TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÃ HỌC PHẦN: RME
Trang 1TIỂU LUẬN
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỌC PHẦN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
MÃ HỌC PHẦN: RMET220306_01 GVHD: T.S Lê Thị Tuyết Thanh
Trang 21 Ngô Thị Thanh Thảo Chương 2 + chương 3 0 100%
Trang 3góp ý và sửa chữa những sai sót để nhóm tác giả có thể hoàn thành bài nghiên cứu và kịp tiến độ.
Nhóm đã rất cố gắng để hoàn thành bài nghiên cứu này Tuy nhiên, bài nghiên cứu cũng không tránh khỏi những sai sót, rất mong Quý Thầy, Cô và các bạn thông cảm!
Nhóm xin chân thành cảm ơn!
Trang 4phạm Kỹ thuật Tp.HCM không liên đới trách nhiệm
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 7 năm 2021
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Trang 5LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu và đơn vị nghiên cứu 3
1.6 Cấu trúc đề tài 3
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Các khái niệm 5
2.1.1 Tổng quan về “Khởi nghiệp kinh doanh” 5
2.1.1.1 Khái niệm khởi nghiệp kinh doanh online 5
2.1.1.2 Vai trò của kinh doanh online 6
2.1.2 Tổng quan về mạng xã hội 6
2.1.2.1 Khái niệm “mạng xã hội” 6
2.1.2.2 Vai trò của mạng xã hội 8
2.1.3 Tổng quan về quyết định kinh doanh online trên mạng xã hội 8
2.1.3.1 Khái niệm quyết định khởi nghiệp kinh doanh trực tuyến trên mạng xã hội 8
2.1.3.2 Vai trò của giới trẻ trong quyết định kinh doanh online trên mạng xã hội 9
Trang 62.2 Các lý thuyết và mô hình nghiên cứu nền tảng 10
2.2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (Theory of Technology Acceptance Model - TAM, Davis, 1989) 10
2.2.2 Lý thuyết Công nghệ - Tổ chức - Môi trường kinh doanh (Technology - Organization - Environment Framework - TOE, Tornatzky và cộng sự, 1990) 11
2.2.3 Mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling - SEM) 12
2.2.4 Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology – UTAUT) 13
2.2.5 Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB) 15
2.3 Những nghiên cứu có liên quan 15
2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước 15
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 26
2.3.3 Bảng tổng hợp 33
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU 38
3.1 Khung phân tích 38
3.2 Quy trình nghiên cứu 40
3.3 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu 41
3.3.1 Chuẩn chủ quan 41
3.3.2 Bối cảnh (Xu hướng công nghệ) 41
3.3.3 Giáo dục (Nền tảng và trải nghiệm về kiến thức 4.0) 42
3.3.4 Thông tin về kinh doanh online 43
3.3.5 Sự mong đợi về lợi ích 43
3.3.6 Sự tự tin 43
3.3.7 Mô hình nghiên cứu 44
3.4 Phương pháp nghiên cứu 45
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 46
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 46
3.5 Hình thành thang đo 47
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
4.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 51
Trang 74.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 51
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 58
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SPSS Statistical Package for the Social Sciences
TOE Technology - Organization - Environment
UTAUT Unified Theory of Acceptance and Use of Technology
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình chấp nhận công nghệ TAM 11 Hình 2.2: Mô hình lý thuyết TOE về hành vi chấp nhận công nghệ mới 12 Hình 2.3: Mô hình chấp nhận công nghệ UTAUT 14 Hình 2.4: Mô hình lý thuyết hành vi dự định TPB 15 Hình 2.5: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh trực
Hình 2.6: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của các nhà khởi nghiệp trực tuyến ở Thái Lan 19 Hình 2.7: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp nhận phương
tiện truyền thông làm nền tảng kinh doanh giữa các sinh viên khởi nghiệp ở Malaysia
21 Hình 2.8: Mô hình yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc sử dụng
internet và các nền tảng truyền thông xã hội từ các nhà khởi nghiệp 22 Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định dùng
mạng xã hội làm nền tảng kinh doanh của các sinh viên khởi nghiệp ở Thái Lan
23 Hình 2.10: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của
Hình 2.11: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp
Hình 2.12: Mối tương quan giữa việc giữ bí mật thông tin cho riêng mình và các loại hình hoạt động trên mạng xã hội 29 Hình 2.13: Khung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chấp
nhận mạng xã hội trong kinh doanh nhỏ lẻ 30 Hình 2.14: Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi
nghiệp trực tuyến của sinh viên đại học tại Tp.HCM 32 Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 40 Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất 45
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp từ tài liệu tham khảo 30 – 37 Bảng 3.1: Khung phân tích từ tài liệu tham khảo 38 – 39 Bảng 3.2: Bảng thang đo thành phần “Chuẩn chủ quan” 47
Bảng 3.5: Bảng thang đo thành phần “Thông tin về kinh doanh
Bảng 3.6: Bảng thang đo thành phần “Sự mong đợi về lợi ích” 49
Bảng 3.8: Bảng thang đo thành phần “Quyết định khởi nghiệp kinh
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Với tốc độ phát triển nhanh cực độ của mạng xã hội, chúng ta không thể nào phủ nhận được lực hấp dẫn cũng như tầm quan trọng của mạng xã hội đối với con người Có thể nói, đây chính là đòn bẩy cho quá trình phát triển vượt bậc của con người Nhờ mạng
xã hội mà chúng ta có thể đơn giản hóa các phương thức tương tác, trao đổi thông tin và kết nối giữa con người với nhau trong suốt chiều dài lịch sử Cụ thể hơn những tiện ích của mạng xã hội, có thể kể đến như chúng đã góp phần tích cực vào việc học hỏi, tiếp thu các tinh hoa văn hóa giữa các nước, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế, mở rộng con đường đến với thế giới bao la, thú vị bên ngoài… Một số các trang mạng xã hội được nhiều người biết đến như Facebook, Messenger, Instagram, Zalo,… Tổng dân số Việt Nam khoảng 96,9 triệu người và tỷ lệ sử dụng Internet là 70% Điều này cho thấy 68,17 triệu người Việt Nam đang sử dụng Internet Trong số đó, 65 triệu người đang hoạt động trên mạng xã hội, tương đương với 67% tổng dân số Việt Nam Người dân Việt Nam dành trung bình 6 giờ 30 phút trực tuyến mỗi ngày, bao gồm 2 giờ 22 phút trên các kênh mạng xã hội và 2 giờ 09 phút trên video Theo số liệu thống kê, tính đến cuối tháng 6 năm 2020, người dùng Facebook tại Việt Nam là 69.280.000 người, chiếm 70,1% tổng dân số So với năm 2019 với số người sử dụng là 45,3 triệu người thì người dùng Facebook tại Việt Nam năm 2020 đã tăng đến 24 triệu người tương đương tăng 53,3%
Và Việt Nam là quốc gia đứng thứ 7 thế giới về số lượng người dùng Facebook 2020 lần lượt sau các nước: Ấn Độ, Mỹ, Indonesia, Brazil, Mexico, Philippine Bên cạnh đó, số lượng người dùng các mạng xã hội khác tại Việt Nam 2020 tương ứng: Messenger đạt khoảng 63 triệu người dùng, Zalo đạt gần 60 triệu người dùng, Instagram với khoảng 7 triệu người dùng và Tiktok với gần 10 triệu người sử dụng… Chính vì thể, có thể khẳng
Trang 12định, mạng xã hội từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống con người Thậm chí, có người không thể không dùng mạng xã hội dù chỉ là một ngày
Người dùng chủ yếu tham gia mạng xã hội với các bài đăng video, hình ảnh, các dòng trạng thái hoặc sử dụng Facebook, Messenger, Instagram để nhắn tin, gọi điện với bạn bè trên khắp thế giới Theo đó, mạng xã hội còn được biết đến như một phương thức trong kinh doanh, nói rõ hơn là kinh doanh trực tuyến, bán hàng online Hiện nay xu hướng quay livestream cũng được các bạn trẻ sử dụng nhiều để giới thiệu hàng hóa và dịch vụ Và từ đó, quyết định khởi nghiệp kinh doanh online trên mạng xã hội của giới trẻ Việt Nam hiện nay ngày càng nhiều và phổ biến, đặc biệt là ở một thành phố luôn tấp nập và phát triển không ngừng như thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, vấn đề khởi nghiệp kinh doanh online trên mạng xã hội không phải là chuyện dễ dàng, đặc biệt là đối với giới trẻ Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng hiện nay, bởi vẫn còn tồn đọng những nhân tố cũng như các yếu tố ảnh hưởng cần giải thích, làm rõ
Chính vì những lý do nêu trên mà chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online trên mạng xã hội của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” để phân tích các yếu tố tác động, cho thấy
những lợi ích cũng như những bất cập trong vấn đề khởi nghiệp kinh doanh online trên nền tảng mạng xã hội, đưa ra giải pháp thích hợp để khuyến khích giới trẻ khởi nghiệp
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của giới trẻ Việt Nam hiện nay
- Đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của giới trẻ Việt Nam hiện nay
- Đề xuất các giải pháp để khuyến khích quyết định khởi nghiệp kinh doanh online trên nền tảng mạng xã hội của giới trẻ Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Những yếu tố nào tác động đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của giới trẻ Việt Nam hiện nay?
Trang 13- Các yếu tố này có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của giới trẻ Việt Nam hiện nay?
- Các giải pháp nào được đề xuất để khuyến khích quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của giới trẻ Việt Nam hiện nay?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh
doanh online trên mạng xã hội của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đối tượng khảo sát: những cá nhân có hoặc sẽ có quyết định khởi nghiệp kinh
doanh onine trên mạng xã hội
1.5 Phạm vi nghiên cứu và đơn vị nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh
doanh online trên mạng xã hội
- Phạm vi không gian: khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 1 gồm Lý do chọn đề tài, Mục tiêu nghiên cứu, Câu hỏi nghiên cứu, Đối tượng nghiên cứu, Phạm vi và đơn vị nghiên cứu, Cấu trúc đề tài
- Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 2 gồm: Các khái niệm, Các lý thuyết và mô hình nghiên cứu nền tảng, Những nghiên cứu có liên quan trước đây và bảng tóm tắt các nghiên cứu, Bài học kinh nghiệm về phương pháp
- Chương 3: Phương pháp luận nghiên cứu
Trang 14Chương 3 gồm: Khung phân tích, Quy trình nghiên cứu, Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất Trình bày phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng và hình thành thang đo
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 gồm: Kiểm định độ tin cậy của thang đo, Phân tích nhân tố khám phá EFA và bảng kiểm định
- Chương 5: Kết luận và đề xuất
Trang 15Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm 2.1.1 Tổng quan về “Khởi nghiệp kinh doanh”
2.1.1.1 Khái niệm khởi nghiệp kinh doanh online
Thuật ngữ “khởi nghiệp” tuy mới xuất hiện ở Việt Nam vào thời gian gần đây
Nhưng thực tế thì chúng ta đã thấy khởi nghiệp đã xuất hiện từ rất lâu từ xa xưa, chỉ là thuật ngữ “khởi nghiệp” chưa được định nghĩa rõ ràng chuẩn xác đầy đủ ý nghĩa của nó
Nói một cách dễ hiểu thì “khởi nghiệp” có thể là ai đó tự bỏ vốn của bản thân ra, có thể không nhiều nhưng từ số vốn đó thì tự kinh doanh để sinh ra lợi nhuận và ngày càng mở rộng quy mô từ cá nhân nhỏ dần đến kinh doanh có quy mô lớn hơn và chuyên nghiệp hơn
Có nhiều định nghĩa về “khởi nghiệp kinh doanh”:
- Theo GupTa, V.K., & Bhawe (2007) là quá trình lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó để tạo lập doanh nghiệp
- Theo Souitaris và các cộng sự (2007) là sự liên quan ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp
Khi nhắc đến “khởi nghiệp kinh doanh”, có rất nhiều khái niệm khác nhau từ bao quát đến chi tiết theo nhiều hướng khác nhau, nhưng nhìn chung các khái niệm đều xoay quanh các vấn đề việc kinh doanh buôn bán trao đổi hàng hóa hợp pháp mang lại lợi nhuận từ việc kinh doanh đó “Khởi nghiệp kinh doanh” là việc dùng những kiến thức
và kinh nghiệm vốn có về kinh tế trên lý thuyết sách vở hoặc từ kinh nghiệm đời sống
để đánh giá nhận định cơ hội trước mắt và nắm bắt nó để áp dụng vào việc kinh doanh
Tự bản thân mình tạo ra công việc cho bản thân đem lại nguồn thu nhập và tự làm chủ bản thân, không cần đi làm cho người khác, tự chịu trách nhiệm với những việc làm của
Trang 16mình trong việc kinh doanh Và như thế, chúng ta có định nghĩa về hình thức bán hàng Online Kinh doanh online còn được biết đến với cái tên “mỹ miều” hơn là thương mại điện tử Trên thực tế thì cũng cũng giống cách kinh doanh truyền thống, nhưng lại được thực hiện thông qua các kênh trực tuyến, hiệu quả không hề thua kém cách thức bán hàng truyền thống, thậm chí còn có phần “nhỉnh” hơn nhờ những lợi ích “hưởng sái” trong thời đại 4.0
2.1.1.2 Vai trò của kinh doanh online
Đôi khi việc kinh doanh chẳng phức tạp như chúng ta hay nghĩ kiểu như doanh nghiệp và khách hàng ngồi đàm đạo, thương lượng, hay những cuộc trao đổi căng thẳng gay cấn như trên phim, mà nó chỉ đơn giản là sự giao tiếp giữa người bán với khách hàng của mình mà thôi Đối với kinh doanh online, thì bạn có thể giải quyết các vấn đề như:
gặp gỡ đối tác, chào hàng, trao danh thiếp cho hàng trăm hàng ngàn khách hàng, thì giờ đây tất cả đã hết sức đơn giản, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm, thông qua Internet Chỉ cần một đường link ngắn gọn thì cũng đủ để mọi người biết bạn là ai, đang bán cái gì, bán ở đâu, và thông tin liên hệ như thế nào Tất cả những gì chúng ta cần làm giờ đây là tạo ra một kênh bán hàng uy tín, đầy tiềm năng, chất lượng được đưa lên hàng đầu là đủ
2.1.2 Tổng quan về mạng xã hội 2.1.2.1 Khái niệm “mạng xã hội”
Việc kết nối với nhau không chỉ dừng lại ở giao tiếp trực tiếp mà đã mở rộng sang nhiều cách thức giao tiếp khác Nhờ sự có mặt của các phương tiện kỹ thuật hiện đại như điện thoại, máy tính kết nối internet giao tiếp trực tiếp đang được thay thế từng phần bằng các giao tiếp gián tiếp, thông qua các phương tiện này Đặc biệt là khi có sự ra đời của các Mạng xã hội trực tuyến như Facebook, Zalo, Tiktok, Twitter, đã đánh dấu một bước thay đổi lớn trong các loại hình giao tiếp xã hội Mạng xã hội đã trở thành phương tiện hữu ích cho giới trẻ xây dựng, duy trì và phát triển các liên hệ xã hội, từ đó mở rộng mạng lưới xã hội Việc tạo dựng mới hay duy trì các mạng lưới xã hội vốn có bằng việc tham gia mạng xã hội cung cấp cho giới trẻ những lợi ích về cả vật chất lẫn tinh thần
Việc tham gia các mạng xã hội đã giúp cho giới trẻ tự tin hơn trong giao tiếp và phát
Trang 17triển bản thân hơn, thể hiện những thái độ, quan điểm, hành vi, định hướng giá trị trong nhiều lĩnh vực của đời sống, từ công việc, học tập đến vui chơi giải trí Bên cạnh đó, mạng xã hội cũng như một xã hội thực tế thu nhỏ chứa nhiều thành phần khác nhau, mà tại đó giới trẻ có thể học hỏi được nhiều thứ, không những thế nơi đây phần nào cũng giúp giới trẻ có thể sàng lọc những thông tin nên hay không nên tiếp thu hay không, dù sao trên nền tảng mạng xã hội thì chúng ta vẫn có thể tự bảo vệ mình vì chúng ta vẫn được quản lí trong một vòng tròn an toàn, vẫn hơn là trải nghiệm tất cả những mặt tiêu cực trong thực tế Các phân tích chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Ảnh hưởng của mạng xã hội trực tuyến đến vốn xã hội của giới trẻ hiện nay” (2013-2014)
Mẫu nghiên cứu gồm trên 500 người trẻ có tuổi đời từ 16 đến 35 tại 4 phường của 2 thành phố Hà Nội và Nam Định
Vẫn chưa có một định nghĩa nào chuẩn xác và đầy đủ về thuật ngữ “mạng xã hội”
Thông thường, “mạng xã hội” gồm nhiều cá nhân liên hệ kết nối với nhau, còn “mạng lưới xã hội” là một chuỗi móc xích nhiều mối liên hệ của từng cá nhân hay một nhóm những người liên hệ với nhau tạo nên một mạng lưới mạng xã hội từ nhiều nền tảng khác nhau, từng nền tảng đều có những mối liên quan nhất định với nhau Đó có thể hiểu là một cấu trúc xã hội hình thành bởi những cá nhân (hay những tổ chức), được gắn kết bởi
sự phụ thuộc hay những mối quan hệ rất đa dạng như bạn bè, đồng nghiệp, quan hệ họ hàng, cùng sở thích, cùng chia sẻ về niềm tin, kiến thức, và vô vàn các quan tâm khác
từ đời thường tới những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội ở cấp vĩ mô
Mỗi cá nhân khi tham gia trên các nền tảng mạng xã hội đều sẽ có một mạng lưới bạn bè nhất định, mạng lưới bạn bè đó có thể bao gồm những người đã quen biết ở ngoài đời thực như gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, họ hàng xa, và rất nhiều những mối quan hệ xã hội khác như những người có thể quen biết qua bạn bè chung, những người nổi tiếng hay thậm chí là những người chưa quen biết hay gặp mặt, chỉ từng thấy qua từ đời thường, chỉ do tần suất họ xuất hiện từ gợi ý bạn bè nhiều nên chúng ta biết Nên việc chúng ta kết bạn với những người xa lạ là điều thường xuyên xảy
Trang 18ra, rõ ràng khi xây dựng mối quan hệ trên mạng xã hội thực sự rất dễ hơn so với ở ngoài đời sống hằng ngày
2.1.2.2 Vai trò của mạng xã hội
Các mạng xã hội đang có sự phát triển nhanh chóng cả về hình thức và số lượng người dùng Người dùng mạng xã hội vì mục đích học tập, nghe ngóng, thảo luận, kết nối với người thân, kết nối với bạn bè, chia sẻ cũng như học hỏi các kinh nghiệm từ những người khác hoặc từ những trang tin tức uy tín Những người dùng mạng xã hội đều góp phần tác động qua lại lẫn nhau dần dần tạo nên một mạng lưới xã hội lớn có tính kết nối cao Mạng xã hội không chỉ giúp bạn bè cũ, dễ dàng “gặp nhau” hơn một cách thuận lợi, mà còn giúp những người thân dù ở xa với nhau vẫn giữ mối liên hệ thân thuộc với nhau hơn Thật sự mạng xã hội mang lại rất nhiều lợi ích cho chúng ta, kể cả trong việc kinh doanh, từ những mặt hàng trong đời sống hằng ngày, hay những mặt hàng có tìm thì chỉ cần search trên mạng ta cũng dễ dàng thấy được Bởi vì mỗi người sẽ có một lợi thế khác nhau, trong đó có cả khả năng giao tiếp, chúng ta có thể sử dụng điểm mạnh của mình để phát huy nó Dùng mối quan hệ và sự tương tác bạn bè của bản thân để gây dựng hình ảnh, sự uy tín, để bán những mặt hàng phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng
2.1.3 Tổng quan về quyết định kinh doanh online trên mạng xã hội 2.1.3.1 Khái niệm quyết định khởi nghiệp kinh doanh trực tuyến trên mạng xã
Theo Neil Blumenthal, đồng giám đốc điều hành của Warby Parky được trích dẫn trên tạp chí Forbes thì: “A startup is a company working to solve a problem where the
Trang 19solution is not obvious and success is not guaranteed.” (tạm dịch: Startup là một công
ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng
và sự thành công không được đảm bảo)
Còn Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses” - một cuốn sách được coi là “cẩm nang gối đầu giường” của mọi công ty startup, thì: A startup is “A human institution designed
to create new products and services under conditions of extreme uncertainty” (có thể hiểu Startup “là một định chế/ tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn”)
Khởi nghiệp kinh doanh trực tuyến đang rất phổ biến hơn bao giờ hết với xu hướng phát triển nhiều hơn thế nữa với công nghệ như hiện tại Tuy nhiên, số công trình nghiên cứu về việc làm thế nào để các đối tượng tham gia kinh doanh ở Việt Nam có thể thích nghi và áp dụng xu hướng kỹ thuật số mới trong bán lẻ lại chưa có nhiều
Quyết định khởi nghiệp kinh doanh trực tuyến: Là một chuỗi các bước thực hiện, được thực hiện lần lượt theo các bước, đầu tiên là đưa ra thông tin, phân tích và bắt đầu đưa ra sự lựa chọn tối ưu mang lại nhiều sự thuận tiện nhất, những việc đó sẽ được thực hiện trên những trang mạng xã hội đang phát triển như Facebook, Zalo, Tiktok
2.1.3.2 Vai trò của giới trẻ trong quyết định kinh doanh online trên mạng xã
hội
Người trẻ có thể xem là một nhân tố rất quan trọng trong việc phát triển một quốc gia Và đó cũng chính là câu trả lời vì sao hầu hết các quốc gia đều chú trọng việc rèn luyện, đào tạo để phát triển một cách toàn diện công dân của họ từ khi còn trong bụng
mẹ cho đến khi lớn lên, trong đó có Việt Nam Với năng lượng và sự nhiệt huyết, tư duy nhạy bén cũng như khả năng thích nghi, người trẻ là những mầm xanh trong lĩnh vực kinh doanh nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung tại Việt Nam Đặc biệt, đối với kinh doanh onine trên mạng xã hội, người trẻ có vai trò rất quan trọng Họ sẽ là những người
đi đầu xu hướng kinh doanh trong thời đại tiến bộ này, để từ đó họ sẽ không bị bỏ xa so với thế giới Giới trẻ là những người luôn tràn đầy nhiệt huyết, đam mê, sự nhạy bén
Trang 20trong công việc cũng như sự đột phá, sáng tạo về tư duy, nhờ đó, họ sẽ giúp cho vấn đề kinh doanh online trở nên đa dạng và phong phú hơn, hấp dẫn hơn Và đặc biệt, người trẻ nếu có thất bại trong quyết định kinh doanh online thì họ sẽ có nhiều thời gian hơn
để đứng dậy, làm lại từ đầu và dần rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu Như vậy, có thể nói, vai trò của giới trẻ trong quyết định kinh doanh online trên mạng xã hội là một vai trò to lớn không thể không quan tâm
2.2 Các lý thuyết và mô hình nghiên cứu nền tảng 2.2.1 Mô hình chấp nhận công nghệ (Theory of Technology Acceptance Model - TAM, Davis, 1989)
Được Davis (1989) xây dựng dựa trên các nguyên tắc của Lý thuyết hành động hợp
lý (Theory of Reasoned Action - TRA, Fishbein và Ajzen, 1975), TAM là một trong những mô hình lý thuyết được sử dụng để giải thích và dự đoán về sự chấp nhận và sử dụng một công nghệ TAM được thử nghiệm và chấp nhận một cách rộng rãi trong các nghiên cứu về lĩnh vực CNTT, đây được coi là mô hình có giá trị tiên đoán tốt Theo TAM, Nhận thức về tính hữu dụng (Perceived Usefulness) và Nhận thức về tính dễ dàng
sử dụng (Perceived Ease of Use) được đề xuất như là các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết định áp dụng công nghệ mới
Nhận thức về tính hữu dụng chỉ mức độ người sử dụng tin rằng việc sử dụng công
nghệ sẽ làm tăng năng suất của họ đối với một công việc cụ thể Nhận thức về tính dễ
dàng sử dụng chỉ mức độ người sử dụng tin rằng họ không cần phải nỗ lực trong việc sử
dụng công nghệ Thái độ sử dụng là cảm giác tích cực hoặc tiêu cực về việc hiện một hành vi mục tiêu (Ajzen I & Fishbein M., 1975) Ý định sử dụng là khả năng quyết định
sử dụng công nghệ hay hệ thống
Trang 21Hình 2.1: Mô hình chấp nhận công nghệ TAM
Nguồn: Davis (1989)
2.2.2 Lý thuyết Công nghệ - Tổ chức - Môi trường kinh doanh (Technology - Organization - Environment Framework - TOE, Tornatzky và cộng sự, 1990)
TOE được Đặng Thị Hương và các cộng sự (2020) định nghĩa là “một trong những khung nghiên cứu phổ biến về hành vi chấp nhận công nghệ mới của doanh nghiệp Ý tưởng chung của mô hình này là sự chấp nhận một công nghệ mới của doanh nghiệp chịu
sự chi phối của ba nhóm yếu tố chính: Thứ nhất là yếu tố công nghệ như sự có sẵn của công nghệ, đặc tính của công nghệ đó; thứ hai là yếu tố tổ chức như cấu trúc tổ chức, quy mô tổ chức, đặc điểm của tổ chức cũng như các quá trình truyền thông trong tổ chức
đó và cuối cùng là yếu tố môi trường như đặc tính của ngành, mức độ cạnh tranh trong ngành, sự hỗ trợ của chính phủ, các quy định của chính phủ,…”
Biến bên ngoài
Nhận thức về tính hữu dụng
Nhận thức về tính dễ dàng
Trang 22Hình 2.2: Mô hình lý thuyết TOE về hành vi chấp nhận công nghệ mới
Nguồn: Tornatzky và cộng sự (1990)
2.2.3 Mô hình cấu trúc tuyến tính (Structural Equation Modeling - SEM)
Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) có thể được sử dụng để biểu đạt mối quan hệ giữa các biến quan sát được (Observed Variables) với mục tiêu cơ bản là kiểm định các giả thuyết thống kê Nói cách khác, SEM được dùng để kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm (constructs)
SEM có mục tiêu phân tích là xác định mô hình lý thuyết nào được củng cố bởi bộ
dữ liệu Từ đó, ta có thể nghiên cứu các mô hình lý thuyết phức tạp hơn ở các nghiên cứu sau nếu mẫu khảo sát ủng hộ cho mô hình lý thuyết Ngược lại, nếu mẫu khảo sát mâu thuẫn với mô hình lý thuyết thì mô hình ban đầu có thể được điều chỉnh và kiểm
Môi trường bên ngoài
Đặc trưng ngành và cấu trúc thị trường
Cơ sở hạ tầng hỗ trợ công nghệ
Tổ chức
Các cấu trúc kết nối chính thức và phi chính
thức Các quá trình giao tiếp
Công nghệ
Sự sẵn sàng Đặc điểm
Ra quyết định đổi mới công nghệ
Trang 23định lại Tóm lại, SEM được sử dụng để kiểm định các mô hình lý thuyết bằng cách sử dụng các phương pháp khoa học về kiểm định giả thuyết để mở rộng tầm hiểu biết của chúng ta về mối quan hệ giữa các khái niệm
Các mô hình cơ bản trong SEM:
- Mô hình hồi quy: Chỉ bao gồm biến quan sát được, trong đó các biến độc lập (những biến này cũng quan sát được) có nhiệm vụ giải thích một biến phụ thuộc (quan sát được)
- Mô hình đường dẫn: Cũng như mô hình hồi quy, mô hình đường dẫn chỉ bao gồm các biến quan sát được nhưng linh hoạt hơn do có thể có nhiều biến độc lập và biến phụ thuộc
- Mô hình nhân tố khẳng định: Bao gồm các biến quan sát được và được giả định rằng có thể đo lường một hoặc nhiều biến tiềm ẩn (có thể là biến độc lập hoặc phụ thuộc)
Việc tiếp thu mô hình cấu trúc tuyến tính sẽ dễ dàng hơn nếu hiểu rõ các mô hình
cơ bản do nó là sự kết hợp giữa mô hình phân tích nhân tố và mô hình đường dẫn SEM bao gồm các biến quan sát được, biến tiềm ẩn và các biến này có khi là biến độc lập, có khi là biến phụ thuộc
2.2.4 Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology – UTAUT)
Được phát triển bởi Venkatesh và các cộng sự (2003), mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hay UTAUT có mục đích kiểm tra sự chấp nhận công nghệ và sử dụng cách tiếp cận thống nhất đơn Theo Yu (2012) “Mô hình UTAUT được sử dụng không nhiều nhưng có những điểm vượt trội so với những mô hình khác”, đây được xem là sự kết hợp của các mô hình đi trước với quan điểm chung về nghiên cứu sự chấp nhận của người dùng về một hệ thống thông tin mới như TRA, TAM, TPB,…
Mô hình UTAUT được xây dựng dựa trên 4 yếu tố nòng cốt có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định chấp nhận và sử dụng của người dùng, bao gồm: Kết quả kỳ vọng, Nỗ lực kỳ vọng, Ảnh hưởng xã hội và Điều kiện thuận lợi
Trang 24- Kết quả kỳ vọng được định nghĩa là “mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng hệ thống sẽ giúp họ có thể đạt được lợi nhuận trong hiệu suất công việc”
- Điều kiện thuận lợi được định nghĩa là “mức độ mà một cá nhân tin rằng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật và được tổ chức tồn tại để hỗ trợ sử dụng hệ thống” (Venkatesh
và cộng sự, 2003)
Ngoài ra còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi ý định và hành vi sử dụng như: giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm và tính tự nguyện Trong đó, hành vi ý định sẽ có ý nghĩa tích cực đến hành vi sử dụng (Venkatesh và các cộng sự, 2003)
Hình 2.3: Mô hình chấp nhận công nghệ UTAUT
Trang 252.2.5 Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior - TPB)
Được phát triển từ Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA, Fishbein và Ajzen, 1975), Ajzen (1991) cho ra đời Lý thuyết hành vi dự định hay TPB xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người có ít sự kiểm soát Với sự bổ sung yếu
tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” vào mô hình TRA, TPB cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố chủ yếu là: Thái độ đối với hành vi, Tiêu chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức kiểm soát hành vi
Tiêu chuẩn chủ quan
Thái độ đối với hành vi
Ý định hành vi
Hành vi
Trang 26của mua sắm trực tuyến, Thiếu lựa chọn trong thời gian bị phong tỏa, Thúc đẩy nhu cầu của các sản phẩm và dịch vụ khẩn cấp, Sự đánh giá cao của nhiều khách hàng trực tuyến đối với chi phí vận chuyển cao và Nhu cầu đối với các sản phẩm thiết yếu hằng ngày tăng cao Điểm mới của cuộc nghiên cứu là từ kết quả thu được, tác giả đã chỉ ra các chiến lược kinh doanh cho các nhà khởi nghiệp trẻ để điều hành và quản lý công ty riêng
Mô hình nghiên cứu của tác giả với 6 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh trực tuyến trong thời kì đại dịch:
H1: Ít việc làm an toàn hơn trong thời kì đại dịch
H2: Sự phổ biến của mua sắm trực tuyến
H3: Thiếu lựa chọn trong thời gian bị phong tỏa
H4: Thúc đẩy nhu cầu của các sản phẩm và dịch vụ khẩn cấp
H5: Đánh giá cao của khách hàng trực tuyến đối với chi phí vận chuyển cao
H6: Nhu cầu đối với các sản phẩm thiết yếu hằng ngày tăng cao
Trang 27Hình 2.5: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh
trực tuyến trong thời kì đại dịch
Nguồn: Abina Amin (2020)
Ít việc làm an toàn hơn trong thời kì đại dịch
Sự phổ biến của mua sắm trực tuyến
Thiếu lựa chọn trong thời gian bị phong tỏa
Thúc đẩy nhu cầu của các sản phẩm và dịch vụ
khẩn cấp
Đánh giá cao của nhiều khách hàng trực tuyến đối với chi phí vận chuyển cao
Quyết định kinh doanh trực tuyến
Nhu cầu đối với các sản phẩm thiết yếu hằng ngày tăng cao
Trang 28Relevant Factors for Success as an Online Entrepreneur in Thailand
Phonthanukitithaworn và các cộng sự (2019) nghiên cứu các yếu tố liên quan đến
sự thành công của một nhà khởi nghiệp kinh doanh trên nền tảng trực tuyến ở Thái Lan
Dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng Likert – loại thang đo đánh giá phản hồi từ 180 doanh nghiệp trực tuyến ở Bangkok, Thái Lan Bằng phương pháp phân tích thống kê sử dụng phương trình cấu trúc Mô hình hóa (SEM) và Gói thống kê cho Khoa học xã hội (SPSS), cuộc nghiên cứu đã chỉ ra 13 yếu tố phù hợp nhất liên quan đến một nhà khởi nghiệp trực tuyến là: ACO, EOU, hỗ trợ của Chính phủ, mạng lưới, rủi ro – xu hướng,
độ tin cậy, AFF, BIM, logistics và vận chuyển, chất lượng sản phẩm, giá thành sản phẩm, quảng cáo trên phương tiện truyền thông xã hội và đội ngũ nhân viên
Tác giả và các cộng sự đề xuất mô hình nghiên cứu với 13 yếu tố:
H12: Quảng cáo trên phương tiện truyền thông xã hội
H13: Đội ngũ nhân viên
Trang 29Hình 2.6: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của các nhà khởi nghiệp trực tuyến ở Thái Lan
Chất lượng sản phẩm
Giá thành sản phẩm
Quảng cáo trên phương tiện truyền thông xã hội
Đội ngũ nhân viên
Sự thành công
H9 (+) H10 (+)
H11 (+) H12 (+) H13 (+)
Trang 30Factors Affecting the Adoption of Social Media as a Business Platform: A Study among Student Entrepreneurs in Malaysia
Nawi và các cộng sự (2019) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận phương tiện truyền thông làm nền tảng kinh doanh giữa các sinh viên khởi nghiệp ở Malaysia Dữ liệu định lượng được thu thập từ 300 sinh viên khởi nghiệp được chọn trong “Trung tâm khởi nghiệp” ở tất cả các trường đại học công lập ở Malaysia Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê mô tả, nghiên cứu đã chỉ ra rằng Rủi ro và Sự tin tưởng là các yếu tố quan trọng nhất trong việc tiếp nhận phương tiện truyền thông như
là một nền tảng kinh doanh , ngoài ra thì Kết quả kì vọng, Nhận thức về sự tin tưởng, Nhận thức về sự thích thú và Nhận thức về rủi ro cũng đóng góp những ảnh hưởng tích cực đến sự tiếp nhận này Điểm mới của nghiên cứu là Chính phủ đã dựa vào kết quả nghiên cứu và đã quảng bá phương tiện truyền thông để tiếp thêm lòng tin vào sinh viên khởi nghiệp Hạn chế của nghiên cứu là chỉ lấy được dữ liệu của 300 sinh viên khởi nghiệp từ “Trung tâm khởi nghiệp” nên không thể đại diện cho toàn bộ giới trẻ ở Malaysia
Tác giả và các cộng sự đề xuất mô hình nghiên cứu:
Trang 31Hình 2.7: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp nhận phương tiện truyền thông làm nền tảng kinh doanh giữa các sinh viên khởi nghiệp ở Malaysia
Nhận thức
về rủi ro
Trang 32Entrepreneurs’ use of internet and social media applications
Mack và các cộng sự (2017) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng internet và các nền tảng truyền thông xã hội từ các nhà khởi nghiệp và vai trò của các cơ
sở ươm mầm doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin hỗ trợ công nghệ cho các liên doanh này Dữ liệu được thu thập từ 117 câu trả lời của cuộc khảo sát cho các nhà khởi nghiệp ở vùng đô thị Phoenix, phía tây nam Hoa Kỳ Bằng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu khảo sát, nghiên cứu chỉ ra rằng kinh nghiệm kinh doanh từ trước là yếu tố quan trọng nhất trong việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội Điểm mới của nghiên cứu này là chỉ ra các hàm ý của chính sách liên quan đến việc đào tạo và nâng cao nhận thức về kĩ thuật số cho các nhà khởi nghiệp mới
Nhóm tác giả đã chỉ ra yếu tố quan trọng nhất trong việc sử dụng phương tiện
truyền thông xã hội là Kinh nghiệm kinh doanh từ trước
Hình 2.8: Mô hình yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc sử dụng internet và
các nền tảng truyền thông xã hội từ các nhà khởi nghiệp
Nguồn: Mack và các cộng sự (2017)
Kinh nghiệm kinh doanh
từ trước (Quan trọng nhất)
Việc sử dụng internet
và các nền tảng truyền thông
Trang 33Social media adoption as a business platform: an integrated TAM-TOE framework
Tripopsakul S (2018) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định dùng mạng
xã hội làm nền tảng kinh doanh của các sinh viên khởi nghiệp ở Thái Lan Dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát dựa trên bảng câu hỏi trực tuyến đã được hoàn thành bởi 357 sinh viên có ý định khởi nghiệp tại trường Đại học Bangkok, Thái Lan
Bằng cách tích hợp mô hình chấp nhận công nghệ (TAM); công nghệ, tổ chức và khung môi trường (TOE) như là tham số khái niệm, cùng với đó là dùng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) và phương pháp thống kê mô tả để phân tích dữ liệu, nghiên cứu chỉ ra rằng Công nghệ, Tổ chức có tính hệ thống cao và Bối cảnh môi trường có tác động đáng
kể đến việc áp dụng phương tiện truyền thông Điểm mới của nghiên cứu là đề xuất mô hình TAM-TOE tích hợp trong nghiên cứu này cung cấp một cách toàn diện hơn khuôn khổ để hiểu việc áp dụng phương tiện truyền thông xã hội trong doanh nghiệp Thái Lan
Hạn chế là các mẫu của nghiên cứu này là từ các sinh viên trong một chương trình khởi nghiệp và chỉ gói gọn trong khuôn khổ Thái Lan nên không thể đại diện cho toàn bộ sinh viên Thái Lan nói riêng và sinh viên thế giới nói chung
Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định dùng mạng
xã hội làm nền tảng kinh doanh của các sinh viên khởi nghiệp ở Thái Lan
Nguồn: Tripopsakul S (2018)
Trang 34Developing concept of an online service for software startups and entrepreneurs
Yekaterina Kovaleva (2021) nghiên cứu những động lực và khó khăn của các nhà khởi nghiệp nữ ở Phần Lan nhằm mục đích phát triển khái niệm về một dịch vụ trực tuyến có thể hỗ trợ việc thúc đẩy và phát triển cho các nhà khởi nghiệp Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dự án nghiên cứu “Phụ nữ trong công nghệ” (WITECH) với dữ liệu lấy được từ việc phỏng vấn 10 nhà khởi nghiệp nữ và khảo sát 49 sinh viên Bằng phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp cùng thống kê mô tả, cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng những khó khăn mà các nữ doanh nhân chịu phải là Áp lực từ định kiến xã hội, Việc thiếu hình mẫu, Sự gắn bó, chăm sóc gia đình và trên hết là phụ nữ không có khuynh hướng chấp nhận rủi ro Cuộc nghiên cứu cũng chỉ ra các động lực để cho phụ nữ khởi nghiệp bao gồm các yếu tố bên trong như là sự giúp đỡ từ gia đình và môi trường xung quanh để bù đắp cho những định kiến Điểm mới của nghiên cứu là phát triển một dịch
vụ trực tuyến giúp các nhà khởi nghiệp tìm kiếm chuyên gia chuẩn bị các vấn đề tài liệu cho các nhà đầu tư
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của phụ nữ Phần Lan trong mô hình của tác giả:
H1: Áp lực từ định kiến xã hội
H2: Việc thiếu hình mẫu
H3: Sự gắn bó, chăm sóc gia đình
H4: Không có khuynh hướng chấp nhận rủi ro
H5: Sự giúp đỡ từ gia đình và môi trường xung quanh
Trang 35Hình 2.10: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp
của phụ nữ Phần Lan
Nguồn: Yekaterina Kovaleva (2021)
Áp lực từ định kiến xã hội
Việc thiếu hình mẫu
Sự gắn bó, chăm sóc gia đình
Không có khuynh hướng chấp nhận rủi ro
Quyết định khởi nghiệp
Sự giúp đỡ từ gia đình và môi trường xung quanh
H3 (-)