Trong đó, Trung Quốc cổ đại là nơi hình thành và phát triển củanhiều trường phái Triết học lớn, không chỉ ở Châu Á mà còn phát triển nhiều nơi trên toànthế giới, gồm có các học thuyết lớ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Viện Đào tạo sau Đại học
-o0o -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: Phân tích học thuyết Nho giáo về bản tính con người và giá trị
của học thuyết này trong quản trị doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam
Họ và tên: Nguyễn Thị Bích Ngọc
Mã học viên: CH320427 Lớp: K32NH4
Hà Nội, tháng 10 năm 2023
MỤC LỤC
Trang 2Mở đầu 3
Chương I: HỌC THUYẾT NHO GIÁO VỀ BẢN TÍNH CON NGƯỜI 5
I Khái niệm Nho giáo 5
II Bản tính của con người trong Nho giáo 5
1 Quan điểm về con người trong triết học của Khổng Tử 6
2 Quan điểm về con người trong triết học của Mạnh Tử và Tuân Tử 11
3 Giá trị học thuyết Nho giáo 13
Chương 2: GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT NHO GIÁO TRONG QUẢN LÝ (QUẢN TRỊ) DOANH NGHIỆP 17
I Trong xây dựng hệ thống quản trị, văn hóa doanh nghiệp 17
II Trong quản trị nhân lực 19
1 Mảng đào tạo 19
2 Quản lý 19
3 Trong quản trị mối quan hệ với khách hàng, đối tác 20
Kết luận 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 24
Trang 3Mở đầu
Như chúng ta biết những trung tâm văn minh lớn của xã hội loài người từ thiênniên kỷ thứ VIII TCN không thể không nhắc đến đó chính là nền văn minh của Ấn Độ vàTrung Hoa cổ đại, từ đó xuất hiện các hệ thống lý luận, triết học được ra đời và nó tồn tạicho đến tận ngày nay Trong đó, Trung Quốc cổ đại là nơi hình thành và phát triển củanhiều trường phái Triết học lớn, không chỉ ở Châu Á mà còn phát triển nhiều nơi trên toànthế giới, gồm có các học thuyết lớn phải kể đến như: Nho giáo, Âm dương gia, Pháp gia,Đạo lão …trong đó Nho giáo được sáng lập bởi Khổng Tử, xuất hiện cho đến cuối thờiphong kiến và tồn tại đến nay đã hơn 2.500 năm, Nho giáo luôn là một trong nhữngtrường phái triết học, một học thuyết chính trị - đạo đức đóng vai trò quan trọng và cónhững ảnh hưởng trên nhiều phương diện không chỉ ở Trung Quốc mà còn tới nhiều quốcgia ở Phương Đông và trong đó có Việt Nam
Tựu trung lại tư tưởng trung tâm của Nho giáo là những giá trị tinh thần về chínhtrị, đạo đức của con người và xã hội Nội dung đạo đức chủ yếu của Nho giáo phải kể đến
là tam cương và ngũ thường, trong đó: “tam cương” là đạo đức xã hội gồm ba mối quan
hệ cơ bản: vua-tôi, cha-con, chồng-vợ; “ngũ thường” gồm năm chufn mực đạo đức cánhân bất di bất dịch là “nhân, nghga, lễ, trí, tín.” Nho giáo cho rằng giáo hóa con người làmột trong những nhiệm vụ cơ bản nhất của người cầm quyền, đồng thời cũng là phươngtiện hữu hiệu để đưa xã hội từ “loạn” (loạn lạc) thành “bình” (thái bình, thịnh trị), lànhững tiền đề để thực hiện thuyết “chính danh”
“Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghga”(Hiến pháp, 2013) và qua đó, vị trí, vai trò của doanh nghiệp ngày càng được xác định rõràng, đầy đủ hơn Đại hội XIII của Đảng xác định, phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớnmạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước, đồng thời đưa ra mục tiêu và các địnhhướng cho phát triển khu vực này Và để đạt được mục tiêu này, không chỉ đòi hỏi nỗ lực
từ hệ thống chính trị của đất nước mà quan trọng ở chính cộng đồng các doanh nghiệp.Trong một nền kinh tế thế giới hội nhập toàn cầu, doanh nghiệp muốn hoạt động hiệu quả
và ngày càng phát triển thì việc quản trị doanh nghiệp là một trong những nhân tố trọngyếu quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, và yếu tố quan trọng để
Trang 4quản trị tốt doanh nghiệp không thể không kể đến đó là con người Chính vì vậy, tôi chọn
đề tài “Phân tích học thuyết Nho giáo về bản tính con người và giá trị của học thuyết này trong quản trị doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam” để nghiên cứu trong bài tiểu luận
của mình
Trang 5Chương I: HỌC THUYẾT NHO GIÁO VỀ BẢN TÍNH CON NGƯỜI
I Khái niệm Nho giáo
Nho giáo là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử sáng lập nhằmcủng cố, xây dựng, duy trì trật tự xã hội - chính trị Cơ sở của Nho giáo được hình thành
từ thời Tây Chu với sự đóp góp đặc biệt của Chu Công (Chu Công Đán) Đến thời XuânThu – Chiến Quốc (551 – 479 TCN), Khổng Tử đã phát triển tư tưởng của Chu Công, ông
là người mở đường cho lịch sử tư tưởng Trung Quốc thời cổ đại, là một nhà triết học,chính trị vg đại và đồng thời ông cũng là nhà giáo dục nổi tiếng ở thời kỳ này Khổng Tử
đã hệ thống những tri thức, quan điểm và tư tưởng của riêng mình thành học thuyết đạođức, chính trị và được gọi là Nho giáo Và đây cũng là nguyên nhân mà người đời sau coiKhổng Tử là người sáng lập nên Nho giáo Học thuyết của Khổng Tử được hoàn thiện vàphát triển bởi hai nhà tư tưởng đó là Mạnh Tử và Tuân Tử, trong đó hai người theo haichiều hướng trái ngược nhau, cụ thể: Mạnh Tử theo hướng “duy tâm” và Tuân Tử theohướng “duy vật”
Ngoài ra theo nhận định của Nguyễn Văn Thọ (2005) trong Tạp chí Triết học số
1(164) trang 24, “Nho giáo là một trường phái triết học đã đưa ra học thuyết chính trị đạo đức để giáo hóa con người nhằm củng cố, duy trì trật tự xã hội” [4, tr.24] Đây là(1)một trường phái tư tưởng triết học lớn nhất về con người và cũng có tính ứng dụng vàthực tiễn lớn nhất trong các trường phái triết học
-Cũng theo nhận định của Nguyễn Văn Thọ (2005) trong Tạp chí Triết học số1(164) trang 24 nêu trên, các giáo lý của Nho giáo thiên về việc xem xét, tìm hiểu và lýgiải về con người ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó đặc biệt chú trọng xem xét vấn
đề về bản chất con người
II Bản tính của con người trong Nho giáo
Xét về bản tính con người trong Nho giáo, mỗi nhà triết học của trường phái Nhogiáo lại xem xét bản chất con người ở mỗi khía cạnh khác nhau, song trong quá trình vậnđộng của lịch sử thì ở cả ba nhà triết học nêu trên đều có sự kế thừa, phát triển và làm cho
1() Nguyễn Văn Thọ, (2005) Vấn đề bản chất con người trong Nho giáo Trung quốc cổ đại Tạp chí Triết học, 1(164), trang 24
Trang 6quan niệm về bản chất của con người càng trở nên hoàn thiện hơn, cụ thể theo Khổng Tửthì “Tính tương cận, Tập tương viễn” [Khổng Tử, 1950, Luận ngữ] ; Mạnh Tử là Tính(2)thiện và Tuân Tử là Tính ác
1 Quan điểm về con người trong triết học của Khổng Tử
Quan điểm con người trong triết học của Khổng Tử ra đời trong giai đoạn lịch sửTrung Quốc cổ đại có bước chuyển đổi toàn diện mang tính bước ngoặt, có cả sự chuyểnđổi về cở sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng Sự chuyển đổi này dẫn đến làm cho xã hộiloạn lạc, chính trị rối ren và luân lý đạo đức suy đồi ở giai đoạn này Đứng trước thựctrạng đó, các nhà tư tưởng thời kỳ này đã đặt các câu hỏi lớn như: làm thế nào để làm cho
xã hội ổn định, sự chuyển đổi mang tính bước ngoặt của lịch sử Trung Quốc giai đoạn nàynguyên nhân xuất phát từ đâu, hệ tư tưởng nào sẽ phù hợp cho giai đoạn mới của xã hộiTrung Quốc và để trả lời cho những câu hỏi trên thì các nhà tư tưởng ở giai đoạn nàyđều có điểm chung đó chính là bắt đầu từ việc tìm hiểu về con người, cũng lẽ đó mà vấn
đề con người cũng trở thành vấn đề trung tâm của triết học ở thời kỳ lúc bấy giờ.Khổng Tử bắt đầu giải thích về nguồn gốc, vị trí, vai trò cũng như bản tính của conngười trong thế giới Lý giải về nhận thức nguồn gốc của con người một cách đúng đắn làmột vấn đề khó khăn, nó đòi hỏi phải trải qua một quá trình phát triển của nhân loại.Khổng Tử đã có cái nhìn về con người một cách khá toàn vẹn khi ông bắt đầu lý giải conngười được sinh ra từ đâu, ông cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đều vậnhành theo quy luật âm dương Khổng Tử coi con người là một bộ phận khôngthể tách rời với thế giới tự nhiên và tồn tại cũng không nằm ngoài quy luật ấy, do đó conngười phải nhất luật tuân theo những nguyên lý âm dương biến hóa của đạo trời và cươngnhu tương thôi, của đạo đất Khổng Tử đã dùng nguyên lý âm dương để lý giải cho nguồngốc ra đời của con người đã thể hiện quan điểm duy vật chất phác góp phần vào việcchống lại quan điểm duy tâm thần bí Khổng Từ coi giới tự nhiên là một phần không thểthiếu trong quá trình xuất hiện của loài người và đây là một quan điểm hết sức tiến bộ thờibấy giờ
() Khổng Tử, 1950, Luận ngữ (Đoàn Trung Còn dịch), Trí đức tòng thơ xuất bản, Sài Gòn, trang 269
Trang 711
Trang 8Trong quan điểm của mình, Khổng Tử đề cao vai trò cũng như vị trí của con ngườitrong xã hội, ông xem con người là vấn đề quan trọng nhất, nó quyết định đến sự thịnhvượng hay suy tàn của một triều đại Bên cạnh đó Khổng Tử cũng cho rằng, mỗi một conngười trong xã hội thì đều có một vai trò nhất định, vai trò của mỗi người là không giốngnhau, đó cũng chính là lý do mà suy nghg và hành động ở mỗi con người là khác nhau.
“Khổng Tử chia xã hội lúc bấy giờ thành hai loại người, đó là người quân tử và kẻ tiểunhân, trong đó người quân tử có vai trò là người dẫn dắt, còn kẻ tiểu nhân có vai trò tuântheo.” Khổng Tử “đề cao Thiên mệnh và ông cho rằng, con người phụ thuộcvào Thiên mệnh “đạo ta nếu được lưu hành, ấy cũng do mạng trời Đạo ta nếu phải vongphế, ấy cũng do nơi mạng trời.” [7, tr.233] (3)
Con người có vai trò phụ thuộc nếu con người được đặt trong mối quan hệ với tựnhiên vì Khổng Tử coi trời là đấng tối cao vô thượng, vì vậy con người phải luôn phụctùng mệnh lệnh và ý chí của trời Trời chi phối con người từ sinh tử, thọ yểu, may rủi,họa phúc, quý tiện của sinh mệnh đến sự còn mất, hưng vong của các triều đại Khổng Tửcho rằng “con người muốn trở thành hoàn thiện thì một điều kiện tất yếu khác là phải hiểubiết mệnh trời để sống thuận mệnh, bởi chẳng hiểu mạng trời, chẳng đáng gọi là quân tử”[7, tr 315] Khổng Tử tin vào mệnh trời, do đó vị trí của con người được đánh giá(4)trong thế giới là hoàn toàn phụ thuộc “người quân tử có ba điều kính: kính sợ mạngtrời, kính sợ bậc đại nhân, tức là người chức phận lớn, đức hạnh cao; kính sợ lời dạy củathánh nhân” [7, tr 263] Tuy nhiên, theo Khổng Tử thì mối quan hệ giữa trời - người -(5)quỷ thần có liên quan với nhau, trong đó thì mối quan hệ giữa trời - người là một trongnhững giá đỡ hữu hiệu để các thế lực trong xã hội thần thánh hóa vai trò của người đứngđầu Trên giá đỡ đó, các nhà tư tưởng đã cố gắng biện hộ cho quyền lực và sức mạnh củathế lực cầm quyền trên mặt đất Và nhà vua có vai trò là cầu nối quan trọng giữa các thếlực siêu nhiên với dân chúng Mặt khác Khổng Tử cũng thấy được vai trò của con ngườitrong việc cải tạo thế giới, chính vì thế ông cố ý tránh né nói đến cái chết, khuyên conngười hãy quay trở về sống thực, sống cho đúng đạo làm người Từ đó ông đề cao trí tuệcủa cá nhân để giúp con người trong xã hội hiện thực
3() Khổng Tử (2006), Tứ thư, Nxb Thuận hóa, Huế, trang 233
4() Khổng Tử (2006), Tứ thư, Nxb Thuận hóa, Huế, trang 315
() Khổng Tử (2006), Tứ thư, Nxb Thuận hóa, Huế, trang 263
Triết 1 100% (35)
Trang 9Khổng Tử cho rằng xã hội Trung Quốc cổ đại thời kỳ này rơi vào cảnh loạn lạcnhư trên là do con người vô đạo, không “chính danh định phận” và để có thể khắc phụcđược thực trạng đó thì cần phải đề cao giáo dục sự thiện tính trong mỗi con người Trong thiên Dương Hóa, Khổng Tử đã cho rằng “Tính tương cận giã; tập tươngviễn giã” [Khổng Tử, 1950, Luận ngữ] , nghga là bản tính của con người là tính thiện và(6)
nó gần giống nhau ở tất cả mọi người Con người khi mới sinh đều được trời phú cho bảntính gần giống nhau, nhưng sau đó họ có sự khác nhau là do trong quá trình phát triển họ
có những điều kiện, môi trường tiếp xúc, học hành khác nhau, dẫn đến có kẻ trí, ngườingu Tính “là cái nguyên lý sở dg sinh ra người; là tính chất, bản chất của người hay củavật” [8, tr 738] Với quan điểm đó thì “tính” là cái trời phú cho con người khi mới sinh(7)
ra Trong Luận ngữ, Khổng Tử viết: “Con người ta sinh ra, cái bfm tánh vốn ngay thật.Nếu họ tà khúc mà sống được, đó là họ may mắn khỏi chết đói thôi” [7, tr 93] Theo(8)quan niệm đó, Khổng Tử nhận định, “về cơ bản thì bản tính con người giống nhau, aicũng có tính lành Tính lành làm cho mọi người gần nhau và tránh xa điều ác” [9, tr 60](9) Như vậy, theo Khổng Tử, bản tính con người là ngay thẳng, là hài hòa, hết lòng thànhthực với mình và đem lòng thành thực của mình để đối đãi với người Khổng Tử luôn đềcao bản tính, phfm chất tốt đẹp, ngay thẳng của con người, với hệ thống các phạm trù đạođức như: nhân, lễ, nghga, tín Từ đó Khổng Tử cố gắng xây dựng một mẫu người lýtưởng cho xã hội gọi là người quân tử
Đạo Cương - thường (Tam cương – Ngũ thường) là nội dung cơ bản trong đạo làmngười trong Nho giáo, nó là một trong những nguyên tắc chi phối mọi hành động cũngnhư suy nghg của con người, là tiêu chufn để đánh giá phfm hạnh của con người, gópphần điều chỉnh hành vi của con người và đưa con người vào khuôn phép
Phạm trù đạo đức đầu tiên, cơ bản và làm cho tất cả các phạm trù đạo đức khác đềuxoay quanh phạm trù trung tâm này, đó chính là “Nhân” (đức nhân) Khổng Tử đã dành
6() Khổng Tử, 1950, Luận ngữ (ĐoànTrung Còn dịch), Trí đức tòng thơ xuất bản, Sài Gòn, tr.269
7() Doãn Chính (2009), Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 738
8() Khổng Tử (2006), Tứ thư, Nxb Thuận hóa, Huế, trang 93
9() Võ Văn Dũng (2019), Tư tưởng chính trị thời Tiên Tần và giá trị của nó, Nxb Lý luận Chính Trị, Hà Nội, trang 60
Trang 10nhiều tâm huyết trong cuộc đời của mình để làm cho đức nhân thành hiện thực, ông mongmuốn các học trò rèn luyện đức nhân, ứng dụng nó trong thực tiễn Cái gốc và cốt lõi củanhân là hiếu đễ Theo Khổng Tử, tình cảm giữa cha mẹ - con cái, chồng – vợ hay giữa anh
em với nhau được gọi chung là quan hệ gia đình, đây là tình cảm tự nhiên, vốn có thuộc
về bản tính của con người Khổng Tử bàn đến đạo đức của con người xuất phát điểm từgia đình, từ đó suy đến phạm vi rộng hơn đó chính là quốc gia, người cầm quyền nếukhông “tề gia” (cai quản gia đình” thì cũng không thể “trị quốc” (cai trị đất nước) được vìnhư chúng ta biết, gia đình là một tế bào của xã hội, xã hội không thể ổn định nếu như cácgia đình lục đục cũng như vô đạo
Bên cạnh đó, “Nhân” còn gắn liền với nghga (nghga vụ, thấy việc đúng đắn cầnphải làm để giúp người), Khổng Tử cho rằng người quân tử cần chú ý đến nghga và coithường lợi Muốn thực hiện “Nhân”, “Nghga” thì cần có dũng và trí, tức là lòng dũng cảm
và trí tuệ, bởi vì con người có trí mới biết được cách giúp người mà không làm hại đếnngười, mới biết phân biệt yêu – ghét đúng người Như vậy đối với Khổng Tử, ông chorằng “Nhân” chính là đạo làm người, vừa “ái nhân” và “cứu nhân”
Về phạm trù “Lễ” trong Nho giáo, lễ là quy định về đạo đức trong quan hệ ứng xửgiữa người với người, những quy tắc bất di bất dịch ai cũng phải tuân theo, nó trở thànhthước đo đánh giá phfm hạnh của con người Bề tôi phải trung với vua, con cái phải cóhiếu với cha mẹ, vợ chồng phải có nghga với nhau, anh em phải trên kính dưới nhường,bạn bè phải giữ được lòng tin Lễ trở thành điều kiện bậc nhất trong việc quản lý đất nướccũng như gia đình
Tín là một trong những đức tính trong Ngũ thường, là lời nói và hành động phảithống nhất với nhau, nó là lòng tin của con người với con người Trong ngũ luân thì “Tín”
là điều kiện đầu tiên trong mối quan hệ bạn bè Theo quan niệm của Nho giáo thì đức tín
là nền tảng của trật tự xã hội
Xuất trò, vị trí con người phát từ quan niệm về nguồn gốc, bản tính và vai Khổng
Tử đã đưa ra quan điểm về giáo dục con người trong tư tưởng triết học của ông Mục đíchcủa giáo dục là làm cho con người sống đúng với chính danh định phận, đưa con người vôđạo trở về có đạo Ông đã khái quát và phân chia các mối quan hệ xã hội ra thành những
Trang 11mối quan hệ như: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè, giữa các mối quan hệ đóđều được quy định bởi những chufn mực, giá trị đạo đức nhất định, để đảm bảo cho ngườinào cũng có trách nhiệm, bổn phận chính đáng của người ấy Trong đó vua phải huệ, tôiphải trung, cha phải từ, con phải hiếu, chồng tình nghga, vợ phải tòng, anh lương, em kính
đễ, bạn bè phải tín nghga Để xã hội ổn định theo Khổng Tử, ai mang danh nào thì phảisống và làm việc với đúng với cái danh đó, hay nói cách khác là “Chính danh” Mục đíchcủa “Chính danh” mà Nho giáo đề cao đó chính là sự ổn định xã hội, không chỉ là nộidung tư tưởng chính trị mà “Chính danh” còn mang ý nghga đạo đức, là một yêu cầu vềmặt đạo đức của con người Như chúng ta biết thì lương tâm và trách nhiệm là một trongnhững phạm trù đạo đức, do đó một người làm tròn được nghga vụ và bổn phận của mìnhtức là người có đạo đức Con người ta tồn tại trong nhiều các mối quan hệ xã hội đan xen,
ở mỗi mối quan hệ khác nhau thì nghga vụ của con người đó cũng khác nhau, như vậy,
“Chính danh” làm cho con người ý thức được trách nhiệm, nghga vụ của mình một cách rõràng trong các mối quan hệ xã hội [Khổng Tử, 1950, Luận ngữ]
Phương pháp hiệu quả nhất để ổn định trật tự xã hội là phải thực hiện giáo hóa đạođức bằng lễ nghga cho mọi người chứ không phải bằng hình pháp Vì: “Nếu nhà cầmquyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng; chuyên dùng hình phạt màtrị dân, thì dân sợ mà chẳng phạm phép đó thôi, chớ họ chẳng biết hổ ngươi Vậy muốndẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh; muốn trị dân, nhà cầm quyền phảidùng lễ tiết.” [7, tr.15] Theo Khổng Tử, con người nếu không được giáo dục, thì dù(10)tâm có tốt đẹp, ngay thẳng như thế nào đi nữa thì cũng bị cái ngu muội, phóngđãng, lầm lạc, phản loạn che lấp Trong lúc xã hội loạn lạc không ra làm quan giúp dâncứu đời không phải là người trí, không phải là người nhân Như vậy giáo dục được xemnhư phương tiện quan trọng để khẳng định vai trò và vị trí của con người trong thế giới
Có thể thấy rằng, quan niệm cho rằng bản tính con người là “Thiện”, Khổng Tử đãxây dựng phạm trù “Nhân” với tư cách là phạm trù trung tâm trong triết học của mình,một triều đại muốn “thái bình, thịnh trị” thì người cầm quyền phải có đức “Nhân”, một xãhội muốn hòa mục thì phải có nhiều người theo về điều Nhân, chữ Nhân được coi lànguyên lý đạo đức cơ bản quy định tính con người và những quan hệ giữa người với
() Khổng Tử (2006), Tứ thư, Nxb Thuận hóa, Huế, trang 15
Trang 12người từ trong gia đình đến xã hội Nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sứcmạnh vươn lên trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần:
“Đạo người chưa biết thì làm sao biết được đạo quỷ thần” Con người phải chú trọng vào
sự nỗ lực học tập, làm việc tận tâm, tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đó mớitạo ý trời
2 Quan điểm về con người trong triết học của Mạnh Tử và Tuân Tử
Vào thời Chiến Quốc, do có sự tác động của hoàn cảnh lịch sử với nhiều biếnđộng, nên các Nho gia đã tuyệt đối hoá một mặt trong bản chất con người khi xem xét bảnchất con người, hoặc là thiện hoặc là ác Mặc dù, Mạnh Tử và Tuân Tử là đều môn đồ củatrường phái triết học Nho giáo, nhưng khi bàn về bản chất con người, hai ông đã có quanđiểm đối lập nhau, trái ngược nhau Tuy vậy, dù là sự tuyệt đối hoá ở mặt nào thì đều có
sự kế thừa, bổ sung và phát triển tư tưởng của Khổng Tử trên những góc độ khác nhau và
ý kiến của hai nhà tư tưởng triết học Nho giáo này cũng có sự bổ sung cho nhau khi xemxét bản chất con người [Nguyễn Văn Thọ, 2005, Tạp chí Triết học số 1(164), tr 21-22]
Về Mạnh Tử, ông đã nói một cách cụ thể hơn về tính người: “Nhân chi sơ, tính bảnthiện” Theo Mạnh Tử, khi bàn về bản chất con người, ông cho rằng, bản chất con người
là thiện và bốn đức lớn thể hiện tính thiện của con người chính là: Nhân, Lễ, Nghga, Trí,nhờ có các đức ấy mà con người mới khác loài cầm thú Ông cho rằng con người khácloài càm thú chỉ có vậy, nếu giữ được là người quân tử, không giữ được là tiểu nhân Bốnđức lớn này được bắt nguồn từ “Tứ đoan” (Trắc fn chi tâm; Tu ố chi tâm; Cung kính; Thịphi chi tâm): Lòng trắc fn (lòng biết thương xót), lòng tu ố (lòng biết thẹn ghét), lòng từnhượng (lòng biết cung kính) và lòng thị phi (lòng biết phân biệt phải trái) Ông nói: “Do
đó mà xét, không có lòng trắc fn, chẳng phải là người; không có lòng tu ố, chẳng phải làngười; không có lòng từ nhượng, chẳng phải là người; không có lòng thị phi, chẳng phải
là người vậy Lòng trắc fn là đầu mối của điều nhân, lòng tu ố là đầu mối của điều nghga,lòng từ nhượng là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí vậy” Mạnh Tử cho rằngcon người có bốn đầu mối trên ví như người có hai tay hai chân vậy, con người có nhân,nghga, lễ, tín nên con người mới khác loài cầm thú Theo Mạnh Tử, những quy phạm đạođức nêu trên mới chỉ manh nha ở trong lòng con người, vì vậy con người mới khác loài