1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức và thực hành tự chăm sóc kiểm soát huyết áp của người bệnh tăng huyết áp ngoại trú tại trung tâm y tế thành phố hòa bình năm 2022

105 17 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức và thực hành tự chăm sóc kiểm soát huyết áp của người bệnh tăng huyết áp ngoại trú tại trung tâm y tế thành phố hòa bình năm 2022
Tác giả Hà Thị Hương Khê
Người hướng dẫn GS-TS: Nguyễn Công Khẩn
Trường học Trường Đại học Thăng Long
Chuyên ngành Điều dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ điều dưỡng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- HÀ THỊ HƯƠNG KHUÊ KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC KIỂM SOÁT HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ HÒA BÌNH NĂM 2022 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀ

Trang 1

-

HÀ THỊ HƯƠNG KHUÊ

KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC KIỂM SOÁT HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI BỆNH

TĂNG HUYẾT ÁP NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

HÀ NỘI – NĂM 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG

HÀ THỊ HƯƠNG KHUÊ - C01904

KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC KIỂM SOÁT HUYẾT ÁP CỦA NGƯỜI BỆNH

TĂNG HUYẾT ÁP NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG

Trang 3

Bệnh không lây nhiễm (BKLN) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật ở tất cả các khu vực trên thế giới, cũng như ở mọi tầng lớp xã hội và là một trong những thách thức lớn của các nước trên thế giới trong thế kỷ 21 Tăng huyết áp (THA) là một trong các bệnh không lây nhiễm phổ biến, là một vấn đề rất thường gặp trong cộng đồng Tỷ lệ người mắc tăng huyết áp ngày càng tăng và tuổi bị mắc

mới cũng ngày một trẻ hoá [36] Tăng huyết áp hiếm khi có dấu hiệu báo trước, thực

tế có rất nhiều người bị tăng huyết áp trong một thời gian dài mà không hề hay biết cho đến khi xảy ra một biến cố tim mạch nào đó hoặc do tình cờ phát hiện ra Kiểm soát tốt huyết áp có thể phòng các biến cố tim mạch do tăng huyết áp, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng sống, giảm nhẹ các gánh nặng kinh tế - xã hội của tăng huyết áp đối với bản thân người bệnh, gia đình và xã hội

Nghiên cứu cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính thực hiện trên 365 người bệnh mắc tăng huyết áp đang có hồ sơ bệnh án điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh của Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2019 Nghiên cứu định lượng thực hiện thông qua phỏng vấn theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn, định tính thông qua thảo luận nhóm Các kiểm định thống kê được thực hiện nhằm đo lường mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc và các biến độc lập Thông tin định tính được gỡ băng và trích dẫn theo chủ đề

Kết quả đánh giá chung thực hành chăm sóc của người bệnh cho thấy thực hành chăm sóc của người bệnh chỉ ở mức trung bình, có 52% người bệnh thực hành chăm sóc chung đạt Kết quả tuân thủ chung về dùng thuốc của người bệnh có 59,7% người bệnh tuân thủ

Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc của người bệnh bao gồm các yếu tố cá nhân và kiến thức về bệnh của người bệnh trong nghiên cứu

Căn cứ kết quả thu được, nhằm tăng cường kiến thức cho người bênh và nâng cao tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc của người bệnh tăng huyết áp đang được điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình, nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể cho cán bộ Y tế cần tăng cường tư vấn giáo dục sức khỏe cần chú trọng vào nội dung chế độ ăn, hoạt động theo dõi huyết áp tại nhà, kiểm soát căng thẳng, đặc biệt cần giám sát hành vi tự chăm sóc của người bệnh thông qua kết quả khám bệnh, sổ theo dõi cá nhân

Trang 4

Để thực thực hiện được luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ

về kiến thức và tinh thần từ các thầy giáo, cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp

Lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn chân thành tới, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Điều dưỡng – Trường Đại học Thăng Long đã tạo mọi điều kiện để tôi được học tập và hoàn thành khóa học này

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới người thầy của tôi, GS-TS- Nguyễn Công Khẩn Thầy là người luôn tận tình giúp đỡ, quan tâm, khuyến khích và cho tôi những chỉ dẫn quý báu trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy, các Cô Những người đã giúp đỡ và cho tôi những lời khuyên bổ ích trong quá trình xây dựng đề cương, triển khai thực hiện và hoàn thiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Đảng ủy, Ban giám đốc và Phòng khám của Trung tâm Y tế Thành phố Hoà Bình đã tạo mọi điều kiện để tôi triển khai đề tài nghiên cứu của mình

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các ông, các bà Những người đã tạo điều kiện để cho tôi được phỏng vấn và hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ cho luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp Những người đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoc tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp

Học viên

Hà Thị Hương Khuê

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 5

Tôi là Hà Thị Hương Khuê, học viên lớp 9.1B - Trường Đại học Thăng Long, chuyên ngành Điều dưỡng, xin cam đoan:

Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy, GS-TS Nguyễn Công Khẩn

1.Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công

bố

2.Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực

và khách quan Số liệu trong đề tài nghiên cứu của tôi đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở, nơi tôi tiến hành nghiên cứu Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này

Học viên

Hà Thị Hương Khuê

Trang 6

TT Phần viết tắt Phần viết đầy đủ

Tiếng việt

3 HATT Huyết áp tâm thu

4 HATTr Huyết áp tâm trương

7 TBMMN Tai biến mạch máu não

8

9

10

ĐTNC BKLN TTĐT

Đối tượng nghiên cứu Bệnh không lây nhiễm Tuân thủ điều trị

TiếngAnh

11 ASCVD ARTERIO-SCLEROISIS

CARDIO-VASCULAR DISEASES: Bệnh tim mạch do

Trang 7

Đặt vấn đề 1

Chương 1: Tổng quan 3

1.1.Tổng quan về THA 3

1.1.1.Khái niệm về THA 3

1.1.2.Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ 3

1.1.3.Phân loại THA 4

1.1.4.Đặc điểm người bệnh THA 4

1.1.5.Biến chứng THA 5

1.1.6.Điều trị THA 5

1.1.7.Phòng bệnh THA 6

1.1.8 Dịch tễ THA 6

1.1 Kiến thức tự chăm sóc 7

1.2 Thực hành chăm sóc và tuân thủ dùng thuốc 7

1.3.1 Thực hành chăm sóc ăn hợp lý 7-9 1.3.2.Thực hành từ bỏ thói quen xấu 10

1.3.3 Thực hành chăm sóc theo dõi huyết áp 10

1.3.4.Thực hành chăm sóc giảm cân 11

1.3.5 Thực hành tránh lo âu, căng thẳng 11

1.3.6 Tuân thủ dùng thuốc 11

1.3 Các yếu tố liên quan 12-14 1.4 Các nghiên cứu liên quan 14

1.5.1.Các nghiên cứu nước ngoài 14-16 1.5.2.Các nghiên cứu tại Việt Nam 17

1.5 Các học thuyết liên quan 18

1.6 Khung lý thuyết 19-20 1.7 Địa bàn nghiên cứu 21

Chương 2: Phương pháp 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 22

2.1.2 Tiêu chẩn loại trừ 22

2.2 Địa điểm nghiên cứu 22

Trang 8

2.4 Mẫu và phương pháp chọn 22

2.4.1 Mẫu trong nghiên cứu định lượng 22

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 23

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.5.1 Các biến số nghiên cứu định lượng 23

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu

2.5.3 Kỹ thuật thu thập số liệu định lượng

23 23 2.5.4 Các biến số nghiên cứu định lượng 23-24 2.5.5.Các khái niệm thang đo, tiêu chuẩn đánh giá 25-26 2.6 Xử lý phân tích số liệu 28

2.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 29

2.8 Sai số và biện pháp khắc phuc 29

2.8.1 Sai số 29

2.8.2 Biện pháp khắc phục 30

Chương 3: Kết quả nghiên cứu 31

3.1 Đặc điểm của người bệnh 31

3.1.1 Thông tin chung của người bệnh 31

3.1.2 Thông tin về bệnh THA của người bệnh 32

3.2 Kiến thức về bệnh 33

3.2.1 Kiến thức về chỉ số THA 33

3.2.2 Kiến thức về các yếu tố nguy cơ 33

3.2.3 Kiến thức về biến chứng 34

3.2.4 Kiến thức về điều trị THA 35

3.2.5 Kiến thức về lối sống 36

3.2.6 Kiến thức về phòng bệnh 36

3.2.7 Đánh giá kiến thức chung về điều trị 37

3.3 Tuân thủ dùng thuốc 37

3.3.1 Thực hành tuân thủ dùng thuốc 37

3.4 Thực hành chăm sóc 38

3.4.1 Thực hành chế độ ăn 38

3.4.1.1 Thực hành ăn giảm muối 39

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 9

3.4.2 Thực hành theo dõi huyết áp tại nhà 41

3.4.3 Thực hành kiểm soát căng thẳng 42

3.4.5 Thực hành từ bỏ thói quen xấu 43

3.4.6 Thực hành dùng thuốc tái khám định kỳ 44

3.5 Hỗ trợ xã hội 45

3.6 Yếu tố liên quan đến thực hành 46

3.6.1 Mối liên quan giữa tuổi, giới, điều kiện sống với thực hành chăm sóc tuân thủ dùng thuốc

46 3.6 Mối liên quan giữa kiến thức với tuân thủ dùng thuốc 47-48 Chương 4: Bàn luận 49

4.1 Đặc điểm của người bệnh 49

4.2 Kiến thức điều trị THA 50-51 4.3 Thực hành chăm sóc 52-57 4.4 Hỗ trợ xã hội 58

4.5 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với thực hành chăm sóc tuân thủ dùng thuốc

59 4.5 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành chăm sóc, tuân thủ dùng thuốc

60 Kết luận 61

Khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục1

Phụ lục 2

Trang 10

Bảng 1.1 Phân độ huyết áp theo VNHA/VSH2018[9] 4

Bảng 3.1 Thông tin chung về người bệnh 31

Bảng 3.2 Thông tin về bệnh tăng huyết áp của người bệnh 32

Bảng 3.3 Kiến thức của NB về chỉ số THA 33

Bảng 3.4 Kiến thức của NB về yếu tố nguy cơ 34

Bảng 3.5 Kiến thức của NB về biến chứng 34

Bảng 3.6 Kiến thức của NB về điều trị thuốc 35

Bảng 3.7 Kiến thức của NB về lối sống 36

Bảng 3.8 Kiến thức của NB về phòng bệnh THA 36

Bảng 3.9 Kiến thức chung về điều trị tăng huyết áp 37

Bảng 3.10 Thực hành tuân thủ điều trị tăng huyết áp 38

Bảng 3.11 Thực hành ăn giảm muối 39

Bảng 3.12 Thực hành ăn giảm chất béo, nhiều rau quả 40

Bảng 3.13 Thực hành theo dõi huyết áp tại nhà 41

Bảng 3.14 Thực hành kiểm soát căng thẳng 42

Bảng 3.15 Thực hành luyện tập kiểm soát cân nặng 42

Bảng 3.16 Thực hành từ bỏ thói quen xấu……… ….….43

Bảng 3.17 Thực hành theo dõi huyết áp và tái khám định kỳ……… 44

Bảng 3.18 Mô tả hỗ trợ xã hội liên quan đến thực hành chăm sóc……… …45

Bảng 3.19 Mô tả mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với tuân thủ dùng thuốc 46

Bảng 3.20 Mô tả mối liên quan giữa kiến thức với tuân thủ dùng thuốc……….47

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tự chăm sóc, tuân thủ dùng thuốc của người bệnh……….…20

Biểu đồ 3.1 Đánh giá thực hành chăm sóc chung của người bệnh……….…… 50

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh không lây nhiễm (BKLN) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật ở tất cả các khu vực trên thế giới, cũng như ở mọi tầng lớp xã hội và là một trong những thách thức lớn của các nước trên thế giới trong thế kỷ 21 Theo tổ chức Y tế thế giới ước tính vào năm 2012, trong số 56 triệu ca tử vong toàn cầu, 38 triệu (68%) là do các bệnh không lây nhiễm và con số này ước tính sẽ tăng lên 52 triệu người vào năm

2030 Ngoài ra, gần 3/4 tổng số ca tử vong do bệnh không lây nhiễm và hơn 80% ca tử vong sớm do bệnh không lây nhiễm xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Trong năm 2016, bệnh không lây nhiễm gây ra 71% tử vong trên toàn cầu [4], [5]

Toàn cầu hoá và đô thị hoá, sự thay đổi môi trường như là những tác nhân làm tăng lối sống không lành mạnh như hút thuốc lá, lạm dụng uống rượu, bia, ăn uống không hợp lý, ít vận động thể lực và chính những yếu tố nguy cơ này làm phát triển các bệnh không lây nhiễm [5] Ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật và tử vong do các bệnh không lây nhiễm và ngày càng gia tăng Trong năm

2012, ước tính có 73% số ca tử vong và 66% tổng gánh nặng bệnh tật là do bệnh không lây nhiễm chủ yếu là các bệnh tim mạch (tăng huyết áp), ung thư, đái tháo đường và các bệnh hô hấp mãn tính [4]

Tăng huyết áp (THA) là một trong các bệnh không lây nhiễm phổ biến, là một vấn đề rất thường gặp trong cộng đồng Tỷ lệ người mắc tăng huyết áp ngày càng tăng

và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ hoá [36] Hiện tại ước tính có tới 20% người dân

Việt Nam ở độ tuổi trên 25 tuổi đang bị tăng huyết áp [8]

Tăng huyết áp hiếm khi có dấu hiệu báo trước, thực tế có rất nhiều người bị tăng huyết áp trong một thời gian dài mà không hề hay biết cho đến khi xảy ra một biến cố tim mạch nào đó hoặc do tình cờ phát hiện ra Nếu chủ quan, bỏ quên hoặc lơ

là thì tăng huyết áp trở thành kẻ giết người thầm lặng Tăng huyết áp là bệnh dễ dàng phát hiện và hoàn toàn có thể phòng ngừa được, chỉ cần vài biện pháp đo đơn giản, đúng qui trình [8]

Kiểm soát tốt huyết áp có thể phòng các biến cố tim mạch do tăng huyết áp, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng sống, giảm nhẹ các gánh nặng kinh tế - xã hội của tăng huyết áp đối với bản thân người bệnh, gia đình và xã hội Do vậy nên đo huyết áp chủ động, thường xuyên, định kỳ và điều trị đầy đủ, kịp thời khi phát hiện ra tăng

Trang 12

huyết áp [8] Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài [7] Vì vậy thực hành tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp là cần thiết góp phần kiểm soát huyết áp giảm các biến chứng, giảm gánh nặng bệnh tật

Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình là một trong nhiều điểm quản lý tăng huyết áp tại tỉnh Hoà Bình Tại đây người bệnh tăng huyết áp đến điều trị ngoại trú đều được theo dõi và quản lý Tuy nhiên còn không ít người bệnh chưa tuân thủ điều trị, tái khám định kỳ không đúng hẹn cũng như việc thực hiện chế độ ăn uống, luyện tập, sinh hoạt chưa phù hợp, nhiều người bệnh tăng huyết áp không kiểm soát được huyết áp mục tiêu do không hiểu hoặc hiểu không đúng về bệnh Một số người bệnh

từ điều trị ngoại trú đã phải nhập viện để điều trị nội trú hoặc chuyển lên tuyến trên

do biến chứng nặng hơn mà nguyên nhân chủ yếu là không tuân thủ điều trị Câu hỏi đặt ra cho cán bộ quản lý, điều trị bệnh tăng huyết áp và Ban lãnh đạo Trung tâm y tế là: thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp đang được quản lý tại Trung tâm như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến việc thực hành tự chăm sóc, tuân thủ điều trị thuốc Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đề cập tới kiến thức thực hành tự chăm sóc của người bệnh tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình Để cung cấp thêm bằng chứng khoa học cho công tác quản lý và điều trị người bệnh tăng huyết áp ngoại trú, do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Kiến thức và thực hành tự chăm sóc kiểm soát huyết áp của người bệnh tăng huyết áp ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2022” với 2 mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm người bệnh và kiến thức, thực hành tự chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về tăng huyết áp

1.1.1 Khái niệm tăng huyết áp

Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và hoặc huyết áp tâm

trương ≥ 90 mmHg [3]

1.1.2 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp

- Nguyên nhân: Phần lớn tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành là không

rõ nguyên nhân (tăng huyết áp nguyên phát), chỉ có 10% các trường hợp là có

nguyên nhân (tăng huyết áp thứ phát)

- Các yếu tố nguy cơ:

Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh tăng huyết áp, bao gồm:

Tiếu đường: Ở người bị tiểu đường, tỷ lệ mắc tăng huyết áp cao gấp đôi so

với người không bị tiểu đường

Rối loạn lipid máu: Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần chất béo

ở trong máu Nồng độ cholesterol máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ

vữa động mạch Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây

tăng huyết áp

Tiền sử gia đình: Trong gia đình nếu ông, bà, bố, mẹ bị bệnh thì con cái nguy

cơ mắc bệnh cao

Tuổi cao: Tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp càng nhiều, do thành động

mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn vì thế làm cho

huyết áp tâm thu tăng cao hơn còn gọi là tăng huyết áp tâm thu đơn thuần

Thừa cân, béo phì: Cân nặng có quan hệ khá tương đồng với bệnh tăng huyết

áp, người béo phì hay người tăng cân theo tuổi cũng làm tăng nhanh huyết áp

Ăn mặn: Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều muối thì tần

suất mắc bệnh tăng huyết áp tăng cao rõ rệt Người dân ở vùng biển có tỷ lệ mắc

bệnh tăng huyết áp cao hơn nhiều so với những người đồng bằng và miền núi

Uống nhiều bia, rượu: Uống rượu, bia quá mức cũng là yếu tố nguy cơ gây

bệnh tim mạch nói chung và bệnh tăng huyết áp nói riêng

Hút thuốc lá, thuốc lào: Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích

Trang 14

nhiều nghiên cứu cho thấy hút một điếu thuốc lá có thể làm tăng huyết áp

Ít vận động thể lực: Ít vận động thể lực cũng được coi là một nguy cơ của

bệnh tăng huyết áp

1.1.3 Phân loại tăng huyết áp

Bảng 1.1 Phân độ huyết áp theo VNHA/VSH2018[17-tr12]

Phân độ tăng huyết

áp

trương

Huyết áp tối ưu < 120 và < 80

Huyết áp bình thường 120 – 129 và/hoặc 80 – 84

Huyết áp bình thường

cao

130 – 139 và/hoặc 85 – 89

Tăng huyết áp độ 1 140 – 150 và/hoặc 90 – 99

Tăng huyết áp độ 2 160 – 179 và/hoặc 109 – 110

Tăng huyết áp độ 3 ≥ 180 và/hoặc ≥ 110

Tăng huyết áp tâm thu

1.1.4 Đặc điểm của người bệnh tăng huyết áp

Về đặc điểm lâm sàng của người bệnh bị tăng huyết áp có thể có triệu chứng đau đầu nhất là về cuối đêm và sáng sớm, ở vùng chẩm, trán, thái dương, có khi đau tản mạn hoặc đau nửa đầu, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, giảm khả năng hoạt động trí óc,

dễ quên Ngoài ra có thể có hồi hộp, mệt, khó thở, tê đầu chi Nặng hơn là hội chứng não do tăng huyết áp: bệnh não do tăng huyết áp, đột quỵ do thiếu máu não, xuất huyết não, cơn thiếu mãu não thoáng qua Các biểu hiện xảy ra tuỳ từng giai đoạn của bệnh Đo huyết áp phát hiện huyết áp tăng, có thể huyết áp tâm thu và/hoặc huyết

áp tâm trương Tuy nhiên bệnh tăng huyết áp thường không có triệu chứng gì Trên thực tế, rất nhiều người bị tăng huyết áp trong nhiều năm mà không biết, cho đến khi

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 15

đi khám bệnh hoặc đã bị các biến chứng nguy hiểm do tăng huyết áp gây ra rồi mới

phát hiện bệnh Vì vậy tăng huyết áp lại nguy hiểm và được coi là “ kẻ giết người

thầm lặng”

1.1.5 Biến chứng [17]

Áp lực quá mức lên thành động mạch do huyết áp cao có thể làm hỏng mạch

máu cũng như các cơ quan trong cơ thể

Huyết áp cao không kiểm soát được có thể dẫn đến nhiều biến chứng

Suy tim, dày thất, bệnh mạch vành

Đột quỵ, suy giảm trí nhớ,

Xơ vữa động mạch

- Đột quị, thiếu máu não thoáng qua, sa sút trí tuệ, hẹp động mạch cảnh

- Phì đại thất trái, suy tim

- Nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực

- Bệnh mạch máu ngoại vi

- Xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị

- Protein niệu, suy thận

1.1.6 Điều trị

- Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng

ngày, điều trị lâu dài

- Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”

- Đối với tất cả người bệnh, mục tiêu đầu tiên của điều trị là đưa huyết áp xuống

thấp hơn 140/90 mmHg Nếu điều trị được dung nạp tốt thì đưa huyết áp tâm thu

xuống thấp hơn 130 mmHg (nhưng không cố đưa xuống dưới 120 mmHg) cho đa số

người bệnh Đối với người cao tuổi ≥ 65 tuổi và người bệnh thận mạn cần đưa huyết

áp tâm thu về khoảng 130-139 mmHg [17]

THA

Trang 16

- Huyết áp tâm trương dưới 80 mmHg là mục tiêu điều trị được khuyến cáo cho tất cả người bệnh tăng huyết áp, bất kể tổng nguy cơ tim mạch hay bệnh kèm theo [17]

- Điều trị tăng huyết áp là quá trình điều trị hàng ngày và lâu dài Do vậy người bệnh cần hiểu rõ thông tin về chủng loại thuốc, liều dùng, cách dùng, các tác dụng phụ (nếu có) [8]

1.1.7 Phòng bệnh tăng huyết áp

Phòng ngừa và kiểm soát huyết áp là quá trình mang tính chất lâu dài luôn cần

phối hợp với việc duy trì một lối sống tích cực [8]

Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống như chế độ ăn (tránh ăn mặn, tránh chất béo bão hoà, ăn thêm nhiều rau và hoa quả), chế độ sinh hoạt (bỏ thuốc lá, uống rượu vừa phải, giảm căng thẳng, tăng vận động thể lực mỗi ngày, giảm béo và duy trì cân

nặng lý tưởng) [8] là những biện pháp để phòng ngừa tăng huyết áp ở người trưởng

thành, phối hợp với việc giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức và hiểu biết về bệnh tăng huyết áp cũng như các biến chứng của tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác

Theo nghiên cứu của Phạm Vi Long năm 2019 có 75,3% người bệnh uống rượu bia vừa phải, 25,8% hạn chế ăn chất béo động vật, 76,1% không hút thuốc lá, 12,9% hạn chế ăn mặn, 10,5 % tập thể dục đều đặn [23] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm và cộng sự năm 2017 cho thấy người bệnh thường xuyên ăn tăng các loại rau xanh chiếm 80,8%, ăn giảm thức ăn đã chế biến sẵn chiếm 70,4% [34]

1.1.8 Dịch tễ tăng huyết áp

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2000, toàn thế giới có tới

972 triệu người bị bệnh tăng huyết áp và con số này được ước tính là vào khoảng 1,56 tỷ người vào năm 2025 Hiện nay, cứ trung bình 10 người lớn có 4 người bị tăng huyết áp Theo WHO, mỗi năm có 17,5 triệu người chết về các bệnh tim mạch trên Thế giới, nhiều hơn gấp 4 lần tổng số người tử vong của 3 bệnh lý HIV/AIDS, sốt rét

và lao phổi Trong đó, người bệnh tử vong vì tăng huyết áp và biến chứng của tăng huyết áp hơn 7 triệu người [44]

Tại Việt Nam, năm 2000 có khoảng 16,3% người lớn bị tăng huyết áp, đến năm

2009 tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn là 25,4% và năm 2016 tỷ lệ người lớn bị tăng

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 17

huyết áp đang ở mức báo động là 48%, một mức báo động đỏ trong thời điểm hiện tại [44]

Theo thống kê năm 2015 của Hội Tim mạch học Việt Nam, hơn 5.454 người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh, thành phố trên toàn quốc mắc tăng huyết áp Kết quả cho thấy, có 52,8% người Việt có huyết áp bình thường (23,2 triệu người), có 47,3% người Việt Nam (20,8 triệu người) bị tăng huyết

áp Đặc biệt, trong những người bị bệnh tăng huyết áp, có 39,1% (8,1 triệu người) không được phát hiện bị tăng huyết áp; có 7,2% (0,9 triệu người) bị tăng huyết áp không được điều trị; có 69,0% (8,1 triệu người) bị tăng huyết áp chưa kiểm soát được [44]

1.2 Kiến thức tự chăm sóc

Kiến thức thức tự chăm sóc của người bệnh cao huyết áp bao gồm kiến thức về bệnh tăng huyết áp và tuân thủ điều trị, lối sống lành mạnh

Theo kết quả STEPS 2015 có 44,2 % trong số nam giới và chỉ có 1,2 % nữ giới

đã uống 6 ly trở lên vào bất kỳ dịp nào trong 30 ngày qua.Trung bình người bệnh ăn trái cây 4 ngày mỗi tuần và ngày nào cũng ăn rau (6,5 ngày mỗi tuần) Một tỷ lệ rất cao người bệnh luôn hoặc thường xuyên thêm muối hoặc nước sốt mặn vào trước/trong khi ăn (nam chiếm 71,5%, nữ chiếm 69,1%) Phần lớn người bệnh (80,5%)

đã sử dụng dầu thực vật để chế biến thức ăn Người bệnh được phân loại là hoạt động thể chất cao chiếm 58,6% ở nam giới, 37,9% ở nữ giới và 48,1% ở cả hai giới Trung bình một người Việt Nam trong độ tuổi 16-69 dành 191,5 phút cho các hoạt động thể chất và khoảng hơn 50% dân số dành hơn 87,9 phút cho các hoạt động thể chất [4]

1.3 Thực hành chăm sóc và tuân thủ dùng thuốc

1.3.1 Thực hành chăm sóc ăn hợp lý

* Hạn chế Natri

Chế độ ăn giảm muối là một cách khá hữu hiệu để khống chế huyết áp trong giới hạn cho phép cũng như để phòng tăng huyết áp nói chung [8] Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng năm 2011 cho thấy lượng muối tại Việt Nam lượng muối tiêu thụ trung bình mỗi người 12-15 mỗi người một ngày Rất nhiều người trong độ tuổi từ 26 đến 64 tiêu thụ một lượng muối cao hơn so với lượng muối do WHO khuyến cáo là ít hơn 5 gam một người một ngày (hay một thìa cà phê) Gần 60% người dân tiêu thụ

Trang 18

lượng muối cao gấp hai lần lượng muối được khuyên dùng hàng ngày Những con số này tương đồng với các kết quả nghiên cứu ở các nước khác như Trung Quốc và Nhật Bản, nơi mà người dân cũng tiêu thụ trung bình khoảng 10 gam muối mỗi ngày [40]

Thay đổi chế độ ăn, giảm lượng muối nhằm mục tiêu tối ưu là lượng Natri trong khẩu phần ăn hàng ngày là <1500mg Kỳ vọng giảm 1-3mmHg huyết áp tâm thu cho mỗi

1000 mg Natri giảm ở người lớn có hoặc không có tăng huyết áp [7] Hiệu quả của việc ăn giảm muối khá đa dạng Người già tăng huyết áp thường đáp ứng tốt với chế

độ ăn hạn chế muối [8]

Lượng muối tiêu thụ hàng ngày tại Việt Nam chủ yếu là từ muối và các gia vị cho vào trong quá trình chế biến, nấu nướng và khi ăn (81%), có sẵn trong các thực phẩm chế biến sẵn (11.6%) và có trong các thực phẩm tự nhiên (7.4%) Bột canh và nước mắm là hai nguồn chính cung cấp muối hàng ngày (tương ứng với (35.1% và 31.6%) Mì chính và muối tinh là cũng là những nguồn cung cấp muối đáng kể (tương ứng 7.5% và 6.1%) Trong các thực phẩm chế biến sẵn, mì ăn liền là thực phẩm có lượng muối lớn (7.5%) Dưa muối, dưa cà cũng đóng góp 1.4% lượng muối hàng ngày

[40]

Thành phần chủ yếu của muối trong khẩu phần ăn của chúng ta là natri Natri cũng có trong mì chính (bột ngọt), một loại gia vị được nhiều nơi trên thế giới sử dụng

[40] Vì vậy để hạn chế lượng muối ăn vào chúng ta nên [40]:

- Ăn nhiều rau xanh và hoa quả tươi

- Lựa chọn thực phẩm, ngũ cốc, bánh mì giảm muối

- Không để nước mắm, nước tương và muối trên bàn ăn

- Hạn chế lượng muối, bột canh, nước mắm… cho vào thức ăn khi nấu nướng, mức tối đa là không quá một phần năm thìa cà phê muối cho một bữa ăn của một người một ngày

- Hạn chế thường xuyên sử dụng các sản phẩm có hàm lượng muối cao như khoai tây chiên, bim bim, xúc xích, giò chả, dưa muối…

- Yêu cầu sử dụng các sản phẩm có hàm lượng muối thấp khi mua thực phẩm chế biến sẵn

- Đọc nhãn khi mua thực phẩm đã được chế biến sẵn để kiểm tra hàm lượng muối

- Nên cho trẻ em ăn thực phẩm tự nhiên và không thêm muối

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 19

- Hạn chế những loại nước ngọt có ga, các loại bia vì chúng có hàm lượng Natri cao:

1 lít bia có hàm lượng Na+ từ 20mg đến 100mg

*Tăng cường kali

Thay đổi chế độ ăn uống tăng cường lượng Kali trong khẩu phần ăn (ưu tiên hơn dùng dạng viên bổ sung) Mục tiêu tối ưu là 3500-5000 mmg/ngày Mức giảm huyết áp nhiều hơn ở những người sử dụng kali nhiều hơn [7]

- Chế độ ăn nhiều rau xanh và hoa quả cũng làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch khác nói chung và giảm nguy cơ tai biến mạch máu não nói riêng [8] Rau xanh, quả chín là nguồn thực phẩm cung cấp Kali chủ yếu Nhóm rau quả cung cấp nhiều Kali bông cải xanh, rau dền, rau ngót, rau đay, mồng tơi

- Các loại quả chín có nhiều kali như : Táo tây, lê, cam, chuối, đu đủ…

- Rau quả còn là nguồn cung chất xơ giúp giảm hấp thu cholesterol toàn phần trong thực phẩm

- Các loại ngũ cốc, đậu hạt,… cũng chứa nhiều kali

* Cung cấp đủ canxi, hạn chế chất béo

Tăng tiêu thụ rau, trái cây tươi, cá, các loại hạt và axít béo không bão hòa (ví dụ dầu ô-liu) Giảm tiêu thụ thịt đỏ Khuyến khích dùng các sản phẩm ít béo từ sữa [9]

Nên ăn 3 bữa một ngày trong đó khoảng một nửa thực phẩm là chất bột, rau xanh, trái cây Khẩu phần ăn hàng ngày không quá 1/10 là lượng mỡ bão hòa Vì vậy, nên ăn nhiều cá, hải sản và giảm các loại thịt đỏ như: thịt lợn, thịt bò; ăn giảm mỡ động vật và lòng đỏ trứng vì chúng có hàm lượng mỡ bão hòa cao, là nguồn gốc phát sinh ra các chứng xơ vữa mạch máu [3]

Nên ăn chất béo có nguồn gốc thực vật, các loại dầu thực vật, dầu cá và một số hạt có chất béo như: hạt mè, hạt hướng dương, hạt hạnh nhân Acid béo omega-3 trong cá và các loại hạt này có tác dụng làm hạ cholesterol xấu, tăng lượng cholesterol tốt và giảm nguy cơ máu đông Nên thay thế các thực phẩm nhiều chất béo truyền thống như: lạp xưởng, pate, giò mỡ, nội tạng động vật, sườn heo, nước cốt dừa… bằng các thực phẩm ít chất béo, bởi vì những thực phẩm trên có hàm lượng chất béo chuyển hóa và chất béo bão hòa cao → tăng nguy cơ xơ vữa mạch máu → làm tăng huyết áp Tốt nhất nên ăn các thực phẩm chế biến bằng phương pháp luộc

Trang 20

hoặc nướng thay cho rán, chiên, xào; bởi vì thực phẩm qua rán, chiên, xào chứa hàm lượng cao chất béo chuyển hóa [3]

Không dùng nhiều mỡ và chất ngọt, cố gắng ăn các thức ăn có nhiều chất xơ hòa tan như: đậu xanh quả, đậu hạt các loại chất xơ trong rau quả và những loại ngũ cốc thô như: gạo lức, bắp lức, các loại đậu có tác dụng chuyển hóa các chất béo và làm

hạ huyết áp Đặc biệt, chất xơ cũng thu hút những acid mật do cơ thể sản sinh ra để tiêu hóa các chất béo và đào thải chúng ra ngoài theo đường ruột [3]

1.3.2.Thực hành chăm sóc uống rượu và hút thuốc

Hạn chế rượu bia: Uống rượu quá mức gây ra tăng huyết áp, giảm hiệu lực của thuốc nếu người bệnh đang phải điều trị huyết áp bằng thuốc, cũng như có thể dẫn tới các phản ứng chéo của thuốc [8]

Vì vậy giới hạn lượng cồn tiêu thụ ở mức < 14 đơn vị/tuần đối với nam và < 8 đơn vị/ tuần đối với nữ (1 đơn vị tương đương 125 ml rượu vang hoặc 250ml bia) [9] Thuốc lá là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với nhiều bệnh tim mạch (đặc biệt là động mạch vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não và các bệnh động mạch ở chi) [8]

Ngừng hút thuốc lá, thuốc lào và tránh hút thuốc thụ động là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa các biến chứng của bệnh tim mạch trong đó có bệnh tăng huyết

áp, tạo nên một môi trường sống không khói thuốc để hạn chế tối đa các nguy cơ tăng huyết áp từ khói thuốc [5]

1.3.3.Thực hành chăm sóc theo dõi huyết áp

Huyết áp thay đổi từng lúc, bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau bao gồm:

tư thế của cơ thể, chu kỳ hít vào-thở ra, trạng thái cảm xúc, tâm lý, hoạt động tiêu hoá (sau ăn no…) Huyết áp thường thấp nhất lúc chúng ta ngủ và tăng cao nhất khi chúng

ta hoạt động (gắng sức) hoặc căng thẳng tâm lý Sự thay đổi huyết áp thường xuyên này khiến cho việc theo dõi diễn biến huyết áp gặp nhiều khó khăn Vì vậy tốt nhất cần

đo huyết áp lúc nghỉ ngơi và thoải mái tâm lý [8]

Đo huyết áp chính là phương pháp đơn giản và duy nhất để phát hiện tăng huyết

áp và cơ sở để giúp người bệnh điều chỉnh lối sống phù hợp, đồng thời cũng là bằng chứng giúp thầy thuốc quản lý điều trị tốt hơn

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 21

1.3.4.Thực hành chăm sóc luyện tập thể dục, giảm cân

Hoạt động thể lực, tập thể dục và rèn luyện thân thể hàng ngày là một phần quan trọng, không thể tách rời để hướng tới một lối sống tích cực lành mạnh có lợi cho sức khoẻ nói chung, hệ thống tim mạch nói riêng [8]

Nguyên tắc tập luyện chung là thường xuyên, liên tục và nâng dần tốc độ hoặc thời gian tập Khi tập luyện bắt đầu cho ta cảm giác dễ chịu, cần tăng dần thời gian đến 20-30 phút/ngày Để đạt được hiệu quả tốt, cần phải tập chạy thường xuyên hàng ngày Phải qua 2-3 tháng tập luyện thường xuyên huyết áp mới bắt đầu hạ xuống, bởi vậy tập luyện đòi hỏi phải kiên trì [3] Với những người bệnh bị tăng huyết áp thì tập luyện phải kết hợp với dùng thuốc hạ huyết áp theo chỉ định của thầy thuốc Với những người bệnh tăng huyết áp độ III (trên 180/110 mmHg) thì cần phải kiểm soát được huyết áp bằng việc dùng thuốc trước, sau đó mới tiến hành chương trình tập luyện bằng các bài tập đi bộ nhanh kết hợp tập các bài tập thở, sau một số tuần có thể tăng tốc độ hoặc quãng đường đi bộ Khi có biểu hiện suy tim thì chỉ định hoàn toàn với tập luyện, người bệnh chỉ được đi dạo hít thở không khí trong lành [3]

Nên hỏi ý kiến các bác sỹ chuyên khoa về chế độ luyện tập phù hợp nhất là khi đã có những biểu hiện giảm khả năng gắng sức, có cơn đau thắt ngực [8]

Duy trì cân nặng ở ngưỡng thích hợp là một bước ngoặt quan trọng để giảm nguy cơ xuất hiện tăng huyết áp và /hoặc giảm tốc độ tiến triển của số đo huyết áp Người có tăng huyết áp đang cần điều trị thì việc giảm cân thừa sẽ giúp kiểm soát huyết áp dễ dàng hơn, tránh được tăng liều dùng và số lượng thuốc không phù hợp [8] Giảm cân được khuyến cáo cho người huyết áp bình thường cao và tăng huyết

áp, cho những người thừa cân hoặc béo phì, duy trì BMI 20-25kg/m2, vòng eo < 94

cm ở nam và < 80 cm ở nữ [17]

1.3.5 Thực hành chăm sóc tránh lo âu và căng thẳng

Căng thẳng có thể làm tăng huyết áp đột biến tạm thời và có thể gây ra nhiều hậu quả trầm trọng trên người bệnh tăng huyết áp Vì vậy, người bệnh tăng huyết áp cần học cách sắp xếp, bố trí công việc và cuộc sống một cách hợp lý để giảm thiểu stress như: ăn các thức ăn có lợi cho sức khỏe, vận động thể lực điều độ, tập thở sâu, ngủ đủ giấc, nghỉ ngơi hợp lý, học cách sắp xếp, bố trí công việc hài hòa, có nhiều

bạn thân và biết vận dụng các biện pháp khác nhau để giải tỏa căng thẳng[3],[48]

Trang 22

Ngủ đủ giấc rất quan trọng đối với sức khỏe tổng thể của bạn, ngủ đủ giấc là một trong các biện pháp để giữ cho trái tim và mạch máu của bạn khỏe mạnh Không ngủ đủ giấc một cách thường xuyên có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tim, tăng huyết áp và đột quỵ Cần giảm thiểu căng thẳng trong cuộc sống hằng ngày và trong công việc [10]

1.3.6 Tuân thủ điều trị

Theo Haynes và Rand, “tuân thủ điều trị là mức độ hành vi của người bệnh đối với việc dùng thuốc, theo một chế độ ăn uống và/hoặc thực hiện thay đổi lối sống tương ứng với các khuyến cáo của nhân viên chăm sóc y tế [67] Tại các nước phát triển, sự tuân thủ của người bệnh trong điều trị bệnh mạn tính trung bình khoảng 50% Còn tại các nước đang phát triển, sự tuân thủ điều trị được ước tính là thấp hơn do sự thiếu nguồn lực y tế và bất bình đẳng trong việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe …

Tăng huyết áp nếu không được điều trị đúng và đầy đủ sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Khi người bệnh tăng huyết áp tuân thủ đúng liệu pháp điều trị sẽ làm giảm từ 35 – 40% tỷ lệ đột quỵ, giảm khoảng 20 - 25% tỷ lệ bị nhồi máu cơ tim và trên 50% trường hợp suy tim [48] Chính vì vậy, người bệnh tăng huyết áp cần được theo dõi, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài [3]

1.4 Các yếu tố liên quan đến thực hành tự chăm sóc và tuân thủ điều trị

* Tuổi, giới

Giới tính và tuối tác không ảnh hưởng đến tính đáp ứng với nhiều loại thuốc, nhưng giới tính và tuổi tác lại có ảnh hưởng đến việc thực hành chăm sóc và tuân thủ điều trị Đặc biệt, ở người cao tuổi thì sự hấp thu và thải trừ thuốc trong cơ thể không như người trẻ tuổi, nên người lớn dễ bị các tác dụng phụ do thuốc gây ra và ở một số người bệnh lớn tuổi trí nhớ giảm sút, sức khỏe yếu nên việc quên uống thuốc hay xảy

ra Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm năm 2017 cho thấy nữ giới trong nhóm nghiên cứu có hành vi tự chăm sóc cao hơn nam giới, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 và có 59,6% người bệnh thường xuyên dùng thuốc đúng thời gian quy định, 76,0% người bệnh không bao giờ tự tăng hoặc giảm lượng thuốc của mình và có

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 23

62,0% người bệnh chủ yếu là người cao tuổi (độ tuổi > 60 tuổi chiếm 72,8%) nên người bệnh dễ quên uống thuốc [34]

* Kiến thức của người bệnh

Kiến thức là nền tảng của các hành vi tự chăm sóc Với người bệnh tăng huyết áp việc trau dồi kiến thức liên quan đến bệnh tăng huyết áp là rất quan trọng Chính vì vậy kiến thức của người bệnh sẽ ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị cũng như thực hành chăm sóc kiểm soát huyết áp, điều đó đã được khẳng định qua một số nghiên cứu như kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Thái về hành vi tự chăm sóc của người cao tuổi điều trị ngoại trú đã chỉ ra rằng điểm trung bình kiến thức của người bệnh là 7,49 ± 0,88 điểm và kiến thức của người bệnh về tăng huyết áp liên quan dương tính, có ý nghĩa thống kê ở mức độ cao với hành vi tự chăm sóc của người bệnh với r = 0,528 và p < 0,01 Nghĩa là với người bệnh có kiến thức về bệnh tăng huyết áp tốt thì hành vi tự chăm sóc sẽ cao hơn [32] Về kiến thức liên quan đến tuân thủ điều trị Nguyễn Thị Thơm cho rằng người bệnh có kiến thức đạt

có khả năng tuân thủ điều trị cao gấp 5,3 lần so với người bệnh có kiến thức không đạt, nếu các biến số độc lập khác trong mô hình là như nhau (có cùng giới tính, tình trạng mắc bệnh kèm theo, hỗ trợ xã hội, trình độ học vấn) và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với OR = 5,3 và p < 0,05 [34]

Sự kết hợp giữa việc dùng thuốc với tăng cường hoạt động thể lực, chế độ ăn uống thích hợp, bỏ thói quen hút thuốc lá, thuốc lào, uống rượu lành mạnh làm gia tăng hiệu quả của thuốc hạ áp và giảm nguy cơ tim mạch, giúp cho việc điều trị hiệu quả tốt hơn Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Đại năm 2019 về thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh điều trị tại ba trạm y tế xã huyện Phú Xuyên, Hà Nội đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữa kiến thức về bệnh tăng huyết áp và tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp trong nghiên cứu Những người bệnh có kiến thức về bệnh

có khả năng tuân thủ điều trị cao hơn 14,82 lần so với những người có kiến thức không đạt (CI95%: 3,48-63,14; p<0,05) [12]

* Trình độ văn hóa

Đối với bệnh tăng huyết áp, thực hành chăm sóc và tuân thủ điều trị là điều kiện cần thiết và quyết định hiệu quả điều trị Tuy nhiên, việc tuân thủ lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ học vấn, hiểu biết về bệnh tật của người bệnh Người

Trang 24

có trình độ văn hoá cao thì hành vi tự chăm sóc, tuân thủ điều trị cao hơn người có trình độ văn hoá thấp Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Thái đã chứng minh giữa các nhóm trình độ khác nhau thì điểm hành vi tự chăm sóc của người bệnh khác nhau, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với F = 4,165 và p < 0,001 Khi so sánh điểm trung bình hành vi tự chăm sóc của từng cặp trình độ học vấn với nhau thì kết quả cho thấy hành vi tự chăm sóc của nhóm không biết chữ (5,83 ± 0,58 điểm) thì thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có trình độ tiểu học (6,57 ± 0,36 điểm) với p < 0,01; thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có trình độ trung học cơ sở (6,59 ± 0,47 điểm) với p < 0,01; cũng thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có trình độ trung học phổ thông (6,48 ± 0,49 điểm) với p < 0,05; thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có trình độ trung cấp trở lên (6,66 ± 0,43 điểm) với p < 0,01 và hành vi tự chăm sóc của nhóm có trình độ trung học cơ sở (6,59 ± 0,47 điểm) thì thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có trình độ trung cấp trở lên (6,66 ± 0,43 điểm) với p < 0,01[32] Tác giả tác giả Han, H.R và CS (2007) khi nghiên cứu về hành vi tự chăm sóc của những người trung niên Mỹ gốc Hàn cho thấy ở những người có trình độ học vấn cao thì hành vi tự chăm sóc cao gấp 1,34 lần những người có học vấn thấp (OR = 1,34; p < 0,05) [55].

* Sự hỗ trợ của gia đình và xã hội

Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Thái khi đánh giá mức độ hỗ trợ xã hội của nười bệnh cho thấy điểm trung bình chung hỗ trợ xã hội của người bệnh là 6,93 ± 0,96 điểm; trong đó điểm hỗ trợ từ phía bạn bè thấp nhất (6,50 ± 1,03 điểm); điểm hỗ trợ từ phía gia đình là 6,9 ± 1,22 điểm thấp hơn so với điểm hỗ trợ từ phía những người quan trọng (7,36 ± 0,89 điểm) Trong khi người bệnh trong nghiên cứu chủ yếu là người cao tuổi chiếm đa số (86,8%) người bệnh sống cùng với gia đình do đó những thói quen sinh hoạt gia đình có ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi tự chăm sóc của người bệnh ví dụ như: chế độ ăn giảm muối, giảm chất béo, chế độ luyên tập; sự tuân thủ dùng thuốc và tái khám; đặc biệt hỗ trợ gia đình đối với người cao tuổi còn

là môi trường sống lành mạnh không khói thuốc, không khí gia đình vui vẻ, đầm ấm, tránh những tác động mạnh về tâm lý và sự động viên, khích lệ, ghi nhận mọi nỗ lực của người bệnh…để có thể duy trì hành vi tự chăm sóc [32]

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 25

Người bệnh tăng huyết áp không chỉ được cung cấp đầy đủ các thông tin qua tivi, sách báo và sự quan tâm, chăm sóc của người thân trong gia đình mà còn nhận được sự hỗ trợ của nhân viên y tế và các tổ chức xã hội khác Chang A.K và Lee E.J tại Hàn Quốc cũng chỉ ra hỗ trợ xã hội liên quan có liên quan thuận ở mức độ cao với hành vi tự chăm sóc với r = 0,55; p < 0,001[46].

1.5 Các nghiên cứu liên quan

1.5.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Tỷ lệ tăng huyết áp không ngừng gia tăng trên thế giới và ở nước ta Hiện tại theo WHO ước tính có khoảng ≈1,4 tỷ người trưởng thành trên thế giới bị tăng huyết

áp, nhưng < 14 % được kiểm soát bằng liệu pháp đièu trị tăng huyết áp với huyết áp tâm thu/tâm trương <140/90 mmHg [7]

Vấn đề tuân thủ điều trị ngoại trú là mối quan tâm hàng đầu và có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tăng huyết áp và ngăn ngừa các biến chứng tim mạch và tổn thương cơ quan đích của người bệnh tăng huyết áp Có rất nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề này Theo Amonov Malik và các cộng sự đã nghiên cứu

về kiến thức và thực hành liên quan đến tăng huyết áp của người bệnh đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tăng huyết áp và ngăn ngừa các biến chứng lâu dài của nó trong bệnh viện Nghiên cứu thực hiện trên 209 bệnh nhân được chẩn đoán tăng huyết áp nguyên phát tại Viện Y tế Bang Samarkand.Tỷ lệ kiểm soát huyết

áp và tuân thủ điều trị thuốc của bệnh nhân là dưới mức tối ưu (tương ứng là 24,4%

và 36,8%), 64,6% người bệnh có kiến thức tốt hoặc đầy đủ và 35,5% có kiến thức không đầy đủ về tăng huyết áp Kiến thức tốt của bệnh nhân có liên quan đáng kể với huyết áp được kiểm soát (OR = 5,4, kiến thức chung 95% = 1,7-16,2) và tuân thủ thuốc (OR = 3,8, kiến thức chung 95% = 1,4-10,8) [47] Một nghiên cứu khác của Ayman Tailakh và các cộng sự tại Ả Rập tỷ lệ tăng huyết áp ước tính chung là 29,5% (n = 45 379), cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người Ả Rập cao hơn so với người Mỹ (28%) và châu Phi cận Sahara (27,6%) Nhận thức về tăng huyết áp được báo cáo cho 46% các nghiên cứu và thay đổi từ 18% (Jordan) đến 79,8% (Syria) Tỷ lệ kiểm soát thay đổi từ 56% (Tunisia) đến 92% (Ai Cập và Syria) Tỷ lệ tăng huyết áp được phát hiện tăng theo tuổi, xảy ra thường xuyên hơn ở phụ nữ Ả Rập [49]

Năm 2020 theo một nghiên cứu của Wei-Guo Fan và các cộng sự tại Trung

Trang 26

Quốc, có khoảng 250 triệu người trưởng thành bị tăng huyết áp với tỷ lệ nhận thức, điều trị và kiểm soát thấp Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp ban đầu là 33,4% và tỷ lệ không biết về chẩn đoán, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp lần lượt là 74,2%, 25,8% và 9,7% Dân số thay đổi lối sống có thể có tác động rất lớn đến tỷ lệ hiện mắc và kiểm soát bệnh tăng huyết áp ở Trung Quốc [71] Kết quả nghiên cứu của Bidisha Das và các cộng sự đã chỉ ra năm 2021 đã chỉ ra Việc tuân thủ các thuốc điều trị tăng huyết áp hàng ngày là cần thiết để kiểm soát tăng huyết áp Theo chương trình kiểm soát tăng huyết áp của Nhà nước, người bệnh tăng huyết áp được đăng ký vào các cơ sở y tế công cộng, được cung cấp đơn thuốc trong 30 ngày và được khuyên trở lại cơ sở y tế hàng tháng Có 50-60% người bệnh không đến cơ sở y tế tái khám theo lịch hẹn Không cảm thấy ốm hoặc không có bất kỳ triệu chứng nào (24,8%) là nguyên nhân chính khiến người bệnh không quay lại phòng khám, tiếp theo là do xa cơ sở y tế (22,3%) Ngoài ra còn có các nguyên nhân dẫn đến việc bỏ hẹn tái khám, thiếu chỉ dẫn/hướng dẫn của cơ sở (15,3%), người bệnh cấp tính (8,3%), thời gian chờ đợi khám quá lâu tại cơ sở y tế (7%) cũng được ghi nhận Hầu hết những người bệnh này (55,4%) tiếp tục điều trị từ các nguồn khác, và phần lớn (54%) thích các phòng khám tư nhân hơn Những kết quả này cho thấy sự cần thiết phải có một mô hình chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm hơn, bao gồm giáo dục

về tăng huyết áp là một tình trạng không có triệu chứng nhưng đe dọa tính mạng và giải quyết rào cản về khoảng cách di chuyển giữa nhà người bệnh và cơ sở y tế [51]

Tuân thủ điều trị kém đã được xác định là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại trong kiểm soát huyết áp Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều của người bệnh tăng huyết áp Theo Masuma Akater Kha nam và các cộng sự số người khám có đủ điều kiện chẩn đoán tăng huyết áp chỉ chiếm 53,5% (BS MBBS 46,1 và

BS chuyên khoa 7,4%) Trong số những người cung cấp dịch vụ không đủ tiêu chuẩn, các bác sĩ làng được chẩn đoán 40,7% và những người khác (y tá, nhân viên y tế, nhân viên y tế, vi lượng đồng căn, thầy thuốc tâm linh và dược sĩ) mỗi người được chẩn đoán dưới 5% Tuổi tác, giới tính, giáo dục, sự giàu có và loại nhà cung cấp có liên quan độc lập với việc không tuân thủ dùng thuốc Nhiều nam giới ngừng điều trị hơn

nữ giới (tỷ số chênh lệch [OR] 1,74, khoảng tin cậy [CI] 1,48-2,04) Không tuân thủ điều trị cao hơn khi bệnh tăng huyết áp được chẩn đoán bởi những người cung cấp

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 27

dịch vụ không đủ tiêu chuẩn (OR 1,52, CI 1,31-1,77) Người bệnh tăng huyết áp ở độ tuổi lớn hơn, nhóm nghèo nhất và trình độ học vấn cao ít có khả năng không tuân thủ điều trị Người bệnh mắc bệnh tim mạch cũng ít có khả năng không tuân thủ điều trị bằng thuốc hạ huyết áp (OR 0,79, CI 0,64-0,97) [60] Một nghiên cứu khác của Katherine T Mill cùng các cộng sự năm 2016 về tỷ lệ tăng huyết áp ở 90 quốc gia cho rằng có sự chênh lêch về tăng huyết áp rất lớn và ngaỳ càng tăng trên toàn cầu, tỷ lệ nhận thức, điều trị và kiểm soát ở mỗi khu vực là khác nhau.Tỷ lệ nhận thức (58,2%

so với 67,0%), điều trị (44,5% so với 55,6%) và kiểm soát (17,9% so với 28,4%) tăng đáng kể ở các nước thu nhập cao, trong khi nhận thức (32,3% so với 37,9) %) và điều trị (24,9% so với 29,0%) tăng ít hơn và kiểm soát (8,4% so với 7,7%) thậm chí còn giảm nhẹ ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [64]

1.5.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tăng huyết áp tại Việt nam với tần suất ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển, đặc biệt là khi dân số Việt Nam ngày một già hóa Tăng huyết áp ít biểu hiện triệu chứng, nhưng các biến chứng của tăng huyết áp lại rất nặng nề như tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và có thể gây tàn phế, tử vong Những biến chứng liên quan đến tang huyết áp do nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng chủ yếu là việc người bệnh không tuân thủ điều trị Theo nghiên cứu của Trần Văn Long năm 2015 tại Nam Định Tỷ lệ người cao tuổi mắc các bệnh tăng huyết áp là 52,8% Khi khảo sát về kiến thức về cách phòng bệnh tăng huyết áp và các biến chứng của tăng huyết áp Nghiên cứu thu được kết quả: kiến thức của người cao tuổi về các cách phòng bệnh tăng huyết áp còn nhiều hạn chế Biện pháp được nhiều người cao tuổi biết là không ăn mặn (67%), ít hoạt động thể lực (62,9%), thừa cân béo phì (58,3%), không hút thuốc lá (36,8%), không uống rượu (33,9%) Kiến thức của người cao tuổi về biến chứng của bệnh tăng huyết áp rất thấp đặc biệt là các biến chứng về thận, mắt Biến chứng được nhiều người cao tuổi biết đến nhất đó là tai biến mạch máu não - đột qụy nhưng cũng chỉ có 12,5% người cao tuổi nhắc đến [20] Nghiên cứu Nguyễn Thị Thơm (2017) về thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh 2017 bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang với cỡ mẫu 250 bệnh nhân tăng huyết áp cho kết quả: Việc tuân thủ dùng thuốc, là có 59,6% người bệnh thường

Trang 28

xuyên dùng thuốc đúng thời gian quy định, 76,0% người bệnh không bao giờ tự tăng hoặc giảm lượng thuốc của mình Tuy nhiên thi thoảng còn một số người bệnh vẫn quên uống thuốc theo quy định chiếm 62,0%, có thể do người bệnh chủ yếu là người cao tuổi (độ tuổi > 60 tuổi chiếm 72,8%) nên người bệnh dễ quên uống thuốc Tỷ lệ người bệnh không tự ngừng uống thuốc khi cảm thấy khỏe hơn hay yếu hơn đều đạt gần 80%, 54,8% thường xuyên ăn giảm lượng muối và 3,2% vẫn ăn mặn [34]

Tăng huyết áp là bệnh mạn tính, đòi hỏi người bệnh phải điều trị liên lục và lâu dài Đặc biệt người bệnh tăng huyết áp thường được điều trị ngoại trú, nếu chưa mắc các biến chứng hoặc là bị bệnh nặng Chính vì vậy sự tuân thủ của người bệnh

sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị Nghiên cứu tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của Nguyễn Huy Đại tại ba trạm y tế xã huyện Phú Xuyên, Hà Nội tiến hành trên 270 người bệnh tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ có kiến thức đạt chỉ có 41,1% Trong nhóm nghiên cứu có 87,0% người bệnh biết rằng việc điều trị tăng huyết áp là cần phải uống thuốc thường xuyên, liên tục, lâu dài theo chỉ dẫn của bác sĩ, vẫn còn 35,2% người bệnh cho rằng chỉ cần uống thuốc từng đợt khi có tăng huyết áp hay thỉnh thoảng có thể bỏ một vài hôm không uống, điều này có thể do người bệnh thấy người bình thường khi không uống thuốc hoặc họ chưa được tư vấn đầy đủ, kỹ càng

về vấn đề này [12]

Phần lớn người bệnh tăng huyết áp đều có kiến thức đúng về lối sống Tuy nhiên theo nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Thái vẫn còn 10,7% người bệnh trả lời sai/không biết khi hỏi rằng người bệnh tăng huyết áp có thể uống nhiều đồ uống có cồn 16,6% người bệnh trả lời sai/không biết rằng người bệnh tăng huyết áp không được hút thuốc 12,9% cho rằng người bệnh tăng huyết áp tốt nhất là ăn thức ăn rán; 12% người bệnh trả lời sai/không biết thức ăn tốt nhất cho người bệnh tăng huyết áp

là luộc hoặc hấp [32] Trong nghiên cứu năm 2019 của Lê Thị Thanh Huyền về kiến thức và thực hành lối sống của người bệnh tăng huyết áp tại bệnh viện đa khoa Quảng Trị tỷ lệ người bệnh có kiến thức đúng về lối sống kiểm soát tăng huyết áp là 63,7 %, tỷ lệ người bệnh thực hành đạt về hoạt động thể lực là 49,5%, tỷ lệ người bệnh thực hành đạt về chế độ nghỉ ngơi là 35,5% [18] Cũng theo một nghiên cứu khác của Hoàng Đức Thái nghiên cứu trên 239 người bệnh tăng huyết áp tại bệnh viện Đa khoa Tri Tôn Phần lớn bệnh nhân tuân thủ điều trị dùng thuốc (72,03%),

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 29

vẫn còn 66 bệnh nhân chưa tuân thủ tốt việc điều trị bằng thuốc (27,97%) Đa số bệnh nhân tuân thủ các chế độ điều trị không dùng thuốc: tuân thủ chế độ ăn (86,02%), tuân thủ việc hạn chế sử dụng rượu bia (81,36 %), tuân thủ tốt chế độ sinh hoạt và rèn luyện thể lực ( 83,47 %) Phần lớn bệnh nhân đều tuân thủ điều trị chung (88,98 %) [31]

Điều kiện sống của người bênh tăng huyết áp cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc tuân thủ điều trị Theo nghiên cứu của Hoàng Cao Sạ năm 2014 về kiến thức, thái độ và thực hành của người bệnh tăng huyết áp khu vực nông thôn tại Hà Nội và Vĩnh Phúc cho thấy có 33,2% người bệnh tăng huyết áp không biết thế nào là huyết

áp bình thường Đa số người bệnh không biết hoặc hiểu sai về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp, 89,9% người bệnh hiểu sai khi cho rằng bệnh tăng huyết

áp có thể điều trị khỏi hoàn toàn Người bệnh sống ở vùng nông thôn kiến thức, thái

độ về tăng huyết áp còn hạn chế điều này dẫn đến việc người bệnh tuân thủ điều trị kém [28]

Theo nghiên cứu “ Kiến thức về bệnh tăng huyết áp và thực hành quản lý bệnh tăng huyết áp của người trưởng thành tại huyện Quảng Xương, Thanh Hoá năm

2019 của Phạm Phương Mai cho thấy hơn một nửa đối tượng được khảo sát cho rằng bệnh tăng huyết áp có triệu chứng đau đầu (51,0%) và hoa mắt chóng mặt (61,6%)

Tỷ lệ rất nhỏ những người được khảo sát cho rằng bệnh này không có triệu chứng (0,5) [25] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Dương Thiện Ân năm 2020 về ‘kiến thức

và thực hành dự phòng biến chứng tăng huyết áp của người bệnh tại khoa nội tim mạch bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang’’ người bệnh có biểu hiện chóng mặt, hoa mắt chiếm (59,5%), nhức đầu sau gáy chiếm (46,9%), nóng bừng mặt chiếm (38,7%), mệt mỏi chiếm (23,9%), buồn nôn chiếm (15,6%) [1]

1.6 Các học thuyết liên quan đến nghiên cứu

* Học thuyết Dorothea Orem

Dorothea Orem (1971) xác định việc chăm sóc điều dưỡng cần nhấn mạnh về việc người bệnh tự chăm sóc Orem khẳng định việc tự chăm sóc người bệnh cần được hướng dẫn, chỉ dẫn họ cách thức để tự họ làm, người bệnh sẽ thích thú vì thấy đời sống của họ vẫn còn có ý nghĩa, sức khỏe được dần dần từng bước được nâng cao Mục tiêu của học thuyết Orem là giúp người bệnh có năng lực tự chăm sóc Khi

Trang 30

họ có khả năng về tâm sinh lý và nhu cầu xã hội, việc nâng cao này được phát triển đến khi người bệnh tự làm lấy tất cả (Orem, 2001) Áp dụng học thuyết vào thực hành chăm sóc và tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ta có thể thấy bệnh nhân tăng huyết áp đều có khả năng tự làm lấy tất cả Người điều dưỡng chỉ hỗ trợ giáo dục sức khỏe, kiến thức về bệnh, hướng dẫn người bệnh tự thực hành chăm sóc

về chế độ ăn, luyện tập hợp lý, từ bỏ thói quen xấu, tuân thủ điều trị để người bệnh tự làm Từ đó nâng cao được năng lực tự thực hành cuả người bệnh giúp người bệnh cảm thấy thích thú, sức khỏe ngày càng nâng cao

*Học thuyết Henderson

Virginia Henderson xác định rằng điều dưỡng là sự hỗ trợ cho người bệnh hoặc người khỏe mạnh nếu họ có khả năng hoạt động để hồi phục, giữ gìn sức khỏe hoặc có chết cũng được chết trong cái chết êm ả miễn là họ có đủ nghị lực, kiến thức, ý chí để hợp tác thực hiện Mục tiêu của điều dưỡng là sớm giúp người bệnh đạt được tính độc lập càng sớm càng tốt, học thuyết Henderson chỉ dẫn có 14 nhu cầu cơ bản cho người bệnh Áp dụng học thuyết vào thực hành chăm sóc và tuân thủ điều trị ta thấy người điều dưỡng có vai trò hỗ trợ giúp người bệnh tăng huyết áp tăng tính độc lập đáp ứng đầy đủ 14 nhu cầu cơ bản Người bệnh có kiến thức cần thiết về thực hành chăm sóc, tuân thủ điều trị và người bệnh có thể tự chăm sóc

1.7 Khung lý thuyết của nghiên cứu

Thông qua tổng quan tài liệu, học thuyết điều dưỡng liên quan đến chủ đề nghiên cứu làm cơ sở cho xây dựng khung lý thuyết của nghiên cứu như sau:

Biến độc lập: Tuổi, giới, trình độ học vấn, thời gian mắc bệnh, điều kiện sống, kiến thức về tăng huyết áp và hỗ trợ xã hội

Biến phụ thuộc: Kiến thức về tăng huyết áp, thực hành chăm sóc ăn hợp lý, thực hành chế độ luyện tập, thực hành theo dõi huyết áp, thực hành không hút thuốc, thực hành uống rượu điều độ, thực hành theo dõi cân nặng, kiểm soát căng thẳng, tuân thủ điều trị thuốc

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 31

K

Sơ đồ 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tự chăm sóc, tuân thủ dùng

thuốc của người bệnh tăng huyết áp

- Ăn hợp lý

- Chế độ luyện tập

- Theo dõi huyết áp

- Không hút thuốc

- Uống rượu điều độ

- Theo dõi cân nặng

- Kiểm soát căng thẳng

Trang 32

1.8 Địa bàn nghiên cứu

Trung tâm Y tế Thành phố Hòa Bình là Trung tâm y tế hạng II trực thuộc sở y

tế tỉnh Hòa Bình tọa lạc tại tổ 8, phường Tân Hòa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình được thành lập năm 2006 có chức năng cung cấp dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật

về y tế dự phòng, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác theo quy định Hiện tại, Trung tâm được xây dựng khang trang với quy mô 200 giường bệnh, 3 phòng chức năng và 13 khoa Phòng khám tăng huyết áp của đơn vị thuộc Khoa Khám bệnh hiện đang quản lý điều trị ngoại trú cho gần 400 bệnh án tăng huyết áp Đây là số lượng bệnh án tương đối lớn trong khi đó nhân lực y tế của Khoa khám bệnh còn thiếu, buồng khám tăng huyết áp chỉ có một bác sĩ và một điều dưỡng Điều đó có thể làm ảnh hưởng đến việc truyền thông, bác sĩ không có thời gian tư vấn, hướng dẫn việc tuân thủ điều trị của người bệnh dẫn đến việc giám sát

hỗ trợ tuân thủ điều trị cho người bệnh tăng huyết áp gặp khó khăn Vì vậy có nhiều người bệnh tăng huyết áp không kiểm soát được huyết áp mục tiêu do không hiểu hoặc hiểu không đúng về bệnh, việc tuân thủ điều còn hạn chế ảnh hưởng đến kết quả điều trị bệnh Một số người bệnh từ điều trị ngoại trú đã phải nhập viện để điều trị nội trú hoặc chuyển lên tuyến trên do biến chứng nặng hơn mà nguyên nhân chủ yếu

là không tuân thủ điều trị Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng Trung tâm đã không ngừng nỗ lực nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và tạo ra bước chuyển biến trong phong cách thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người dân Ban Giám đốc Trung tâm cũng đã đưa ra các biện pháp nhằm giảm tải, nâng cao chất lượng chuyên môn, xây dựng Quy trình khám, chữa bệnh, thực hiện tiếp đón cả trong ngày thứ 7 hàng tuần, tạo thuận lợi cho người bệnh là cán bộ công chức, viên chức, người lao động Trung tâm cũng triển khai hệ thống xếp hàng lấy số khám bệnh, thanh toán tự động và việc sử dụng hóa đơn điện tử góp phần rút ngắn thời gian chờ đợi và làm các thủ tục của người dân

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 33

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh tăng huyết áp

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Người bệnh > 18 tuổi

- Người bệnh được chẩn đoán tăng huyết áp đang theo dõi, điều trị tại phòng khám nội, khoa khám bệnh Trung tâm y tế thành phố Hòa Bình

- Có khả năng trả lời phỏng vấn

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh có diễn biến nặng lên phải vào viện điều trị

- Người bệnh có rối loạn vấn đề tâm lý

- Phụ nữ đang mang thai

2.2 Địa điểm nghiên cứu, thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Khám bệnh ngoại trú, Trung tâm y tế thành phố Hòa Bình

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2022 đến tháng 2/2023

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu định tính

2.4 Mẫu và phương pháp chọn

2.4.1.Mẫu trong nghiên cứu định lượng

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ trong nghiên cứu mô tả:

(1-p)

n = Z21-α/2p

(d)2

Trong đó:

n: là cỡ mẫu nghiên cứu

Z(1-α/2): là trị số phân phối chuẩn =1,96 (độ tin cậy 95%)

d: là sai số cho phép, chọn d=0,05

Trang 34

p: là tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp, p=0,32, theo kết quả nghiên cứu “Tuân thủ điều trị tăng huyết áp và yếu tố liên quan tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre” của tác giả Lê Ngọc Chiêu Ngân tỷ lệ tuân thủ điều trị thuốc là gần 32% [26]

Cỡ mẫu tính được là 335 người bệnh Thực tế cỡ mẫu chọn được là 365 người bệnh tăng huyết áp

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện người bệnh đủ tiêu chuẩn được chọn vào mẫu nghiên cứu trong khoảng thời gian nghiên cứu cho đến khi đủ cỡ mẫu theo tính toán cho nghiên cứu định tính 12 người bệnh được chọn có chủ đích trong nghiên cứu định tính tham gia vào 2 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Các biến số nghiên cứu định lượng

Biến phụ

thuộc

Thực hành chăm sóc

Là biến đo lường mức

độ những hành động (phản ứng cách ứng xử) lặp đi, lặp lại của người bệnh liên quan đến sức khỏe của bản thân bao gồm: ăn uống, luyện tập,

từ bỏ thói quen sấu, theo dõi huyết áp tại nhà, kiểm soát cân nặng, kiểm soát căng thẳng và tuân thủ điều trị

Với mỗi câu hỏi người bệnh chọn 1 phương án trả lời đúng nhất trong 4 phương án: luôn luôn, thường xuyên, thỉnh thoảng và ít khi/không bao giờ

Định lượng

Tuổi Thời gian từ lúc người

bệnh sinh ra đến thời điểm phỏng vấn

Tuổi người bệnh = năm hiện tại-năm sinh

Định lượng

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 35

Biến độc

lập

Giới tính Là sự khác biệt sinh

học giữa nam giới và

nữ giới

Quan sát, phỏng vấn

Nhị phân

Trình độ học vấn

Là bằng cấp cao nhất

mà người bệnh có được tại thời điểm phỏng vấn

Phân biệt theo 4 nhóm: tiểu học, THCS,THPT, sau THPT

Thứ tự

Thời gian mắc bệnh

Là khoảng thời gian từ lúc người bệnh được chẩn đoán THA đến thời điểm phỏng vấn

Thời gian mắc bệnh = năm hiện tại- năm được chẩn đoán mắc bệnh

Định lượng

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang (định lượng): Mỗi người bệnh được xây dựng bệnh án nghiên cứu riêng Đo lường kiến thức, thực hành chăm sóc của người bệnh về kiểm soát huyết huyết áp được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn Người bệnh tham gia nghiên cứu được giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và nội dung câu hỏi Người bênh được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn Bộ câu hỏi cũng được đánh giá thử nghiệm trên khoảng 30 người bệnh để xác nhận tính tin cậy trước khi thu thập số liệu Sau khi phỏng vấn xong, kiểm tra phiếu để đảm bảo không có thông tin nào để trống, rà soát kỹ tránh nhầm lẫn trong ghi chép (phụ lục 1)

- Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu định tính gồm hai cuộc thảo luận nhóm trọng tâm (Focus Group Discusion) Gồm 2 nhóm: 1 nhóm gồm 6 người bệnh nam gới

và một nhóm 6 người bệnh nữ giới Mỗi nhóm, đối tượng nghiên cứu có các đặc điểm tương đối đồng nhất (phụ lục 2)

2.5.3 Kỹ thuật thu thập số liệu định lượng

- Chuẩn bị đầy đủ phiếu để phỏng vấn và ghi chép

- Gặp gỡ người bệnh, giới thiệu nội dung phiếu khảo sát, giải thích để người bệnh hợp tác cung cấp thông tin

Trang 36

2.5.4 Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn đánh giá

* Các khái niệm

- Kiến thức về bệnh tăng huyết áp là hiểu biết của người bệnh về chỉ số tăng huyết áp, yếu tố nguy cơ dẫn đến tăng huyết áp, biến chứng của bệnh tăng huyết áp, nguyên tắc điều trị, phòng tránh bệnh tăng huyết áp, lối sống (ăn uống, sinh hoạt) của người bệnh tăng huyết áp, cách uống thuốc huyết áp, theo dõi đo huyết áp định kỳ

- Tuân thủ điều trị bao gồm cả tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ các biện pháp

thay đổi lối sống Người bệnh được tính là tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp khi đáp ứng đồng thời cả tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống

- Tuân thủ dùng thuốc: là sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê

đơn theo đúng chỉ dẫn của bác sỹ, kể cả khi huyết áp bình thường, không tự ý thay đổi thuốc và liều lượng

- Thực hành chăm sóc là những hành động của người bệnh liên quan đến sức khoẻ của bản thân bao gồm: ăn uống, luyện tập thể dục, kiểm soát cân nặng, từ bỏ thói quen xấu, theo dõi huyết áp tại nhà, kiểm soát căng thẳng, tuân thủ điều trị thuốc

+ Thực hành ăn uống: Hạn chế ăn mặn và thức ăn có chứa nhiều Cholesterol, acid béo no Nên dùng các thức ăn có chứa kali, tăng cường ăn rau và hoa quả tươi

+ Từ bỏ thói quen xấu: Hạn chế rượu bia, không hút thuốc lá/thuốc lào

+ Luyện tập thể dục, kiểm soát cân nặng: luyện tập thể dục hoặc đi bộ thường xuyên ở mức độ vừa phải (5 – 7 lần/tuần), mỗi ngày khoảng 30 – 60 phút

+ Kiểm soát các tình huống gây căng thẳng

- Hỗ trợ xã hội là việc người bệnh tăng huyết được được chăm sóc hỗ trợ từ nhân viên y tế, gia đình, bạn bè

+ Hỗ trợ của nhân viên y tế bao gồm: Cung cấp kiến thức về chăm sóc, phòng bênh…động viên quan tâm người bệnh, lắng nghe các vấn đề của người bệnh

+ Hỗ trợ của gia đình bao gồm: Hỗ trợ về tinh thần (chia sẻ, động viên, giúp đỡ), hỗ trợ kinh tế

+ Hỗ trợ của bạn bè bao gồm: hỗ trợ tinh thần (động viên, chia sẻ, giúp đỡ)

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 37

* Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp

Chẩn đoán tăng huyết áp dựa trên số đo tại phòng khám và ngoài phòng khám

- Huyết áp đo tại phòng khám: Huyết áp tâm thu ≥140 mmHg và/hoặc huyết

áp tâm trương ≥ 90 mmHg

+ Trung bình ban ngày (hoặc khi thức): Huyết áp tâm thu ≥135 mmHg

và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 85 mmHg

+ Trung bình ban đêm (hoặc khi ngủ): Huyết áp tâm thu ≥ 120 mmHg và/hoặc

áp ẩn giấu (masked hypertension) [17]

*Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá

* Phần C: Tuân thủ điều trị tăng huyết áp: 8 câu

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bộ công cụ của Morisy – MMAS-8 Đôi lúc quên uống thuốc, có ngày không uống thuốc trong 2 tuần trước đây, từng bỏ

Trang 38

thuốc mà không báo bác sĩ, quên thuốc khi đi chơi/đi du lịch, đôi lúc ngừng thuốc khi cảm thấy kiểm soát được triệu chứng, thấy bất tiện khi phải tuân theo kế hoạch điều trị, thấy khó khăn khi phải nhớ uống các loại thuốc Mỗi câu có 2 lựa chọn: Có hoặc không Tiêu chuẩn đánh giá điểm MMAS : tuân thủ dùng thuốc từ 6 đến 8 điểm Không tuân thủ: < 6 điểm [63]

* Phần D: Thực hành chăm sóc kiểm soát huyết áp: 20 câu

Thực hành chăm sóc của người bệnh tăng huyết áp bao gồm 20 câu hỏi từ D1

đến D20 Thực hành chăm sóc được đo bởi thang đo Hae-Ra Han [56] Trong

nghiên cứu sử dụng thang đo này bởi vì nó đáp ứng được các tiêu chí đo lường về thực hành tự chăm sóc của người bệnh Thang đo gồm 20 câu hỏi: thực hành chăm sóc ăn kiêng gồm 10 câu hỏi ( từ D2 đến D11), thực hành chăm sóc luyện tập 1 câu (D1), thực hành chăm sóc uống rượu điều độ 1 câu (D12), thực hành chăm sóc không hút thuốc 1 câu (D13), thực hành chăm sóc kiểm tra huyết áp tại nhà 1 câu (D14), thực hành chăm sóc kiểm soát cân nặng (D17), thực hành chăm sóc kiểm soát căng thẳng 2 câu (D18,D19), thực hành tuân thủ dùng thuốc thuốc gồm 3 câu (D15, D16, D20) Mỗi một câu hỏi đánh giá thực hành của người bệnh ở 4 mức độ: luôn luôn, thường xuyên, thỉnh thoảng và ít khi hoặc không bao giờ với số điểm tương ứng là 4,3,2,1 Luôn là tần suất thực hành ở tất cả mọi lúc, mọi nơi và ở mọi thời điểm trong thời gain dài và có thể kéo dài đến tương lai Thường xuyên là tần suất thực hiện nhiều lần , trong nhiều tình huống khác nhau nhưng không phải thực hiện vào tất cả mọi lúc, mọi nơi và ở mọi tình huống Thỉnh thoảng là tần suất thực hiện với mức độ

ít hơn thường xuyên.Ít khi hoặc không bao giờ là để đo lường tần suất tực hành của người bệnh có thể là không bao giờ hoặc hiếm khi tực hiện Điểm thực hành chăm sóc trên từng lĩnh vực dựa trên điểm trả lời của người bệnh theo từng nhóm hành vi

Số điểm thực hành chăm sóc chung được tính bằng cách tính tổng điểm của 20 câu trả lời của người bệnh (điểm thấp nhất là 20 điểm và cao nhất là 80 điểm), sau đó tổng điểm thực hành của người bệnh sẽ quy về thang điểm 10, tổng điểm càng cao thể hiện thực hành chăm sóc của người bệnh càng tốt Thực hành chăm sóc của người bệnh được đánh giá bằng thang đo thực hành chăm sóc (phụ lục 1)

Phần E: Hỗ trợ xã hội liên quan đến thực hành chăm sóc, tuân thủ điều trị: 9 câu

Thư viện ĐH Thăng Long

Trang 39

Trong nghiên cứu sử dụng bộ công cụ của Zimet, Dahlem, Zimet & Farley,

1988 [72] Bảng câu hỏi gồm 9 câu hỏi Mỗi câu hỏi có 5 sự lựa chọn: Khoanh "1" - rất không đồng ý, "2" - không đồng ý, "3 " - không có ý kiến gì, "4 " - đồng ý, "5"

- rất đồng ý Mỗi điểm hỗ trợ trung bình được tính toán, cho điểm số từ 1-5 Theo Polit & Hungler (1999) [58] điểm trung bình hỗ trợ xã hội:+ 1 - 3,66: Thấp+ 3,67 - 5: Cao

- Xây dựng bản hướng dẫn thảo luận nhóm

- Thử nghiệm bản hướng dẫn thảo luận nhóm Bản ghi cần thu thập đầy đủ các thông tin sau:

+Thông tin chung của đối tượng tham gia phỏng vấn: tuổi, giới, địa dư, nghề nghiệp, điều kiện sống

+ Thói quen dùng thuốc

+ Lý do quên uống thuốc: khó nhớ, luôn phải mang theo, mệt mỏi, hết triệu chứng thì ngừng thuốc và các câu hỏi mở

+ Thói quen ăn uống (ăn mặn, ăn thực phẩm chứa muối truyền thống, ăn mỡ động vật)

+ Hoạt động thể lực,

+ Lối sống: hút thuốc, rượu bia

+ Thói quen sinh hoạt: giấc ngủ, tinh thần

Trang 40

- Quan điềm, cách nhìn, cách quy nạp của đối tượng nghiên cứu có thể ảnh hưởng tới tuân thủ dùng thuốc: hoàn cảnh sống, kinh tế, bảo hiểm, nguồn thông tin hỗ trợ, về thuốc (tác dụng phụ, số lượng thuốc, kích thước viên thuốc, tên thuốc…), trả lời

tự do

- Thảo luận, tranh luận, phản biện qua lại của chính các đối tượng tham gia thảo luận nhóm tập trung

* Các bước tiến hành thảo luận nhóm trọng tâm

Bước 1: Chuẩn bị thảo luận nhóm về địa điểm phòng, bàn ghế, thiết bị hỗ trợ

như máy ghi âm, giấy, bút, phiếu điều tra, biên bản thảo luận nhóm, nước uống…vv…

Bước 2: Tiến hành thảo luận nhóm Người hướng dẫn (là nghiên cứu viên) thảo

luận nhóm trọng tâm là nghiên cứu viên và một thư ký Thư ký của mỗi cuộc thảo luận nhóm là một điều dưỡng được nghiên cứu viên trao đổi, thống nhất kỹ phương pháp tiến hành, cách ghi chép nhanh, đầy đủ

Bước 3: Điều hành thảo luận: Nghiên cứu viên giới thiệu làm quen đối tượng

Nghiên cứu viên có một bản hướng dẫn (xây dựng từ trước) để điều hành thảo luận nhóm sao cho thu thập không chỉ là các ý kiến phản hồi mà còn là các ý kiến tương tác của các đối tượng nghiên cứu

Bước 4: Kết thúc thảo luận nhóm trọng tâm: Khi không có thêm các thông tin

mới Ngay sau kết thúc mỗi cuộc thảo luận nhóm, thư ký cùng điều tra viên rà soát các thông tin để nhớ và ghi lại một cách tỷ mỉ toàn bộ nội dung cuộc thảo luận nhóm trọng tâm từ bản ghi tóm tắt Cần thống nhất cách ghi mã thông tin trước khi bắt đầu thảo luân nhóm trọng tâm

2.6 Xử lý và phân tích số liệu

- Làm sạch số liệu: Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch bằng

cách kiểm tra lại toàn bộ, loại bỏ phiếu không hợp lệ và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập liệu trên 30 mẫu thử nghiệm Sau đó rút kinh nghiệm sửa lại bộ công

cụ Bắt đầu thực hiện thu thập số liệu cho đến khi đủ mẫu

- Thống kê mô tả: lập bảng phân bố tần số của các biến số và giá trị trung bình

Thư viện ĐH Thăng Long

Ngày đăng: 12/09/2023, 23:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Đức Bảo (2017) “ Thực trạng tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng ở người bệnh tăng huyết áp đièu trị ngoại trú tại Trung tâm y tế quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng năm 2016”, Luận văn thạc sỹ Đièu dưỡng, trường Đại học điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tuân thủ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng ở người bệnh tăng huyết áp đièu trị ngoại trú tại Trung tâm y tế quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng năm 2016
Tác giả: Nguyễn Đức Bảo
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2017
4. Bộ y tế (2015), Khảo sát toàn quốc các yếu tố nguy cơ bệnh không lây truyền (STEPS) Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát toàn quốc các yếu tố nguy cơ bệnh không lây truyền (STEPS) Việt Nam
Tác giả: Bộ y tế
Năm: 2015
8. Dự án phòng chống tăng huyết áp (2008), “Tăng huyết áp tài liệu giáo dục và tuyên truyền về dự phòng và quản lý bệnh tăng huyết áp cho người dân”, nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp tài liệu giáo dục và tuyên truyền về dự phòng và quản lý bệnh tăng huyết áp cho người dân
Tác giả: Dự án phòng chống tăng huyết áp
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
9. Dự án phòng chống tăng huyết áp (2018), “Những điểm cần biết về tăng huyết áp”, nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm cần biết về tăng huyết áp
Tác giả: Dự án phòng chống tăng huyết áp
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2018
10. Dự án phòng chống tăng huyết áp (2020), “Những điểm cần biết về tăng huyết áp”, nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm cần biết về tăng huyết áp
Tác giả: Dự án phòng chống tăng huyết áp
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2020
12. Nguyễn Huy Đại (2019), “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của người bệnh điều trị ngoại trú tại 3 trạm Y tế xã huyện Phú Xuyên Hà Nội năm 2019”, luận văn thạc sỹ công cộng, trường Đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của người bệnh điều trị ngoại trú tại 3 trạm Y tế xã huyện Phú Xuyên Hà Nội năm 2019
Tác giả: Nguyễn Huy Đại
Nhà XB: Trường Đại học Thăng Long
Năm: 2019
14. Trần Thị Mỹ Hạnh (2017), “Đánh giá kết quả can thiệp nâng cao thực hành theo dõi huyết áp và tuân thủ điều trị ở người tăng huyết áp trên 50 tuổi tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”, luận văn tiến sỹ y tế công cộng, trường Đại học y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả can thiệp nâng cao thực hành theo dõi huyết áp và tuân thủ điều trị ở người tăng huyết áp trên 50 tuổi tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Tác giả: Trần Thị Mỹ Hạnh
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2017
15. Đỗ Thị Hiền (2020), “Thực trạng kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tim mạch bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020”, luận văn thạc sỹ điều dưỡng, trường Đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp của người bệnh điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tim mạch bệnh viện trung ương quân đội 108 năm 2020
Tác giả: Đỗ Thị Hiền
Nhà XB: Trường Đại học Thăng Long
Năm: 2020
18. Lê Thị Thanh Huyền (2019), “Thực trạng kiến thức, thực hành về lối sống ở người bệnh tăng huyết áp ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị 2019”, Khoa học Điều dưỡng-tập 02 - số 3, Tr 119-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học Điều dưỡng-tập 02 - số 3
Tác giả: Lê Thị Thanh Huyền
Năm: 2019
19. Nguyễn Thị Hương (2021), “Thay đổi thực hành về dự phòng biến chứng cho người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An năm 2021”, Khoa học Điều dưỡng-tập 04-số 3, Tr 28-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi thực hành về dự phòng biến chứng cho người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An năm 2021
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Khoa học Điều dưỡng
Năm: 2021
20.Vũ Thị Thanh Hương (2019), “Hành vi tự chăm sóc và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú taị bệnh viện đa khoa tỉnh Gia lai năm 2019”, luận văn thạc sỹ điều dưỡng, trường Đại học điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi tự chăm sóc và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Gia lai năm 2019
Tác giả: Vũ Thị Thanh Hương
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2019
21. Phạm Hương Lan (2017), “Kiến thức, thái độ, thực hành, dự phòng biến chứng, ở bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên và một số yếu tố liên quan”, luận văn thạc sỹ y học dự phòng, trường Đại học Y dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sỹ y học dự phòng
Tác giả: Phạm Hương Lan
Nhà XB: Trường Đại học Y dược Thái Nguyên
Năm: 2017
3. Bộ Y tế (2011), Thực hiện lối sống lành mạnh, truy cập ngày 3/1/2016, tại trang web http://huyetap.vn/news/vn/tai-lieu-truyen-thong/danhsach-21-bai-phat-thanh-cua-du-an.html Link
1.Nguyễn Dương Thiện Ân (2020), “Kiến thức thực hành dự phòng biến chứng tăng huyết áp của bệnh nhân tại khoa nội tim mạch bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang”. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế trường Đại học Tây Đô.10: Tr 239 – 250 Khác
16. Thái Minh Hoàng (2018), “Kiến tức tự chăm sóc và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định 2016”, tạp chí khoa học điều dưỡng, tập 1 số 2 (2018) Khác
22. Phạm Phương Liên (2018), “Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Quận 2, Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2018”, Y học cộng đồng số 4 (51)-tháng 7-8/2019, Tr 43-47 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w