kiểm tra đánh giá

toàn diện các kĩ năng giao tiếp (nghe-nói-đọc-viết) và kiến thức ngôn ngữ Tuy nhiên sự phân bố chưa đồng đều, tập trung chủ yếu vào kĩ năng đọc hiểu (comprehension oral), trong đó kĩ năng diễn đạt nói (expression orale) chỉ tiến hành kiểm tra miệng (15p), kiểm tra viết (15p) 3 kĩ năng còn lại nghe-đọc-viết Bài kiểm tra 45p, chỉ kiểm tra kĩ năng đọc hiểu trong 4 kĩ năng trên Kiểm tra học kì tương tự như vậy - chỉ kiểm tra kĩ năng đọc hiểu

Bộ GD&ĐT (2009, 2010), theo tài liệu phân phối chương trình THPT

môn tiếng Pháp, khi nói đến năng lực, người ta bàn tới cả hai phạm trù NLNN

và NLGT Trong đó NLNN bao gồm NLNP (tính từ, đại từ, thời, thức v.v.) và năng lực từ vựng (từ vựng thuộc các chủ điểm, danh từ phái sinh, từ ghép v.v.) NLGT bao gồm bốn kĩ năng: nghe-nói-đọc-viết Tuy nhiên theo chương trình này có quy định: “Đối với các bài kiểm tra học kì và thi cuối cấp trung học phổ thông, kiểm tra đánh giá tất cả các kĩ năng nghe hiểu, kĩ năng diễn đạt nói, kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng diễn đạt viết và kiến thức ngôn ngữ” Như vậy, mặc dù trong nội dung giảng dạy chia năng lực thành NLNN và NLGT, nhưng khi đánh giá năng lực học sinh thì không có sự phân chia mà lồng ghép lẫn nhau, thành các nội dung chính: nghe-nói-đọc-viết-kiến thức ngôn ngữ

Qua tổng quan tài liệu cho thấy, nhiều công trình nghiên cứu và các tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về các phạm trù năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp Song bên cạnh đó cũng có những nghiên cứu không bàn về những khái niệm này mà tập trung vào việc đánh giá năng lực theo cách thức nào Qua khảo sát cũng cho thấy việc đánh giá năng lực tiếng Pháp hệ THPT

ở nước ta không theo hướng đánh giá của CEFR

Điểm qua tình hình nghiên cứu cho thấy các bài viết về năng lực ngôn ngữ nói chung và năng lực ngoại ngữ nói riêng khá nhiều và đa dạng Tuy nhiên, phần lớn là các bài nghiên cứu tập trung vào năng lực tiếng Anh Thêm

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 37

vào đó, các hướng tiếp cận đều là giáo học pháp Nghiên cứu năng lực ngoại ngữ theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học xã hội và với tiếng Pháp gần như chưa được khai thác Để làm rõ nội dung đó, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các nhân

tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực ngoại ngữ nói chung và năng lực tiếng Pháp nói riêng của người học, cụ thể trong luận án là học sinh THPT

1.1.4 Tình hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực ngoại ngữ

Phục vụ cho nội dung nghiên cứu của luận án là tìm hiểu mối quan

hệ giữa các nhân tố xã hội với năng lực tiếng Pháp của học sinh THPT, việc thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến

năng lực ngoại ngữ là việc làm cần thiết Đây là chủ đề nghiên cứu của rất nhiều các tác giả trong và ngoài nước

1.1.4.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Điểm qua tình hình nghiên cứu các công trình có đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc thụ đắc ngôn ngữ hay năng lực ngoại ngữ, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này như: José - Luis Wofls (2001) khi bàn về phương pháp và chiến lược học tập, tác giả có đề cập đến các nhân

tố ảnh hưởng đến năng lực (sự định hướng học tập, yếu tố thuộc tính của sự thành công hay thất bại, chiến lược hỗ trợ - sự tập trung và quản lí thời gian, động cơ và các yếu tố cảm xúc, đặc điểm của tuổi thiếu niên); David Singleton (2003) trình bày về yếu tố tuổi trong việc lĩnh hội ngoại ngữ hai; Grzegorz Markowski (2008) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tuổi ở người học trẻ với thái độ trong quá trình học ngoại ngữ Tác giả phân tích hai nhóm tuổi từ 7-12

và 12-15; Véronique (2009) đề cập đến một vài yếu tố trong việc tiếp nhận một ngoại ngữ (kiến thức và kĩ năng của người học, sự tiếp xúc ngôn ngữ: ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích, tuổi ở thời kì quyết định, bối cảnh) Nhìn chung các tác giả này có đề cập đến các yếu tố liên quan đến việc học ngoại ngữ xong chỉ dừng ở mức độ thảo luận hay chỉ ra mối liên quan giữa các yếu tố với nhau chứ

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 38

không làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố đó với kết quả học tập Luận án chỉ tập trung vào khai thác một số công trình có nội dung liên quan trực tiếp đến vấn đề này Sau đây là kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác đáp ứng được tối đa hơn nội dung nghiên cứu của luận án

Atlan (1997, 2000) đã trình bày sự khác biệt cá nhân trong việc học ngôn ngữ bằng cách nhấn mạnh các chiến lược học tập Hay nói cách khác, ở đây, các chiến lược học tập được xem là những yếu tố ảnh hưởng đến quá

trình lĩnh hội ngoại ngữ của người học Công trình nghiên cứu của tác giả dựa

trên sơ đồ các biến liên quan đến việc học ngoại ngữ của Naiman et al (1978)

và được phát triển bởi Skehan (1989) Theo đó, có năm nhóm biến: ba nhóm biến độc lập (lớp học-cơ sở vật chất, người học và bối cảnh) và hai nhóm biến phụ thuộc (hoạt động học và kết quả) Mặc dù các biến số được nghiên cứu theo hướng giáo học pháp, song để phục cho nghiên cứu của luận án, chúng tôi quan tâm đến yếu tố người học và yếu tố bối cảnh mà các tác giả trình bày Yếu tố người học được thể hiện ở sự khác biệt về nhận thức, cảm xúc và văn hoá-xã hội Trong đó sự khác biệt về cảm xúc được thể hiện ở các đặc điểm sau: cá nhân (tính cách), thái độ, động cơ và sự khác biệt về văn hoá-xã hội được thể hiện ở tuổi, giới tính và giáo dục trước đó.Yếu tố bối cảnh được thể hiện ở bối cảnh xã hội và sự thực hành ngôn ngữ Bối cảnh xã hội được thể hiện ở các đặc điểm sau: sự đạt được hiệu năng, mối quan hệ với cộng đồng đích, thái độ với ngôn ngữ đích, tầng lớp xã hội Sự thực hành ngôn ngữ được thể hiện ở việc tiếp cận với người bản ngữ trong hoặc ngoài lớp học, sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và sử dụng có thương lượng Hai biến phụ thuộc mà tác giả đề cập là hoạt động học và kết quả, hay chính là năng lực của người học

Cả hai công trình nghiên cứu đều nhằm mục đích mang lại phương pháp sư phạm trong việc giảng dạy ngoại ngữ Trong một nghiên cứu khác, Atlan (2000) còn xem xét việc sử dụng chiến lược học tập đó có bị ảnh hưởng bởi công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông hay không.Tuy nhiên tác giả

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 39

không hướng tới việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhân tố công nghệ đến năng lực ngoại ngữ của học sinh mà chỉ nhắm vào việc nghiên cứu một số thuộc tính của các công nghệ được sử dụng để giảng dạy và chỉ ra rằng CNTT

có ảnh hưởng đến cách thức mà người học thực hiện hoạt động học Cái mà

chúng tôi quan tâm là sự ảnh hưởng của nhân tố CNTT đối với năng lực ngoại ngữ của người học

Tác giả Mutta (1999) khi nghiên cứu về năng lực từ vựng tiếng Pháp của sinh viên Phần Lan đã nhận định rằng cách thức để đạt được năng lực

từ vựng tiếng Pháp tốt nhất đó là học tập trong môi trường tiếng Pháp tự nhiên hay ở những nơi đào tạo tiếng Pháp Đây là một nghiên cứu về giáo học pháp, song tác giả cũng đề cập đến nhân tố xã hội ảnh hưởng đến năng lực tiếng, cụ thể là môi trường của ngôn ngữ đích

Arnold (2006) khi nói đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc học một ngoại ngữ nhận định rằng nhiều chuyên gia về giảng dạy ngôn ngữ đã đề cập đến yếu tố cảm xúc nói chung và các mặt thể hiện của nó như: động lực

(Dörnyei 2001b, 2005; Lorenzo 2004); thái độ (MacIntyre và Charos, 1996),

lòng tự trọng (de Andrés, 1999); học tập hợp tác (Casal, 2002); sự khác biệt

cá nhân (Oxford và Ehrman, 1993, Reid, 1995, Fonseca, 2005) và sự lo lắng (Horwitz, Horwitz et Cope, 1986, Rubio, 2004, Young, 1999) Tác giả chỉ ra hai nhóm yếu tố cảm xúc ảnh hưởng đến việc học một ngoại ngữ gồm: nhóm yếu tố tiêu cực (sự lo lắng, ức chế v.v.) và nhóm yếu tố tích cực (lòng tự trọng/sự tự tin; thái độ/niềm tin; cách thức học v.v.) Mục đích của nghiên cứu này giúp giáo viên điều chỉnh được hoạt động giảng dạy ngoại ngữ trong lớp học, đó là giảm ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực và kích thích các yếu tố tích cực để học sinh đạt được năng lực giao tiếp một cách hiệu quả nhất Như vậy, đây là một công trình nghiên cứu về giáo học pháp Các yếu tố ảnh hưởng đến việc học ngoại ngữ được tìm hiểu nhằm phục vụ cho phương pháp dạy học Tác giả cho rằng ngoài ra cũng phải chú ý đến các yếu tố ngoài lớp

LATS Kinh tế mới nhất

Trang 40

học, như là yếu tố xã hội và yếu tố cá nhân Song tác giả chưa đề cập đến cụ thể là các yếu tố xã hội nào

Liên quan đến yếu tố cảm xúc, Khung tham chiếu chung Châu Âu (Hội đồng Châu Âu, 2000) cũng thừa nhận tầm quan trọng của yếu tố cảm xúc đối với hoạt động học tập ngoại ngữ và cho rằng: “Hoạt động giao tiếp của người

sử dụng / người học không chỉ bị ảnh hưởng bởi kiến thức, sự hiểu biết và năng khiếu của họ mà còn bởi các yếu tố cá nhân liên quan đến tính cách của chính họ và được đặc trưng bởi thái độ, động lực, giá trị, niềm tin và các loại hình tính cách riêng của họ” Theo đó, một trong những đặc điểm của thái độ

là “sự cởi mở và quan tâm đến những trải nghiệm mới, những người khác, những ý tưởng khác, những dân tộc khác, những nền văn minh khác”

Tác giả Mirela (2016) đã đưa ra một nghiên cứu về các yếu tố liên quan trong quá trình tiếp nhận tiếng Pháp như một ngoại ngữ dựa theo công trình nghiên cứu của tác giả Véronique (2009) Dựa trên cơ sở lí thuyết của Véronique về các yếu tố như trên đã trình bày, Mirela đã đưa ra những luận điểm về thực tế của bản thân Về tuổi, theo tác giả nên cho trẻ học ngoại ngữ

từ sớm, ít nhất là năm đầu tiên của tiểu học, khoảng 7 tuổi Về bối cảnh, tác giả cho rằng việc được đến Pháp để trải nghiệm có vai trò rất quan trọng Việc tiếp xúc với người bản địa đã có một sự ảnh hưởng tốt trong việc cải thiện khả năng tiếng Pháp của chính tác giả Như vậy tác giả đề cập đến hai nhân tố là tuổi nên học ngoại ngữ và nhân tố trải nghiệm bản thân

Tác giả Savard (2019) cho rằng động lực và tuổi tác trong học tập ngoại ngữ giữ vai trò quan trọng Trong đó động lực cá nhân là một điều kiện tiên quyết bởi động lực giúp cho người học tích cực và chú ý đến các hoạt động trong lớp học Bên cạnh đó, tác giả cho rằng tuổi tác là yếu tố quyết định trong việc học ngoại ngữ Trẻ em cho đến 7 tuổi, nhất là từ 4 đến 7 tuổi, sẽ là giai đoạn lĩnh hội được ngoại ngữ ở mức toàn diện nhất như học tiếng mẹ đẻ Ngoài ra tác giả còn đề cập đến vai trò của công nghệ mới trong việc học

LATS Kinh tế mới nhất

Ngày đăng: 26/12/2023, 15:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thanh Ái (2013), Ngôn ngữ học xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng, Tạp chí Khoa học - Đại học Cần Thơ, số 25 (79-95) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học - Đại học Cần Thơ
Tác giả: Trần Thanh Ái
Năm: 2013
2. Hoàng Hòa Bình (2015), Năng lực và đánh giá theo năng lực, Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM, số 6 (71) (21-31) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học ĐHSP TPHCM
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Năm: 2015
3. Trần Đình Bình (2012), Ngôn ngữ học với việc dạy học tiếng Pháp, Tạp chí Ngôn ngữ số 10, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Đình Bình
Năm: 2012
8. Lê Văn Canh (2010), Noam Chomsky và Michael Halliday, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 12 (182) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ & Đời sống
Tác giả: Lê Văn Canh
Năm: 2010
9. Nguyễn Đức Dân (2011), Nên học ngoại ngữ từ rất sớm, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống 8 (46-48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ & Đời sống
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 2011
11. Trần Khánh Đức (2013), Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục, Đề tài Trọng điểm ĐHQGHN, mã số: QGTĐ…, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục
Tác giả: Trần Khánh Đức
Năm: 2013
12. Nguyễn Thiện Giáp (2011), Ngôn ngữ học tạo sinh của N.Chomsky: Mô hình ngôn ngữ thứ nhất, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ 27 (217-224).LATS Kinh tế mới nhất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học ĐHQGHN
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 2011
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009-2010), Tài liệu phân chương trình THPT môn tiếng Pháp Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình chuyên sâu THPT chuyên, môn tiếng Pháp Khác
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam Khác
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam Khác
10. Đề án Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Tần suất nghe hiểu tiếng Pháp ở lớp theo khối học và giới tính  của học sinh - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.2 Tần suất nghe hiểu tiếng Pháp ở lớp theo khối học và giới tính của học sinh (Trang 79)
Bảng 2.5: Những khó khăn đối với kĩ năng nghe tiếng Pháp (%) - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.5 Những khó khăn đối với kĩ năng nghe tiếng Pháp (%) (Trang 83)
Bảng 2.6: Mức độ quan trọng của kĩ năng nghe hiểu - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.6 Mức độ quan trọng của kĩ năng nghe hiểu (Trang 86)
Bảng 2.9: Đối tượng giao tiếp ở trường của các em học sinh (%) - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.9 Đối tượng giao tiếp ở trường của các em học sinh (%) (Trang 91)
Bảng 2.10: Tần suất sử dụng tiếng Pháp để giao tiếp ở nhà (%) - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.10 Tần suất sử dụng tiếng Pháp để giao tiếp ở nhà (%) (Trang 94)
Bảng 2.11: Hoàn cảnh sử dụng tiếng Pháp - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.11 Hoàn cảnh sử dụng tiếng Pháp (Trang 95)
Bảng 2.15: Đối tượng giao tiếp của học sinh ngoài xã hội (%) - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.15 Đối tượng giao tiếp của học sinh ngoài xã hội (%) (Trang 99)
Bảng 2.18: Mức độ hiểu đối với kĩ năng đọc hiểu  (%) - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.18 Mức độ hiểu đối với kĩ năng đọc hiểu (%) (Trang 102)
Bảng 2.19: Mức độ đọc sách báo truyện tiếng Pháp - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.19 Mức độ đọc sách báo truyện tiếng Pháp (Trang 103)
Bảng 2.20: Những khó khăn đối với hoạt động đọc (%) - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.20 Những khó khăn đối với hoạt động đọc (%) (Trang 104)
Bảng 2.22: Tần suất viết bằng tiếng Pháp của học sinh - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.22 Tần suất viết bằng tiếng Pháp của học sinh (Trang 107)
Bảng 2.23: Những khó khăn thường gặp đối với kĩ năng viết của học sinh (%) - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.23 Những khó khăn thường gặp đối với kĩ năng viết của học sinh (%) (Trang 108)
Bảng 2.24: Những lỗi hay mắc đối với kĩ năng viết của học sinh (%) - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.24 Những lỗi hay mắc đối với kĩ năng viết của học sinh (%) (Trang 109)
Bảng 2.25: Điểm viết thường đạt của các em học sinh - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.25 Điểm viết thường đạt của các em học sinh (Trang 110)
Bảng 2.27: Kết quả tự đánh giá năng lực ngoại ngữ theo giới tính - Năng lực tiếng pháp của học sinh trung học phổ thông dưới tác động của một số nhân tố xã hội  nghiên cứu trường hợp trường chuyên hà nội amsterdam và trường chu văn an
Bảng 2.27 Kết quả tự đánh giá năng lực ngoại ngữ theo giới tính (Trang 113)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w