---***--- NGUYỄN THỊ TRÚC LINH CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ
Trang 1-*** -
NGUYỄN THỊ TRÚC LINH
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
- CHI NHÁNH KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ TÀI
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân Hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ NGỌC LÂN
HÀ NỘI – NĂM 2021
Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!! 17014125954441000000
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Học viên
NGUYỄN THỊ TRÚC LINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Lê Ngọc Lân - người đã tận tình
hướng dẫn tôi về mặt khoa học để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Sau đại học, các thầy cô là các giảng viên, cán bộ của Trường Học Viện Ngân Hàng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong quá trình học tập và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi để tiến hành tốt luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới lãnh đạo, các phòng ban của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh KCN Phú Tài đã cung cấp thông tin phục vụ cho việc phân tích cũng như những lời góp ý để tôi hoàn thành bài luận văn Tôi xin tỏ lòng biết ơn gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đã thường xuyên động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi những lúc khó khăn nhất để tôi vượt qua và hoàn thành khóa đào tạo thạc sỹ
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Học viên
NGUYỄN THỊ TRÚC LINH
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Kết cấu luận văn 10
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 11
1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng 11
1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng 13
1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng 14
1.2 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 19
1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa19 1.2.2 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại 23
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại 26
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 32
1.3.1 Các nhân tố chủ quan 32
Trang 51.3.2 Các nhân tố khách quan 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ TÀI 39
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH KHU CÔNG NGHIỆP PHÚ TÀI (VIETINBANK PHÚ TÀI) 39
2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) 4
2.1.2 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu Công Nghiệp Phú Tài 41
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIETINBANK PHÚ TÀI 55
2.2.1 Chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank Phú Tài qua các chỉ tiêu định lượng 55
2.2.2 Chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank Phú Tài qua các chỉ tiêu định tính 65
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIETINBANK PHÚ TÀI 72
2.3.1 Những kết quả đạt được 72
2.3.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIETINBANK PHÚ TÀI 79
3.1.ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIETINBANK PHÚ TÀI GIAI ĐOẠN 2021 - 2023 79
3.1.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng chung 79 3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và
Trang 6vừa 80
3.1.3 Mục tiêu tổng quát trong hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của VietinBank Phú Tài 81
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIETINBANK PHÚ TÀI 82
3.2.1 Đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực có phẩm chất và năng lực 82
3.2.2 Về huy động vốn 83
3.2.3 Về dư nợ tín dụng 83
3.2.4 Kịp thời giải quyết các khoản nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh 84
3.2.5 Các giải pháp khác 85
3.3 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI HỘI SỞ VIETINBANK 87
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2: Cơ cấu huy động vốn giai đoạn 2018-2020 tại VietinBank Phú Tài 48
Bảng 2.3: Doanh số cho vay của VietinBank Phú Tài giai đoạn 2018 - 2020 50
Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ tín dụng của VietinBank Phú Tài giai đoạn 2018 - 2020 53
Bảng 2.5: Tình hình hoạt động tín dụng khách hàng DNNVV tại VietinBank Phú Tài giai đoạn 2018-2020 55
Bảng 2.7: Tình hình phân loại nợ tại VietinBank Phú Tài giai đoạn 2018 - 2020 58
Bảng 2.8: Cơ cấu nợ xấu của VietinBank Phú Tài giai đoạn 2018 - 2020 59
Bảng 2.9: Bảng so sánh tỷ lệ nợ xấu tín dụng DNNVV của VietinBank Phú Tài với tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống VietinBank giai đoạn 2018 - 2020 60
Bảng 2.10: Bảng so sánh tỷ lệ nợ xấu tín dụng DNNVVcủa VietinBank Phú Tài với một số chi nhánh NHTM trên cùng địa bàn giai đoạn 2018 - 2020 61
Bảng 2.11: Bảng so sánh lợi nhuận hoạt động tín dụng DNNVV của VietinBank Phú Tài với lợi nhuận của toàn hệ thống giai đoạn 2018 - 2020 63
Bảng 2.12: Bảng so sánh lợi nhuận hoạt động tín dụng DNNVV của VietinBank Phú Tài với một số chi nhánh NHTM trên cùng địa bàn giai đoạn 2018 - 2020 64
Bảng 2.13: Kết cấu bảng câu hỏi 67
Bảng 2.14: Đánh giá của khách hàng về tiêu chí sự hài lòng 68
Bảng 2.15: Đánh giá của khách hàng về tiêu chí “sự đa dạng về 69
Bảng 2.16: Đánh giá của khách hàng về tiêu chí “Tính vượt trội” 69
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của VietinBank Phú Tài 44 Biểu đồ 2.1: Cơ cấu dư nợ theo nhóm nợ khách hàng DNNVV của VietinBank
Phú Tài giai đoạn 2018 -2020 57 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư nợ cho vay khách hàng DNNVV của
VietinBank Phú Tài giai đoạn 2018 - 2020 58 Biểu đồ 2.3: Biểu đồ so sánh tỷ lệ xấu tín dụng DNNVV của VietinBank Phú Tài với
một số chi nhánh NHTM trên cùng địa bàn giai đoạn 2018 - 2020 62 Biểu đồ 2.4: So sánh lợi nhuận hoạt động tín dụng DNNVV của VietinBank Phú Tài
với một số chi nhánh NHTM trên cùng địa bàn giai đoạn 2018 - 2020 64 Biểu đồ 2.5: Chất lượng tín dụng đối với DNNVV tại VietinBank Phú Tài 71
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư, phát triển kinh tế cho các doanh nghiệp ngày càng gia tăng và hoạt động tín dụng của các ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn hấp dẫn, đã phần nào đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và tín dụng ngân hàng đã trở thành một mắt xích quan trọng cấu thành lên sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế Đồng thời, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chủ yếu của các NHTM Việt Nam, là nguồn doanh thu chủ yếu của các ngân hàng Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô đang trong thời kỳ chưa ổn định, môi trường pháp lý đang dần được hoàn thiện, tỷ lệ lạm phát tăng cao, giá vàng biến đổi thất thường, thị trường bất động sản chưa khởi sắc thì hoạt động tín dụng của các NHTM còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, gặp rất nhiều khó khăn và bị ảnh hưởng rất lớn bởi các biến động của nền kinh tế xã hội Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro lâu đời và trọng yếu nhất mà các tổ chức tín dụng phải đối mặt, hậu quả của nó gây ra không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng nói riêng mà còn đến cả nền kinh tế nói chung
Do vậy, làm thế nào để vừa tăng trưởng tín dụng hiệu quả mà vẫn bền vững, thì việc chú trọng đến việc hạn chế rủi to tín dụng, hay nói cách khác thì việc chú trọng đến chất lượng tín dụng là việc trọng yếu không thể bỏ qua Đặc biệt, ở Việt Nam, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê đưa ra qua kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2019, cả nước có gần 700.647 doanh nghiệp đang hoạt động tăng 74,6% so với năm 2012, trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm 98,1%, mang lại đến 45% GDP của cả nền kinh tế Đến năm 2020, mặc dù trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, tuy nhiên cả nước vẫn ghi nhận thêm 134,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (giảm 2,3% so với năm 2019) với vốn đăng ký mới 2.235,6 nghìn tỷ đồng (tăng 29,2% so với năm 2019) Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm 98,1%, mang lại đến 45% GDP của cả nền kinh tế Chính vì vậy chất lượng tín dụng
Trang 11của DNNVV đang ngày càng được Nhà nước, các nhà quản trị quan tâm Tại VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài, việc quan tâm đến chất lượng tín dụng của các DNNVV lại càng được ban lãnh đạo Chi nhánh đặc biệt quan tâm sâu sắc Do lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng mảng khách hàng DNNVV tại VietinBank Phú Tài chiếm 27.4% tổng lợi nhuận của cả Chi nhánh trong năm 2020 Cụ thể, lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng mảng khách hàng DNNVV tại VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài đạt 33,92 tỷ đồng trên tổng số lợi nhuận của Chi nhánh là 123,78 tỷ đồng Đây là một con số chưa mấy ấn tượng so với vai trò quan trọng của hoạt động tín dụng khách hàng DNNVV tại VietinBank Chi nhánh KCN Phú Tài
Với ưu thế là một trong những ngân hàng Thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam (Trong bảng xếp hạng “100 Ngân hàng lớn nhất khu vực ASEAN” của The Banker) hệ thống Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài nói riêng đã luôn không ngừng tiếp tục phấn đấu phát triển, đổi mới và đạt được những thành tựu đáng kể, đáp ứng nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp trên địa bàn, đặc biệt là tín dụng đối với đối tượng khách hàng DNNVV Xác định rằng, đi kèm với những sự tăng trưởng dư nợ luôn là những rủi ro tín dụng song hành; Do
đó, vấn đề về chất lượng tín dụng dành cho phân khúc khách hàng DNNVV vẫn luôn được ban lãnh đạo chi nhánh quan tâm theo sát để kịp thời ứng biến và có biện pháp xử lý phù hợp Tuy vậy, trong hoạt động kinh doanh vẫn không thể tránh khỏi những rủi ro hiện hữu và rủi ro tiềm ẩn mà chi nhánh vẫn chưa thể khắc phục được thể hiện ở việc tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu vẫn còn, tuy tỷ lệ nợ xấu thời điểm hiện tại của phân phúc DNNVV của chi nhánh không cao, cụ thể ở việc nợ xấu tín dụng DNNVV năm 2020 chiếm 0.11% tổng nợ xấu của cả Chi nhánh Phú Tài, nhưng vì chi nhánh luôn hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện, an toàn và bền vững nên các phương án về xử lý nợ xấu luôn được quan tâm đúng mực Xuất phát từ thực tế
đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Chất lượng tín dụng đối với các khách hàng doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài”
Trang 122 Tổng quan nghiên cứu
Hiệu quả, an toàn và bền vững luôn là mục tiêu mà mọi ngân hàng hướng tới
Có thể ví hệ thống ngân hàng như là “xương sống” của một đất nước; Vì vậy, sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một nước, dù là nước phát triển hay đang phát triển đều là mối đe dọa đến sự ổn định tài chính của nước đó và tác động đến các nước khác trên trường quốc tế nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế chính là xu thế tất yếu của thời đại ngày nay Hoạt động ngân hàng ngày càng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Muốn vậy, cách tốt nhất để tiếp cận, tham gia vào quá trình hội nhập là các ngân hàng thương mại phải thực hiện lành mạnh hóa tài chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng đã được nhiều nhà kinh tế trên thế giới
và trong nước nghiên cứu ở nhiều góc độ và nhiều khía cạnh khác nhau
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tín dụng ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng đối với mỗi ngân hàng thương mại Vì vậy, quản lý hoạt động tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo ngân hàng cũng như của nhiều nhà nghiên cứu Đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và các mô hình quản lý chất lượng tín dụng, điển hình như:
Nghiên cứu của World Bank:“World Bank lending for lines of credit: An IEG evaluation – Cho vay tín dụng của Ngân hàng Thế giới: Đánh giá độc lập” (2006), đã đưa ra đánh giá tình hình cho vay của ngân hàng Thế giới đối với các dòng tín dụng trong các năm tài chính từ 1993-2003; nghiên cứu xu hướng trong cho vay, báo cáo và giám sát dòng tín dụng theo chính sách của ngân hàng Cơ sở của việc đánh giá là nghiên cứu của nhóm đánh giá độc lập (IEG) trên tất cả các dòng tín dụng
Thực trạng tín dụng tại Hàn Quốc và Thái Lan những năm sau khủng hoảng 1997-1998 đã được Valderama, D nghiên cứu trong “Credit Situation in Korea and Thailand after the crisis years 1997-1998” (2004) Chính phủ Hàn Quốc và Thái Lan đã cố gắng thúc đẩy kinh tế bằng việc mở rộng tín dụng trong nước Nghiên
Trang 13cứu đã chỉ ra mối lo ngại lớn về việc mở rộng tín dụng một cách nhanh chóng liệu
có đảm bảo đồng vốn được sử dụng và phân phối một cách hiệu quả không, nhất là khi các ngân hàng không thể kiểm soát việc phân phối tín dụng một cách hiệu quả
Nghiên cứu đưa ra minh chứng về các nhân tố tác động tới chất lượng tín dụng của ngân hàng đã được Ralf Ewert and Gerald Schenk nghiên cứu và kiểm chứng bằng một số ngân hàng của Đức – “Determinants of bank lending performance in Germany” (2000) Theo đó, các nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng bao gồm: Nhân tố thuộc về doanh nghiệp như xếp hạng tín dụng, các hệ số tài chính…; nhân tố về hoạt động tín dụng như các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, đảm bảo tiền vay, cạnh tranh tín dụng và đặc biệt là quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng
Cũng về thị trường tài chính và tín dụng của Đức, Elsas, R.; Krahnen, J-P (1998):“Is relationship lendingspecial? Evidence from Credit-File data in Germany”
đã nghiên cứu mối quan hệ tín dụng và kiểm chứng đối với dữ liệu tín dụng của Đức Thị trường tài chính Đức được biết đến hệ thống ngân hàng tồn tại vững chắc dựa trên mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng Tác giả sử dụng dữ liệu xếp hạng tín dụng đánh giá chất lượng khách hàng vay và thông tin trên cơ sở đánh giá nội bộ của ngân hàng để điều chỉnh mức độ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng quyết định đến chất lượng tín dụng, cụ thể là cam kết tín dụng dài hạn và tạo mức hiệu quả cho vay cao
Nir Klein (2013) “Non-Performing Loans in CESEE: Determinants and Impact
on Macroeconomic Performance” cho rằng ngân hàng cần đảm bảo tránh được việc cho vay quá mức, duy trì chất lượng tín dụng cao và hạn chế cho vay ngoại tệ đối với những khách hàng vay không có tài sản bảo đảm hay các công cụ hạn chế rủi ro Thêm vào đó, những áp lực mà nợ xấu gây nên cho nền kinh tế nhấn mạnh yêu cầu tái cơ cấu
và làm trong sạch các khoản cho vay của ngân hàng Trong đó, việc xử lý nợ xấu cần đảm bảo lợi ích của cả người đi vay và người cho vay Một số gợi ý chính sách trong việc giải quyết nợ xấu được tác giả đề cập đến là các nhà hoạch định chính sách cần
Trang 14đưa ra những biện pháp linh hoạt và chủ động hơn, bao gồm giảm thuế, loại bỏ trở ngại pháp lý để giúp ngân hàng đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu
Ngoài ra, trên thế giới có khá nhiều công trình nghiên cứu có đề cập đến chỉ tiêu phân tích chất lượng tín dụng trong ngân hàng, tiêu biểu như: Mô hình phân tích CAMELS, Standard & Poor’s (S&P), Moody’s và Fitch, tác giả Judijanto và Khmaladze (2003) trong nghiên cứu phá sản của 213 ngân hàng tại thị trường Indonesia trong giai đoạn 1994-1996
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung, nghiên cứu về vấn
đề nâng cao chất lượng tín dụng và làm thế nào để hạn chế rủi ro Một số công trình điển hình nghiên cứu về vấn đề tín dụng và chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
Luận án Tiến sĩ: “Những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam” của Trần Thị Hồng Hạnh (1996) đã nghiên cứu về chất lượng tín dụng, phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý chất lượng hoạt động tín dụng Tuy nhiên, Luận án mới chỉ nghiên cứu thực trạng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhà nước trong giai đoạn 1990-1996 khi chưa có Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Luật các TCTD và chưa cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng, thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,
từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả tín dụng, tăng cường khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại khi hội nhập kinh tế diễn ra là nội dung Luận án: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Trần Thị Xuân Hương (2004)
Rủi ro ngân hàng rất đa dạng và có thể phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau Trong phạm vi hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam, những loại rủi ro sau đây được coi là những rủi ro cơ bản: (i) Rủi ro tín dụng; (ii) Rủi ro
Trang 15thanh khoản; (iii) Rủi ro thị trường bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối và rủi ro
về giá của chứng khoán đầu tư; (iv) Rủi ro tỷ giá hối đoái; và (v) Rủi ro hoạt động Phần dưới đây chủ yếu tập trung vào một số công trình nghiên cứu về RRTD Luận
án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Thủy (1997): “Những giải pháp chủ yếu hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” đã đề cập đến việc mở rộng quy mô tín dụng vượt quá khả năng quản lý, điều hành của ngân hàng thương mại và những nguyên nhân của nó Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm hạn chế và ngăn ngừa RRTD Tuy nhiên, luận án nghiên cứu trong giai đoạn 1994-1996 khi nền kinh tế Việt Nam còn chưa mở cửa Hơn nữa, luận án chưa đưa
ra được mô hình quản lý RRTD cụ thể cho các ngân hàng Việt Nam
Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Tú (2012): “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam” đã đánh giá những kết quả và tồn tại trong quản lý RRTD của Ngân hàng Công Thương Từ đó, đưa ra giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác quản lý RRTD tại ngân hàng này
Công tác quản trị rủi ro tín dụng đặc biệt được coi trọng Công trình nghiên cứu của Lê Thị Kim Nga (2005): “Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong những năm trước mắt” đã hệ thống hóa những nội dung cơ bản về quản trị RRTD của ngân hàng thương mại; đánh giá thực trạng công tác quản trị RRTD tại các ngân hàng thương mại Việt Nam; đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản trị RRTD, đặc biệt công trình nghiên cứu đã đề xuất khung quản trị RRTD cho các ngân hàng thương mại Việt Nam Tác giả Lê Đức Thọ trong: “Hoạt động tín dụng của hệ thống Ngân hàng Thương mại Nhà nước ở nước ta hiện nay” (2005) đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, phân tích rõ vai trò quan trọng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước và các khuyến nghị đưa ra nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước
Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Thị Huyền Diệu (2010): “Luận cứ khoa học về
Trang 16xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam”
đã tiếp cận, luận giải vấn đề quản lý RRTD và mô hình quản lý RRTD trên các góc độ riêng lẻ và tổng thể Đồng thời, luận án đã phân tích thực trạng RRTD và mô hình quản
lý RRTD tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất một mô hình quản lý RRTD cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
2.3 Khoảng trống nghiên cứu:
Qua tiếp cận các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trước đây, tác giả nhận thấy các đề tài có liên quan đến phân tích chất lượng tín dụng trong các Ngân hàng thương mại chủ yếu tập trung nghiên cứu trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu về chất lượng tín dụng trong phạm vi NHTM được thể hiện qua các nội dung như tăng trưởng tín dụng, hiệu quả tín dụng, rủi ro tín dụng, quản lý nợ xấu ở các lĩnh vực tài trợ cụ thể của ngân hàng như: hoạt động xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa mà chưa có
sự kết hợp các yếu tố định tính ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng tín dụng
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về đề tài này hoặc có liên quan đến đề tài này do đối tượng nghiên cứu rất rộng mà chỉ đánh giá được tại một chi nhánh trên một địa bàn của một Ngân hàng thương mại, các Ngân hàng khác nhau có thể các hạn chế, nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng khác nhau
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các Ngân hàng TMCP, tuy nhiên tác giả nhận thấy ở Việt Nam chưa
có công trình nghiên cứu nào phân tích về chất lượng tín dụng các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài Do vậy, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó và tiếp thu những điểm mới trong lĩnh vực ngân hàng, luận văn tiến hành hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng tín dụng, làm rõ thực trạng chất lượng tín dụng đối với khách hàng DNNVV tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài, từ đó tìm ra những mặt còn hạn chế để nêu ra những kiến nghị giúp VietinBank Phú Tài có thể kiểm soát được rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh
Trang 173 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng các khách hàng doanh nghiệp nhỏ
và vừa trong giai đoạn 2018 - 2020, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú tài
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của đề tài là chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài
Đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn khai thác tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam, chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài có trụ sở tại địa chỉ 218 đường Lạc Long Quân, phường Trần Quang Diệu, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
- Về thời gian: Để phục vụ nghiên cứu luận văn thu thập các dữ liệu thực tế trong giai đoạn 2018 - 2020 Số liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 02-03 năm 2021
Trang 18- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập số liệu
5.1.1 Đối với số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tổng kết công tác chuyên môn ở các bộ phận tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài giai đoạn năm 2018 - 2020, phương hướng hoạt động năm tiếp theo và nguồn tài liệu được thu thập từ sách, báo, tạp chí, các tài liệu đã được công bố trên internet, trên các phương tiện truyền thông và từ các cơ quan ban ngành ở trung ương để định hướng
5.1.2 Đối với số liệu sơ cấp
Nghiên cứu thực hiện điều tra thông qua bảng hỏi để đánh giá tình hình đáp ứng nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa được chọn ngẫu nhiên tại VietinBank Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài, cụ thể tác giả đã thu thập ý kiến của các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, cụ thể như sau:
- Tổng số phiếu điều tra: 120 phiếu
- Đối tượng thực hiện trả lời phiếu điều tra: các khách hàng hiện đang có giao dịch tín dụng (cho vay, bảo lãnh, L/C) tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài
- Thời gian tiến hành điều tra: Từ tháng 02/2021 đến tháng 03/2021
Bảng hỏi được thiết kế để thu thập các thông tin liên quan đến mục đích sử dụng dịch vụ tín dụng, hạn mức tín dụng, mức độ đáp ứng nhu cầu của Ngân hàng cũng như các yếu tố đánh giá chất lượng tín dụng như độ tin cậy; Chất lượng dịch vụ; Sự đảm bảo; Hiệu quả phục vụ; Sự cảm thông; Cơ sở vật chất hữu hình dưới góc độ người đi vay vốn
Trang 195.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
- Phương pháp phân tích các cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng đối với các
khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, tổng hợp và so sánh với thực trạng ở Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng dùng excel để liệt kê, tổng hợp và xử lý số liệu, lựa chọn thông tin để so sánh, chuyển dữ liệu thành bảng, biểu đồ
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các danh mục, tài liệu tham khảo được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài
Trang 201.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Theo GS TS Nguyễn Văn Tiến: Giáo trình Toàn tập Quản trị ngân hàng
thương mại - Nhà xuất bản lao động năm 2015: “Tín dụng là quan hệ giữa các bên
về việc vay mượn một tài sản, gồm tài sản thực, tài sản tài chính hay uy tín
Tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng
và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”
Trong chế độ Công xã nguyên thủy, lực lượng sản xuất còn thấp kém nên xã hội chưa có sản phẩm dư thừa để dự trữ, mọi thứ đều là của chung nên không tồn tại quan hệ vay mượn, tức không tồn tại hình thức tín dụng Cùng với sự phát triển của
xã hội loài người, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động được hình thành thì cũng là lúc chế độ Công xã tan rã, chế độ Tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện Lúc này, con người sản xuất sản phẩm không chỉ đủ tiêu dung mà còn có một phần để tích trữ, trong xã hội bắt đầu đã có sự phân hóa giàu nghèo và các giai cấp hình thành Khi có sự phân hóa giàu nghèo, phân công lao động xã hội cũng là lúc xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa, làm phát sinh quan hệ vay mượn bằng hiện vật (hàng hóa)
Quan hệ tín dụng đã có một quá trình hình thành và ra đời – phát triển lâu dài Mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ khi chế độ Cộng sản nguyên thủy tan rã, qua từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế nó được phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản cho đến phức tạm nhưng bản chất vẫn thể hiện sự vay mượn, sự chuyển nhượng tạm thời một lượng vốn tiền tệ (hoặc
Trang 21tài sản) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm từ người cho vay sang người đi vay trong một thời gian nhất định Theo đó, khi đến hạn, người sử dụng tài sản có nghĩa
vụ phải hoàn trả lại số vốn (tài sản) một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu (Giá trị ban đầu cộng thêm lãi suất) Như vậy, phạm trù tín dụng có 3 đặc điểm chính là: tính tạm thời (tính thời hạn), tính hoàn trả với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và tính chất tin tưởng người sử dụng có khả năng hoàn trả đúng hạn
Tín dụng có nhiều loại, như tín dụng nhà nước (do nhà nước cấp), tín dụng thương mại (do doanh nghiệp cấp), tín dụng ngân hàng (ngân hàng cấp) và tín dụng quốc tế (do người cư trú cấp cho người không cư trú) Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các cá nhân khác trong nền kinh tế Với việc đầu tư công nghệ của các ngân hàng như hiện nay, thì tín dụng ngân hàng đã và càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế
Trước đây khi mới hình thành quan hệ tín dụng, trong nền kinh tế hàng hóa thì những người thừa vốn tự mình tìm những người thiếu hụt vốn để cho vay lấy lãi và những người thiếu hụt vốn tạm thời thì đi tìm kiếm những người thừa vốn để vay, điều này phát sinh quan hệ tín dụng trực tiếp Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển hơn, người dư thừa và thiếu hụt vốn càng ngày càng khó gặp nhau về mặt không gian, thời gian, loại tiền, lãi suất, đặc biệt là độ tin cậy lẫn nhau, khiến quan hệ tín dụng trực tiếp không thể hoặc khó mà phát triển được Do vậy, để là cầu nối giữa người có nhu cầu đầu tư và người có nhu cầu đi vay trong nền kinh tế thì rất cần có một bên trung gian đứng ra huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, và trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được cấp tín dụng cho những bên có nhu cầu vay vốn tạm thời Thực hiện chức năng trung gian này chủ yếu là các tổ chức tín dụng (TCTD), mà trong đó chủ yếu là các ngân hàng thương mại (NHTM) Như vậy, ngân hàng thương mại có trách
nhiệm thực hiện chức năng luân chuyển vốn giữa các chủ thể khác nhau trong nền
kinh tế, ở chức năng này ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay (con nợ), vừa đóng vai trò là người cho vay (chủ nợ) Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện hoạt động đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu vốn trong nền kinh tế
Trang 221.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Đối với dân cư
Với mọi tầng lớp dân cư, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người có thu nhập thấp, tín dụng ngân hàng giúp họ có được một cuộc sống ổn định hơn, bằng việc mua trả góp những gì cần thiết như mua nhà, mua ôtô và các đồ dùng gia đình khác, tạo cho họ động lực to lớn để làm việc, tiết kiệm, nuôi dưỡng con cái
Đối với doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để giải quyết bài toán về thiếu hụt vốn trong một thời gian và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn của công ty, thì vốn tín dụng ngân hàng rất cần thiết Chính vì vậy, tín dụng ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo cho các doanh nghiệp được hoạt động liên tục, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu và góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Đối với ngân hàng
Có thể nói hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng (khoảng 70% - 90%), đồng thời nó còn là xương sống góp phần tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại mở rộng được các hoạt động kinh doanh khác nhằm gia tăng lợi ích cho ngân hàng, như: thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn,… Như vậy, hoạt động tín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong ngân hàng,
nó là cái nền tảng quyết định sự tồn tại phát triển của mọi ngân hàng thương mại Một ngân hàng thương mại chỉ có thể tồn tại và phát triển khi xác định được phạm
vi, giới hạn và mức độ tín dụng phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng
Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng đảm bảo nhu cầu về vốn cho các thành phần
kinh tế trong xã hội, giúp cho quá trình sản xuất được liên tục không bị trì trệ, quá trình tái sản xuất được đẩy mạnh Đồng thời việc tập trung và phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tạo động lực
Trang 23kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện cung cấp vốn đầu tư phát triển Nhờ có ngân hàng, việc luân chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế được lưu thông, không bị nằm chết trong dân Chính vì vậy, kênh luân chuyển vốn qua ngân hàng có
ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy lượng vốn đầu tư cho nền kinh tế, đồng thời giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế, luồng vốn được chuyển từ những người tiết kiệm nhưng chưa có kênh đầu tư hiệu quả sang những người có cơ hội đầu tư sinh lời cao tuy nhiên thiếu vốn Bên cạnh vai trò đáp ứng vốn thiếu hụt kịp thời đầy đủ cho các cá nhân, doanh nghiệp, các Ngân hàng còn có những ý kiến đóng góp cho phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lựa chọn đối tác thông qua quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp…
Thứ hai, Tín dụng ngân hàng là công cụ giúp điều tiết nền kinh tế xã hội của
Nhà nước Thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào những ngành kinh tế kém phát triển, ngành mũi nhọn, khu vực kinh tế trọng điểm, sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề, khu vực kinh tế đó, hình thành nên cơ cấu kinh tế hiệu quả Trong thời kì kinh tế khó khăn, nhà nước hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh cho các DNNVV vay ngân hàng
Thứ ba, Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trọng việc thúc đẩy quá trình
mở rộng mối quan hệ giao lưu quốc tế Ngày nay mối quan hệ kinh tế giữa các nước trên thế giới và khu vực đang phát triển đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức, cả về bề rộng lẫn chiều sâu Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng sẽ là trợ thủ đắc lực cung cấp vốn cho các nhà đầu tư kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá Do vậy tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phương tiện để nối liền nền kinh tế các nước, đặc biệt
là các nước đang phát triển trong việc mở rộng sản xuất hàng hoá
1.1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng
Có nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa trên nhiều khía cạnh như: thời hạn, mục đích, hình thức bảo đảm, hình thức cấp tín dụng, đối tượng cấp tín dụng, phương pháp hoàn trả,…
1.1.3.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn không quá 1 năm và thường được chia thành các khoảng thời gian là: 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng Nhu cầu vốn
Trang 24ngắn hạn xuất phát từ những nhu cầu thiết yếu trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để mua nguyên vật liệu, trả lương, thanh toán tiền điện sản xuất, dự trữ hàng hóa,…/hoặc phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình Đây là loại tín dụng có mức độ rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi
ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của kinh tế thị trường, do vậy lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác
- Tín dụng trung hạn: Có thời hạn cho vay từ trên 1 năm tháng đến 5 năm Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định hoặc đổi mới trang thiết bị và công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự
án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: Có thời hạn cho vay lớn hơn 5 năm Tín dụng dài hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản (nhà xưởng, máy móc thiết
bị, dây chuyền sản xuất,….), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, cảng biển, sân bay,….), cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn Do thời hạn đầu tư thương kéo dài, nên tín dụng dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án Nhìn chung, tín dụng dài hạn chịu rủi ro rất lớn, do thời hạn càng dài thì càng phải chịu rủi ro
từ những biến động không lường trước được càng lớn
Việc phân chia hoạt động tín dụng ngân hàng theo thời gian có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với ngân hàng vì yếu tố thời gian liên quan mật thiết đến tính
an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng
1.1.3.2 Căn cứ vào mục đích tín dụng
- Tín dụng cho vay sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụng dành cho các doanh nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh để kiếm lời Tín dụng doanh nghiệp được gọi
là tín dụng bán buôn vì doanh nghiệp thường vay những khoản vay có giá trị lớn
- Tín dụng tiêu dùng: Là khoản cấp tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm, xây dựng nhà cửa, cho vay du học, xe cộ Tín dụng tiêu dùng được gọi là tín dụng bán lẻ do những cá nhân đi vay thường vay những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm mục đích tiêu dùng Ngoài ra, những DNNVV thường vay những khoản vay không lớn nên cũng được xếp vào tín dụng bán lẻ
Trang 251.1.3.3 Căn cứ vào hình thức bảo đảm
- Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Tài sản bảo đảm (TSBĐ) là biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro mất vốn khi cho vay Hình thức tín dụng này áp dụng đới với những khách hàng không đủ uy tín, khi vay vốn phải có TSBĐ hoặc phải có người bảo lãnh TSBĐ hoặc bảo lãnh của bên thứ ba là căn cứ pháp lý để gia tăng trách nhiệm của khách hàng với ngân hàng, giúp ngân hàng có nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của con nợ bị thiếu hụt Do lo sợ bị phát mại tài sản nên buộc con nợ phải huy động và dùng mọi nguồn lực để trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
- Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, mà chỉ được dựa trên niềm tin có đầy đủ căn cứ (tư cách của khách hàng, quy mô hoạt động kinh doanh, uy tín trong lĩnh vực kinh doanh và có lịch sử giao dịch tốt với các TCTD…) và đáp ứng tất cả tiêu chí cho vay không có TSBĐ của từng TCTD Loại tín dụng này áp dụng cho những khách hàng truyền thống, có uy tín tốt, số tiền vay không lớn và thời hạn vay ngắn
+ Cho vay thấu chi: là nghiệp vụ mà qua đó ngân hàng cho phép người vay chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và khoảng thời gian nhất định
+ Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng và duy trì hạn mức này trong một thời hạn nhất định
Trang 26Trong kỳ, mỗi lần vay khách hàng chỉ cần đưa ra phương án sử dụng tiền vay, cung cấp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ phù hợp với yêu cầu vay Ngân hàng
sẽ dựa trên tính chất hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ này để phát tiền cho khách hàng
+ Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hóa Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng Đầu năm, hoặc đầu quý doanh nghiệp làm đơn xin vay luân chuyển và thỏa thuận với ngân hàng về hình thức, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ của mình
+ Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian, áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán và cách xa ngân hàng Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các
tổ chức trung gian khác Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra bảo lãnh cho các thành viên này vay vốn Cho vay qua trung gian tiết kiệm được chi phí cho vay, đồng thời giảm bớt rủi ro cho ngân hàng
- Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ khá đơn giản, độ an toàn cao do tối thiểu có hai người cam kết trả tiền cho khách hàng Chiết khấu không làm đóng băng vốn của ngân hàng vì thời hạn chiết khấu ngắn, ngân hàng có thể tái chiết khấu tại ngân hàng trung ương để đáp ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp
- Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ như đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận Đây là hình thức tài trợ thông qua uy tín, chỉ khi khách hàng không thực hiện cam kết thì ngân hàng có trách nhiệm chi trả cho bên thứ ba
- Cho thuê tài chính: Trong một số trường hợp khách hàng không đủ điều kiện vay vốn, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ mua tài sản theo yêu cầu của khách hàng và sau đó cho thuê lại Đây là phương thức vay tài sản
Trang 27thông qua hợp đồng cho thuê, kèm theo lời hứa đơn phương bán cho người thuê một giá nhất định có tính đến những số tiền thuê đã trả Trong nghiệp vụ này, ngân hàng phải xuất tiền theo yêu cầu của khách hàng và sau một thời gian nhất định phải thu
đủ gốc và lãi, tài sản cho thuê thường là các tài sản cố định
- Bảo lãnh: Là việc ngân hàng đứng ra cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay khách hàng của mình Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi nhuận
Ngân hàng thương mại được phát hành bảo lãnh dự thầu, thực hiện hợp đồng, tạm ứng, bảo hành, thanh toán… bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh Theo quy định chung thì mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hàng thương mại không vượt quá tỷ
lệ vốn tự có của ngân hàng đó
1.1.3.5 Căn cứ vào đối tượng tín dụng
- Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được cấp cho các doanh nghiệp để hình thành các tài sản ngắn hạn như: mua nguyên vật liệu, hàng hóa tồn kho, trả thuế, trả lương,…
- Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng đầu tư vào các tài sản cố định dài hạn như cấp tín dụng cho các doanh nghiệp để hình thành bất động sản, mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất,…
1.1.3.6 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
- Tín dụng hoàn trả nhiều lần: Áp dụng cho những khoản vay lớn và có thời hạn dài Tín dụng trả góp là loại tín dụng mà khách hàng hoàn trả vốn gốc và lãi vay định kỳ thành những khoản tiền bằng nhau
- Tín dụng hoàn trả một lần: Là loại tín dụng mà khách hàng hoàn trả cả gốc
và lãi vay một lần khi đến hạn Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay nhỏ
và có thời hạn ngắn
- Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà khách hàng có thể hoàn trả nợ vay bất cứ khi nào Loại tín dụng này thường áp dụng cho những khoản vay thấu chi, thẻ tín dụng
Trang 281.2 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ
và vừa
1.2.1.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng
Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO), "chất lượng" được định nghĩa
như sau: "Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ
thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan"
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một loại hàng hóa, dịch vụ nào được tạo
ra cũng phải là những hàng hóa, dịch vụ mang tính cạnh tranh Điều đó có nghĩa là mọi hàng hóa, dịch vụ được tạo ra đều phải có chất lượng Chất lượng của bất kỳ một loại hàng hóa, dịch vụ nào cũng đều được thể hiện bằng giá trị sử dụng, sự phù hợp của nó hay nói cách khác là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu của người dùng Khi đánh giá chất lượng sản phẩm người
ta thường xem xét các khía cạnh:
1 Sự hoàn hảo của sản phẩm, dịch vụ Nếu một sản phẩm vì một lý do nào
đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình
2 Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu thì luôn biến động nên chất lượng cũng luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng
3 Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên liên quan khác, như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
4 Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể mô tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chất lượng trong quá trình sử dụng
Trang 295 Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày, mà còn có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
Ngoài ra, khi nhắc đến chất lượng, chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá
cả và dịch vụ sau bán hàng, vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn là những yếu
tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thỏa mãn nhu cầu của họ
Chất lượng của sản phẩm sẽ tạo lên uy tín và danh tiếng cho nhà cung cấp Tín dụng là một sản phẩm của ngân hàng, trong hoạt động tín dụng thì nếu chất lượng tín dụng cao sẽ làm cho khách hàng gắn bó lâu dài với ngân hàng, và trong thời gian dài được lặp đi lặp lại, người dùng đánh giá sẽ tạo lên sự uy tín, danh tiếng, đem lại kết quả kinh doanh cho ngân hàng Bởi vậy, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế
1.2.1.2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Cụm từ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày nay được sử dụng rộng rãi trên thế giới và cả Việt Nam Nói tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, vô hình chung các quốc gia thường xem xét các doanh nghiệp dựa trên quy mô của các doanh nghiệp Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá loại hình doanh nghiệp theo quy mô và định lượng các doanh nghiệp theo các tiêu chí cụ thể
Các quốc gia nhìn chung chưa có một khái niệm mang tính chuẩn mực cho việc xác định thế nào là doanh nghiệp nhỏ và vừa Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa giữa các quốc gia trên thế giới chủ yếu là việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá quy mô doanh nghiệp và việc lượng hóa các tiêu chí đó thông qua các tiêu chí cụ thể Trên thực tế hiện nay, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và tùy thuộc vào đặc điểm ngành, nghề kinh doanh, trình độ phát triển trong từng thời kỳ mà mỗi nước có thể sử dụng các tiêu chí cụ thể hoặc kết hợp các tiêu chí khác nhau như: tổng số lao động làm việc tại doanh nghiệp, tổng vốn hoặc giá trị tài sản, doanh thu
Trang 30Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô
đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có
số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến
300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình
Như vậy, có thể nêu khái quát khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có quy mô được giới hạn bởi các tiêu thức lao động, vốn hoặc giá trị tài sản, hoặc doanh thu tùy theo quy định của mỗi quốc gia Việc sử dụng các tiêu thức để nhận diện doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các quốc gia cũng có một số điểm khác biệt, thể hiện ở số lượng các tiêu thức và việc lượng hóa các tiêu thức ở mỗi nước, do vậy, khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa là mang tính tương đối, thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước và phụ thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, và đặc biệt phát triển của mỗi loại ngành, nghề
Ở Việt Nam, theo Điều 6 của Nghị định số Số: 39/2018/NĐ-CP về việc Quy
định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 11/03/2018 của Chính phủ quy định:
“1 Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
2 Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc
Trang 31tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
3 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.”
1.2.1.3 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Với cách đề cập như trên, thì chất lượng tín dụng DNNVV là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng DNNVV, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội
Đối với khách hàng DNNVV: Chất lượng tín dụng DNNVV được thể hiện ở
việc "Tín dụng DNNVV phải đáp ứng được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng DNNVV, với số lượng, kì hạn, lãi suất và lịch trả nợ hợp lí, thủ tục đơn giản, nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng và tuân thủ pháp luật"
Đối với Ngân hàng: Chất lượng tín dụng DNNVV được thể hiện ở chỗ "Tín
dụng DNNVV phải tuân thủ quy trình nghiệp vụ, chính sách tín dụng của ngân hàng
và pháp luật, tín dụng DNNVV phải được bảo đảm và đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ và đúng hạn gốc, lãi; rủi ro tín dụng phải trong giới hạn cho phép và được kiểm soát; hoạt động tín dụng DNNVV phải mang lại hiệu quả kinh tế cho ngân
Trang 32hàng, tạo điều kiện cho các dịch vụ khác của ngân hàng phát triển, đảm bảo thanh khoản, nâng cao uy tín và vị thế cạnh tranh cho ngân hàng"
Đối với Chính phủ, với sự phát triển kinh tế xã hội: Chất lượng tín dụng
DNNVV được thể hiện ở việc "Tín dụng DNNVV phải phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế"
Như vậy, chất lượng tín dụng Ngân hàng là một khái niệm hoàn toàn tương đối, nó vừa cụ thể qua các chỉ tiêu có thể tính toán được như: kết quả kinh doanh của ngân hàng, nợ quá hạn…, lại vừa mang tính trừu tượng thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế qua các ảnh hưởng xuôi và ngược…Chất lượng tín dụng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan như khả năng, trình độ quản lý của cán bộ tín dụng và khách quan sự thay đổi trong môi trường kinh doanh, xu hướng phát triển nền kinh tế , sự thay đổi giá cả thị trường Bài luận văn này thực hiện đánh giá và phân tích chất lượng tín dụng DNNVV trên góc độ của Ngân hàng
1.2.2 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại
Khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vai trò quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động DNNVV hiện chiếm tỷ trọng 98,1% tổng số DN đang hoạt động tại Việt Nam, đóng góp tới 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và thu hút hơn 5 triệu lao động Đồng thời, khu vực DNNVV rất hiệu quả trong việc huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia, đặc biệt là khu vực kinh tế diễn ra các hoạt động cải tiến, đổi mới sáng tạo và ứng dụng trong sản xuất kinh doanh tạo sự năng động và cạnh tranh cho nền kinh tế
Như vậy, DNNVV có vị trí và vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, kể cả tại các nước phát triển Đây là lực lượng rất cần thiết để góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần vào sự phát triển chung của toàn nền
Trang 33kinh tế Các doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất, yêu cầu về vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu đặt ra Các doanh nghiệp không thể trông chờ vào vốn tự có, mà còn phải dựa vào vốn của nhiều nguồn khác nhau trong xã hội NHTM với tư cách là nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi, sẽ là trungtâm đáp ứng nhu cầu về vốn bổ sung cho đầu tư phát triển Như vậy, tín dụng ngân hàng vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích luỹ vốn nhanh chóng cho đầu tư
mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích luỹ, điều hòa vốn cho nền kinh tế, đảm bảo vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục,
là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, động viên hàng hoá vào lưu thông, mở rộng nguồn vốn thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh quá trình tái sản xuất qua
đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Các DNNVV ở nước ta đã và đang khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong nền kinh tế Tuy nhiên để DNNVV phát huy hết được khả năng của mình thì Đảng, Nhà nước, các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế cần phải có những chính sách, những biện pháp cụ thể nhằm giúp đỡ DNNVV vượt quan những khó khăn những hạn chế Mà một trong rất nhiều khó khăn phải kể đến đó là khó khăn
về vốn
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay vốn ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư theo chiều sâu Tuy nhiên để có thể tiếp cận được vốn của ngân hàng thì các doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện tín dụng, chịu sự kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn
Đối với DNNVV thì vốn vay ngân hàng là nguồn vốn tài trợ có hiệu quả hơn
cả bởi nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn đặc biệt chi phí sử dụng vốn vay ngân hàng thấp hơn các chi phí vốn khi đi vay từ cácnnguồn vốn phi chính thức Mặt khác, các DNNVV còn nhận được sự tư vấn của ngân hàng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện dự án đầu tư Và khi vay được vốn rồi trong thời hạn vay vốn ngân hàng sẽ thực hiện giám sát quá trình hoạt động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát hiện những nhược điểm, sai sót từ đó có thể có những điều
Trang 34chỉnh kịp thời nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp
Tóm lại tín dụng ngân hàng đối với các DNNVV là rất quan trọng, hoạt động này giúp cho các ngân hàng đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro và tăng lợi nhuận cho ngân hàng Tuy nhiên, một trong những rủi ro đáng sợ đối với Ngân hàng là rủi ro tín dụng và nó cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất khả năng thanh khoản của Ngân hàng, điển hình là đã xảy ra những cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới Do vậy vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng không chỉ đối là vấn đề cần thiết đối với Ngân hàng, với khách hàng, chủ đầu
từ mà còn đối với toàn xã hội nữa Đặc biệt khi mà ngày nay, các DNNVV mang lại đến 45% GDP của cả nền kinh tế thì việt quan tâm đến nâng cao chất lượng tín dụng đối với các DNNVV lại càng trở nên quan trọng và đáng được quan tâm
Về phía Ngân hàng
Ngân hàng thương mại giống như các nhà kinh doanh trên thị trường: bỏ vốn ra
và mong muốn thu hồi được vốn và mang lại lợi nhuận Như vậy đảm bảo và nâng cao chất lượng cho các khoản vay, hay việc nâng cao chất lượng tín dụng là một nhu cầu cấp thiết, đặc biệt là nâng cao chất lượng tín dụng DNNVV, nó vừa là yếu tố không những đảm bảo cho Ngân hàng duy trì hoạt động mà còn giúp Ngân hàng phát triển
Tư duy về nền kinh tế thị trường của các DNNVV Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, do đó việc làm ăn của các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn Vì thế các Ngân hàng không chỉ là người cung cấp vốn cho các DNNVV mà Ngân hàng còn phải là người hiểu rõ hơn ai hết về lĩnh vực kinh doanh của các DNNVV để có thể tư vấn cho họ các phương án kinh doanh hiệu quả, tránh khỏi được những rủi ro không đáng có; từ đó bảo vệ chính khoản tiền đã cho vay của mình
Về phía khách hàng và nhà đầu tư
Khách hàng của Ngân hàng có hai loại: Người gửi tiền và người vay tiền Người gửi tiền quan tâm đến khả năng thanh toán của Ngân hàng mà khả năng thanh toán của Ngân hàng lại có mối quan hệ mật thiết với chất lượng của các khoản tín dụng Vì vậy đối với họ nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề cần thiết vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản tiền gửi của họ vào Ngân hàng Người vay tiền là người trực tiếp sử dụng
Trang 35giá trị sử dụng của các khoản vốn vay Ngân hàng, mà đối với họ chất lượng tín dụng chính là sự thoả mãn của họ về khoản tín dụng đó Cuối cùng phải làm sao cho khoản tín dụng đó hiệu quả, đem lại lợi nhuận để họ có thể trang trải chi phí vay và có lãi Bởi thế bản thân người vay tiền coi vấn đề chất lượng tín dụng là vấn đề cần thiết và ngày càng phải được nâng cao; đặc biệt khi mà hiện nay, tín dụng đối với DNNVV là hoạt động kinh doanh nòng cốt của các ngân hàng thì việc quan tâm đến chất lượng tín dụng DNNVV cũng là vấn đề được các nhà đầu tư lưu tâm
Về toàn xã hội
Nếu xét trên quan điểm toàn xã hội thì vấn đề chất lượng tín dụng DNNVV cũng
là vấn đề cần thiết Bởi một đồng vốn của Ngân hàng cho vay nó là đầu mối trong tất cả các mối quan hệ kinh tế, nếu người sử dụng vốn đó hiệu quả thì cũng đồng nghĩa với việc nó có hiệu quả đối với Ngân hàng và xã hội bởi nó sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đóng góp phần lớn vào phúc lợi xã hội Ngược lại nếu chất lượng tín dụng DNNVV kém có thể sẽ dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống Ngân hàng, từ đó làm ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, nó có thể làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái trầm trọng và sẽ ảnh hưởng xấu đến toàn bộ xã hội Do đó mà vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng DNNVV cũng được toàn thể xã hội quan tâm
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu định tính nhìn chung khá phức tạp và khó xác định, đồng thời chỉ đem lại cái nhìn khái quát về chất lượng cho vay Để có thể đánh giá chính xác, cụ thể hơn về chất lượng tín dụng DNNVV, chúng ta cần kết hợp đánh giá dựa trên các chỉ tiêu định lượng
a) Cơ cấu dư nợ cho vay đối với DNNVV
Chỉ tiêu doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là tổng số tiền mà một ngân hàng thu hồi được từ các khoản
đã cho vay trước đó trong một thời kỳ nhất định Chỉ tiêu này phản ánh tuyệt đối khả năng thu hồi nợ của ngân hàng, nếu đem so sánh với doanh số cho vay còn có
Trang 36được con số tương đối để đánh giá khả năng thu hồi nợ của ngân hàng
Chỉ tiêu dự phòng rủi ro tín dụng:
Là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xãy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của các tổ chức tín dụng
Việc xác định trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được căn cứ vò việc phân loại nợ tại ngân hàng Các tổ chức tín dụng, ngân hàng căn cứ vào các tiêu chuẩn định tính và định lượng để đánh giá mức độ rủi ro của các khoản vay và các cam kết ngoại bảng, trên cơ sở đó phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ thích hợp
Theo đó, ngân hàng sẽ tiến hành trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, dự phòng phản ánh sự suy giảm của tài sản trước những tổn thất có khả năng xãy ra Trong khi đó, trong bảng kết quả kinh doanh, dự phòng là một khoản chi tiền mặt, được ghi nhận làm giảm lợi nhuận/vốn chủ sở hữ của ngân hàng
Như vậy, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được hiểu là những biện pháp mà các ngân hàng áp dụng để phòng ngừa rủi ro tín dụng có thể xãy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết
tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng, do đó ngân hàng nào kiểm soát được
nợ quá hạn thì ngân hàng đó có chất lượng tín dụng tương đối tốt Nói chung trong hoạt
Trang 37động tín dụng của ngân hàng không có dư nợ quá hạn đã là một thành công lớn của ngân hàng Tuy nhiên, chỉ tiêu này cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của một ngân hàng Bởi vì bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do
đã được thực hiện tốt các khâu trong quy định tín dụng, còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển quá hạn theo đúng quy định…
c) Tỷ lệ nợ xấu của khách hàng DNNVV
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản cho vay được
coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc 90 ngày hoặc hơn hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục
nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế”
Theo Thông tư 02/2013/ TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư 09/2014/TT-NHNN về sửa đổi bổ sung một số điều của thông tư số 02/2013/TT-NHNH giải thích nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5 Trong đó:
“Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Trang 38+) Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6 Điều 126 Luật các
- Nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra;
- Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
- Khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi theo kết luận của thanh tra đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
- Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được
cơ cấu lại lần thứ hai;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc
Trang 39- Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản.”
Nợ xấu là khoản nợ mà khả năng thu hồi rất thấp, lúc này rủi ro không còn là rủi ro thông thường nữa mà là rủi ro có khả năng mất vốn Có nhiều biện pháp để giải quyết nợ xấu của ngân hàng, tùy thuộc vào tình hình thực tế của doanh nghiệp
mà ngân hàng có thể giải quyết theo các hướng khác nhau như gia hạn nợ hay phát mại tài sản Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ở một thời điểm nhất định Tỷ lệ nợ xấu phản ánh nợ xấu của một ngân hàng, tỷ lệ này càng thấp càng tốt
Tỷ lệ nợ xấu = x 100%
Tỷ lệ nợ xấu DNNVV cho ta biết trong một đồng dư nợ cho vay DNNVV có bao nhiêu đồng là nợ xấu, phản ánh tỉ trọng nợ xấu DNNVV trong tổng dư nợ DNNVV của ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu DNNVV của ngân hàng rơi vào tầm 2% - 5%
là mức có thể chấp nhận được Tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, từ đó làm chất lượng tín dụng DNNVV thấp đi và ngược lại
d) Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của khách hàng DNNVV
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng DNNVV là khoản lợi ích mang lại từ hoạt động cho vay đối với DNNVV, sau khi trừ đi các chi phí phát sinh Một một khoản tín dụng khi không đem lại thu nhập cho ngân hàng thì không thể nói nó có chất lượng cao Nguồn thu chủ yếu để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển chính là nguồn thu từ hoạt động tín dụng
Có thể thấy rằng nếu các ngân hàng chỉ chú trọng vào việc làm thế nào để giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn DNNVV thấp mà không để ý việc tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng DNNVV thì tỷ lệ nợ quá hạn DNNVV thấp cũng không có ý nghĩa Chất lượng tín dụng DNNVV chỉ được nâng cao thực sự khi nó góp phần vào nâng cao khả năng sinh lời cho ngân hàng
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng DNNVV, thể hiện khả
Trang 40năng thu lợi nhuận từ cho vay DNNVV của ngân hàng Chỉ tiêu này càng cao chứng
tỏ chất lượng tín dụng DNNVV càng tốt và ngược lại
1.2.3.2 Chỉ tiêu định tính
a) Sự hài lòng của khách hàng DNNVV
Sự hài lòng của khách hàng DNNVV đối với các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, về thái độ, thời gian phục vụ, thủ tục vay vốn, là chỉ tiêu định tính thể hiện rất rõ chất lượng tín dụng DNNVV của ngân hàng Nếu một ngân hàng làm cho các khách hàng DNNVV cảm thấy hài lòng về sản phẩm tín dụng, thái độ phục
vụ của chuyên viên tín dụng tốt, thời gian phục vụ ngắn, thủ tục vay vốn đơn giản…thì có thể phần nào đánh giá được chất lượng tín dụng DNNVV của ngân hàng đó khá tốt và ngược lại Để có được những cảm nhận, đánh giá tốt của khách hàng thì ngoài việc ngân hàng cần cung cấp những sản phẩm tín dụng, phí và lãi suất cạnh tranh,…thì việc có những chuyên viên tín dụng năng động, có nghiệp vụ
và trình độ tốt, có thể như một chuyên viên tư vấn tài chính cho khách hàng DNNVV cũng là điều không thể thiếu
Tính vượt trội
Đối với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện được tính vượt trội “ưu việt” của mình so với những sản phẩm khác nhau Chính tính ưu việt này làm cho chất lượng tín dụng trở thành thế mạnh cạnh tranh của các nhà cung cấp