TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ ĐỀ TÀI: Phân tích, so sánh lý luận về vai trò của nhà nước trong học thuyết kinh tế cổ điển, tân cổ điển, học thuyết Keynes với trong lý thuyết kinh tế hỗn hợp. Nhận xét, ý nghĩa nghiên cứu. GVHD: TS. Nguyễn Minh Tuấn Nhóm thực hiện: Võ Hoàng An Phan Minh Cảnh Trịnh Phạm Doanh Lớp: Cao học K19 KTCT MỤC LỤC Lời mở đầu 2 1. Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển 4 2. Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế tân cổ điển 6 3. Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế Keynes 10 4. Vai trò nhà nước trong học thuyết nền kinh tế hỗn hợp 15 5. Nhận xét, so sánh và ý nghĩa của việc nghiên cứu vai trò nhà nước trong lịch sử các học thuyết kinh tế 20 5.1. Nhận xét và so sánh vai trò nhà nước trong lịch sử các học thuyết kinh tế 20 5.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vai trò nhà nước trong lịch sử các học thuyết kinh tế 24 Kết luận 25 Tài liệu tham khảo 27 Lời mở đầu Trong quá trình phát triển, xã hội loài người đã trải qua những hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau người ta lý giải các hiện tượng kinh tế xã hội dưới nhiều góc độ khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, kinh tế thị trường đã ra đời và phát triển. Sự phát triển của kinh tế thị trường đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhiều học thuyết kinh tế. Mỗi học thuyết kinh tế có những quan điểm và tư tưởng khác nhau. Tuy nhiên, xét về bản chất các học thuyết kinh tế khác nhau chủ yếu là xác định vai trò của nhà nước và mối tương quan giữa nhà nước và thị trường trong vận hành nền kinh tế. Trong thời gian dài, nhiều học giả, nhiều nhà hoạch định chính sách quốc gia, nhiều nhà chính trị vẫn tiếp tục tranh cãi câu hỏi: “nhà nước hay thị trường?” vận hành nền kinh tế. Năm 1776, Adam Smith với tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc” (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) được xem là người đặt “bàn tay vô hình” cho uy lực của thị trường tự động điều tiết tài nguyên, tạo nên của cải xã hội. Năm 1936, John Maynard Keynes với tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (The General Theory of Employment, Interest and Money) được xem là người đặt “bàn tay hữu hình” cho các hoạt động của nhà nước điều hành chính trị, kinh tế và duy trì sự ổn định xã hội. Trong lịch sử các học thuyết kinh tế, vai trò nhà nước được xem là một bộ phận của đối tượng nghiên cứu. Các trường phái kinh tế khác nhau có quan điểm khác nhau về vai trò nhà nước nhưng dưới góc độ nào nhà nước vẫn giữ một vai trò nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội nhất định. Trong hệ thống các học thuyết kinh tế về vai trò nhà nước và thị trường, người ta nhận thấy có ba quan điểm: thứ nhất, quan điểm nhà nước không can thiệp vào kinh tế; thứ hai, quan điểm đề cao vai trò nhà nước trong kinh tế; thứ ba, quan điểm trung dung về vai trò nhà nước trong kinh tế. Chúng ta có thể mô hình hóa các quan điểm này theo hình sau:
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
ĐỀ TÀI:
Phân tích, so sánh lý luận về vai trò của nhà nước trong học thuyết kinh tế cổ điển, tân cổ điển, học thuyết Keynes với trong lý thuyết
kinh tế hỗn hợp Nhận xét, ý nghĩa nghiên cứu.
GVHD: TS Nguyễn Minh Tuấn Nhóm thực hiện: Võ Hoàng An
Phan Minh Cảnh
Trịnh Phạm Doanh
Lớp: Cao học K19 - KTCT
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
1 Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển 4
2 Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế tân cổ điển 6
3 Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế Keynes 10
4 Vai trò nhà nước trong học thuyết nền kinh tế hỗn hợp 15
5 Nhận xét, so sánh và ý nghĩa của việc nghiên cứu vai trò nhà nước trong lịch sử các học thuyết kinh tế 20
5.1 Nhận xét và so sánh vai trò nhà nước trong lịch sử các học thuyết kinh tế 20 5.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vai trò nhà nước trong lịch sử các học thuyết kinh tế 24
Kết luận 25
Tài liệu tham khảo 27
Trang 3Lời mở đầu
Trong quá trình phát triển, xã hội loài người đã trải qua những hình tháikinh tế - xã hội khác nhau Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau người ta lý giảicác hiện tượng kinh tế - xã hội dưới nhiều góc độ khác nhau Cùng với sựphát triển của xã hội loài người, kinh tế thị trường đã ra đời và phát triển Sựphát triển của kinh tế thị trường đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhiềuhọc thuyết kinh tế Mỗi học thuyết kinh tế có những quan điểm và tư tưởngkhác nhau Tuy nhiên, xét về bản chất các học thuyết kinh tế khác nhau chủyếu là xác định vai trò của nhà nước và mối tương quan giữa nhà nước và thịtrường trong vận hành nền kinh tế Trong thời gian dài, nhiều học giả, nhiềunhà hoạch định chính sách quốc gia, nhiều nhà chính trị vẫn tiếp tục tranh cãicâu hỏi: “nhà nước hay thị trường?” vận hành nền kinh tế Năm 1776, Adam
Smith với tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có
của các dân tộc” (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) được xem là người đặt “bàn tay vô hình” cho uy lực của thị trường
tự động điều tiết tài nguyên, tạo nên của cải xã hội Năm 1936, John Maynard
Keynes với tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (The
General Theory of Employment, Interest and Money) được xem là người đặt
“bàn tay hữu hình” cho các hoạt động của nhà nước điều hành chính trị,
kinh tế và duy trì sự ổn định xã hội Trong lịch sử các học thuyết kinh tế, vaitrò nhà nước được xem là một bộ phận của đối tượng nghiên cứu Các trườngphái kinh tế khác nhau có quan điểm khác nhau về vai trò nhà nước nhưngdưới góc độ nào nhà nước vẫn giữ một vai trò nhất định trong đời sống kinh
tế, chính trị, xã hội nhất định Trong hệ thống các học thuyết kinh tế về vai trònhà nước và thị trường, người ta nhận thấy có ba quan điểm: thứ nhất, quanđiểm nhà nước không can thiệp vào kinh tế; thứ hai, quan điểm đề cao vai trònhà nước trong kinh tế; thứ ba, quan điểm trung dung về vai trò nhà nước
Trang 4Nhà nước không can thiệp Nhà nước can thiệp
“Bàn tay vô hình Nhà nước điều tiết Kế hoạch thay thị trường
Cung tự tạo ra cầu
Cân bằng tổng quát
Trường phái chính hiện đại
K.Marx (1818-1883) V.I.Lenin (1870-1924)
Trường phái trung dung
Năm 1948
C ổ đ i ể n m ớ i
Nguồn: GS.TSKH Từ Điển (2009), Một số vấn đề về quản lý nhà nước trong
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc
gia, trang 43
Trang 5Xuất phát từ mô hình trên, bài viết sau đây không trình bày tất cả cácquan điểm về vai trò nhà nước về kinh tế mà tập trung phân tích, so sánh lýluận về vai trò của nhà nước trong học thuyết kinh tế cổ điển với đại diện làAdam Smith, học thuyết kinh tế tân cổ điển (cổ điển mới) với đại diện là LeonWalras, học thuyết kinh tế của J.M Keynes và lý thuyết về “nền kinh tế hỗnhợp” của P.A.Samuelson; từ đó, nhận xét và rút ra ý nghĩa của việc nghiêncứu vai trò nhà nước trong các học thuyết kinh tế đối với xã hội ngày nay.
1 Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển
Trong quá trình tan rã của chủ nghĩa trọng thương vào cuối thế kỷ XVII,
ở nước Anh và Pháp, trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển (hay còn gọi
là học thuyết kinh tế tư sản cổ điển, kinh tế học tư sản cổ điển) bắt đầu xuấthiện Nguyên nhân là do sự phát triển của nền công nghiệp công trường thủcông Cuộc cách mạng tư sản Anh diễn ra từ giữa thế kỷ XVII tạo ra sự thayđổi lớn về mặt kinh tế, chính trị, xã hội Sự xuất hiện của tầng lớp quí tộcmới, liên minh với giai cấp tư sản để chống lại triều đình phong kiến Giai cấp
tư sản Anh đã trưởng thành, ít cần tới sự bảo hộ của nhà nước như trước Cácchính sách kinh tế của nhà nước trong thời kỳ này cũng ít hà khắc hơn.Về mặt
tư tưởng, các ngành khoa học tự nhiên (toán, thiên văn), khoa học xã hội(triết, lịch sử, văn học) phát triển đã tạo cho khoa học kinh tế có một cơ sởphương pháp luận chắc chắn Nổi lên ở giai đoạn kinh tế này là 3 đại diện tiêubiểu là William Petty, Adam Smith và David Ricardo Quan điểm nhà nướckhông can thiệp vào kinh tế hay chủ nghĩa tự do kinh tế bắt đầu từ William
Petty Ông viết: Trong chính sách kinh tế cũng như trong y học cần phải tính
đến những quá trình tự nhiên, không nên dùng những hành động cưỡng bức riêng để chống lại những quá trình đó Song quan điểm nhà nước không can
thiệp vào kinh tế được phát triển đầy đủ nhất ở Adam Smith bằng một tác
phẩm nổi tiếng là “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của
Trang 6Điểm xuất phát trong nghiên cứu lý luận kinh tế của Adam Smith lànhân tố con người kinh tế, là những con người tham gia vào các hoạt độngtrao đổi hàng hóa Các quan hệ trao đổi hàng hóa là những quan hệ phụ thuộclẫn nhau về mặt kinh tế Đó là những quan hệ xã hội bình thường, chỉ có được
ở trong chủ nghĩa tư bản mà thôi
Quan hệ trao đổi là một thuộc tính bản chất của con người Con ngườiđược phân biệt với con vật nhờ thuộc tính trao đổi này Thuộc tính trao đổiđược nảy sinh trên 2 cơ sở: là tình yêu của con người và tính ích kỷ của conngười A.Smith cho rằng lòng ích kỷ mạnh hơn, làm nảy sinh quan hệ traođổi
Trong quá trình trao đổi, con người bị chi phối bởi lợi ích cá nhân Mọingười chỉ biết có tư lợi và chạy theo tư lợi Trong quá trình theo đuổi lợi ích
cá nhân đó, con người lại bị dẫn dắt bởi một “bàn tay vô hình” “Bàn tay vôhình” này đã đưa cá nhân đi từ chỗ đáp ứng một lợi ích khác nằm ngoàinhững toan tính cá nhân Đó là lợi ích xã hội Vô tình làm lợi cho xã hội màkhông biết Giải quyết lợi ích cá nhân sẽ giải quyết được lợi ích xã hội
“Bàn tay vô hình” chính là các qui luật kinh tế khách quan, tập hợp tất cảcác qui luật kinh tế khách quan lại sẽ hình thành nên một “trật tự tự nhiên”.Điều kiện để duy trì trật tự tự nhiên này là sản xuất và trao đổi hàng hóa.Adam Smith đề cao tác động tự phát của lợi ích cá nhân, tác động khách quancủa các qui luật kinh tế và tác động tự phát của cơ chế thị trường Quan điểmcủa Smith là phải tự do kinh tế Đặc trưng của nền kinh tế tự do cạnh tranhbao gồm: thứ nhất, mọi người đều có quyền tự do tham gia thị trường; thứ hai,Các quyết định kinh tế đều phải dựa trên các tín hiệu của thị trường; thứ ba,cạnh tranh thị trường là quyền tự do tối thượng và thứ tư, Nhà nước khôngcan thiệp vào thị trường
Trang 7Theo quan điểm của Adam Smith, nhà nước có các chức năng cơ bản làbảo vệ quyền sở hữu tư bản, đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài, chống phần tửtội phạm trong nước, thậm chí chỉ là “người gác đêm” cho chế độ tư hữu và tự
do kinh doanh Đôi khi nhà nước cũng có thể thực hiện chức năng kinh tế khi
mà chức năng đó vượt quá khả năng của các đơn vị kinh doanh riêng lẻ nhưxây dựng các công trình lớn, làm đường, thủy lợi… Còn trong điều kiện bìnhthường, nhiệm vụ của nhà nước là duy trì trật tự trị an, bảo vệ tổ quốc… đểtạo ra một sự ổn định, để tư nhân hoạt động kinh tế Vì thế, người ta xếpAdam Smith vào trường phái tự do kinh tế
Tuy nhiên, để thực hiện các hoạt động nhà nước cần phải có tiền Vì vậy,hoạt động chủ yếu của nhà nước là thu và chi ngân sách Quan điểm của ôngthu và chi phải cân bằng Ông chủ trương Nhà nước cần chi ít và ủng hộnhững chi phí của ngân sách nhà nước có mang lại lợi ích cho toàn xã hội Vềthu ngân sách Adam Smith là người đặt cơ sở cho chính sách thuế của nhànước tư sản Ông cho rằng, thuế cần phải phù hợp với sức và khả năng củacông dân Ông ủng hộ thuế gián thu, chống lại thuế trực thu Ông cũng chủtrương xóa bỏ thuế quan bảo hộ mậu dịch Theo ông cần phải xóa bỏ mọi cảnngại đối với ngoại thương bởi vì tự do thương mại sẽ đem lại lợi ích cho toàn
xã hội Việc thu chi ngân sách của nhà nước theo Adam Smith là thực hiệnchức năng quản lý hành chính của nó Nhà nước theo Adam Smith trước saukhông nên can thiệp vào nền kinh tế
2 Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế tân cổ điển
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn và những khókhăn về kinh tế của chủ nghĩa tư bản ngày càng trầm trọng Giai đoạn này chủnghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độcquyền Điều này đã xuất hiện những hiện tượng kinh tế - xã hội mới mà lýthuyết kinh tế của trường phái cổ điển không giải thích được Bên cạnh đó,
Trang 8một sự kiện lịch sử trọng đại tác động đến các tư tưởng kinh tế trong thời kỳnày là sự xuất hiện học thuyết kinh tế của K.Marx Trong giai đoạn này, nhiềutrường phái kinh tế chính trị học tư bản xuất hiện để phân tích nền kinh tế thịtrường Trong đó, trường phái tân cổ điển (cổ điển mới) đóng vai trò quantrọng với những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, chuyển sang nghiên cứu ở lĩnh vực trao đổi, lưu thông và đốitượng nghiên cứu là các đơn vị kinh tế Trên cơ sở đó, rút ra kết luận chungcho toàn xã hội Phương pháp phân tích này gọi là phương pháp phân tích vimô
Thứ hai, dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng vàquá trình kinh tế - xã hội Đối lập với quan điểm K.Marx, trường phái tân cổđiển ủng hộ lý thuyết giá trị chủ quan Theo thuyết này, cùng một hàng hóa,với người cần thì giá trị cao, với người không cần thì giá trị không cao Giá trị
do sự đánh giá chủ quan của con người
Thứ ba, trường phái tân cổ điển muốn biến kinh tế chính trị thành khoahọc kinh tế thuần túy, không có mối liên hệ với các điều kiện chính trị, xã hội
Họ chủ trương tách môn kinh tế chính trị thành môn kinh tế thuần túy, mônkinh tế - xã hội và môn kinh tế ứng dụng Họ đưa ra khái niệm “kinh tế học”thay cho “kinh tế chính trị học”
Thứ tư, các nhà kinh tế học thuộc trường phái tân cổ điển tích cực sửdụng công cụ toán học, mô hình, công thức lượng hóa vào quá trình phân tíchkinh tế, góp phần tăng tính sát thực Họ phối hợp các phạm trù kinh tế vớiphạm trù toán học để đưa ra các khái niệm mới như “lợi ích biên” (marginalbenefit), “năng suất biên” (marginal productivity), “sản phẩm biên” (marginalproduct)… Vì vậy, trường phái tân cổ điển còn gọi là trường phái “biên”(marginal)
Trang 9Trường phái tân cổ điển phát triển nhiều nước như trường phái thànhViene (Áo), trường phái cận biên Mỹ, trường phái thành Lausanne (Thụy sỹ),trường phái Cambridge… Nó giữ vai trò thống trị vào những năm cuối thế kỷXIX và đầu thế kỷ XX
Cũng giống như các nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, các nhàkinh tế trường phái tân cổ điển ủng hộ nguyên tắc tự do kinh tế Họ cho rằng,hoạt động tự do của các doanh nhân theo sự biến động tự phát của quan hệcung – cầu và giá cả trên thị trường là điều kiện cơ bản cho sự phát triển vàcân đối tình hình thị trường Đại biểu xuất sắc cho trường phái tân cổ điển vềvai trò nhà nước đối với kinh tế chính là Leon Walras (1834-1910) Ông đãđưa ra lý thuyết về “Cân bằng tổng quát”
Lý thuyết cân bằng tổng quát của Leon Walras được các nhà kinh tế học
tư bản đánh giá cao Lý thuyết này phản ánh sự phát triển tư tưởng “Bàn tay
vô hình” của Adam Smith về tư tưởng tự do kinh tế
Theo Leon Walras, trong cơ cấu nền kinh tế thị trường có ba thị trườngchủ yếu: thị trường sản phẩm, thị trường tư bản và thị trường lao động Thịtrường sản phẩm là nơi mua bán hàng hóa, tương quan trao đổi giữa các loạihàng hóa là giá cả của chúng Thị trường tư bản là nơi hỏi và vay tư bản, lãisuất tư bản cho và là giá cả của tư bản Thị trường lao động là nơi thuê mướncông nhân, tiền lương hay tiền công là giá cả lao động Ba thị trường này vốn
dĩ là độc lập với nhau, nhưng lại được liên kết với nhau bởi các doanh nhân.Doanh nhân là người sản xuất hàng hóa để bán Muốn sản xuất doanh nhânphải vay vốn trên thị trường tư bản, thuê công nhân trên thị trường lao động,trên thị trường này doanh nhân là sức cầu Sản xuất được hàng hóa doanhnhân bán nó trên thị trường sản phẩm, ở đây doanh nhân là sức cung Để vay
tư bản doanh nhân phải trả lãi suất, để thuê công nhân doanh nhân phải trảtiền lương Lãi suất và tiền lương được gọi là chi phí sản xuất
Trang 10Giả sử doanh nhân bán hàng với giá cả > chi phí sản xuất thì công việckinh doanh có lãi Doanh nhân có xu hướng tiếp tục mở rộng qui mô sản xuất,
do đó, doanh nhân phải vay thêm tư bản, thuê thêm lao động Như vậy sứccầu của doanh nhân tăng lên làm cho lãi suất và tiền lương đều tăng lên Đồngthời, khi mở rộng sản xuất thì cung về sản phẩm cũng tăng lên, giá cả sẽ giảmxuống Đến một lúc nào đó, giá cả = chi phí sản xuất thì doanh nhân không cólời nên doanh nhân ngừng sản xuất Khi dừng sản xuất thì không vay thêm tưbản, không thuê thêm công nhân, không tăng cung về hàng hóa Nhờ vậy, giá
cả hàng hóa tư bản và lao động, tức lãi suất và tiền lương ổn định Từ đó, làmcho giá hàng tiêu dùng ổn định Ba thị trường đều đạt trạng thái cân bằng.Ông gọi là sự cân bằng tổng quát giữa các thị trường Điều kiện để có sự cânbằng là có sự cân bằng giữa thu nhập bán hàng và chi phí sản xuất Trong nềnkinh tế tự do cạnh tranh, trạng thái cân bằng này được thực hiện thông qua sựdao động tự phát của cung cầu và giá cả hàng hóa trên thị trường
Lý thuyết cân bằng tổng quát đã làm yên lòng các nhà tư bản do không
có khủng hoảng Trong kinh tế học tư bản, lý thuyết này phản ánh sự pháttriển tư tưởng “Bàn tay vô hình” của Adam Smith Song trên thực tế, trạngthái cân bằng tông quát theo mô hình Leon Walras là không hề có dưới chủnghĩa tư bản Trạng thái cân bằng ấy giống như trạng thái cân bằng của traođổi, là một trạng thái lý tưởng và không hiện thực: nó chỉ xảy ra khi nào giábán tuyệt đối ngang với giá thành của người sản xuất, và cũng chỉ xảy ra khinào cung và cầu thực sự của sản phẩm là tuyệt đối ngang nhau
Trước thực tế đó, các nhà kinh tế học tân cổ điển tiếp tục phát triểncácquan điểm kinh tế của trường phái này Các học thuyết kinh tế thời kỳ nàykhông những chỉ đi sâu vào việc phân tích những vấn đề cung cầu, giá cảtrong điều kiện cạnh tranh, mà còn chú ý tới các vấn đề về cạnh tranh và độcquyền, khủng hoảng, thất nghiệp, phúc lợi kinh tế, thuyết số lượng về tiền
Trang 11Đặc biệt là các học thuyết kinh tế của họ ít nhiều mang sắc thái về tư tưởngnhà nước can thiệp vào kinh tế và phân tích vĩ mô.
3 Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế Keynes
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929-1933 chứng tỏ học thuyết
“tự điều tiết” kinh tế của trường phái cổ điển và tân cổ điển thiếu tính chất xácđáng Lý thuyết về “bàn tay vô hình” của Adam Smith, học thuyết “cân bằngtổng quát” của Leon Walras tỏ ra kém hiệu nghiệm Các học thuyết nàykhông đảm bảo nền kinh tế phát triển lành mạnh Sự phát triển nhanh chóngcủa lực lượng sản xuất đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế ngàycàng tăng Điều này đòi hỏi phải có học thuyết kinh tế mới có khả năng thíchnghi với tình hình mới Từ đó, xuất hiện học thuyết kinh tế tư bản có điềutiết Người sáng lập ra lý thuyết này là John Maynard Keynes (1884-1946)
với tác phẩm nổi tiếng nhất là “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền
tệ” xuất bản năm 1936 Đặc điểm chủ yếu của trường phái Keynes là:
- Thứ nhất, sử dụng phương pháp phân tích vĩ mô những chỉ tiêu của nềnkinh tế vĩ mô như sản lượng, thu nhập, việc làm, giá cả, đầu tư và tiếtkiệm J.M Keynes là người xây dựng nên môn học kinh tế học vĩ môhiện đại
- Thứ hai, mục tiêu học thuyết của ông là chống thất nghiệp, giải quyếtcông ăn việc làm Ông coi trọng sức cầu trong nền kinh tế, nên phươngpháp nghiên cứu của ông gọi là phương pháp trọng cầu
- Thứ ba, J.M Keynes cho rằng chính tâm lý chủ quan của dân cư là đònbẩy tác động mạnh đến nền kinh tế vĩ mô Vì vậy, đi sâu nghiên cứutâm lý tiêu dùng, tâm lý tiết kiệm, tâm lý ưa chuộng tiền mặt
Trang 12- Thứ tư, ông đã vận dụng lý luận cận biên, các phương pháp toán học,
đồ thị để phân tích các hiện tượng kinh tế và đưa ra một mô hình kinh
tế vĩ mô gồm 3 nhóm đại lượng:
o Một là, đại lượng xuất phát Nó là nhóm đại lượng không thayđổi hoặc thay đổi chậm Đó là nguồn vật chất như tư liệu sảnxuất, số lượng sức lao động, mức độ trang bị kỹ thuật của sảnxuất, trình độ chuyên môn hóa của người lao động, cơ cấu củachế độ xã hội
o Hai là, đại lượng khả biến độc lập Đó là nhóm khuynh hướngtâm lý chủ quan như khuynh hướng tiêu dùng, tiết kiệm, sự ưachuộng tiền mặt… Nhóm này là cơ sở hoạt động của mô hình, làđòn bẩy bảo đảm cho hoạt động của tổ chức kinh tế tư bản chủnghĩa
o Ba là, đại lượng khả biến phụ thuộc Đại lượng này cụ thể hóatình trạng kinh tế như khối lượng việc làm, thu nhập quốc dântính bằng đơn vị tiền công Đó là các chỉ tiêu quan trọng cấuthành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Các đại lượng này thay đổitheo sự tác động của các biến cố độc lập
Giữa đại lượng khả biến độc lập và phụ thuộc có mối quan hệ với nhau.Sản lượng Q, thu nhập R, tiêu dùng C, đầu tư I, tiết kiệm S thì:
Thu nhập = giá trị sản lượng = tiêu dùng + đầu tư; hay R=Q=C+I
Tiết kiệm = thu nhập – tiêu dùng; hay S = R-C
Từ đó suy ra đầu tư = tiền tiết kiệm hay I = S Theo các nhà kinh tế học
tư sản, đầu tư và tiết kiệm là hai đại lượng quan trọng J.M Keynes chỉ rarằng việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi phải
Trang 13sử dụng các công cụ chính sách kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư và giảmtiết kiệm Có như vậy mới giải quyết được tình trạng khủng hoảng và thấtnghiệp.
Giống trường phái tân cổ điển, phương pháp nghiên cứu của Keynes dựatrên cơ sở tâm lý chủ quan Song lý thuyết tân cổ điển đi sâu khai thác tâm lý
cá biệt, cá nhân Keynes chú ý đến tâm lý xã hội, số đông, còn gọi là các quiluật tâm lý Ý đồ của ông là muốn nhà nước tác động vào các qui luật tâm lý
để giải quyết những vấn đề kinh tế
So sánh học thuyết kinh tế tân cổ điển với trường phái Keynes, chúng tathấy có sự giống và khác nhau như sau:
- Sự giống nhau là: thứ nhất, cùng có có tư tưởng cận biên, đi theonguyên lý cận biên; thứ hai, phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở tâm lýchủ quan; thứ ba, cùng sử dụng công cụ toán học trong phân tích; thứ tư, cáchọc thuyết này rất quan tâm đến vấn đề trao đổi, tiêu dùng và nhu cầu
- Sự khác nhau là: thứ nhất, lý thuyết tân cổ điển đề cao vai trò của tự dokinh tế của cơ chế thị trường và phản đối can thiệp của nhà nước Ngược lại,J.M Keynes đề cao sự can thiệp của nhà nước; thứ hai, về phương pháp luận,tân cổ điển sử dụng phương pháp vi mô, nên yếu tố tâm lý chủ yếu khai thácyếu tố tâm lý cá nhân Còn Keynes sử dụng phương pháp vĩ mô, nên yếu tốtâm lý của Keyness quan tâm đến những khuynh hướng tâm lý xã hội, tâm lýchung có thể khái quát thành quy luật tâm lý Ý đồ của J.M.Keynes là muốnnhà nước tác động vào các quy luật tâm lý để giải quyết những vấn đề kinh tế
Về vai trò nhà nước đối với kinh tế, J.M.Keynes đã lý giải trong lýthuyết chung về việc làm và rút ra bốn nội dung cơ bản sau:
Trang 14Thứ nhất, Nhà nước phải có chương trình kinh tế đầu tư trên qui mô lớn
và thông qua đó mà thực hiện sự can thiệp vào các quá trình kinh tế Ông chorằng, để đảm bảo sự cân bằng của nền kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thịtrường tự phát mà phải bằng sự can thiệp tích cực của nhà nước vào kinh tế,tăng cường “Bàn tay nhà nước” Thông qua những hỗ trợ của nhà nước như lànhững biện pháp để duy trì cầu đầu tư, thông qua những hỗ trợ tín dụng, hỗtrợ từ ngân sách nhà nước, thông qua hệ thống các đơn đặt hàng của nhànước, hệ thống thu mua của nhà nước Mục đích để tạo ra sự ổn định về môitrường kinh doanh, ổn định thị trường Từ đó, ổn định về lợi nhuận cho cácdoanh nghiệp Trong thời kỳ khủng hoảng, ông chủ trương nhà nước cần phải
có chính sách kinh tế tăng đầu tư và chi tiêu nhà nước để nền kinh tế ổn định
Thứ hai, J.M Keynes chủ trương sử dụng chính sách tài chính tín dụng
và lưu thông tiền tệ Ở trong lý thuyết của Keynes, chúng cũng là những công
cụ quan trọng Mục đích là để tạo lòng tin và sự lạc quan cho các nhà đầu tư
Từ đó, doanh nhân tích cực đầu tư Để đạt được mục đích này, ông chủtrương tăng thêm khối lượng tiền đưa vào lưu thông, tăng giá cả hàng hóa(nếu các yếu tố đầu vào chưa kịp điều chỉnh giá), sẽ làm tăng phần lời triểnvọng, tăng hiệu quả cận biên của tư bản, tăng cận biên đầu tư tư bản Khi khốilượng tiền đưa vào lưu thông tăng lên, cũng sẽ dẫn tới lạm phát Tuy nhiên,lạm phát không phải lúc nào cũng có hại, nhà nước có thể chủ động tạo ra lạmphát, nếu kiểm soát được lạm phát sẽ làm giảm lãi suất, tăng cận biên đầu tư
tư bản Ông đề xuất để trang trải những khoản chi tiêu của nhà nước, bù đắpnhững khoản thâm hụt của ngân sách nhà nước và mở rộng đầu tư của nhànước Keynes chủ trương in thêm tiền giấy Điều này có thể dẫn đến lạm phátnhưng có thể kích thích kinh tế Ông cũng đề xuất dùng lạm phát nhưngkhông để rơi vào “bẫy thanh khoản” Để thực hiện sự điều tiết kinh tế,Keynes chủ trương tăng thuế thu nhập, phát hành công trái, trái phiếu để bổsung nguồn thu cho ngân sách Đối với thuế thu nhập đối với người lao động,