TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG PHAN THỊ MINH THU KẾT QUẢ CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỚI CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG... Công tác điều trị,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
PHAN THỊ MINH THU
KẾT QUẢ CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỚI CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
-
PHAN THỊ MINH THU
Mã học viên: C01923
KẾT QUẢ CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
TỚI CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
HÀ NỘI NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG
MÃ SỐ: 8720301 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM VĂN MINH PGS.TS ĐỖ THỊ LIỆU
Hà Nội – 2023
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả, số liệu ghi trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Thị Minh Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn, tôi đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ rất nhiều từ nhà trường, bệnh viện, gia đình và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, quý Thầy Cô trường Đại học Thăng Long đã tận tình giảng dạy truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Văn Minh, PGS.TS Đỗ Thị Liệu đã dìu dắt, hướng dẫn tôi học tập nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc và các anh chị đồng nghiệp của các khoa, phòng tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn tới tất cả người bệnh, người nhà người bệnh đã tham gia nghiên cứu và dành thời gian hoàn thành bảng câu hỏi
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người Thầy, Cô trong hội đồng chấm đề cương và luận văn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi
Và cuối cùng tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2023
Tác giả luận văn
Phan Thị Minh Thu
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 5Disability and Health KTV VLTL Kỹ thuật viên Vật lý trị liệu
KTV HĐTL Kỹ thuật viên Hoạt động trị liệu
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương về đột quỵ não 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Phân loại 3
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ não 3
1.1.4 Hậu quả của đột quỵ não 4
1.2 Phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ 5
1.2.1 Mục đích Phục hồi chức năng sau đột quỵ 5
1.2.2 Các thành viên nhóm phục hồi Đa chuyên ngành 6
1.2.3 Chăm sóc lấy người bệnh và gia đình làm trung tâm 12
1.2.4 Vai trò của Điều dưỡng trong công tác chăm sóc phục hồi chức năng người bệnh đột quỵ não 13
1.3 Chất lượng cuộc sống 16
1.3.1 Khái niệm về chất lượng cuộc sống 16
1.3.2 Đánh giá CLCS người bệnh 17
1.3.3 Phân loại quốc tế về hoạt động chức năng, khuyết tật, sức khỏe và mối liên quan với chất lượng cuộc sống 18
1.4 Tình hình các nghiên cứu liên quan trên thế giới và việt nam 19
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới 19
1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 23
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 72.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24
2.4 Nội dung can thiệp phục hồi chức năng 24
2.6 Các biến số nghiên cứu 28
2.7 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.8 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 32
2.9 Hạn chế, sai số của nghiên cứu 32
2.10 Đạo đức nghiên cứu 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đặc điểm chung của nhóm người bệnh nghiên cứu 34
3.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh đột quỵ nhồi máu não 40
3.3 Đánh giá kết quả phục hồi chức năng tới chất lượng cuộc sống người bệnh đột quỵ nhồi máu não 44
Chương 4 BÀN LUẬN 54
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 54
4.2 Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh đột quỵ nhồi máu não 58
4.3 Kết quả PHCN tới chất lượng cuộc sống người bệnh 59
4.4 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới CLCS của người bệnh 65
KẾT LUẬN 71
KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bố người bệnh theo tuổi 34
Bảng 3.2 Trình độ học vấn và nghề nghiệp của người bệnh 35
Bảng 3.3 Phân bố theo bệnh lý đồng mắc 37
Bảng 3.4 Mức độ khiếm khuyết thần kinh theo thang NIHSS khi vào viện 38 Bảng 3.5 Đánh giá mức độ suy giảm nhận thức theo thang điểm MMSE 39
Bảng 3.6 Tỷ lệ phân loại CLCS các nhóm chức năng theo thang điểm SS-QOL khi vào viện 41
Bảng 3.7 Tỷ lệ phân loại CLCS theo các lĩnh vực cụ thể theo thang điểm SS-QOL khi vào viện 42
Bảng 3.8 Chất lượng cuộc sống chung của người bệnh theo thang điểm SS-QOL khi vào viện 43
Bảng 3.9 CLCS người bệnh theo thang điểm SS-QOL khi vào viện và 44
Bảng 3.10 Đánh giá CLCS theo SS-QOL khi vào viện và sau 4 tuần 45
Bảng 3.11 Cải thiện các lĩnh vực CLCS theo SS-QOL 45
Bảng 3.12 Điểm trung bình CLCS SS-QOL theo các nhóm 46
Bảng 3.13 Cải thiện CLCS người bệnh theo thang điểm EQ-5D sau 4 tuần 47 Bảng 3.14 Tỷ lệ cải thiện CLCS chung sau 4 tuần theo 2 thang điểm 47
Bảng 3.15 Liên quan giữa tuổi và phân loại CLCS theo thang điểm SS-QOL 48
Bảng 3.16 Liên quan giữa nhóm nhóm tuổi và điểm trung bình CLCS theo thang điểm SS-QOL sau 4 tuần 49
Bảng 3.17 Liên quan giữa giới và CLCS theo giới theo SS-QOL sau 4 tuần 49
Bảng 3.18 Liên quan giữa giới và điểm trung bình CLCS theo thang điểm 50 Bảng 3.19 Liên quan giữa mức độ khiếm khuyết thần kinh và CLCS theo thang điểm SS-QOL sau 4 tuần 51
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 9Bảng 3.20 Liên quan giữa mức độ khiếm khuyết thần kinh và điểm trung bình CLCS theo thang điểm SS-QOL sau 4 tuần 51 Bảng 3.21 Liên quan giữa mức độ suy giảm nhận thức MMSE và CLCS theo 52 Bảng 3.22 Liên quan giữa mức độ suy giảm nhận thức và CLCS của người bệnh sau 4 tuần 53 Bảng 3.23 Liên quan giữa số bệnh lý đồng mắc và CLCS của người bệnh sau
4 tuần can thiệp 53
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố người bệnh theo giới tính 35 Biểu đồ 3.2 Thông tin về số lần đột quỵ của người bệnh 36 Biểu đồ 3.3 Phân bố mức độ CLCS sau đột quỵ theo SS-QOL khi vào viện 37 Biểu đồ 3.4 CLCS người bệnh đột quỵ theo thang điểm SS-QOL sau 4 tuần 40 Biểu đồ 3.5 Phân loại CLCS người bệnh theo SS-QOL sau 4 tuần……… 44
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não (hay tai biến mạch máu não) là một trong những bệnh lý phổ biến do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra Bệnh có thể gây tử vong nhanh chóng hoặc nếu người bệnh sống sót sẽ để lại nhiều di chứng nặng nề Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2016, đột quỵ là nguyên nhân thứ hai gây tử vong và là nguyên nhân thứ ba gây ra khuyết tật trên thế giới [60] Hàng năm có khoảng 795.000 người ở Hoa Kỳ bị đột quỵ trong đó số người mới bị là 610.000 người và đột quỵ tái phát 185.000 người, chi phí hàng năm là hơn 72 tỷ đô la [1], [50]
Theo báo cáo của Cục Quản lý khám chữa bệnh, tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 200.000 người đột quỵ, tỷ lệ tử vong khoảng 10-20% [5] Theo một nghiên cứu tại tỉnh Hải Dương (2005), tỷ lệ tử vong trong một năm đầu là 40%, trên 50% sống sót sau đột quỵ não bị tàn tật ở mức độ nặng và vừa [24] Một nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự năm 2013-2014 cho thấy có sự gia tăng rất mạnh tỉ lệ hiện mắc đột quỵ não tại 8 tỉnh đại diện cho
8 vùng sinh thái Việt Nam so với các nghiên cứu tiến hành tại thời điểm trước
đó, cụ thể tỉ lệ hiện mắc chung là 1.62% và đang ở mức khá cao [7]
Khuyết tật liên quan đến đột quỵ dẫn đến gánh nặng tài chính lớn cho những người sống sót sau đột quỵ và gia đình của họ vì các yêu cầu chăm sóc liên quan đến đột quỵ và người bệnh có khả năng không thể trở lại làm việc hoặc sinh hoạt như bình thường [41], [55] Đột quỵ có các mức độ nghiêm trọng khác nhau, có thể ảnh hưởng đến khả năng vận động và tính độc lập trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày có liên quan chặt chẽ đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh [45] CLCS liên quan đến sức khỏe không chỉ bao gồm tình trạng sức khỏe thể chất mà còn bao gồm các chức năng tâm
lý, xã hội cũng như các yếu tố môi trường, do đó, đột quỵ đặc biệt là đột quỵ
Trang 12ở những người trẻ có thể có những tác động bất lợi đến CLCS ở độ tuổi mà các cá nhân là thành viên hữu ích của xã hội [34]
Trong chiến lược điều trị chăm sóc toàn diện, việc cải thiện chất lượng sống ở những người bệnh sống sót sau đột quỵ được nhìn nhận là hết sức cần thiết Từ đó, các nghiên cứu liên quan đến CLCS của những người bệnh đột quỵ được chú ý nhiều hơn, giúp chúng ta hiểu được bức tranh toàn diện về sự phục hồi của người bệnh Ở nước ngoài, đã có một số nghiên cứu về vấn đề này [35], [46], [56] Tuy nhiên, ở Việt Nam mới có một số rất ít nghiên cứu liên quan đến CLCS của người bệnh sau đột quỵ não
Tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội, với đặc thù là Bệnh viện chuyên khoa phục hồi chức năng, lượng người bệnh đột quỵ não đến điều trị tại bệnh viện những năm gần đây ngày càng tăng Công tác điều trị, chăm sóc phục hồi chức năng toàn diện cho người bệnh nói chung và đối tượng người bệnh đột quỵ não nói riêng với mục tiêu phục hồi tốt nhất cho người bệnh giúp người bệnh cải thiện chất lượng cuộc sống luôn được các thầy thuốc quan tâm Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào tại Bệnh viện về vấn đề này, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kết quả chăm sóc phục hồi chức năng
tới chất lượng cuộc sống của người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội năm 2022” với các mục tiêu nghiên cứu sau:
1 Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh đột quỵ nhồi máu não tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội năm 2022
2 Đánh giá kết quả chăm sóc phục hồi chức năng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh đột quỵ nhồi máu não
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Đại cương về đột quỵ não
1.1.1 Định nghĩa
Đột quỵ (Stroke) còn gọi là tai biến mạch máu não (TBMMN), được Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa là “tình trạng bệnh lý não biểu hiện bởi các thiếu sót chức năng thần kinh xảy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn
là lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ hoặc gây tử vong trong 24 giờ, loại trừ nguyên
nhân chấn thương sọ não”
1.1.2 Phân loại
Đột quỵ não là bệnh lý mạch máu não nguy hiểm và phổ biến nhất hiện nay, đặc trưng bởi hiện tượng máu lên não bị gián đoạn đột ngột với hai dạng chính là nhồi máu não (tắc mạch) và xuất huyết não (vỡ mạch)
- Nhồi máu não (chiếm 85%): Nhồi máu não xảy ra khi một vùng não
không được cấp máu, thường là do hẹp hoặc tắc một động mạch não Tình trạng bít tắc kéo dài cản trở máu lưu thông lên não, khiến các tế bào não thiếu hụt oxy quá mức và chết đi, ảnh hưởng đến các chức năng cơ thể mà vùng não bị chết chi phối
- Xuất huyết não (chiếm 15%): Bệnh xảy ra do một mạch máu não bị
vỡ, kết quả là máu thấm vào mô não, gây tổn thương cho các tế bào não, phổ biến nhất của dạng này là kết hợp giữa huyết áp cao với chứng phình động mạch não hay dị dạng mạch máu não bẩm sinh…
1.1.3 Các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ não
Các yếu tố nguy cơ của đột quỵ có thể được chia thành 2 nhóm: yếu tố không thay đổi được và có thể thay đổi được [12], [13], [21]:
Trang 14- Yếu tố không thay đổi được:
+ Tuổi: tuổi đã được xác định là yếu tố nguy cơ của đột quỵ, tuổi càng cao thì nguy cơ đột quỵ càng lớn
+ Giới: nhìn chung tỉ lệ nam mắc đột quỵ nhiều hơn nữ từ 1,5 đến 2 lần + Chủng tộc: những người Mỹ gốc Châu Phi và một số người Mỹ Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha có tỷ lệ mắc nhiều hơn so với những người Mỹ gốc Châu Âu
+ Các yếu tố di truyền: tiền sử di truyền do bố mẹ, hay chị em từng bị đột quỵ đều được chứng minh làm tăng nguy cơ đột quỵ
- Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được:
Đó là tăng huyết áp, các bệnh lý tim mạch, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì, tai biến thoáng qua, hút thuốc lá, uống rượu, tăng acid uric máu, ít hoạt động thể lực…
Trong đó tăng huyết áp được coi là nguy cơ hàng đầu trong cơ chế bệnh sinh của đột quỵ Cả tăng huyết áp tâm thu và tăng huyết áp tâm trương đều là những yếu tố nguy cơ chính nguy hiểm và độc lập đối với đột quỵ
1.1.4 Hậu quả của đột quỵ não
Đột quỵ não là một bệnh lý nặng nề, diễn biến bệnh phức tạp Ngoài việc gây nên tỷ lệ tử vong cao, đột quỵ còn để lại gánh nặng lớn cho những người sống sót vì các di chứng sau giai đoạn cấp của bệnh Trong những người đã bị đột quỵ não, từ 20-50% có thể trở lại hoạt động nhưng từ 1/4 – 2/3 trở thành tàn phế hoặc giảm hoạt động [14]
Người bệnh đột quỵ thuộc loại đa tàn tật vì ngoài giảm khả năng vận động, người bệnh còn có nhiều di chứng khác kèm theo như rối loạn về giao tiếp ngôn ngữ, nuốt, rối loạn về thị giác, cảm giác, tri giác nhận thức [23] Những rối loạn này tồn tại và kéo dài gây ảnh hưởng đến quá trình hồi phục,
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 15làm tăng nhu cầu chăm sóc y tế, tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội
và đặc biệt ảnh hưởng rất lớn đến CLCS của người bệnh
1.2 Phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ
1.2.1 Mục đích Phục hồi chức năng sau đột quỵ
- Giúp cho người tàn tật khả năng tự chăm sóc, giao tiếp, vận động, hành
vi ứng xử, nghề nghiệp
- Phục hồi tối đa mức độ giảm khả năng thể chất, tâm lý, nghề nghiệp và
xã hội
- Ngăn ngừa các thương tật thứ cấp
- Tăng cường khả năng còn lại để hạn chế hậu quả của tàn tật
- Thay đổi thái độ, hành vi ứng xử của xã hội, chấp nhận người tàn tật là
thành viên bình đẳng của xã hội
- Cải thiện điều kiện môi trường, thay đổi kiến trúc cho phù hợp với chức
năng của người tàn tật để họ hội nhập xã hội như đường đi, công sở, nhà ở, nơi sinh hoạt văn hóa, du lịch, thể thao
- Tạo thuận lợi để người tàn tật được hội nhập, tái hội nhập xã hội đảm
bảo cho họ có CLCS tốt hơn
Mục tiêu chính và cơ bản nhất của PHCN là tăng cường CLCS của người bệnh đột quỵ Vấn đề CLCS phải là mục tiêu và mối quan tâm hàng đầu chứ không phải là độc lập chức năng hay giảm số ngày nằm viện điều trị Thực tế cho thấy một số người sau mắc đột quỵ hoàn toàn độc lập về chức năng và có khả năng thực hiện tốt các sinh hoạt hàng ngày nhưng lại không thực hiện đầy đủ được các chức năng thể chất, tâm lý Chương trình PHCN tiếp cận tổng hợp các vấn đề của người bệnh chứ không chỉ chú trọng tới một vài vấn đề tồn tại riêng biệt Mục tiêu này thường giúp cho người bệnh đạt được tối đa sự độc lập có thể về chức năng [17]
Trang 16Mặc dù có những cải thiện về tỷ lệ tử vong và tỷ lệ bệnh tật, người bệnh đột quỵ vẫn cần được tiếp cận các dịch vụ phục hồi chức năng có hiệu quả Phục hồi chức năng đột quỵ là một quá trình đa chiều, được thiết kế để tạo thuận cho sự phục hồi, hoặc thích nghi với sự thiếu hụt của các chức năng sinh lý tâm lý khi không thể đảo ngược hoàn toàn quá trình bệnh lý Phục hồi chức năng hướng đến việc cải thiện các hoạt động chức năng và sự tham gia trong xã hội và từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh [16]
1.2.2 Các thành viên nhóm phục hồi Đa chuyên ngành [2]
Một khía cạnh trung tâm của phục hồi đột quỵ là thông qua một tiếp cận nhóm được điều phối tốt Điều này có thể đạt được bởi một nhóm các chuyên gia y tế đa chuyên ngành
Nhóm Đa chuyên ngành kết hợp các kỹ năng về y học, điều dưỡng và các chuyên ngành sức khoẻ khác và có thể liên quan đến các dịch vụ xã hội, giáo dục và hướng nghiệp để lượng giá, điều trị, đánh giá lại định kỳ, lập kế hoạch xuất viện và theo dõi
Các tiếp cận của nhóm Đa chuyên ngành sử dụng các kỹ năng và kinh nghiệm của các chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực tiếp cận người bệnh theo quan điểm riêng trong các buổi tư vấn điều trị riêng biệt
Một tiếp cận nhóm Đa chuyên ngành tích hợp các tiếp cận mỗi ngành riêng biệt trong một buổi tư vấn điều trị duy nhất Nghĩa là việc hỏi bệnh, lượng giá, chẩn đoán, can thiệp và các mục tiêu xử lý ngắn hạn và dài hạn được thực hiện bởi nhóm, cùng với người bệnh, tại một thời điểm Người bệnh tham gia mật thiết đến bất kỳ cuộc thảo luận nào về tình trạng hoặc tiên lượng của họ và các kế hoạch chăm sóc cho họ
Một nhóm PHCN đột quỵ đa chuyên ngành cơ bản cần bao gồm các chuyên gia sau đây có kinh nghiệm về phục hồi chức năng đột quỵ:
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 17Cán bộ
Xã hội
Điều dưỡng
Bác sĩ Phục hồi
Kỹ thuật viên vật lý trị liệu
Kỹ thuật viên Ngôn ngữ trị liệu Kỹ thuật viên
hoạt động trị liệu
Chuyên gia tâm lý
Kỹ thuật viên chỉnh hình
Chuyên gia dinh dưỡng
Sơ đồ 1.2 Các thành viên nhóm phục hồi
Trang 18Vai trò của nhóm phục hồi Đa chuyên ngành [55]:
- Bác sĩ: là một thành viên của nhóm đa chuyên ngành cho các người
bệnh đột quỵ, các bác sĩ PHCN và các bác sĩ khác (bác sĩ thần kinh, bác sĩ phẫu thuật thần kinh ) phối hợp chăm sóc y tế toàn diện, hỗ trợ những người bệnh đột quỵ và gia đình họ trong việc lựa chọn và điều chỉnh điều trị và
nhằm phòng ngừa các biến chứng và tái phát của đột quỵ
- Điều dưỡng: các điều dưỡng thực hiện lượng giá điều dưỡng toàn diện
và giúp xử lý các vấn đề liên quan đến chăm sóc người bệnh đột quỵ bao gồm theo dõi người bệnh, nuốt, di chuyển, kiểm soát tiểu tiện, chăm sóc da/loét ép, kiểm soát đau và phòng ngừa các biến chứng Các điều dưỡng cũng thực hiện chăm sóc người bệnh nội trú 24 giờ và hỗ trợ phối hợp chăm sóc, nâng đỡ, lập
kế hoạch xuất viện và tư vấn giáo dục sức khỏe người bệnh/gia đình/người chăm sóc Điều dưỡng có thể thực hiện chăm sóc đột quỵ chuyên khoa trong giai đoạn cấp tính, giai đoạn PHCN và ở cộng đồng Điều dưỡng hoạt động trong một môi trường làm việc đa ngành cho phép chia sẻ và phối hợp thực hành lâm sàng Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh số lượng nhân lực
y tế tại Việt Nam, khi tất cả thành viên cần thiết của nhóm đa chuyên ngành vẫn chưa thể đáp ứng đầy đủ
- Kỹ thuật viên Vật lý trị liệu
+ Vật lý trị liệu là một chuyên ngành chăm sóc sức khoẻ làm việc với người bệnh để xác định và gia tăng tối đa khả năng di chuyển và chức năng của
họ, vận động chức năng là một phần quan trọng của sức khoẻ (Hiệp hội Vật lý trị liệu được hành nghề Anh, 2010) Kỹ thuật viên tập trung vào "tăng cường khả năng vận động tối đa nhằm mục đích phòng ngừa, chữa trị và phục hồi người bệnh hoặc nạn nhân để có thể cải thiện sức khoẻ và khả năng của họ"
+ Trong PHCN đột quỵ, vật lý trị liệu sử dụng các can thiệp thể chất có
kỹ năng để hồi phục vận động chức năng, giảm khiếm khuyết và hạn chế hoạt
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 19động và gia tăng tối đa CLCS sau đột quỵ Vật lý trị liệu cũng hỗ trợ điều trị các vấn đề hô hấp và cơ xương (ví dụ như đau vai) và phòng ngừa và điều trị các biến chứng sau đột quỵ Các kỹ thuật viên vật lý trị liệu (KTV VLTL) thường tham gia vào chăm sóc và phục hồi các người bệnh đột quỵ ở tất cả các giai đoạn (cấp tính và mạn tính) trong nhiều hoàn cảnh bao gồm phòng cấp cứu, đơn vị chăm sóc tích cực (ICU), đơn vị đột quỵ, khoa nội tổng hợp
và nội thần kinh, khoa PHCN, người bệnh ngoại trú tại bệnh viện, các phòng khám tư và tại nhà của người bệnh
+ KTV VLTL lập kế hoạch và thực hiện điều trị cho từng người bệnh, dựa trên lượng giá các vấn đề riêng của người bệnh, thiết lập và hoàn thành các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn có liên quan sau khi đã thảo luận với người bệnh, người chăm sóc và các thành viên khác trong nhóm
- Kỹ thuật viên Hoạt động trị liệu
+ Các kỹ thuật viên hoạt động trị liệu (KTV HĐTL) hoạt động với những người bệnh đột quỵ nhằm tối ưu khả năng tham gia và độc lập của người bệnh với tất cả các hoạt động hàng ngày (bao gồm tự chăm sóc như tắm rửa, mặc quần áo và ăn uống, kết hợp với giải trí và sinh kế) Điều này có thể đạt được một cách trực tiếp thông qua gia tăng sự hồi phục chức năng (bao gồm cả chức năng vận động, nhận thức hoặc nhận cảm) hoặc bằng thay đổi thích ứng nhiệm vụ hoặc môi trường Các KTV HĐTL hoạt động trong cả giai đoạn cấp
và giai đoạn PHCN và tiến hành can thiệp dựa trên lượng giá các vấn đề riêng của mỗi người bệnh
- Kỹ thuật viên Ngôn ngữ trị liệu
+ KTV Ngôn ngữ trị liệu là một phần không thể tách rời của nhóm chăm sóc đột quỵ Lĩnh vực chuyên môn của họ là lượng giá và xử lý các vấn đề về nuốt (khó nuốt) và các rối loạn giao tiếp thường xảy ra sau đột quỵ
Trang 20+ KTV Ngôn ngữ trị liệu cần tham gia vào chăm sóc điều trị đột quỵ ở tất
cả các giai đoạn trong quá trình hồi phục nhưng việc lượng giá và điều trị khó khăn về nuốt cần được bắt đầu càng sớm càng tốt sau khởi phát cấp Họ cần phối hợp chặt chẽ với tất cả các nhân viên y tế có liên quan khác và người bệnh đột quỵ cùng với gia đình/người chăm sóc
+ Trong trường hợp không có KTV Ngôn ngữ trị liệu, vai trò cơ bản của KTV Ngôn ngữ trị liệu nên được thực hiện phối hợp bởi các thành viên còn lại của nhóm đa chuyên ngành sau khi họ đã được đào tạo phù hợp
- Các kỹ thuật viên chỉnh hình
+ Kỹ thuật viên chỉnh hình làm việc cùng với KTV VLTL/HĐTL để lượng giá người bệnh đột quỵ nếu cần một loại dụng cụ chỉnh hình cụ thể Dụng cụ này có thể là nẹp để duy trì/gia tăng tầm vận động/tạo thuận vận động ở một khớp, trợ giúp đi lại (ví dụ dụng cụ chỉnh hình cổ bàn chân để nâng đỡ bàn chân) và hỗ trợ vận động chức năng (ví dụ gắn vào một cái thìa
để giúp người bệnh tự ăn) Cần theo dõi chặt chẽ dụng cụ nhằm đảm bảo dụng
cụ được lắp đặt phù hợp, dễ chịu và hoàn thành mục đích của nó Các dụng cụ chỉnh hình như vậy có thể được sản xuất tại chỗ hoặc được làm sẵn
+ Ở Việt Nam thường kỹ thuật viên chỉnh hình làm việc ở khoa/bệnh viện PHCN/phòng khám tư nhân/phi chính phủ hoặc cơ sở sản xuất tư nhân
- Nhân viên Xã hội
+ Nhân viên xã hội hỗ trợ, tư vấn và cung cấp thông tin cho những người bệnh đột quỵ và gia đình của họ về những lựa chọn để tối ưu sự thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội Họ cũng có thể chịu trách nhiệm tổ chức các nguồn lực của cộng đồng, thực hiện phương pháp điều trị PHCN đơn giản ở cộng đồng và trợ giúp người khuyết tật tiếp cận các mạng lưới an sinh xã hội + Nhân viên xã hội hoạt động phối hợp chặt chẽ với từng thành viên trong nhóm đa chuyên ngành và đặc biệt quan tâm đến báo cáo của các kỹ
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 21thuật viên khi nghĩ về các nhu cầu của người bệnh Các nhân viên xã hội tham gia ở các giai đoạn khác nhau của quá trình phục hồi, tùy thuộc vào những vấn đề mà người bệnh, người chăm sóc và gia đình gặp phải Một số người bệnh cần được tư vấn và thông tin từ nhân viên xã hội sớm trong quá trình chăm sóc vì các vấn đề về tài chính, mối quan hệ hoặc nhà ở
+ Nếu không có nhân viên xã hội, vai trò này có thể được thực hiện bởi một cộng tác viên được đào tạo
- Nhà tâm lý học lâm sàng
+ Nhiều người bệnh bị đột quỵ nặng có thay đổi về cảm xúc, tính cách và khả năng nhận thức suy giảm một phần Những vấn đề này có thể làm cho người thân/gia đình lo lắng và là một trong những nguyên nhân gây các rối loạn liên quan đến căng thẳng
+ Nhà tâm lý học lâm sàng làm việc với những người bệnh đột quỵ bị các khiếm khuyết về trí tuệ/nhận thức, khó khăn về hành vi và hoạt động hàng ngày, các vấn đề về cảm xúc và quan hệ giữa các cá nhân Họ cũng làm việc với gia đình/người chăm sóc để điều chỉnh và hiểu về các khiếm khuyết về nhận thức của người thân của người bệnh
- Chuyên viên dinh dưỡng
+ Các chuyên viên dinh dưỡng làm việc với những người bệnh đột quỵ và gia đình/người chăm sóc cần điều trị dinh dưỡng y học bao gồm chế độ ăn uống cần thay đổi kết cấu và cho ăn qua ống thông cũng như những người có nguy cơ hoặc bị suy dinh dưỡng Họ cũng giáo dục và tư vấn để thay đổi các yếu tố nguy cơ và xử lý các bệnh kèm như những người bệnh có nhu cầu chế
độ ăn uống đa dạng (ví dụ như đái tháo đường, tăng lipid máu, cao huyết áp, khó nuốt…)
+ Nếu không có chuyên viên dinh dưỡng chính thức thì bác sĩ hoặc điều dưỡng được huấn luyện chuyên môn có thể đảm nhiệm vai trò này
Trang 221.2.3 Chăm sóc lấy người bệnh và gia đình làm trung tâm
Thực hành tốt nhất trong cung cấp dịch vụ cho người bệnh đột quỵ và gia đình họ là áp dụng các tiếp cận lấy người bệnh và gia đình làm trung tâm
Điều trị và chăm sóc cần xét đến các nhu cầu và sở thích của cá nhân Người bệnh nên có cơ hội đưa ra những quyết định khi đã được cung cấp đầy
đủ thông tin về phương pháp chăm sóc và điều trị của họ, kết hợp với các nhân viên y tế Nếu người bệnh đồng ý, gia đình và người chăm sóc nên có cơ hội tham gia vào các quyết định về điều trị và chăm sóc Gia đình và người chăm sóc cũng cần được cung cấp thông tin và hỗ trợ khi cần
Cách tiếp cận lấy người bệnh làm trung tâm nên là cơ sở cho quá trình thiết lập mục tiêu Các mục tiêu điều trị dễ đạt được hơn nếu người bệnh tham gia trong quá trình thiết lập chúng Hơn nữa, bằng chứng cho thấy quá trình thiết lập mục tiêu như vậy có một tác dụng điều trị tích cực, khuyến khích người bệnh đạt được các mục tiêu của họ [36]
Thực hành lấy người bệnh làm trung tâm đặt cá nhân người bệnh ở trung tâm và nhấn mạnh việc xây dựng mối quan hệ đối tác với người bệnh đột quỵ và gia đình họ, xem họ là những thành viên quan trọng của nhóm phục hồi Tiếp cận này nhấn mạnh bốn khía cạnh:
- Mỗi cá nhân là duy nhất
- Mỗi cá nhân là một chuyên gia trong cuộc sống của chính họ
- Quan hệ đối tác là chìa khóa
- Tập trung vào các điểm mạnh của cá nhân
Thực hành lấy người bệnh làm trung tâm trao quyền và sự kiểm soát cho người bệnh và gia đình họ Nó điều chỉnh các hỗ trợ để đạt được các mục tiêu và tương lai của người đó và nhằm mục đích hòa nhập xã hội, đạt được các vai trò có giá trị và sự tham gia vào cộng đồng
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 23Thực hành lấy gia đình làm trung tâm áp dụng một triết lý tương tự với thực hành lấy người bệnh làm trung tâm và hơn thế nữa, thừa nhận rằng khi làm việc với người bệnh đột quỵ, gia đình và người chăm sóc là những người
ra quyết định quan trọng Thực hành lấy gia đình làm trung tâm bao gồm một tập hợp các giá trị, thái độ và cách tiếp cận các dịch vụ cho người bệnh đột quỵ và gia đình của họ Gia đình làm việc với những người cung cấp dịch vụ
để đưa ra những quyết định sau khi được cung cấp đầy đủ thông tin về các dịch vụ và hỗ trợ mà người bệnh và gia đình nhận được Trong tiếp cận lấy gia đình làm trung tâm, những điểm mạnh và nhu cầu của tất cả các thành viên trong gia đình và người chăm sóc được xem xét Gia đình xác định các
ưu tiên của can thiệp và dịch vụ Tiếp cận này dựa trên tiền đề rằng các gia đình biết điều gì tốt nhất cho người bệnh, rằng các kết quả hồi phục tối ưu xảy
ra trong một môi trường nâng đỡ của gia đình và cộng đồng và rằng mỗi gia đình là duy nhất [2]
1.2.4 Vai trò của Điều dưỡng trong công tác chăm sóc phục hồi chức năng người bệnh đột quỵ não
Chăm sóc người bệnh toàn diện là sự chăm sóc của người hành nghề và gia đình người bệnh, lấy người bệnh làm trung tâm, đáp ứng các nhu cầu điều trị, sinh hoạt hàng ngày nhằm bảo đảm an toàn, chất lượng và hài lòng của người bệnh Tại bệnh viện, Điều dưỡng là lực lượng đông nhất, người tiếp xúc thường xuyên nhất và trực tiếp nhất với người bệnh, do vậy vai trò của người điều dưỡng trong công tác chăm sóc phục hồi chức năng cải thiện CLCS cho người bệnh đột quỵ não là vô cùng quan trọng Thực hiện các kỹ thuật chăm sóc từ cơ bản đến phức tạp nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh từ chăm sóc vệ sinh cá nhân, chăm sóc về hô hấp, tuần hoàn, bài
tiết, vận động, dinh dưỡng, tinh thần
Trang 24Các nhiệm vụ chuyên môn, can thiệp của điều dưỡng trong công tác chăm sóc người bệnh tại bệnh viện theo hướng dẫn tại Thông tư 31/2021/TT-BYT ngày 28/12/2021 của Bộ Y tế ban hành Thông tư quy định hoạt động
Điều dưỡng trong bệnh viện bao gồm [3]:
- Chăm sóc hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt: theo dõi, can thiệp nhằm đáp
ứng nhu cầu về hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt theo chẩn đoán điều dưỡng và chỉ định của bác sĩ; kịp thời báo bác sĩ và phối hợp xử trí tình trạng hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt bất thường của người bệnh
- Chăm sóc dinh dưỡng: thực hiện hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện chế
độ dinh dưỡng phù hợp theo chỉ định của bác sĩ; theo dõi dung nạp, hài lòng
về chế độ dinh dưỡng của người bệnh để báo cáo bác sĩ và người làm dinh dưỡng kịp thời điều chỉnh chế độ dinh dưỡng; thực hiện trách nhiệm của điều dưỡng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 13 Thông tư số 18/2020/TT-BYT ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về hoạt động dinh dưỡng trong bệnh viện
- Chăm sóc giấc ngủ và nghỉ ngơi: thiết lập môi trường bệnh phòng yên
tĩnh, ánh sáng phù hợp vào khung giờ ngủ, nghỉ của người bệnh theo quy định; hướng dẫn người bệnh thực hiện các biện pháp để tăng cường chất lượng giấc ngủ như thư giãn, tập thể chất nhẹ nhàng phù hợp tình trạng sức khỏe, tránh các chất kích thích, tránh căng thẳng, ngủ đúng giờ; theo dõi, thông báo kịp thời cho bác sĩ khi có những rối loạn giấc ngủ của người bệnh
để hỗ trợ và phối hợp hỗ trợ người bệnh kịp thời
- Chăm sóc vệ sinh cá nhân: thực hiện hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện
vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể, kiểm soát chất tiết, mặc và thay đồ vải cho người bệnh theo phân cấp chăm sóc
- Chăm sóc tinh thần: thiết lập môi trường an toàn, thân thiện, gần gũi,
chia sẻ, động viên người bệnh yên tâm phối hợp với các chức danh chuyên
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 25môn trong chăm sóc; theo dõi, phát hiện các nguy cơ không an toàn, các biểu hiện tâm lý tiêu cực, phòng ngừa các hành vi có thể gây tổn hại sức khỏe cho người bệnh để kịp thời thông báo cho bác sĩ; tôn trọng niềm tin, tín ngưỡng và tạo điều kiện để người bệnh thực hiện tín ngưỡng trong điều kiện cho phép và phù hợp với quy định
- Thực hiện các quy trình chuyên môn kỹ thuật: thực hiện thuốc và các
can thiệp chăm sóc điều dưỡng theo chỉ định của bác sĩ và trong phạm vi chuyên môn của điều dưỡng trên nguyên tắc tuân thủ đúng các quy định, quy trình chuyên môn kỹ thuật chăm sóc điều dưỡng
- Phục hồi chức năng cho người bệnh: phối hợp với bác sĩ, kỹ thuật viên
PHCN và các chức danh chuyên môn khác để lượng giá, chỉ định, hướng dẫn, thực hiện kỹ thuật phục hồi chức năng cho người bệnh phù hợp với tình trạng bệnh lý Thực hiện một số kỹ thuật phục hồi chức năng theo quy định để giúp người bệnh phát triển, đạt được, duy trì tối đa hoạt động chức năng và giảm khuyết tật
- Quản lý người bệnh: lập hồ sơ quản lý bằng bản giấy hoặc bản điện tử
và cập nhật hằng ngày cho tất cả người bệnh nội trú, ngoại trú tại bệnh viện; thực hiện bàn giao đầy đủ số lượng, các vấn đề cần theo dõi và chăm sóc người bệnh, đặc biệt giữa các ca trực
- Truyền thông, giáo dục sức khỏe: phối hợp với bác sĩ và các chức danh
chuyên môn khác tư vấn, hướng dẫn các kiến thức về bệnh, cách tự chăm sóc, theo dõi, hợp tác với nhân viên y tế trong chăm sóc, phòng bệnh; các quy định
về an toàn người bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, dinh dưỡng, phục hồi chức năng; hướng dẫn hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện đầy đủ các quy định, nội quy trong điều trị nội trú, chuyển khoa, chuyển viện và ra viện
Các di chứng do đột quỵ không chỉ là gánh nặng của bản thân người bệnh và gia đình họ mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng Do đó, để phòng
Trang 26ngừa và giảm tỷ lệ tai biến, biến chứng, góp phần giúp người bệnh có thể tái hoà nhập cộng đồng, cải thiện chất lượng cuộc sống sau đột quỵ thì người bệnh luôn cần được chăm sóc PHCN sớm và toàn diện ngay từ giai đoạn sớm của bệnh
1.3 Chất lượng cuộc sống
1.3.1 Khái niệm về chất lượng cuộc sống
Sức khỏe được định nghĩa bởi Tổ chức Y tế Thế giới là một tình trạng không chỉ không có bệnh tật, khuyết tật mà là sự khỏe mạnh bao gồm cả thể chất, tinh thần và xã hội Đánh giá sức khỏe và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe không chỉ bao gồm tần suất xuất hiện bệnh, mức độ bệnh mà còn là thước đo về sự lạc quan, vui vẻ Điều này được đánh giá bằng cách đánh giá
sự cải thiện CLCS của người bệnh CLCS được đánh giá bởi các yếu tố thể chất, tinh thần, xã hội và thông qua sự đánh giá gián tiếp về sức khỏe của con người
Theo Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa CLCS là nhận thức của một cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống trong bối cảnh của nền văn hóa và hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đến các mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ CLCS được xem là một khái niệm rộng rãi, đa chiều và phức tạp gồm bốn vấn đề sức khỏe thể chất, sức khỏe chức năng, phương diện tâm lý và xã hội [51]
- Sức khỏe thể chất là những triệu chứng liên quan đến bệnh tật
- Sức khỏe chức năng liên quan đến tự chăm sóc, di chuyển, khả năng thể hiện vai trò trong công việc, gia đình
- Tâm lý: là những chức năng nhận thức, tình cảm, nhân cách và sự hài lòng về cuộc sống
- Gia đình - xã hội: vai trò của người bệnh trong gia đình và xã hội
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 271.3.2 Đánh giá CLCS người bệnh
Có thể nói CLCS của người bệnh trong việc đánh giá tác dụng của các liệu pháp điều trị không có gì là mới Trong thực tế hàng ngày, người chăm sóc đánh giá CLCS của người bệnh từ lâu đã trở thành một thói quen thường ngày, chẳng hạn như công việc đi buồng để nắm được tình hình người bệnh từ những vấn đề về tình trạng bệnh lý đang có đến tinh thần người bệnh hay những sinh hoạt cá nhân khi người bệnh nằm viện
Ngày nay, người ta đặc biệt chú ý đến việc cải thiện chất lượng sống bằng cách giảm tỷ lệ mắc bệnh và tăng cường thể chất, tinh thần và xã hội [47] Xu hướng hiện nay trong các thử nghiệm điều trị đặc biệt là trong các bệnh mãn tính và việc xem xét các hiệu quả điều trị, cho dù là tâm lý xã hội hay CLCS Điều này bao gồm việc phát triển các mô hình đánh giá can thiệp
có tính đến một sự cân bằng mang cả tính định tính và định lượng về sự thành công trong điều trị
Một trong những mục tiêu của việc đánh giá CLCS là cung cấp phản hồi cho thầy thuốc về các kết quả có ý nghĩa đối với người bệnh Nếu các bác
sĩ hiểu rõ hơn về tác động đến chất lượng sống từ các sản phẩm mà họ kê đơn,
họ sẽ có thể lựa chọn các sản phẩm theo tiêu chí cụ thể cho từng người bệnh của mình tốt hơn
Việc đánh giá CLCS là điều cần thiết trong việc chăm sóc và điều trị người bệnh, đặc biệt là đối với các bệnh lý chức năng Chiều hướng này cũng
là một mối quan tâm trong lĩnh vực nghiên cứu lâm sàng trong bối cảnh đánh giá các kỹ thuật, phương pháp điều trị chăm sóc hoặc các tác động kinh tế y
tế Quan sát trên thực tế cho thấy hai người bệnh có cùng mức độ bệnh tật như nhau nhưng lại có những phản ứng khác nhau khi phải đối mặt với tình trạng bệnh của mình, do vậy các nhà lâm sàng, nhà quản lý y tế cần quan tâm sâu
Trang 28sắc tới lĩnh vực đo lường CLCS và sự kết hợp một cách có hiệu quả của việc đánh giá về lâm sàng và đánh giá về CLCS
Các thang đánh giá CLCS tổng quát cho thấy tầm quan trọng hơn đối với khía cạnh chung của sức khỏe, sự hài lòng của người bệnh và nói chung hơn là khám phá các khía cạnh nhất định liên quan đến hoạt động tâm lý và xã hội của cá nhân (nhận thức, vai trò) Chúng bao gồm các khía cạnh rộng hơn
về tình trạng chức năng, hạnh phúc và nhận thức tổng thể về sức khỏe Các thang đánh giá chuyên biệt được xây dựng cho các nhóm hoặc quần thể chẩn đoán được xác định rõ, thường với mục đích đo lường sự thay đổi theo thời gian
1.3.3 Phân loại quốc tế về hoạt động chức năng, khuyết tật, sức khỏe và mối liên quan với chất lượng cuộc sống [2], [25]
Phục hồi chức năng có thể được tóm tắt trong mô hình Phân loại quốc
tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khoẻ ICF (International Classification of Functioning, Disability and Health) do WHO xây dựng (2001) ICF khái niệm hoá mức độ hoạt động chức năng của một cá nhân là một sự tương tác động giữa tình trạng sức khoẻ của họ với các yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân Đây là một mô hình sinh lý- tâm lý- xã hội, dựa trên sự tích hợp của các
mô hình xã hội và y học về khuyết tật Tất cả các thành phần của khuyết tật đều quan trọng và bất kỳ thành phần nào cũng có thể tương tác với thành phần khác Cần phải xem xét yếu tố môi trường vì chúng ảnh hưởng đến tất cả và
có thể cần phải được thay đổi
Trong mô hình ICF, CLCS liên quan đến sức khỏe có thể được xem như quan niệm tổng quát, hợp nhất tất cả những thành phần của ICF ICF có thể được sử dụng như một cấu trúc trong chuyên ngành PHCN để cải thiện giao tiếp giữa người bệnh và người thầy thuốc Những nghiên cứu trước đây
đã tìm thấy rằng ICF có thể được sử dụng trong đánh giá để mô tả những ảnh
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 29hưởng của đột quỵ não đến những chức năng, những hoạt động, sự tham gia
và sức khỏe và có thể mở rộng tầm nhìn chăm sóc điều dưỡng Để đạt được tiếp cận người bệnh là trung tâm người thầy thuốc không chỉ đơn thuần quan sát bên ngoài mà còn là những kinh nghiệm về sức khỏe chủ quan, về triển vọng và CLCS của người bệnh
Những thành phần liên quan khác nhau trong mô hình ICF bao gồm:
- Những cấu trúc và chức năng cơ thể khiếm khuyết như: chức năng nhận thức, trầm cảm…
- Hoạt động hạn chế: vận động, tự chăm sóc
- Sự tham gia hạn chế: giao tiếp, hoạt động xã hội, sở thích
- Những yếu tố môi trường: kế hoạch xuất viện, thời gian nằm viện, giúp đỡ của người nhà người bệnh, sự liên kết với dịch vụ chăm sóc sức khỏe
và hệ thống an sinh xã hội tại cộng đồng
- Những yếu tố cá nhân: tuổi, giới, trình độ văn hóa, sắp xếp cuộc sống ICF nên được sử dụng như là cấu trúc khung để đánh giá nhu cầu, thiết lập mục tiêu và đánh giá kết quả Đánh giá nhu cầu chăm sóc sức khỏe người bệnh bao gồm nhu cầu xác định bởi người thầy thuốc và nhu cầu xác định bởi người bệnh Qua đo lường CLCS có thể phản ánh nhận thức của người bệnh Chức năng xã hội, tâm lý và thể chất được bao gồm trong đánh giá CLCS Đánh giá nhu cầu và kết quả liên quan đến CLCS và chất lượng chăm sóc
1.4 Tình hình các nghiên cứu liên quan trên thế giới và việt nam
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Do đột quỵ não ảnh hưởng đến thể chất, nhận thức, giao tiếp, tình cảm,
xã hội, nghề nghiệp, kinh tế theo cách khác nhau nên cách thiết kế nghiên cứu
và phương pháp nghiên cứu cũng có sự đa dạng và khác nhau Mặt khác, có nhiều yếu tố liên quan đến kết quả PHCN của người bệnh như mức độ vận
Trang 30động, khả năng tái thích nghi, khả năng tiếp thu các bài tập, các trợ giúp từ phía gia đình và xã hội
Nghiên cứu của Brandstater ME cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả PHCN và CLCS người bệnh bao gồm [26]:
- Tuổi cao
- Có các yếu tố nguy cơ kèm theo như đái tháo đường, bệnh tim
- Khiếm khuyết thần kinh nặng khi vào viện
- Rối loạn cơ tròn
- Chỉ số Barthel tại thời điểm đột quỵ xảy ra thấp
- Thời gian bắt đầu tập luyện PHCN muộn
Kết quả PHCN cho những người bệnh sau đột quỵ được đánh giá theo
nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm tỷ lệ tử vong, mức độ khiếm khuyết chức năng, thời gian nằm viện, chi phí điều trị, địa điểm khi ra viện, mức độ giảm khả năng, tàn tật, tái hội nhập xã hội và CLCS Đánh giá CLCS người bệnh sau đột quỵ có vai trò quan trọng trong đánh giá hiệu quả của can thiệp y tế nói chung và chăm sóc điều trị PHCN nói riêng
Carod và CS cho thấy hai yếu tố dự báo liên quan CLCS sau TBMMN
là trầm cảm và tình trạng chức năng [27]
Năm 2006, Naess và CS nhận thấy CLCS những người sau TBMMN rất thấp nhất là về mặt thể chất Các tác giả nhấn mạnh, can thiệp sớm trầm cảm, các thiếu hụt thể chất, mệt mỏi góp phần cải thiện CLCS sau TBMMN [51]
Trong chiến lược điều trị toàn diện, việc cải thiện CLCS ở những người bệnh sau đột quỵ được nhìn nhận là hết sức cần thiết, như là một phần không thể thiếu của công tác điều trị, từ đó các nghiên cứu về sự liên quan của các yếu tố có tính quyết định đến CLCS của những người bệnh sống sót sau đột quỵ càng được chú ý nhiều hơn Trong một nghiên cứu về người bệnh nhồi
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 31máu não ở Auckland đã quan sát thấy mặc dù có những khuyết tật về thể chất, song người bệnh nhồi máu não dường như đã có những điều chỉnh tâm lý rất tích cực đối với bệnh của họ Ngược lại, một nghiên cứu tại Canada cho thấy
có sự suy giảm đa chiều ở tất cả các khía cạnh của cuộc sống, ngay cả khi người bệnh đã được xem xét là hồi phục vẫn còn chức năng tay cũng có thể tham gia các hoạt động sinh hoạt [32]
Đa số các nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ khá cao người bệnh sống sót sau TBMMN đạt được độc lập di chuyển và tự chăm sóc bản thân, nhưng tỷ lệ tái hội nhập xã hội chưa đạt được mức độ tương xứng Nghiên cứu của Patel và
CS năm 2006 cho thấy sau 3 năm mắc TBMMN, 26% giảm chức năng mức độ vừa và nặng, 51% tàn tật, điểm trung bình CLCS về mặt thể chất thấp nhưng điểm trung bình CLCS về mặt tâm trí tương đối cao [53]
Năm 2008, Manimmanakorn và CS nghiên cứu CLCS những người sau TBMMN não ở Thái Lan thấy không có sự khác biệt về CLCS giữa những người thành thị và nông thôn Tác giả cũng thấy PHCN có tác dụng nâng cao CLCS sau TBMMN và chỉ ra yếu tố liên quan đến CLCS sau TBMMN là tuổi [46], [48]
1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Năm 2012, nghiên cứu của tác giả Cao Phi Phong và Trần Trung Thành cho thấy chất lượng sống của người bệnh cải thiện đáng kể ở tháng thứ 3 sau đột quỵ có sự cải thiện đáng ghi nhận về trạng thái chức năng và chất lượng sống của người bệnh ở thời điểm tháng thứ 3 sau đột quỵ, nhưng có sự gia tăng tỉ lệ trầm cảm Chất lượng sống bị ảnh hưởng bởi tuổi, mức độ khiếm khuyết theo NIHSS, Barthel Index Chất lượng sống thấp đáng kể ở người bệnh trầm cảm, không hoặc ít tập vận động và không trở lại làm việc hiệu quả [18] Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Tấn Dũng đánh giá CLCS của người bệnh sau TBMMN theo thang điểm Stroke Specific Quality of Life (SS-QOL)
Trang 32trên bốn lĩnh vực: sức khỏe thể chất, sức khỏe chức năng, lĩnh vực tâm lý và gia đình - xã hội cho kết quả: Điểm trung bình các mục về sức khỏe thể chất, sức khỏe chức năng, tâm lý, gia đình và xã hội, và CLCS tổng quát của thang điểm SS-QOL khi vào viện tương ứng 0,8 ± 0,35; 1,77 ± 0,98; 2,63 ± 1,31; 2,05 ± 1,05; 2,27 ± 0,99 Điểm trung bình của lĩnh vực xã hội thấp hơn so với các lĩnh vực thể chất, chức năng và tâm lý [6]
Năm 2015 theo công bố của Nguyễn Giang Hòa và CS qua nghiên cứu trên 182 người bệnh đột quỵ tại khoa Nội Thần kinh - Bệnh viện Quân Y 7, tỷ
lệ người bệnh nhồi máu não chiếm 88,46% Các biến chứng thường gặp là viêm phổi, trào ngược thực quản dạ dày, viêm đường tiết niệu (biến chứng sau đặt sonde tiểu dài ngày) Người bệnh nếu được phục hồi chức năng sớm sau
24 giờ nhập viện sẽ cải thiện được tình trạng sức khỏe trước và sau khi xuất viện [10]
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh đột quỵ nhồi máu não điều trị nội trú tại Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh được chẩn đoán xác định đột quỵ nhồi máu não dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng của bác sĩ
- Người bệnh nằm viện điều trị nội trú tối thiểu 4 tuần tại 3 khoa: khoa Nội, khoa Lão khoa, khoa Y học cổ truyền
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh hạn chế khả năng giao tiếp như giảm thính lực, sa sút trí tuệ
- Người bệnh mắc các bệnh lý tổn thương thần kinh khác như viêm não, chấn thương sọ não,…
- Người bệnh rối loạn ngôn ngữ nặng, không có khả năng hoàn thành các test nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2022 đến tháng 12/2022
- Địa điểm nghiên cứu: tại 03 khoa là Khoa Lão khoa, Khoa Nội và Khoa Y học cổ truyền của Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp, đánh giá so sánh trước sau trên một nhóm đối tượng
Trang 342.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ, dựa vào báo cáo năm 2021 có gần 200 người bệnh đột quỵ nhồi máu não đến điều trị tại bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội,
do vậy chọn mẫu toàn bộ 92 người bệnh đột quỵ não đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn đang nằm điều trị nội trú tại 03 khoa: Lão khoa, khoa Nội và Khoa Y học cổ truyền; trong thời gian thu thập số liệu (từ tháng 6/2022 đến tháng 12/2022) để thực hiện nghiên cứu này
2.4 Nội dung can thiệp phục hồi chức năng
Phát triển mô hình chăm sóc PHCN toàn diện, với sự tham gia của các thành phần như: bác sĩ, điều dưỡng, dinh dưỡng, kỹ thuật viên vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, sử dụng các dụng cụ trợ giúp Tại 3 khoa chúng tôi thực hiện nghiên cứu, người bệnh khi vào điều trị tại viện được các bác sĩ thăm khám, chẩn đoán, hội chẩn và ra các chỉ định điều trị Trong quá trình điều trị tại viện có sự trao đổi phối hợp kiểm soát chặt chẽ của nhóm: bác sĩ điều trị, bác sĩ y học cổ truyền, điều dưỡng - kĩ thuật viên, dinh dưỡng phối hợp để lên kế hoạch can thiệp PHCN phù hợp với từng tình trạng người bệnh cụ thể
Người bệnh được can thiệp chương trình PHCN sau khi nhập viện, 2 buổi/ngày x 5 ngày/tuần
Chương trình PHCN can thiệp cho người bệnh đột quỵ não bao gồm các lĩnh vực [4], [8], [15], [17], [29], [42]:
- Chăm sóc Điều dưỡng:
+ Điều dưỡng viên thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh bao gồm: thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng, các chăm sóc cơ bản như
hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, đảm bảo về giấc ngủ, vệ sinh cá nhân, chăm sóc
về tinh thần
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 35+ Thực hiện các y lệnh về thuốc, can thiệp điều dưỡng theo chỉ định của bác sĩ
+ Chăm sóc dự phòng loét, thay đổi tư thế 2h một lần, phòng ngừa nhiễm khuẩn đường tiết niệu
+ Tư vấn giáo dục sức khỏe hướng dẫn người bệnh và người nhà phối hợp trong công tác chăm sóc PHCN các thời điểm lúc vào viện, trong quá trình điều trị và trước khi ra viện
+ Thường xuyên theo dõi, hỗ trợ động viên người bệnh, gia đình Tham gia các buổi sinh hoạt nhóm người bệnh một tuần một lần, giúp cho người bệnh có cơ hội giao lưu chia sẻ với các người bệnh khác
- Dinh dưỡng:
+ Người bệnh được chuyên khoa dinh dưỡng khám và tư vấn, hướng dẫn, xây dựng chế độ ăn và loại thức ăn phù hợp với tình trạng bệnh, chú ý khả năng nuốt của người bệnh, dự phòng béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường…, thực hiện các chế độ ăn bệnh lý như đái tháo đường, tăng huyết áp,
mỡ máu tăng…
- Vận động trị liệu: người bệnh được can thiệp vận động với kỹ thuật viên, bao gồm: các bài tập theo tầm vận động (tập vận động thụ động, vận động có trợ giúp, ), các bài tập thăng bằng (tập ngồi và tập đứng thăng bằng tĩnh và động), tập dáng di, tùy theo tình trạng liệt của người bệnh Đánh giá đầy đủ về nhu cầu cụ thể của từng người bệnh: trương lực cơ, mẫu vận động, hoạt động chức năng và mất hoạt động chức năng để chọn kỹ thuật thích hợp theo từng giai đoạn tiến triển của liệt nửa người sau đột quỵ Thời gian 20 phút/kỹ thuật, ngày 2 lần
Trang 36- Hoạt động trị liệu:
+ Giúp người bệnh hoàn thành các hoạt động chức năng hàng ngày như hoạt động tự chăm sóc, sinh hoạt thường nhật, vui chơi, tham gia lao động sản xuất và nghỉ ngơi
+ Những hoạt động chức năng chi trên vào các hoạt động sinh hoạt hàng ngày càng sớm càng tốt
+ Ngay khi người bệnh có khả năng kiểm soát các cử động đơn giản với tay liệt, nên bắt đầu tập luyện phối hợp hai tay
+ Khả năng tập trung chú ý, định hướng, trí nhớ, mô tả, sắp xếp đúng vị trí, kết hợp đúng các phần để hoàn thành các hoạt động tự chăm sóc
+ Khả năng sử dụng được một số kỹ thuật bù trừ và các bước thực hiện các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày và công việc trước đây
+ Tiếp cận tái rèn luyện cảm giác: kích thích cảm giác tăng dần, cảm thụ bản thể, cảm giác nhận thức vật, bù trừ mất cảm giác thông qua nhìn và thích nghi với môi trường
+ Thực hiện 20 phút/lần, ngày 1 lần
- Ngôn ngữ trị liệu:
+ Đánh giá và cải thiện những rối loạn về ngôn ngữ, giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ như viết, đọc và kiểm soát những rối loạn về nuốt nếu có Thực hiện 30 phút/lần, ngày 01 lần
+ Để tăng cường khả năng phát triển ngôn ngữ cần chú ý các kỹ năng như: nhìn, tập trung, bắt chước, bắt chước và lần lượt, chơi, lắng nghe, phát
âm, kết nối từ
+ Các hoạt động vui chơi trị liệu như: tổ chức các buổi sinh hoạt nhóm giúp tinh thần người bệnh được thoải mái, từ đó kết hợp các hoạt động trị liệu, vận động trị liệu để mang lại hiệu quả phục hồi chức năng tốt nhất cho người bệnh
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 372.5 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU
Tiến hành can thiệp PHCN : Điều dưỡng; Hoạt động trị liệu; Vận động trị liệu; Ngôn ngữ trị liệu;
Dinh dưỡng
Đánh giá sau can thiệp 4 tuần
So sánh CLCS trước và sau can thiệp
Người bệnh đột quỵ vào viện
Xác định tiêu chuẩn và lựa chọn người bệnh
Đánh giá trước can thiệp: NHISS, MMSE,
CLCS theo SSQOL, EQ-5D
Trang 382.6 Các biến số nghiên cứu
STT Tên biến Định nghĩa Loại biến Phương pháp
Thứ hạng Hồ sơ bệnh án,
phỏng vấn
6 Lần đột quỵ Là thứ tự lần đột quỵ tại thời
điểm nghiên cứu của người
Rời rạc Hồ sơ bệnh án,
phỏng vấn
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 39STT Tên biến Định nghĩa Loại biến Phương pháp
thu thập
bệnh (tính từ lần đột quỵ đầu tiên)
7 Bệnh lý đồng
mắc
Số bệnh lý khác mà người bệnh mắc như: Tăng huyết
áp, Đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tim mạch
- Điểm NIHSS ≥ 5 điểm:
- Điểm MMSE < 24 điểm:
không bị suy giảm nhận thức
- Điểm MMSE ≥24 điểm: có suy giảm nhận thức
Hồ sơ bệnh án, phỏng vấn
Phỏng vấn
• Mô tả các thang điểm đánh giá sử dụng trong nghiên cứu:
- Thang đánh giá mức độ khiếm khuyết thần kinh theo thang điểm của Viện Sức khoẻ quốc gia Hoa Kỳ (National Institutes of Health Strock Scale-NIHSS) Đánh giá với 4 mức độ khiếm khuyết thần kinh tương ứng với số điểm cụ thể như sau:
Trang 40+ Khiếm khuyết rất nặng: 21-42 điểm
+ Khiếm khuyết nặng: 16-20 điểm
+ Khiếm khuyết trung
bình:
5-15 điểm
+ Bình thường hay nhẹ: 0-4 điểm
Đánh giá mức độ khiếm khuyết thần kinh của người bệnh chia thành 2 nhóm: + Điểm NIHSS <5: không khiếm khuyết/nhẹ
+ Điểm NIHSS ≥ 5 điểm: khiếm khuyết trung bình trở lên
- Thang điểm đánh giá mức độ suy giảm nhận thức Mini Mental Status Examination (MMSE), tổng số điểm trong thang này là 30 điểm, đánh giá với
4 mức độ tương ứng với số điểm như sau:
+ Suy giảm nhận thức rất nặng: 0-13 điểm
+ Không suy giảm nhận thức: 24-30 điểm
Chia 2 nhóm như sau: điểm MMSE < 24 điểm: không bị suy giảm nhận thức; điểm MMSE ≥24 điểm: có suy giảm nhận thức
- Thang điểm chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân đột quỵ não (Stroke Specific Quality of life/SS-QOL), thang có bốn mục lớn: Sức khỏe thể chất, Sức khỏe chức năng, Tâm lý và Gia đình - xã hội trong đó có 12 lĩnh vực được đánh giá, gồm 49 câu hỏi nhỏ, mỗi câu đánh giá ở 5 mức từ 1-5 điểm tương ứng như sau:
+ Giúp đỡ hoàn toàn - không thể làm được chút nào - rất đồng ý: 1 điểm + Giúp đỡ nhiều - có rất nhiều khó khăn - đồng ý: 2 điểm + Giúp đỡ trung bình - có khó khăn - không đồng ý lắm: 3 điểm
+ Không cần giúp đỡ - không có khó khăn - rất không đồng ý: 5 điểm
Thư viện ĐH Thăng Long