TỔNG QUAN
Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về Tăng huyết áp
1.1.1.1 Khái niệm về huyết áp:
Huyết áp là áp lực máu trong động mạch, được tạo ra từ sự co bóp của tim, đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch Áp lực cao nhất trong động mạch khi tim co bóp được gọi là huyết áp tâm thu, trong khi áp lực thấp nhất khi tim giãn ra được gọi là huyết áp tâm trương Huyết áp đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông máu, cung cấp oxy và dinh dưỡng cho tế bào, từ đó duy trì hoạt động sống của cơ thể Tuy nhiên, khi huyết áp tăng cao, chức năng này có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
1.1.1.2 Định nghĩa tăng huyết áp:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, huyết áp động mạch bình thường ở người lớn được xác định là huyết áp tâm thu 120mmHg và huyết áp tâm trương 80mmHg Tăng huyết áp được chẩn đoán khi huyết áp tâm thu đạt từ 140mmHg trở lên và huyết áp tâm trương từ 90mmHg trở lên.
140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg hoặc đang sử dụng thuốc chống tăng huyết áp")
1.1.1.3 Phân loại tăng huyết áp
Bảng 1 Phân loại tăng huyết áp (theo WHO/JNC VI) [2, 26]
Mức độ HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương
Tăng huyết áp giai đoạn I 140-159 90-99
Tăng huyết áp giai đoạn II 160-179 100-109
Tăng huyết áp giai đoạn III ≥180 ≥110
Khi thực hiện hai lần đo huyết áp, nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương có giá trị khác nhau, mức độ tăng huyết áp sẽ được xác định dựa trên kết quả của lần đo có huyết áp cao nhất.
Đạt huyết áp mục tiêu là điều quan trọng trong việc điều trị tăng huyết áp (THA), một bệnh lý cần được quản lý liên tục và có thể kéo dài suốt đời Việc sử dụng thuốc đúng cách giúp đưa trị số huyết áp trở về mức bình thường, góp phần duy trì sức khỏe cho bệnh nhân.
Cơ chế bệnh sinh của bệnh tăng huyết áp
1.2.1 Tăng huyết áp nguyên phát
Chiếm tới 95% các trường hợp THA, cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng, người ta cho rằng một số yếu tố sau có thể gây THA [1, 2]
- Tăng hoạt động thần kinh giao cảm
Tăng hoạt tính thần kinh giao cảm ở người trẻ tuổi có thể dẫn đến tình trạng tim hoạt động mạnh mẽ hơn, làm tăng cung lượng và tần số tim Hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận bị co thắt, gây ra sự gia tăng sức cản ngoại vi, từ đó hình thành tình trạng huyết áp động mạch ổn định.
- Vai trò của hệ RAA : Renin - Angiotensin - Aldosteron
Renin là một enzym quan trọng được tiết ra bởi các tế bào cạnh cầu thận và các mô khác khi có các yếu tố kích thích Các tế bào cơ trơn trên thành động mạch đến của tiểu cầu thận có vai trò nhận cảm áp lực của động mạch tiểu cầu thận Khi áp lực giảm, các tế bào cạnh tiểu cầu thận sẽ tiết renin vào máu nhằm điều hòa huyết áp và duy trì áp lực lọc tại tiểu cầu thận Nồng độ muối trong huyết tương và sự kích thích từ thụ thể beta adrenegic là những yếu tố kích thích chính cho quá trình tiết renin.
Khi renin được tiết ra, nó chuyển α2 globulin (angiotensinozen I) từ gan thành một peptid gồm 10 acid amin, sau đó tuần hoàn trong máu đến phổi Tại đây, nhờ men converting enzyme, angiotensinozen I sẽ bị tách khỏi chất vận chuyển và cắt đi 2 acid amin, tạo thành angiotensin II với 8 acid amin Angiotensin II có nhiều hoạt tính sinh học quan trọng.
* Kích thích vỏ thượng thận tăng tiết Aldosteron gây tăng giữ nước, giữ muối Aldosteron ức chế bài tiết renin
* Có hoạt tính co mạch mạnh gấp 100 - 200 lần adrenalin và noradrenalin
* Bị angiotensinaza phân huỷ để tạo thành một số hoạt chất trung gian là angiotensin III
Angiotensin II lưu hành trong hệ tuần hoàn, ảnh hưởng rộng rãi đến toàn bộ hệ thống động mạch và làm tăng thể tích dịch lưu hành, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của tăng huyết áp (THA) hệ thống động mạch.
- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh THA [2, 4]
Natri đóng vai trò quan trọng trong bệnh tăng huyết áp (THA) cả trong nghiên cứu thực nghiệm và trong điều trị Theo Tubian (1954), nồng độ natri và nước trong thành mạch máu tăng cao một cách rõ rệt.
6 ở người và súc vật có tăng huyết áp Theo Braunwold (1954) : Vai trò của natri theo cơ chế bệnh sinh của THA tiên phát thực hiện ở hai vị trí
Stress có thể gia tăng ở những người tiêu thụ nhiều natri do thói quen gia đình, dẫn đến khả năng lọc của thận được cải thiện Tuy nhiên, điều này cũng làm tăng tái hấp thu nước, gây ra sự gia tăng thể tích máu.
Màng tế bào của cơ trơn mạch máu có sự gia tăng thẩm thấu di truyền đối với natri và canxi, dẫn đến tình trạng co mạch tăng lên và tăng sức cản ngoại vi, gây ra huyết áp cao (THA).
Prostaglandin E2 và kalikrein ở thận có vai trò quan trọng trong việc điều hoà huyết áp Khi hai chất này bị ức chế hoặc thiếu hụt, sẽ dẫn đến hạ calci máu và tăng calci niệu, từ đó gây ra tình trạng tăng huyết áp.
1.2.2 Tăng huyết áp thứ phát
Khoảng 5% đối tượng nghiên cứu THA có nguyên nhân rõ ràng đó là :
Bệnh thận có thể dẫn đến tăng huyết áp thứ phát do tổn thương nhu mô thận Khi thận bị tổn thương, chúng sản xuất ra chất co mạch mà không phải là renin, đồng thời giảm sản xuất các chất giãn mạch cần thiết như prostaglandin hoặc bradykinin Điều này dẫn đến việc giảm bất hoạt các chất giãn mạch toàn thân và kém thải trừ natri, khiến natri bị giữ lại trong cơ thể, làm tăng huyết áp.
Tăng huyết áp (THA) có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm dị dạng động mạch thận, cường aldosteron, hội chứng Cushing, u tuỷ thượng thận, và hẹp eo động mạch chủ Ngoài ra, THA cũng thường gặp ở phụ nữ mang thai, người sử dụng estrogen, những người dùng corticoid kéo dài, và những người bị cường tuyến giáp.
Ảnh hưởng của tăng huyết áp đối với tim mạch
Bệnh tăng huyết áp (THA) thường phát triển âm thầm và không có dấu hiệu rõ ràng, khiến nhiều người bệnh chủ quan và không chú ý Khi bệnh tiến triển, nó có thể gây ra những tác động nghiêm trọng đến các cơ quan quan trọng như tim, não và thận, dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như chảy máu não, suy tim, suy thận và nhồi máu cơ tim THA hiện nay được xem là một hội chứng phức tạp, liên quan đến rối loạn chuyển hóa, cấu trúc tim mạch và sự kích hoạt của hệ thần kinh giao cảm Tai biến tim mạch là một trong những biến chứng đáng lo ngại nhất của THA, và nhiều nghiên cứu hiện nay tập trung vào việc giảm thiểu tỷ lệ tai biến này.
Nghiên cứu Framingham chỉ ra rằng tăng huyết áp (THA) là nguyên nhân chính gây ra suy tim Theo thời gian, THA có thể dẫn đến tổn thương các cơ quan đích như dày thất trái, bệnh mạch vành, cơn đau ngực, nhồi máu cơ tim và cuối cùng là suy tim Dữ liệu từ Trung tâm thống kê y tế Quốc gia Hoa Kỳ cũng xác nhận mối liên hệ này.
7 công trình khác cho thấy huyết áp càng cao thì tỷ lệ tử vong và đột tử do nguyên nhân tim mạch càng nhiều
Trong những năm gần đây, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, đặc biệt là tai biến mạch máu não và bệnh động mạch vành, đã giảm đáng kể, nhờ vào hiệu quả của việc điều trị tăng huyết áp (THA) THA khiến tim, đặc biệt là thất trái, phải làm việc dưới áp lực cao, dẫn đến việc tăng co bóp để duy trì tuần hoàn Để đáp ứng với áp lực này, thất trái dần dày lên, có thể dẫn đến giãn và giảm khả năng bơm máu, gây ra suy tim Trong giai đoạn suy tim còn bù, tim vẫn có thể co bóp hiệu quả, nhưng khi suy tim mất bù, tim không còn khả năng hoạt động, kèm theo các triệu chứng như phù tim, tức ngực và khó thở.
Một số yếu tố nguy cơ làm tăng huyết áp
Tăng huyết áp (THA) có xu hướng gia tăng theo độ tuổi, đặc biệt là từ 55 tuổi trở lên Tỷ lệ THA ở người dưới 39 tuổi chỉ là 6.04%, nhưng con số này tăng lên 10.6% ở độ tuổi 40-49, 21.5% ở 50-59, 30.6% ở 60-69, và đạt 47.4% ở những người từ 70 tuổi trở lên; trong đó, tỷ lệ mắc bệnh ở người từ 73 tuổi trở lên lên tới 65.5% Điều này cho thấy, cứ ba người trên 75 tuổi thì có hai người bị THA Nghiên cứu của Trần Quốc Cường và Lê Văn Bào (2019) chỉ ra rằng tỷ lệ người cao tuổi trong cộng đồng ngày càng tăng và THA thường gặp ở nhóm tuổi này Nguyên nhân là do sự giãn nở của động mạch kém đi theo tuổi tác, cùng với sự giảm nhạy cảm của các thụ thể beta, dẫn đến tăng hoạt động của thần kinh giao cảm, gây co mạch và làm tăng huyết áp.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ người bị tăng huyết áp (THA) gia tăng theo độ tuổi: ở tuổi 45, cứ 20 người thì có một người mắc bệnh; ở tuổi 55, tỷ lệ này là một trên bảy; và đến tuổi 65, có tới một phần ba số người bị THA.
Tần suất tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường gia tăng theo độ tuổi Nghiên cứu NHANES năm 2008 về tỷ lệ, nhận thức và điều trị tăng huyết áp tại Mỹ cho thấy tỷ lệ này tăng theo độ tuổi, với 7.3% ở nhóm tuổi 18 - 39, 32.6% ở nhóm tuổi 40 - 59 và 66.3% ở nhóm tuổi trên 60.
Nghiên cứu cho thấy nam giới ở lứa tuổi trung niên và trẻ tuổi có nguy cơ tăng huyết áp cao hơn nữ giới, với tỷ lệ 18% so với 14.5% Tuy nhiên, sau 60 tuổi, nữ giới lại có khả năng mắc bệnh cao hơn Các nghiên cứu toàn cầu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới thường cao hơn nữ giới Theo nghiên cứu của Hayes và Faler tại bệnh viện Mayo Clinic-Minnesota (1998), sự khác biệt này có thể liên quan đến yếu tố gen và sinh lý học giới tính Estrogen được biết đến với tác dụng bảo vệ tim, và sự thiếu hụt estrogen khi tuổi già đến có thể làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh mạch vành ở phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh Do đó, ở tuổi trẻ, huyết áp của nữ thường thấp hơn nam, nhưng đến giai đoạn tiền mãn kinh, huyết áp của hai giới lại trở nên tương đương.
Tăng huyết áp (THA) có mối liên hệ chặt chẽ với chủng tộc và dân tộc thiểu số, khi đời sống và văn hóa của cộng đồng di dân thay đổi, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng sẽ thay đổi theo Tỷ lệ THA có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm chủng tộc và dân tộc.
Tại Mỹ, người da đỏ có tỷ lệ tăng huyết áp (THA) tương đương hoặc cao hơn so với cộng đồng chung Trong khi đó, người Mỹ gốc Châu Phi có tỷ lệ mắc THA cao nhất so với người Hispanic và người da trắng, với sự xuất hiện sớm hơn và mức huyết áp trung bình cao hơn Theo Hiệp hội Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ, đàn ông da đen có nguy cơ tử vong vì bệnh tim cao hơn 20% so với người da trắng, đồng thời họ cũng dẫn đầu thế giới về tỷ lệ mắc bệnh huyết áp cao.
Ngưỡng BMI để chẩn đoán thừa cân và béo phì đã được Tổ chức Y tế Thế giới và Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ thiết lập từ lâu, với thừa cân xác định khi BMI lớn hơn 25 kg/m² và dưới 30 kg/m², trong khi béo phì là khi BMI lớn hơn 30 kg/m² và dưới 39 kg/m² Nghiên cứu cho thấy rằng ở khu vực Châu Á, người dân có cùng mức BMI nhưng có nguy cơ mắc bệnh như đái tháo đường và bệnh tim mạch cao hơn, cùng với tỷ lệ mỡ cơ thể cũng cao hơn so với người phương Tây.
Năm 2000, Tổ chức y tế thế giới đã đề xuất ngưỡng BMI trong chẩn đoán thừa cân và béo phì cho người Châu Á như sau :
Béo phì làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh lý nghiêm trọng, với nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp 1,7 lần, tăng huyết áp gấp 2 lần và đái tháo đường týp 2 gấp 3 lần so với người có cân nặng bình thường Đái tháo đường, tăng huyết áp và béo phì thường xuất hiện đồng thời trong hội chứng chuyển hoá Khi người bệnh đái tháo đường có kèm theo tăng huyết áp và béo phì, nguy cơ mắc các biến chứng tim mạch không chỉ tăng gấp đôi mà còn tăng theo cấp số nhân.
Theo nghiên cứu của Chu Hồng Thắng (2008), rối loạn chuyển hóa lipid máu, tăng huyết áp và béo phì là những yếu tố nguy cơ chính làm gia tăng tỷ lệ bệnh xơ vữa động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường, trong đó rối loạn lipid máu là yếu tố thường gặp nhất.
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010) về tình trạng và các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ở người cao tuổi tại phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội cho thấy thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính trong bệnh lý xơ vữa động mạch Ngừng hút thuốc lá mang lại hiệu quả vượt trội so với các phương pháp điều trị tăng huyết áp và rối loạn lipid máu.
Người ta thấy tính chất gia đình của bệnh THA, bố hoặc mẹ bị bệnh này thì trong số con cái cũng có nhiều người bị mắc bệnh
Nghiên cứu của Dương Hồng Thái (2011) chỉ ra rằng tỷ lệ huyết áp cao (THA) ở những người có tiền sử gia đình mắc bệnh này là 27.1%, cao hơn so với 17.8% ở nhóm không có người trong gia đình bị THA Điều này cho thấy nguy cơ mắc THA ở nhóm có tiền sử gia đình cao gấp 1.7 lần.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010), tỷ lệ tăng huyết áp (THA) liên quan đến yếu tố gia đình rất rõ rệt, với 48.8% trường hợp có người thân mắc THA Trong đó, bố mẹ có THA chiếm 31.56% và anh chị em ruột có THA chiếm 17.24%.
Khi bị căng thẳng thần kinh, hệ thần kinh giao cảm hoạt động mạnh mẽ, giải phóng adrenalin và nor-adrenalin, dẫn đến tim co bóp mạnh hơn, nhịp tim nhanh hơn và huyết áp tăng cao Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với người mắc bệnh tăng huyết áp (THA), có thể gây ra cơn THA kịch phát Ngoài ra, môi trường có tiếng ồn lớn liên tục cũng góp phần làm tăng stress và huyết áp.
Các nghiên cứu khác cho thấy số người bị THA do stress (23.5%) cao hơn những người không bị stress (18.5), nguy cơ THA cao gấp 1.4 lần ở những người stress
Bệnh đái tháo đường thường đi kèm với bệnh tăng huyết áp (THA), với khoảng 30-50% bệnh nhân đái tháo đường mắc THA, thường là những người béo phì Ngược lại, khoảng 1/3 bệnh nhân THA cũng có mức đường huyết cao.
Tỷ lệ tăng huyết áp (THA) ở những người có đường máu cao đạt 62.7%, cao hơn đáng kể so với mức 36.6% ở những người có đường máu bình thường Nguy cơ mắc THA ở những người có đường máu cao gấp 2.9 lần so với người có mức đường máu bình thường.
Thực trạng bệnh tăng huyết áp
1.5.1 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới
Tình trạng tăng huyết áp (THA) đang trở nên phổ biến và gia tăng không chỉ trên thế giới mà còn tại Việt Nam Mọi đối tượng, bao gồm cả trẻ em và người trẻ tuổi, đều có nguy cơ mắc phải căn bệnh này.
Theo nghiên cứu tổng hợp mới nhất, vào năm 2018, huyết áp tâm thu trung bình toàn cầu là 127.0 mmHg ở nam và 122.3 mmHg ở nữ, trong khi huyết áp tâm trương trung bình lần lượt là 78.7 mmHg và 76.7 mmHg Tỷ lệ tăng huyết áp chuẩn hóa theo tuổi là 24.1% ở nam và 20.1% ở nữ Từ 1975 đến 2018, huyết áp trung bình đã giảm đáng kể ở các nước thu nhập cao tại phương Tây và Châu Á Thái Bình Dương, khiến các nước này chuyển từ nhóm có huyết áp cao nhất xuống thấp nhất vào năm 2015 Mặc dù huyết áp trung bình cũng giảm ở phụ nữ tại một số khu vực như Trung Âu, Đông Âu, và Mỹ La tinh, nhưng lại có xu hướng tăng ở Đông Á, Đông Nam Á, và tiểu vùng Sahara châu Phi Đến năm 2015, Trung và Đông Âu, tiểu vùng Sahara châu Phi và Nam Á có mức huyết áp cao nhất Trong khi tỷ lệ tăng huyết áp giảm ở các nước thu nhập cao, số người trưởng thành mắc tăng huyết áp đã tăng từ 594 triệu năm 1975 lên 1.13 tỷ năm 2018, chủ yếu ở các nước thu nhập thấp và trung bình.
1.5.2 Tình hình tăng huyết áp ở Việt Nam
Tỷ lệ mắc tăng huyết áp (THA) tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, từ 1% vào năm 1960 lên 11.2% vào năm 1992, tức là tăng hơn 11 lần Đến năm 2008, tỷ lệ THA ở người từ 25-64 tuổi đã đạt 25.1% Theo điều tra năm 2015, 18.9% người trưởng thành trong độ tuổi 18-69 bị THA, với 23.1% là nam giới và 14.9% là nữ giới Đặc biệt, tỷ lệ THA ở nhóm tuổi 18-25 cũng tăng từ 15.3% năm 2010 lên 20.3% năm 2018 Điều này cho thấy rằng cứ 5 người trưởng thành trong độ tuổi 25-64 thì có 1 người mắc bệnh tăng huyết áp.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến các biến cố tim mạch nghiêm trọng như đột quỵ, nhồi máu cơ tim và suy tim Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đăng và cộng sự năm 1996 chỉ ra rằng tăng huyết áp chiếm 59.3% nguyên nhân gây tai biến mạch máu não, với khoảng 15,990 người bị liệt và mất sức lao động hàng năm Theo điều tra dịch tễ học năm 2003 do Viện Tim mạch phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới, nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại miền Bắc Việt Nam là tăng huyết áp (10.2%), tiếp theo là bệnh van tim do thấp (0.8%).
Trong năm 2012, bệnh tim mạch chiếm 13.4% tổng gánh nặng bệnh tật tại Việt Nam, với đột quỵ, nhồi máu cơ tim và bệnh tim do tăng huyết áp là những nguyên nhân tử vong hàng đầu Nghiên cứu năm 2009 cho thấy tử vong do bệnh mạch máu não chiếm 16.6% ở nam và 18% ở nữ, trong khi thiếu máu cơ tim chiếm 3.7% ở nam và 3.5% ở nữ Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2017, bệnh tim mạch dẫn đầu với 33% tổng số ca tử vong.
Tăng huyết áp và các bệnh tim mạch đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu và tại Việt Nam, trở thành nguyên nhân chính gây ra gánh nặng bệnh tật và tử vong Do đó, cần thiết phải triển khai các giải pháp can thiệp phù hợp và kịp thời để đối phó với tình trạng này, theo nghiên cứu của Trần Quốc Cường và Lê Văn Bào.
Theo nghiên cứu năm 2019 về thực trạng tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ tăng huyết áp ở người từ 18 - 69 tuổi tại ba phường nghiên cứu đạt 33,5% Kết quả cho thấy huyết áp tâm thu trung bình là 123,28 ± 15,74 mmHg và huyết áp tâm trương trung bình là 77,22 ± 9,90 mmHg.
Tăng huyết áp (THA) liên quan đến 11 yếu tố nguy cơ như nhóm tuổi, giới tính, thừa cân - béo phì, tỷ số vòng eo/vòng mông, hút thuốc lá, thói quen ăn mỡ động vật, đái tháo đường, tăng cholesterol máu, bệnh lý tim mạch, và việc theo dõi thành phần dinh dưỡng bữa ăn hàng ngày Tỷ lệ hiện mắc THA ở người từ 18 - 69 tuổi là 33.5% Nghiên cứu của Đỗ Minh Tuấn và cộng sự (2013) cho thấy THA chiếm 24.1% tại huyện Bá Thước, với 88.4% được phát hiện trong điều tra Nhóm tuổi 51 - 60 có tỷ lệ THA cao nhất (36.1%) và cũng là nhóm có tai biến mạch não cao nhất (20.53%), trong khi tỷ lệ mắc THA ở nam giới cao hơn nữ giới (32.1% so với 20.9%) Nghiên cứu của Lại Đức Trường (2010) tại Đồng Hỷ ghi nhận tỷ lệ THA là 17.8%, trong đó nam giới chiếm 24.4%.
Hỷ, Thái Nguyên, tỷ lệ mắc THA ở những người 25-64 tuổi là 17.7%, nam giới là 20.3%, nữ giới là 15.4% [12].
Thực trạng kiến thức và thực hành phòng bệnh tăng huyết áp
Tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Việt Nam đang gia tăng, với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc (2010) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đạt 37.6%, trong đó nam giới chiếm 48.5% và nữ giới 32.4% Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp của người dân còn hạn chế, chỉ có 32.5% có kiến thức tốt và 28.7% thực hành phòng bệnh hiệu quả Nhiều người dân chưa hiểu rõ về bệnh, các biến chứng và phương pháp điều trị liên quan đến tăng huyết áp.
Tỷ lệ tăng huyết áp (THA) trong cộng đồng đang gia tăng nhanh chóng, với tỷ lệ THA ở khu vực thành thị đạt 22.7%, cao hơn nhiều so với 12.3% ở khu vực nông thôn Tại Việt Nam, khoảng 9.7 triệu người dân không nhận thức được tình trạng THA của mình, hoặc có bệnh nhưng không được điều trị, hoặc đã điều trị nhưng huyết áp chưa được kiểm soát về mức bình thường.
Theo điều tra dịch tễ năm 2002 của Viện Tim mạch Việt Nam, 77% người dân có sự hiểu biết sai lệch về bệnh tăng huyết áp (THA) và các yếu tố nguy cơ liên quan Hơn 70% trường hợp không nắm rõ cách phát hiện sớm và phòng ngừa bệnh THA, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi kiến thức về bệnh này kém hơn so với thành phố.
Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài (2011), có đến 68% bệnh nhân không biết mình mắc bệnh tăng huyết áp, và việc phát hiện bệnh thường chỉ xảy ra tình cờ khi đi khám Nguyễn Song Hào (2020) cũng chỉ ra rằng tỷ lệ người bệnh không nhận thức được tình trạng tăng huyết áp là 45.6% Thực tế cho thấy, rất ít người dân đi kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh, mà chủ yếu chỉ đi khám khi có triệu chứng.
Nghiên cứu tại Huế cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp (THA) ở người cao tuổi tại xã Hương Xuân là 38.9% và xã Hương Vân là 40.5% Mặc dù tỷ lệ kiến thức về bệnh chỉ đạt 30.5%, nhưng tỷ lệ thực hành uống thuốc THA hàng ngày là 50.8% Tại Long An, tỷ lệ người cao tuổi bị THA lên tới 52.0%, với kiến thức về phòng bệnh chỉ đạt 40.2%, cho thấy sự thiếu hụt trong nhận thức và dự phòng bệnh Chỉ 10.6% người tham gia nghiên cứu có khả năng kiểm soát huyết áp tốt Hệ quả là 60% người cao tuổi phải điều trị tại bệnh viện do biến chứng của THA, trong đó tỷ lệ nhập viện do THA chiếm 15.0%.
Kiến thức của người dân về phòng chống bệnh tăng huyết áp (THA) còn hạn chế, với khoảng 45% chưa biết cách phòng bệnh Nghiên cứu của Đào Ngọc Quân (2015) cho thấy 13% người dân cho rằng hút thuốc không ảnh hưởng đến huyết áp và tim mạch, trong khi 12% tin rằng ăn mặn không tác động đến huyết áp Đặc biệt, 29.5% người dân cho rằng ăn mặn không liên quan đến tăng huyết áp Một nghiên cứu khác của Trần Thị Mai Oanh (2014) tại Hải Dương cho thấy 66% người dân không nhận biết các biểu hiện của tăng huyết áp, và 80% không biết các nguy cơ gây ra bệnh này.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Song Hào (2020), chỉ có 14.5% người dân nhận thức được nguy cơ tăng huyết áp và đột quỵ não Bên cạnh đó, kiến thức về cách xử trí đầu tiên tại nhà khi gặp tình huống tăng huyết áp chỉ đạt 17.2%, cho thấy thực hành phòng ngừa tăng huyết áp tại nhà của người dân vẫn còn hạn chế.
Một số giải pháp kiểm soát huyết áp tại cộng đồng
Nhiều yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, uống rượu bia, ăn mặn, ăn nhiều chất béo, ít vận động, căng thẳng, rối loạn chuyển hóa lipid và tiểu đường có thể dẫn đến tăng huyết áp trong cộng đồng Tuy nhiên, hầu hết các yếu tố này có thể được kiểm soát nếu người dân hiểu biết đúng và biết cách phòng tránh Giải pháp hiệu quả để kiểm soát huyết áp là kết hợp giữa truyền thông và theo dõi chỉ số huyết áp thường xuyên tại các cơ sở y tế Bên cạnh đó, việc tập luyện thể dục cũng rất quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tim mạch.
14 luyện thể dục thể thao thường xuyên, luyện tập mỗi ngày khoảng 30-60 phút sẽ đem lại những chuyển biến tốt cho người tăng huyết áp [13]
Chế độ ăn uống lành mạnh với nhiều rau quả và chất xơ, đồng thời hạn chế dầu mỡ và cholesterol, sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh hơn Giảm lượng muối trong chế độ ăn hàng ngày có thể giúp người bị tăng huyết áp (THA) giảm từ 2-8mmHg Ngoài ra, việc từ bỏ thuốc lá và hạn chế rượu bia cũng rất quan trọng, vì những chất này có thể làm tăng huyết áp nhanh chóng.
Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và thực hành phòng chống tăng huyết áp (THA) cho người dân Việc này giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về các yếu tố nguy cơ gây THA và từ đó có biện pháp phòng tránh hiệu quả.
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
Là những người có độ tuổi từ 41 tuổi trở lên không phân biệt nam và nữ
Tiêu chuẩn lựa chọn cho nghiên cứu bao gồm những người đồng ý tham gia, có địa chỉ và cư trú tại hai xã Phú Châu và Vật Lại Đối tượng nghiên cứu có thể là người có hoặc không có tình trạng tăng huyết áp, và không bị suy giảm trí tuệ.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Là những người không đồng ý tham gia, có tuổi thấp hơn hoặc bằng 40 tuổi
Tại 02 xã Phú Châu và Vật Lại huyện Ba Vì thành phố Hà Nội
Mô tả cắt ngang tại thời điểm tháng 2/2023
Để tính cỡ mẫu nghiên cứu, chúng ta sử dụng công thức n, trong đó n là cỡ mẫu, Z (1- α/2) = 1,96 thể hiện hệ số tin cậy với mức ý nghĩa 0,05 Độ chính xác được thiết lập ở ngưỡng 0,05, và tỷ lệ mắc tăng huyết áp được ước tính là 0,5 do thiếu số liệu Từ đó, ta có q = 1 - p = 0,5 Thay thế các giá trị vào công thức, chúng ta tính được n = 384, và cỡ mẫu trong nghiên cứu này được làm tròn thành 400 người.
Trong nghiên cứu định lượng, việc chọn mẫu cần thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, trong đó tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được lập danh sách và xác định khoảng cách k để đảm bảo tính đại diện và chính xác cho kết quả nghiên cứu.
Trong nghiên cứu này, tổng cộng có khoảng 4000 người từ 40 tuổi trở lên tại hai xã Từ danh sách 2000 người mỗi xã trong độ tuổi này, chúng tôi sẽ chọn ngẫu nhiên 1 người trong số 5 người, dẫn đến việc lựa chọn 200 người cho nghiên cứu tại mỗi xã, tổng cộng là 400 người.
2.3 Phương pháp thu thập số liệu:
Phương pháp thu thập số liệu bằng phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi đã được soạn sẵn
2.4 Các biến số nghiên cứu và cách đánh giá:
+ Thông tin chung và tỷ lệ tăng huyết áp
- Tỷ lệ THA theo giới, Tỷ lệ THA theo tuổi
- Tỷ lệ THA theo trình độ học vấn
+ Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh THA
- Kiến thức về nguyên nhân bệnh THA
- Kiến thức về dự phòng bệnh THA
- Kiến thức về điều trị bệnh THA
- Mức độ kiến thức về bệnh THA
- Thực hành về dự phòng các biến chứng của THA
- Thực hành về địa điểm và sử dụng thuốc điều trị THA
- Mức độ thực hành phòng bệnh THA
- Bảng 2: phân loại THA theo WHO/JNC VII và Bộ Y tế [1, 2]
Mức độ HA tâm thu
Tăng huyết áp giai đoạn I 140-159 90-99
Tăng huyết áp giai đoạn II 160-179 100-109
Tăng huyết áp giai đoạn III ≥180 ≥110
* Quy trình đo huyết áp [2]
- Cho người những người đến khám ngồi nghỉ trước khi đo, ít nhất 5-10 phút, trong phòng yên tĩnh
- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc) trước đó 2 giờ
Để đo huyết áp chính xác, người bệnh nên ngồi trên ghế tựa với cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức tim Ngoài ra, huyết áp cũng có thể được đo ở tư thế nằm hoặc ngồi Đối với người cao tuổi hoặc bệnh nhân tiểu đường, cần thực hiện thêm phép đo huyết áp ở tư thế đứng để kiểm tra xem có hiện tượng hạ huyết áp tư thế hay không.
Để đo huyết áp chính xác, hãy sử dụng huyết áp kế thủy ngân hoặc điện tử với băng quấn có chiều dài tối thiểu bằng 80% và chiều rộng tối thiểu bằng 40% chu vi cánh tay Quấn băng quấn đủ chặt, đảm bảo bờ dưới của bao đo nằm trên nếp lằn khuỷu khoảng 2cm Đặt máy ở vị trí sao cho mốc 0 của thang đo ngang mức với tim để có kết quả chính xác nhất.
Nên đo huyết áp ít nhất hai lần, cách nhau 1-2 phút Nếu chênh lệch huyết áp giữa hai lần đo trên 10mmHg, cần thực hiện lần đo thứ ba sau khi nghỉ ngơi ít nhất 5 phút Lần đo đầu tiên nên thực hiện ở cả hai tay để có kết quả chính xác.
Huyết áp tâm thu được xác định khi nghe tiếng đập đầu tiên (pha I của Korotkoff), trong khi huyết áp tâm trương được ghi nhận khi không còn nghe thấy tiếng đập (pha V).
- Trường hợp nghi ngờ, có thể theo dõi huyết áp liên tục bằng máy đo tự động trong 24 giờ (Holter huyết áp)
- Ghi lại số đo theo đơn vị mmHg dưới dạng HA tâm thu/HA tâm trương (ví dụ 120/80) và thông báo cho người đo [6]
* Đánh giá Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp:
Dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn, mỗi câu trả lời đúng sẽ được tính 1 điểm, trong khi câu trả lời sai sẽ không được tính điểm Tổng điểm kiến thức được phân chia thành 3 mức độ: Kém, Trung bình và Tốt, với mức độ Kém là khi số điểm đạt dưới 60, mức Trung bình từ 60 đến 79 điểm, và mức Tốt khi số điểm vượt quá 80.
2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Trên phần mềm thống kê Stata, Excel
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu:
- Đảm bảo tính đạo đức trong nghiên, những đối tượng nào đồng ý nghiên cứu thì mới điều tra, phỏng vấn
- Giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra cho học sinh biết khi cần thiết để tạo thêm tinh thần hợp tác cùng làm việc
Chúng tôi tiến hành điều tra với những người tham gia tự nguyện, không bị ép buộc và dựa trên tinh thần tôn trọng Sau khi phỏng vấn, thông tin thu thập được sẽ được sử dụng để cung cấp thêm kiến thức về bệnh tăng huyết áp (THA) cho người cao tuổi, giúp họ nâng cao hiểu biết về tình trạng sức khỏe này.
2.7 Hạn chế sai số và các biện pháp khắc phục sai số:
- Đối với sai số ngẫu nhiên: Chọn đủ cỡ mẫu và lực mẫu
- Đối với sai số hệ thống:
+ Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời
+ Người phỏng vấn được tập huấn kỹ và thống nhất cách thu thập số liệu + Các phiếu được làm sạch tại chỗ, đóng dấu của địa phương
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
Là những người có độ tuổi từ 41 tuổi trở lên không phân biệt nam và nữ
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu bao gồm những người đồng ý tham gia, có địa chỉ cư trú tại hai xã Phú Châu và Vật Lại Đối tượng có thể là người bị tăng huyết áp hoặc không, nhưng cần đảm bảo không bị suy giảm trí tuệ.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Là những người không đồng ý tham gia, có tuổi thấp hơn hoặc bằng 40 tuổi
Tại 02 xã Phú Châu và Vật Lại huyện Ba Vì thành phố Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang tại thời điểm tháng 2/2023
Để tính cỡ mẫu nghiên cứu, ta sử dụng công thức n = (Z(1-α/2)² * p * q) / d², trong đó Z(1-α/2) = 1,96 tương ứng với hệ số tin cậy ở mức 0,05 Độ chính xác được xác định là 0,05, tỷ lệ mắc tăng huyết áp ước tính là p = 0,5 và q = 1 - p = 0,5 Khi thay các giá trị vào công thức, ta tính được cỡ mẫu n = 384, và làm tròn cỡ mẫu trong nghiên cứu này là 400 người.
Đối với nghiên cứu định lượng, việc chọn mẫu cần thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Trong phương pháp này, tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được lập danh sách và khoảng cách k sẽ được tính toán để đảm bảo tính ngẫu nhiên và đại diện cho tổng thể.
Trong nghiên cứu này, từ tổng số 4000 người trong độ tuổi từ 40 trở lên tại hai xã, chúng tôi sẽ chọn ra 200 người từ danh sách 2000 người của mỗi xã Cụ thể, cứ 5 người trong danh sách sẽ chọn 1 người, dẫn đến việc mỗi xã sẽ có 200 người tham gia nghiên cứu, tổng cộng là 400 người cho cả hai xã.
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu bằng phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi đã được soạn sẵn.
Các biến số nghiên cứu và cách đánh giá
+ Thông tin chung và tỷ lệ tăng huyết áp
- Tỷ lệ THA theo giới, Tỷ lệ THA theo tuổi
- Tỷ lệ THA theo trình độ học vấn
+ Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh THA
- Kiến thức về nguyên nhân bệnh THA
- Kiến thức về dự phòng bệnh THA
- Kiến thức về điều trị bệnh THA
- Mức độ kiến thức về bệnh THA
- Thực hành về dự phòng các biến chứng của THA
- Thực hành về địa điểm và sử dụng thuốc điều trị THA
- Mức độ thực hành phòng bệnh THA
- Bảng 2: phân loại THA theo WHO/JNC VII và Bộ Y tế [1, 2]
Mức độ HA tâm thu
Tăng huyết áp giai đoạn I 140-159 90-99
Tăng huyết áp giai đoạn II 160-179 100-109
Tăng huyết áp giai đoạn III ≥180 ≥110
* Quy trình đo huyết áp [2]
- Cho người những người đến khám ngồi nghỉ trước khi đo, ít nhất 5-10 phút, trong phòng yên tĩnh
- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc) trước đó 2 giờ
Khi đo huyết áp, người bệnh nên ngồi trên ghế tựa với cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức tim Ngoài tư thế ngồi, có thể thực hiện đo huyết áp khi nằm hoặc đứng, đặc biệt là đối với người cao tuổi hoặc bệnh nhân tiểu đường, để kiểm tra xem có hiện tượng hạ huyết áp tư thế hay không.
Để đo huyết áp chính xác, sử dụng huyết áp kế thủy ngân hoặc điện tử với băng quấn có chiều dài tối thiểu 80% và chiều rộng tối thiểu 40% chu vi cánh tay Quấn băng quấn đủ chặt, đảm bảo bờ dưới của bao đo nằm trên nếp lằn khuỷu khoảng 2cm Đặt máy ở vị trí sao cho mốc 0 của thang đo ngang bằng với mức tim để có kết quả chính xác nhất.
Nên thực hiện việc đo huyết áp ít nhất hai lần, với khoảng cách giữa các lần đo từ 1 đến 2 phút Nếu kết quả huyết áp giữa hai lần đo chênh lệch hơn 10mmHg, cần tiến hành đo lại lần thứ ba sau khi đã nghỉ ngơi ít nhất 5 phút Trong lần đo đầu tiên, hãy đo huyết áp ở cả hai tay để có kết quả chính xác hơn.
Huyết áp tâm thu được xác định tại thời điểm xuất hiện âm thanh đầu tiên (pha I của Korotkoff), trong khi huyết áp tâm trương được ghi nhận khi âm thanh hoàn toàn biến mất (pha V).
- Trường hợp nghi ngờ, có thể theo dõi huyết áp liên tục bằng máy đo tự động trong 24 giờ (Holter huyết áp)
- Ghi lại số đo theo đơn vị mmHg dưới dạng HA tâm thu/HA tâm trương (ví dụ 120/80) và thông báo cho người đo [6]
* Đánh giá Kiến thức và thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp:
Dựa trên bộ câu hỏi phỏng vấn, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, trong khi câu trả lời sai không được tính điểm Tổng điểm kiến thức được chia thành 3 mức độ: Kém (dưới 60 điểm), Trung bình (từ 60-79 điểm) và Tốt (trên 80 điểm).
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Trên phần mềm thống kê Stata, Excel.
Đạo đức trong nghiên cứu
- Đảm bảo tính đạo đức trong nghiên, những đối tượng nào đồng ý nghiên cứu thì mới điều tra, phỏng vấn
- Giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra cho học sinh biết khi cần thiết để tạo thêm tinh thần hợp tác cùng làm việc
Điều tra được thực hiện với sự đồng ý của những người tham gia, đảm bảo không có sự ép buộc và tôn trọng lẫn nhau Sau khi phỏng vấn, thông tin sẽ được truyền thông để cung cấp thêm kiến thức về bệnh tăng huyết áp (THA) mà người cao tuổi có thể chưa biết.
Hạn chế sai số và các biện pháp khắc phục sai số
- Đối với sai số ngẫu nhiên: Chọn đủ cỡ mẫu và lực mẫu
- Đối với sai số hệ thống:
+ Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời
+ Người phỏng vấn được tập huấn kỹ và thống nhất cách thu thập số liệu + Các phiếu được làm sạch tại chỗ, đóng dấu của địa phương.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi Độ tuổi n (400) Tỷ lệ %
Trong nghiên cứu, nhóm tuổi 61-70 có tỷ lệ khám cao nhất, đạt 36.25% Tiếp theo là nhóm tuổi 51-60 với tỷ lệ 27.5%, và nhóm tuổi 41-50 chiếm 21.5% Nhóm tuổi trên 70 có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 14.75%.
Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới
Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu là nam giới đến khám chiếm tỷ lệ 53.25% cao hơn nữ giới chiếm 46.75%
Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa danh Địa danh n (400) Tỷ lệ %
Trong nghiên cứu, đối tượng được khảo sát tại xã Vật Lại, huyện Ba Vì có tỷ lệ cao hơn so với xã Phú Châu, với 54.25% thuộc xã Vật Lại và 45.75% thuộc xã Phú Châu.
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới
Nam Nữ Tổng cộng n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
Trong nghiên cứu, nhóm tuổi 61-70 có tỷ lệ người tham gia cao nhất, với 35.21% nam và 37.43% nữ Ngược lại, nhóm tuổi trên 70 có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 13.62% cho nam và 16.04% cho nữ Nhóm tuổi 51- cũng được đề cập trong bài viết.
Tỷ lệ tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi
Bảng 3.5 Tỷ lệ tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ tăng huyết áp trong nhóm nghiên cứu là 36.75% với chỉ số huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên, trong khi tỷ lệ không tăng huyết áp, với chỉ số dưới 140/90 mmHg, chiếm 63.25%.
Bảng 3.6 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu
Số người THA/tổng số khám Tỷ lệ %
Nhóm tuổi 61-70 có tỷ lệ người bị tăng huyết áp cao nhất, đạt 39.31% Theo sau, nhóm tuổi trên 70 cũng có tỷ lệ mắc bệnh tương đối cao, với 38.98% Ngược lại, nhóm tuổi 41-50 ghi nhận tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 32.56%.
Bảng 3.7 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo tuổi (từ 140/90mmHg trở lên) trong tổng số người tăng huyết áp Độ tuổi n Tỷ lệ %
Trong số những người mắc bệnh tăng huyết áp, nhóm tuổi 61-70 có tỷ lệ cao nhất với 38.78%, trong khi nhóm trên 70 tuổi có tỷ lệ thấp nhất là 15.65% Nhóm tuổi 51-60 cũng ghi nhận tỷ lệ tăng huyết áp là 26.53%.
Bảng 3.8 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo giới ở đối tượng nghiên cứu
Giới n (400) Số người mắc THA Tỷ lệ %
Trong nghiên cứu về tỷ lệ mắc tăng huyết áp, nam giới có tỷ lệ mắc là 40.85%, trong khi đó tỷ lệ này ở nữ giới là 32.09%.
Bảng 3.9 Phân loại mức độ tăng huyết áp theo độ
Phân độ THA n (400) Tỷ lệ %
Theo thống kê, tỷ lệ người bị tăng huyết áp độ 1 là 18.25%, trong khi tỷ lệ người bị tăng huyết áp độ 2 là 14% và tăng huyết áp độ 3 chỉ chiếm 4.5% Đáng chú ý, có tới 63.25% người có chỉ số huyết áp bình thường.
Bảng 3.10 Phân bố tỷ lệ tăng huyết áp theo địa danh của đối tượng nghiên cứu Địa danh n (400) Số người mắc
Nhận xét: Xã Vật Lại có tỷ lệ tăng huyết áp là 37.79%, xã Phú Châu có tỷ lệ tăng huyêt áp là 35.52%.
Kiến thức chung về bệnh tăng huyết áp
Bảng 3.11 Kiến thức đúng về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của bệnh
THA Nguyên nhân gây tăng huyết áp
Hút thuốc lá, thuốc lào 267 66.75 Béo phì 218 54.5 Ăn nhiều thức ăn mặn 190 47.5
Có yếu tố di truyền trong gia đình
206 51.5 Ăn uống nhiều đồ ngọt 178 44.5 Ăn nhiều thức ăn có mỡ động vật
Uống nhiều rượu, bia 221 55.25 Ít vận động 167 41.75 Tuổi cao 209 52.25 Nhiều căng thẳng (lo lắng,
Số người hiểu biết về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh tăng huyết áp vẫn còn thấp Trong đó, hút thuốc lá và thuốc lào là nguyên nhân chính, chiếm tỷ lệ cao nhất với 66.75% Uống nhiều rượu bia đứng thứ hai với 55.25%, tiếp theo là béo phì với 54.5% và tuổi cao với 52.25%.
Bảng 3.12 Mức độ Kiến thức về bệnh THA Mức độ kiến thức Đối tượng nghiên cứu n Tỷ lệ% p
Nhận xét: Mức độ kiến thức tốt về bệnh THA của đôí tượng nghiên cứu ở mức thấp 31.25% Mức trung bình chiếm tỷ lệ cao 47.5% và mức kém chiếm
21.25%, có ý nghĩa thống kê với p < 0.05
Bảng 3.13 Kiến thức đúng về các biến chứng của bệnh THA Kiến thức về biến chứng của tăng huyết áp
Nhồi máu cơ tim 74 18.5 Đau thắt ngực 86 21.5
Kiến thức về tai biến do tăng huyết áp trong các đối tượng nghiên cứu còn hạn chế Cụ thể, chỉ có 12.75% hiểu biết về biến chứng tâm phế mãn, 17.25% về suy tim, trong khi hiểu biết về tai biến mạch máu não cao nhất với 61.25% Tỷ lệ hiểu biết về đau thắt ngực là 21.5%, và chỉ 20.75% nhận thức được về biến chứng đột quỵ dẫn đến liệt nửa người và liệt toàn thân.
Thực hành dự phòng bệnh tăng huyết áp
Bảng 3.14 Thực hành đúng về xử trí khi bị THA của đối tượng nghiên cứu
Thực hành về xử trí khi THA
Nghỉ ngơi tại chỗ 156 39.00 Đi làm bình thường 84 21.00
23 Đi khám bệnh ở cơ sở y tế 318 79.50 Đến phòng khám tư khám và điều trị 52 13.00
Mua thuốc tự điều trị 67 16.75
Không cần xử trí gì 41 10.25
Kết quả nghiên cứu cho thấy 79.5% người tham gia thực hành khám bệnh tại các cơ sở y tế khi bị tăng huyết áp Chỉ có 10.25% cho rằng không cần can thiệp gì, trong khi 21.0% cho biết bệnh không ảnh hưởng đến công việc hàng ngày Đáng chú ý, 53.75% người dân sẽ gọi y tế thôn xóm khi gặp tình huống tăng huyết áp, và 13.0% lựa chọn khám và điều trị tại phòng khám tư nhân.
Bảng 3.15 Thực hành đúng về dự phòng bệnh tăng huyết áp Thực hành về dự phòng bệnh THA
Không hút thuốc lá, thuốc lào 217 54.25 Ăn ít mỡ động vật 198 49.50
Thể dục thể thao hàng ngày 240 60.00 Ăn nhiều thịt lợn 57 14.25
Giảm căng thẳng tinh thần 176 44.00 Ăn mặn nhiều 38 9.50 Điều trị các bệnh mãn tính 191 47.75
Khám bệnh kiểm tra sức khỏe 313 78.25
Thực hành dự phòng bệnh tăng huyết áp trong các đối tượng nghiên cứu cho thấy 78.25% người tham gia thường xuyên đi khám sức khỏe Ngoài ra, 61.25% duy trì sinh hoạt điều độ và 60.0% tập thể dục hàng ngày Tuy nhiên, có một tỷ lệ thấp, chỉ 9.50%, cho rằng ăn mặn không liên quan đến bệnh tăng huyết áp, trong khi 14.25% cho rằng tiêu thụ nhiều thịt lợn cũng không ảnh hưởng.
Bảng 3.16 Thực hành về địa điểm điều trị và sử dụng thuốc điều trị THA Đối tượng
Yếu tố Điều trị và sử dụng thuốc n % Điều trị tại nhà 79 19.75 Điều trị tại cơ sở y tế 357 89.25
Sử dụng thuốc đều hàng ngày 370 92.50
Sử dụng thuốc theo chỉ định 352 88.00
Kiểm tra HA thường xuyên 336 84.00
Thực hành đúng về địa điểm điều trị và sử dụng thuốc cho bệnh nhân tăng huyết áp rất quan trọng, với 89,25% người được nghiên cứu điều trị tại cơ sở y tế Hơn nữa, 92,5% bệnh nhân cần sử dụng thuốc hàng ngày và 88% tuân thủ chỉ định của bác sĩ Đáng chú ý, có 16,25% đối tượng còn lựa chọn khám và điều trị tại cơ sở y tế tư nhân.
Bảng 3.17 Mức độ thực hành phòng bệnh THA của người dân Đối tượng
Mức độ Đối tượng nghiên cứu p n Tỷ lệ %
Nhận xét: Mức độ thực hành phòng bệnh THA của đối tượng nghiên cứu ở mức tốt chiếm 46.25%, mức trung bình chiếm 39,00% và mức kém vẫn còn chiếm 14.75%.
BÀN LUẬN
Thông tin chung về bệnh tăng huyết áp trên đối tượng nghiên cứu
Qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá 400 người trên 40 tuổi về bệnh tăng huyết áp tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội năm 2022, nhóm nghiên cứu thấy rằng:
Trong nghiên cứu, nhóm đối tượng từ 61-70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 36.25%, trong khi nhóm trên 70 tuổi chỉ chiếm 14.75% Các nhóm tuổi khác bao gồm 51-60 tuổi chiếm 27.5% và 41-50 tuổi chiếm 21.5% (bảng 1) Tỷ lệ này phản ánh đúng tình hình phân bố dân cư tại hai xã của huyện Ba Vì, với số người từ 61-70 tuổi cao hơn so với nhóm 41-50 và 51-60 tuổi, do nhiều người trong độ tuổi 41-50 thường làm việc xa nhà Nghiên cứu này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đó, như nghiên cứu của Chu Hồng Thắng.
Theo các nghiên cứu về tình trạng tăng huyết áp (THA) ở người cao tuổi, tỷ lệ người trên 60 tuổi tham gia phỏng vấn rất cao Cụ thể, nghiên cứu năm 2008 cho thấy 45.5% người được phỏng vấn thuộc độ tuổi này [12] Nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài ghi nhận tỷ lệ lên tới 59.1% [7] Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010) tại phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội cũng cho thấy 51.3% người tham gia nghiên cứu là trên 60 tuổi [8].
Trong nghiên cứu, tỷ lệ nam giới tham gia chiếm 53.25%, trong khi tỷ lệ nữ giới chỉ đạt 46.75% (bảng 2).
Tỷ lệ nam giới trong nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp tại xã cao hơn nữ giới, với tỷ lệ nam/nữ là 55%/45% cho những người từ 40 tuổi trở lên Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chu Hồng Thắng, cho thấy nam giới chiếm 55.7% và nữ giới 44.3% Nam giới có xu hướng mắc bệnh tăng huyết áp cao hơn, dẫn đến số lượng nam giới đi khám kiểm tra huyết áp nhiều hơn nữ Dữ liệu từ quần thể nghiên cứu này sẽ hỗ trợ việc phân tích và đánh giá tình hình bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng.
Tại bảng 3.3, phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa điểm, số người được phỏng vấn thuộc xã Vật Lại huyện Ba Vì đến khám chiếm 54.25%, xã Phú Châu
26 chiếm 45.75% Hai xã này có số dân tương đương nhau 10000 người Nghề nghiệp chính của người dân ở đây là làm ruộng và buôn bán
Bảng 3.4 cho thấy phân bố tỷ lệ nam - nữ theo độ tuổi trong nghiên cứu này Đối với nam giới, tỷ lệ cao nhất thuộc về nhóm tuổi 61-70, đạt 35.21%, trong khi nhóm trên 70 tuổi có tỷ lệ thấp nhất là 13.62% Tỷ lệ nam giới trong độ tuổi 51-60 là 26.76% Đối với nữ giới, nhóm tuổi 61-70 cũng chiếm tỷ lệ cao nhất với 37.43%, và tỷ lệ thấp nhất là 16.04% ở nhóm trên 70 tuổi Nữ giới trong độ tuổi 51-60 chiếm 28.34%.
Tỷ lệ nam giới từ 60-70 tuổi mắc tăng huyết áp tại Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 là 37.8%, theo nghiên cứu của Trần Quốc Cường và Lê Văn Bào Nghiên cứu của Trần Thanh Thủy vào năm 2009 cũng đã đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phòng chống bệnh tăng huyết áp cho cộng đồng dân cư tại Hải Phòng.
Theo báo cáo của Viện Tim mạch Quốc gia (2010), tuổi tác cao làm lão hóa mô liên kết trong thành mạch, khiến động mạch trở nên cứng và dày hơn, giảm tính đàn hồi Điều này dẫn đến tăng huyết áp ở người lớn tuổi, buộc tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu Tình trạng này kéo dài có thể gây ra dày sợi cơ tim, nhồi máu cơ tim và thiếu máu cục bộ Hơn nữa, thành mao mạch dày lên làm chậm quá trình trao đổi máu, oxy và chất dinh dưỡng, dẫn đến huyết áp tăng dần theo tuổi tác.
Tỷ lệ bệnh tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi
Tỷ lệ tăng huyết áp trong nghiên cứu đối tượng 147 người là 36.75%, trong khi tỷ lệ không tăng huyết áp là 63.25% Đặc biệt, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trên 40 tuổi tại huyện Ba Vì cao hơn so với nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài (2021) với tỷ lệ 14.4% Ngược lại, tỷ lệ không tăng huyết áp trong nghiên cứu này thấp hơn, chỉ đạt 85.6% Kết quả nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp tương đương với nghiên cứu của Chu Hồng Thắng (2008) là 35.7% và Đinh Văn Thành (2012) với tỷ lệ 32.3% Điều này cho thấy xu hướng gia tăng tỷ lệ tăng huyết áp trong cộng đồng, đặc biệt ở người cao tuổi, với số liệu thống kê từ trạm y tế cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp hàng năm dao động từ 28.5% đến 35.9%.
Tỷ lệ tăng huyết áp ở hai xã này cao hơn so với mức trung bình của huyện, cho thấy sự phù hợp với kết quả nghiên cứu.
Tỷ lệ tăng huyết áp tại Ba Vì đạt 35.2%, cao hơn so với mức trung bình do những người tham gia nghiên cứu đều đang được quản lý và theo dõi các bệnh không lây nhiễm tại hai xã.
Theo bảng 6, trong số 147 người bị tăng huyết áp, nhóm tuổi từ 61-70 có tỷ lệ cao nhất với 39,31%, tiếp theo là nhóm trên 70 tuổi chiếm 38,98%, nhóm 51-60 tuổi chiếm 35,45%, và nhóm 41-50 tuổi thấp nhất với 32,56% Tỷ lệ tăng huyết áp thay đổi theo độ tuổi do đối tượng nghiên cứu được chọn từ quần thể Nghiên cứu của Trịnh Thu Hoài cho thấy 59,1% người trên 60 tuổi bị tăng huyết áp, cao hơn so với nghiên cứu này Tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi gia tăng theo độ tuổi, do nhiều nguyên nhân như sơ vữa động mạch, giảm hoạt động của gan và thận, cùng với chế độ ăn uống không hợp lý và vận động hạn chế Trong nghiên cứu này, nhóm tuổi 61-70 chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,78%, trong khi nhóm trên 70 tuổi chỉ chiếm 15,65%.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới cao hơn nữ giới, với 59.2% nam (87/147) và 40.8% nữ (60/147) Cụ thể, tỷ lệ tăng huyết áp ở nam là 40.85% và ở nữ là 32.09% Kết quả này phù hợp với thực tế hiện tại, khi số nam giới tham gia nghiên cứu nhiều hơn nữ giới So với nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài, tỷ lệ nam giới bị tăng huyết áp thấp hơn (46.5%) so với nữ (53.5%), trong khi nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nữ cao hơn nam Tương tự, nghiên cứu của Trần Thanh Thủy (2009) và Đỗ Minh Tuấn (2013) cũng ghi nhận tỷ lệ tăng huyết áp ở nam từ 58% - 63% và nữ từ 37% - 42% Theo Tổ chức Y tế Thế giới, dấu hiệu tăng huyết áp giai đoạn sớm thường "thầm lặng" và có thể chỉ biểu hiện qua các triệu chứng mơ hồ như nhức đầu, chóng mặt, trong khi giai đoạn nặng hơn có thể kèm theo tức ngực, mờ mắt và tê tay chân.
Khi bệnh nhân có biến chứng tăng huyết áp, họ có thể gặp phải tình trạng hôn mê, liệt, nhồi máu hoặc thậm chí tử vong Để phòng ngừa, việc kiểm tra huyết áp định kỳ là rất quan trọng; nếu huyết áp vượt quá 140/90, bệnh nhân cần đến cơ sở y tế để được tư vấn kịp thời Tăng huyết áp có thể xảy ra ở cả nam và nữ, không phân biệt giới tính.
Từ tuổi 40 trở đi, huyết áp thường có xu hướng tăng, và càng lớn tuổi, mức huyết áp càng gia tăng Nhiều người dần thích nghi với tình trạng này, nhưng huyết áp có thể tăng đột ngột do áp lực, thức khuya, hoặc căng thẳng, gây ra cảm giác khó chịu, mệt mỏi và đau đầu Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến đột quỵ Nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài tại Yên Bái cho thấy 59.1% người trên 60 tuổi mắc tăng huyết áp, trong khi nhóm tuổi 40-59 có tỷ lệ cao hơn với 36.3% Nghiên cứu của Đinh Văn Thành (2012) cũng chỉ ra rằng tỷ lệ nam giới mắc bệnh cao hơn nữ giới, với 35.5% nam so với 29.7% nữ Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài, tỷ lệ nam giới bị tăng huyết áp là 46.5%, thấp hơn so với 53.5% nữ giới.
Theo bảng 3.9, trong tổng số 400 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ huyết áp bình thường chiếm 63.25% (253/400) Trong khi đó, tỷ lệ tăng huyết áp độ 1 là 18.25% (73/400), tăng huyết áp độ 2 là 14.0% (56/400), và tăng huyết áp độ 3 chiếm 4.5% (18/400) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài, trong đó tỷ lệ tăng huyết áp độ III là 13.1% và độ II là 25.5%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người mắc tăng huyết áp (THA) độ 1 chiếm 61.4%, phù hợp với nghiên cứu của Trần Quốc Cường và Lê Văn Bào (2019) với tỷ lệ độ 1 là 68.5%, độ 2 là 25.7% và độ 3 là 5.8% Nghiên cứu của Chu Hồng Thắng (2008) cũng ghi nhận tỷ lệ THA độ 1 là 59.6%, độ 2 là 27.8% và độ 3 là 12.6% Tương tự, Trần Thanh Thủy (2009) báo cáo tỷ lệ THA độ 1 là 67.3%, độ 2 là 19.4% và độ 3 là 13.3% Những kết quả này cho thấy sự phổ biến của tăng huyết áp độ 1 trong đối tượng nghiên cứu.
Tăng huyết áp độ 1 chiếm tỷ lệ cao, với huyết áp từ 140/90mmHg đến 159/99mmHg, đòi hỏi ngành y tế cần tăng cường các biện pháp dự phòng Đặc biệt, việc quản lý chặt chẽ những người có biểu hiện tăng huyết áp độ 1 là cần thiết để giảm thiểu các nguy cơ và biến chứng liên quan đến tình trạng này.
Kiến thức về bệnh tăng huyết áp
Kiến thức về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng vẫn còn hạn chế, với tỷ lệ người hiểu đúng chỉ đạt mức thấp Hút thuốc lá và thuốc lào là nguyên nhân chính, chiếm 66.75%, tiếp theo là uống nhiều rượu bia (55.25%), béo phì (54.5%), tuổi cao (52.25%), ăn mặn (47.5%), và yếu tố di truyền (51.5%) Đánh giá tổng quát về kiến thức phòng ngừa tăng huyết áp cho thấy hơn 30% người tham gia vẫn trả lời sai Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010), khi tỷ lệ trả lời đúng về kiến thức tăng huyết áp ở người cao tuổi đạt 69.5%, cho thấy người dân đã có hiểu biết cơ bản về bệnh này.
Nghiên cứu năm 2019 tại huyện Điện Biên cho thấy 70.2% người dân trong độ tuổi 45-64 có kiến thức đúng về bệnh tăng huyết áp, nhưng vẫn còn 20.24% chưa nắm vững kiến thức cơ bản về phòng chống bệnh này Do đó, cần tăng cường giáo dục cộng đồng để người dân hiểu rõ hơn về biện pháp dự phòng, giảm thiểu nguy cơ đột quỵ do huyết áp Theo Nguyễn Lân Việt (2010), huyết áp có thể thay đổi theo hoạt động và cảm xúc, và những yếu tố nhỏ như thay đổi tư thế, uống cà phê hay hút thuốc cũng có thể làm tăng huyết áp Hiểu biết về các yếu tố này sẽ giúp mọi người duy trì huyết áp ổn định, bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ kiến thức về bệnh tăng huyết áp ở đối tượng nghiên cứu có 47.5% ở mức trung bình, 31.25% ở mức tốt và 21.25% ở mức kém Điều này cho thấy gần 70% người tham gia vẫn có hiểu biết hạn chế về nguyên nhân gây bệnh Do đó, cần triển khai nhiều chương trình và hoạt động nhằm nâng cao kiến thức và thực hành phòng ngừa bệnh tăng huyết áp trong cộng đồng.
Nghiên cứu của Ngọc và Tạ Mạnh Cường (2010) chỉ ra rằng 65% người cao tuổi tại phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội có hiểu biết trung bình về nguyên nhân bệnh tăng huyết áp, nhưng vẫn còn một tỷ lệ lớn người dân chưa nhận thức đầy đủ về bệnh Nhiều người chỉ nghe tên bệnh mà không hiểu rõ, dẫn đến việc khoảng 50% không biết mình mắc tăng huyết áp Điều này khiến nhiều trường hợp tăng huyết áp độ 1 chuyển sang độ 2, làm bệnh nặng hơn và khó điều trị Hơn nữa, 21.25% đối tượng nghiên cứu có mức độ hiểu biết kém về nguyên nhân bệnh, trong khi nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài cho thấy chỉ 9.5% bệnh nhân nắm rõ thông tin và hướng điều trị đúng, dẫn đến tình trạng không tuân thủ điều trị và bệnh tăng huyết áp ngày càng gia tăng trong cộng đồng.
Nghiên cứu của Đào Ngọc Quân và Trần Thị Xuân Hòa (2010) tại khoa nội tổng hợp bệnh viện tỉnh Gia Lai cho thấy bệnh nhân có kiến thức khá tốt về các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp Cụ thể, tỷ lệ nhận biết đúng các yếu tố như uống nhiều rượu bia đạt 87.23%, hút thuốc lá 86.02%, và căng thẳng thần kinh 72.53% Tuy nhiên, vẫn còn một số yếu tố có tỷ lệ trả lời sai cao, như di truyền 50.84%, ăn mặn 35.66%, và ít vận động 30.84% Những kết quả này cho thấy cần nâng cao nhận thức về chế độ ăn uống và lối sống để phòng chống bệnh tăng huyết áp hiệu quả hơn.
Nghiên cứu của Trịnh Thị Thu Hoài chỉ ra rằng thói quen hút thuốc lá và thuốc lào của người dân có nguy cơ tăng huyết áp chiếm 30.8%, thấp hơn nhiều so với mức 86.02% trong một nghiên cứu khác Sự khác biệt này có thể do người dân đã tiếp cận nhiều thông tin đại chúng, từ đó nâng cao nhận thức về nguy cơ sức khỏe này.
Kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy 47.5% người dân có thói quen ăn mặn, cao hơn so với con số 29.3% mà Trịnh Thị Thu Hoài đưa ra Điều này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Chu Hồng Thắng.
31 với tỷ lệ là 48.7% Thấp hơn nghiên cứu của tác giả Đinh Văn Thành (2009) chiếm 53.6% [13] Thấp hơn kết quả của Đỗ Minh Tuấn (2013) chiếm 62.8% [15]
Nghiên cứu cho thấy nguy cơ uống rượu bia gây tăng huyết áp cao hơn so với các nghiên cứu trước, với 52.25% người tham gia cho rằng tuổi cao làm tăng tỷ lệ huyết áp, tuy nhiên hơn 40% cho rằng người cao tuổi không bị tăng huyết áp Đỗ Minh Tuấn (2013) chỉ ra rằng 29.5% người cao tuổi không bị tăng huyết áp, và thực tế có nhiều người cao tuổi có huyết áp bình thường hoặc chỉ tăng mức độ 1 Phạm Thế Xuyên (2019) cho biết người dân từ 45-64 tuổi tại huyện Điện Biên có hiểu biết thấp về nguy cơ tăng huyết áp, với 30-40% trả lời sai các câu hỏi liên quan Chỉ 38.25% biết rằng ăn nhiều mỡ động vật gây tăng huyết áp, 54.5% nhận thức béo phì là nguy cơ, và 41.75% hiểu rằng ít vận động cũng là yếu tố nguy cơ Mặc dù các thôn đã tổ chức truyền thông về tăng huyết áp, người dân vẫn ít quan tâm do thói quen sinh hoạt không điều độ.
Tại bảng 13, tỷ lệ trả lời đúng về kiến thức các biến chứng của tăng huyết áp rất thấp, cụ thể: tâm phế mãn 12.75%, liệt nửa người 20.75%, suy thận 18.75%, suy tim 17.25%, nhồi máu cơ tim 18.5%, tai biến mạch máu não 61.25%, và liệt toàn thân 19.75% Thực tế cho thấy, người dân thường không chú ý đến các biến chứng này, với nhiều người không nhận thức được mức độ nguy hiểm của tăng huyết áp và các dấu hiệu thầm lặng của nó Hơn nữa, hoạt động truyền thông cộng đồng chưa đề cập sâu về các biến chứng, dẫn đến kiến thức của người dân về vấn đề này còn hạn chế Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Chu Hồng Thắng (2008) và Trần Thanh Thủy (2009), cho thấy tỷ lệ kiến thức về biến chứng tăng huyết áp cũng thấp, như tai biến mạch máu não 70.7% và nhồi máu cơ tim 42.9% Do đó, cần tiếp tục nâng cao kiến thức và kỹ năng phòng ngừa bệnh tăng huyết áp cho cộng đồng.
32 người dân để họ có hiểu biết nhiều hơn nữa, giúp cả cộng đồng có thể phòng tránh được bệnh [12, 14].
Thực hành phòng chống bệnh tăng huyết áp
Theo bảng 3.14, 79.5% đối tượng nghiên cứu thực hành đúng bằng cách khám tại các cơ sở y tế khi bị tăng huyết áp Tỷ lệ người cho rằng không cần xử trí gì là 10.25%, trong khi 21.0% cho rằng bệnh không ảnh hưởng và vẫn đi làm bình thường 53.75% người tham gia sẽ gọi y tế thôn xóm, và 13.0% đến phòng khám tư nhân Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh (2017) cho thấy thực hành xử trí tăng huyết áp ở người trên 50 tuổi tại Tiền Hải còn thấp, với 77.9% đến cơ sở y tế, 17.5% tự mua thuốc, và 15.7% không cần xử trí Nghiên cứu của Gao Y và cộng sự (2013) về tỷ lệ tăng huyết áp ở Trung Quốc cũng cho thấy 39.2% dân số có huyết áp cao, với 76.4% thực hành đúng bằng cách đến cơ sở y tế.
Theo bảng 3.15, 78.25% đối tượng nghiên cứu thực hành khám sức khỏe định kỳ để dự phòng bệnh tăng huyết áp Ngoài ra, 61.25% cho rằng sinh hoạt điều độ cũng rất quan trọng, trong khi 60.0% tham gia tập thể dục hàng ngày Tuy nhiên, chỉ có 9.50% người cho rằng ăn mặn không ảnh hưởng đến bệnh tăng huyết áp, và 14.25% cho rằng ăn nhiều thịt lợn có liên quan Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Pham Thai Son và các cộng sự.
Nghiên cứu năm 2012 tại bệnh viện Bạch Mai về kiến thức và hành vi tìm kiếm chăm sóc sức khỏe cho người trưởng thành mắc bệnh tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ người dân đi khám sức khỏe định kỳ chỉ đạt 39,5%, cho thấy hành vi phòng bệnh còn thấp.
Theo nghiên cứu, 89.25% đối tượng điều trị tăng huyết áp thực hành đúng tại cơ sở y tế Việc sử dụng thuốc hàng ngày đạt tỷ lệ 92.5%, trong khi 88.00% người bệnh tuân thủ chỉ định của bác sĩ Ngoài ra, có 16.25% đối tượng lựa chọn khám và điều trị tại cơ sở y tế tư nhân Kết quả này cho thấy sự tuân thủ trong điều trị bệnh tăng huyết áp là khá cao.
Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh (2017) cho thấy 75.8% người bệnh tăng huyết áp trên 50 tuổi tại Tiền Hải, Thái Bình chọn cơ sở y tế để khám và điều trị, trong khi 85.9% tuân thủ sử dụng thuốc theo chỉ dẫn Trần Thanh Thủy và cộng sự (2009) chỉ ra rằng triệu chứng tăng huyết áp rất đa dạng và phụ thuộc vào thể trạng từng người, với các dấu hiệu phổ biến như choáng váng, nhức đầu, khó thở và buồn nôn Người có triệu chứng nên kiểm tra huyết áp và đến cơ sở y tế kịp thời Đặc biệt, việc kiểm soát cân nặng là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa bệnh tăng huyết áp, vì người thừa cân, béo phì có nguy cơ cao hơn Đối với những người có vòng bụng lớn (trên 90cm với nam giới), cần thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, giảm tinh bột và đường, tăng cường rau xanh, trái cây và uống đủ nước hàng ngày.
Mức độ thực hành phòng bệnh tăng huyết áp trong đối tượng nghiên cứu cho thấy 46.25% ở mức tốt, 39.00% ở mức trung bình và 14.75% ở mức kém Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Anchala R1 và cộng sự (2014), khi chỉ ra rằng 47.6% người dân Ấn Độ có kiến thức và hành vi tốt trong phòng chống bệnh tăng huyết áp, trong khi 52.4% có thực hành kém hoặc trung bình Nguyên nhân chính dẫn đến thực hành phòng chống tăng huyết áp còn thấp là do hoạt động dự phòng hạn chế, cán bộ y tế chưa chủ động phát hiện bệnh nhân trong cộng đồng, và hành vi dự phòng của người bệnh chưa tốt, với tỷ lệ tuân thủ điều trị thấp Mặc dù nhiều người tăng huyết áp được quản lý và điều trị, nhưng việc kiểm soát huyết áp vẫn chưa hiệu quả, dẫn đến gia tăng tỷ lệ tai biến mạch máu não trong cộng đồng.