1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân

70 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia Pù Mát đến sinh kế của người dân
Trường học Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý bảo vệ rừng, Sinh kế cộng đồng, Quản lý tài nguyên thiên nhiên
Thể loại Đề tài khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do sự yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng đã làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp, và xuống cấp trầm trọng, đát đai bị xói mòn, rửa trôi, môi trường sống của nhiều loại thực,

Trang 1

đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, ở nước ta Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo mọi điều kiện cho các ngành, các cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ và chức năng của mình để phát triển niền kinh tế đa ngành, đa thành phần Nhưng do những lợi ích trước mắt mà những cơ sở này khai thác tài nguyên một cách cạn kiệt, làm suy thoái đa dạng sinh học và gây ô nhiễm môi trường

Trong 40 năm qua, dân số Việt Nam tăng gấp 2 lần (hiện nay khoảng 80 triệu người) trong khi đó tài nguyên thiên nhiên thì có hạn, tài nguyên đất thì không tăng thêm được, dân số tăng nhanh đòi hỏi phải có thêm nhiều đất đai để trồng trọt, cần nhiều rừng để cung cấp gỗ để làm chất đốt, làm nguyên liệu xây dựng Do sự yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng đã làm cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp, và xuống cấp trầm trọng, đát đai bị xói mòn, rửa trôi, môi trường sống của nhiều loại thực, động vật bị thu hẹp và ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đối với đời sống, kinh tế,

xã hội và môi trường đối với người dân

Vì vậy bảo tồn ĐDSH là một trong những vấn đề được Nhà nước quan tâm hàng đầu Trong vòng 88 năm qua ở Việt Nam có 107 địa điểm bảo tồn rộng lớn, trên 2,2 triệu ha đã được đề nghị và được Chính phủ phê duyệt, trong đó có 15 VQG Pù Mát, 50 khu bảo tồn thiên nhiên

Các VQG đã đem lại những thành tựu to lớn trong công tác bảo tồn và phát triển TNR, đảm bảo ĐDSH và cân bằng sinh thái

VQG Pù mát là một trong những khu bảo tồn đã được Chính phủ đưa vào

hệ thống rừng đặc dụng quốc gia, với độ đa dạng sinh học cao tạo tiềm năng lớn

về kinh tế và du lịch cho các huyện nằm trong khu vực vùng đệm VQG Pù Mát

Trang 2

quốc gia Một trong những nguyên nhân đó là sự thiếu bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn tài nguyên , đặc biệt là TNR Do vậy cần có những nghiên cứu làm cơ

sở để đề xuất giải pháp qua đó nâng cao đời sống và đảm bảo sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn TNR cho các cộng đồng dân cư sống trong rừng

Chính vì vậy, tôi đã thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng công tác quản lí bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia Pù Mát đến sinh kế của người dân”

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu của khóa luận là đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn TNR đến sinh kế của người dân vùng đệm VQG Pù Mát Từ đó làm cơ sở để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLBVR của VQG Pù Mát

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá thực trạng công tác QLBVR của VQG Pù Mát

- Phân tích ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn TNR đến sinh kế của người dân vùng điệm

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý BVR của VQG Pù Mát

Trang 3

VQG là những khu vực rộng lớn, có vẻ đẹp thiên nhiên, được giữ gìn để bảo vệ cho một hoặc vài HST trong đó, đồng thời được dùng cho các mục đích giáo dục, nghiên cứu khoa học, nghỉ ngơi, giải trí và tham gia du lịch Tài nguyên

ở đây không được khai thác cho mục đích thương mại

1.1.2 Vai trò của VQG

Một hệ thống các khu bảo tồn trong đó có rừng quốc gia là cốt lõi của bất

cứ chương trình nào nhằm duy trì tính ĐDSH của các loài, các HST, các nguồn gen thiên nhiên và duy trì những vùng thiên nhiên rộng lớn, vì bản thân giá trị của chúng và những giá trị tinh thần của con người

Rừng quốc gia bảo đảm an toàn cho:

+ Các hệ sinh thái tự nhiên và các HST cải biến đang nuôi dưỡng sự sống, bảo vệ các loài hoang dã và các vùng có tính sinh học cao, bảo vệ giá trị đích thực của chúng, nguồn vui tinh thần và nguồn cảm hứng sáng tạo của các công trình nghiên cứu khoa học

+ Sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoang dã ở những HST đã cải tiến

+ Sử dung các HST tự nhiên, đã cải biến hoặc trồng trọt vào các mục đích giáo dục, nghỉ ngơi giải trí

+ Bảo vệ đất, nước ở những vùng dễ xói mòn, đặc biệt là những nơi đất dốc, rừng đầu nguồn

+ Làm lá chắn che chở cho con người thoát khỏi những thiên tai do thiên nhiên gây ra như lũ lụt

+ Duy trì các nguồn gen tự nhiên hoặc các loài quan trọng làm dược liệu + Bảo vệ các loài và các quần thể dễ nhạy cảm với sự tác động của con người

Trang 4

Khái niệm về vùng đệm đã xuất hiện từ lâu trên thế giới

Theo Jeffey sayes (1991) thì “vùng đệm là vùng đất xung quanh VQG hay khu bảo tồn mà nơi đó việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hạn chế, hay ở đó

có các biện pháp quản lý đặc biệt về phát triển nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ”

Theo Quyết định số 1585 LN / KL ngày 13/07/1993 thì: vùng đệm là vùng tiếp giáp với khu bảo tồn bao quanh toàn bộ hay một phần của khu bảo tồn, vùng đệm nằm ngoài diện tích của khu bảo tồn, không thuộc thẩm quyền quản lí sử dụng của ban quản lí bảo tồn”

Tuy nhiên cho đến nay trong quản lí cũng như trong nghiên cứu chưa có được sự thống nhất về vùng đệm của các khu bảo tồn và rừng quốc gia

Tóm lại vùng đệm là vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc khong

có rừng, nằm ngoài ranh giới khu bảo tồn và được quản lí để nâng cao việc bảo

vệ các khu bảo tồn và cho chính vùng đệm, mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn, để bảo vệ và phát triển bền vững (D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản, 1999)

Trang 5

diện tích 7.922.660 km2 Mặc dù con số về khu bảo tồn trên đây là khá ấn tượng, song chúng chỉ đại diện cho khoảng 6% tổng diện tích bề mặt trái đất, và chỉ có 3.5% tổng diện tích đất đai của thế giới thuộc loại được bảo tồn nghiêm ngặt cho mục đích khoa học, gồm VQG và khu bảo tồn thiên nhiên Việc bảo tồn cho các khu bảo tồn đã đạt đến đỉnh cao vào những năm 1970- 1975, Sau đó chững lại,

và có lẽ khu bảo tồn sẽ không bao giờ vượt qua 7%- 11% diện tích trái đất, vì các vùng đất còn lại có tầm quan trọng sinh học khác đã được quản lý cho mục đích sản xuất

Mọi người khắp nơi trên thế giới đang giải quyết những vấn đề này, cố gắng xây dựng một phong trào bảo tồn lâu dài và bền vững ở những nơi xa xôi nhất trên thế giới, với diện tích chiếm tới 10% bề mặt trái đất Những khu bảo tồn này chứa đựng những HST quan trọng về mặt kinh tế vá moi sinh, từ những dãy núi cho đến những dải san hô, trên khoảng 18,8 triệu km2, một diện tích rộng gấp đôi diện tích Châu Âu, số lượng các khu bảo tồn này đang tăng lên mỗi ngày

1.3.1 Các xu hướng bảo tồn trên thế giới

Khu bảo tồn rộng đến mức nào có thể bảo tồn được loài? Tạo một khu bảo tồn lớn tốt hơn hay tạo nhiều khu bảo tồn nhỏ? Hình dạng hợp lý nhất của khu bảo tồn? Để trả lời những câu hỏi trên đây hiện nay có hai trường phái trong việc thiết lập các khu bảo tồn:

+ Quan điểm khu bảo tồn lớn:

Một số người theo quan điểm khu bảo tồn lớn cho rằng chỉ có những khu bảo tồn lớn mới có thể chứa đủ số lượng các loài lớn, phạm vi rộng, mật độ thấp

để có thể duy trì được quần thể của chúng lâu dài Đồng thời các khu bảo tồn lớn cũng sẽ giảm bớt hiệu ứng vùng bảên, chứa đựng nhiều loài hơn và có tính đa dạng nơi cư trú hơn so với khu bảo tồn nhỏ

Trang 6

+ Quan điểm khu bảo tồn nhỏ:

Ngược lại với quan điểm trên, các nhà bảo tồn khác cho rằng khu bảo tồn nhỏ được lựa chọn tốt hơn, có khả năng chứa đựng nhiều kiểu hệ sinh thái cũng như quần thể của các loài quý hiếm, hơn là một khu rộng lớn có diện tích tương đương Đồng thời việc tạo ra nhiều khu bảo tồn, dù cho chúng có diện tích nhỏ đi nữa, cũng sẽ tránh cho quần thể khỏi bị hủy diệt hoàn toàn khi xảy ra tai họa như dịch bệnh, cháy rừng, hay sự xâm nhập của các loài ngoại lai Ngoài ra các khu bảo tồn nhỏ nằm cạnh các khu dân cư là những khu nghiên cứu và giáo dục lí tưởng, nâng cao nhận thức đại chúng về bảo tồn thiên nhiên

1.3.2 Một vài kinh nghiệm nước ngoài trong bảo tồn

- Nêpan: Khu bảo tồn Annpurna + Dự án tiến hành các hoạt động dựa trên sự tham gia của nhân dân địa phương

+ Tập trung chủ yếu vào nhân dân địa phương như là những người hưởng thụ dự án

+ Thu hút nhân dân vào các khâu trong quá trình dự án, từ việc lập kế hoạch đến các quyết định và quá trình triển khai hoạt động

+ Nguyên tắc bền vững: Bền vững về tài chính của dự án và bền vững về khai thác tài nguyên

+ Có tác dụng xúc tác để thu hút những nguồn lực từ bên ngoài khu vực bảo vệ

+ Lập ủy ban bảo tồn và phát triển do nhân dân chủ trì, dưới đó có các tiểu ban như quản lý rừng, trung tâm sức khỏe, quy định các điều lệ và các chỉ tiêu…

- Niger: Khu dự trữ thiên nhiên Ari- Tene + Tăng cường các dịch vụ xã hội

+ Tạo các việc làm mới + Cho phép sử dụng hạn chế, có kiểm soát: Một khoảng đồng cỏ nhất định, nguồn nước mùa khô

Trang 7

+ Trích một phần thu nhập từ khu bảo tồn chuyển cho cộng đồng nhân dân địa phương (xây dựng trường học, bệnh viện…)

+ Giúp đỡ chuyên môn và trang thiết bị cho nhân dân thực hiện các đề án địa phương

- Vênêzuêla: Vườn quồc gia bán đảo Paria + Giáo dục môi trường cho người lớn và trẻ em + Đưa vào ứng dụng các phương pháp canh tác lâu bền cho cộng đồng địa phương

+ Triển khai các hoạt động làm ăn, sinh sống mới để tạo thu nhập cho dân như: vườn nhà, nuôi ong, du lịch sinh thái…

Australia: Vườn quốc gia Kakadu (một di sản thiên nhiên và văn hóa thế giới) Những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ đất hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện trong ban quản lý (10/14 thành viên ban quản lý là những đại diện cho các cộng đồng lựa chọn) (Hoàng Hòe, 1995, Võ Quý, 1997…)

1.4 Những khó khăn và tồn tại trong công tác quản lý vùng đệm ở Việt Nam

1.4.1 Khó khăn

- Đông dân, dân trí thấp, nghèo đói, hạ tầng cơ sở kém + Hầu hết vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn và VQG đều là những vùng đông dân cư sinh sống, việc khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý các khu bảo tồn ở Việt Nam là số dân sinh sống phía ngoài, sát với khu bảo tồn, thậm chí trong khu bảo tồn đã tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn Họ phát nương, làm rẫy, săn bắn động vật hoang dã, chặt gỗ, lấy củi đun, lượm thu các sản phẩm từ rừng và do đó ảnh hưởng đến công tác bảo tồn

+ Dân chúng đa số có thu nhập thấp, nghèo, tốc độ tăng dân số cao hơn các vùng khác Nguyên nhân chính của khai thác rừng là đói nghèo và tăng dân

số nhanh Rừng và TNR như người ta thường nói là “bát cơm manh áo” của

Trang 8

người nghèo Cấm người nghèo không được lấy “bát cơm” trước mắt họ là không thể được

+ Trình độ văn hóa và dân trí của người dân còn thấp Người dân chưa thấy được việc thành lập các khu bảo tồn mang lại lợi ích gì cho họ, trái lại họ bị thiệt hại và không được tiếp tục khai thác như trước đây

+ Thiếu sự phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan, và người dân địa phương Chính quyền, nhất là người dân địa phương còn ít được tham gia vào kế hoạch phát triển vùng đệm và bảo vệ VQG, kể cả việc hoạch định ranh giới các khu bảo tồn và vùng đệm

- Năng lực của các ban quản lý còn yếu kém + Trình độ quản lý của các cán bộ làm công tác bảo tồn còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế

+ Chưa có các biện pháp và hình thức giáo dục thiết thực làm cho người dân hiểu rõ được ý nghĩa và vai trò của VQG, vùng đệm của nó và cũng chưa làm cho người dân hiểu được trách nhiệm của họ đối với vùng đệm và khu bảo tồn

- Ban quản lý khu bảo tồn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện nhiệm

vụ và không đủ cán bộ để làm nhiệm vụ ngăn chặn sự xâm nhập của dân vào khu bảo tồn Đa số cán bộ chưa được đào tạo, luật pháp cũng không rõ ràng, không

có hướng dẫn cụ thể về vùng đệm, thiếu kinh nghiệm làm việc với dân, thiếu kinh phí, phương tiện, hạ tầng cơ sở yếu kém…

1.4.2 Những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý vùng đệm các khu bảo tồn

- Nhiều khu bảo tồn chưa có quy hoạch được xây dựng một các nghiêm túc, cũng như chưa xác định ranh giới vùng đệm Điều này đã gây ra khó khăn cho việc xác định khu vực cần quản lý đối với người có trách nhiệm quản lý và nhân dân địa phương

- Thiếu quy chế quản lý vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Đây là một công cụ pháp lý quan trọng để quản lý vùng đệm và bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 9

- Hệ thống văn bản chưa đồng bộ, chưa cụ thể thành cơ chế Ngay cả với các chính sách đã được ban hành thì việc thực thi trong thực tiễn ở các cấp vẫn chưa được nghiêm chỉnh Chính vì vậy hiệu quả xây dựng vùng đệm và bảo vệ các khu bảo tồn chưa cao

- Trong quản lý vùng đệm chưa gắn được quyền lợi của nhân dân địa phương và lợi ích khu bảo tồn, quyền của chính quyền địa phương và quyền lợi của ban quản lý khu bảo tồn Người dân địa phương cảm thấy quyền lợi của mình

bị mất đi khi nhà nước xây dựng khu bảo tồn Điều này dẫn đến thái độ thiếu hợp tác với ban quản lý trong việc bảo vệ khu bảo tồn

- Mặc dù cho đến nay nước ta đã có một hệ thống các khu bảo vệ quốc gia bao gồm 120 khu với tổng diện tích hơn 2,5 triệu ha (chiếm khoảng 7,6% lãnh thổ tự nhiên), trong đó có 27 VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, 49 khu dự trữ thiên nhiên, 11 khu bảo tồn loài, sinh cảnh và 39 khu rừng bảo vệ cảnh quan nhưng hiện nay vẫn chưa có một chính sách cụ thể về đầu tư cho các vùng đệm và các khu bảo tồn

1.5 Khái niệm về sinh kế và sinh kế bền vững

1.5.1 Khái niệm

Một sinh kế có thể được miêu tả như là tập hợp các nguồn lực và khả năng

mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm kiếm sống cũng như để đạt được các chỉ tiêu và ước nguyện của họ

Bền vững là khả năng tiếp tục trong tương lai, chống đỡ và phục hồi từ những áp lực và cú sốc, trong khi vẫn không gây tổn hại tới những nguồn lực mà

nó dựa vào đó để tồn tại

Nguồn lực ở đây có thể là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, xã hội, kinh

tế hoặc thể chế, đây cũng chính là lí do tại sao khả năng bền vững thường được phân tích theo 4 thành tố: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững thể chế, bền vững xã hội Bền vững không có nghĩa là không có sự thay đổi mà là khả năng thích nghi theo thời gian Sự bền vững là một trong những nguyên tắc chủ đạo của phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững

Trang 10

Một sinh kế được coi là bền vững nếu như nó có khả năng liên tục duy trì hoặc nâng cao mức sống hiện tại mà không gây tổn hại tới những cơ sở tài nguyên thiên nhiên Để làm được điều này nó cần phải vượt qua và phục hồi những áp lực cũng như những cú sốc

1.5.3 Những nguyên tắc trong sinh kế bền vững

- Lấy người dân làm trung tâm Việc giảm nghèo bền vững chỉ có thể đạt được khi những hỗ trợ bên ngoài tập trung vào những vấn đề quan trọng đối với cuộc sống của người dân, hiểu được sự khác biệt giữa họ và cộng tác với họ theo những phương cách phù hợp với các chiến lược sinh kế hiện hữu, với môi trường xã hội của họ cũng như khả năng thích nghi

- Tăng cường sự tham gia: Người nghèo phải là những chủ thể chính trong việc xác định và đặt ra những ưu tiên trong sinh kế, trong khi đó những người từ bên ngoài phải áp dụng những tiến trình lắng nghe và đáp ứng Người nghèo phải

là những người đưa ra những giải pháp phát triển và đề ra các kế hoạch hành động vì họ là người hiểu biết về mình nhất Những người bên ngoài chỉ là những người thúc đẩy, trợ giúp cộng đồng đưa ra các chiến lược phát triển và trợ giúp

họ về kỹ thuật, KHCN

- Nhiều cấp: Những thách thức trong công cuộc giảm nghèo là cực kỳ to lớn và có thể vượt qua khi thực hiện ở nhiều cấp bao gồm các cấp vi mô và vĩ

Trang 11

- Bền vững: Bốn mặt chủ yếu của bền vững: bền vững kinh tế, bền vững thể chế, bền vững môi trường Tất cả đều quan trọng và cần phải giữ được sự cân bằng giữa chúng

- Năng động: Những hỗ trợ từ bên ngoài cần ý thức được tính chất sống động của các loại hình sinh kế, đáp ứng một cách linh hoạt trước những thay đổi trong thực trạng của người dân, đồng thời đưa ra những cam kết lâu dài

- Đa dạng kết hợp với mục tiêu ngắn hạn và dài hạn:

+ Tính đa dạng:

Đa dạng về xã hội

Đa dạng hoạt động sinh kế

Đa dạng phương pháp tiếp cận sinh kế + Kết hợp mục tiêu ngắn hạn và dài hạn

Mục tiêu ngắn hạn: Nhu cầu thực tế trước mắt Mục tiêu dài hạn: Nhu cầu phát triển bền vững

1.6 Hiện trạng TNR ở Việt Nam

Theo tài liệu của Maurand thì trước năm 1945, Việt Nam có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên của cả nước, năm 1990 diện tích rừng chỉ còn 28,4%, năm 2000 diện tích rừng tăng lên 33,2% (11 triệu ha) trong đó có

8 triệu ha rừng được giao cho hộ gia đình

Trên thực tế rừng vẫn bị xâm hại và chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên thuỷ; và từ năm 1996 - 2000, mỗi năm vùng Tây Nguyên mất đi 10.000 ha rừng, trong cả nước hiện nay trồng được 200.000 ha rừng nhưng diện tích rừng bị mất khoảng 120.000 - 150.000 ha Do nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam và địa hình

có nhiều độ cao khác nhau so với mực nước biển nên rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét độc đáo của vùng nhiệt đới, có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thuỷ, rừng cây lá rộng, rừng cây hỗn giao lá kim và lá rụng, rừng cây bụi và rừng ngập mặn…

Trang 12

Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng, có thể nói nước ta

là trung tâm gia nhập của các luồng thực động vật từ phía Bắc xuống, phía Tây qua, phía Nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong vùng

Đồng thời nước ta có độ cao ngang từ mực nước biển đến trên 3.000m nên

có nhiều loại rừng với nhiều loại thực động vật quý hiếm độc đáo mà các nước

ôn đới khó có thể tìm được

- Về thực vật: Theo số liệu thống kê gần đây thì có khoảng 12.000 loài thực vật, nhưng chỉ có 10.500 loài đã được mô tả, trong đó khoảng 10% là loài đăc hữu, 800 loài rêu, 600 loài nấm,… khoảng 2.300 loài cây có hạt đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn gia súc Về cây lấy gỗ có 41 loài cho gỗ quý (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ mộc

và xây dựng (nhóm 3)…, loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha, ngoài ra rừng Việt Nam còn có rừng tre nứa, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng

25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao Ngoài những cây làm nguyên liệu lương thực, thực phẩm và những cây lấy gỗ ra, rừng Việt Nam còn có những cây được sử dụng làm dược liệu gồm khoảng 1500 loài trong đó có khoảng 75%

là cây hoang dại, những cây có chứa hoá chất quý hiếm như cây Tô hạp (Altimgia SP) có nhựa thơm, được tìm thấy ở vùng núi Tây Bắc và trung Bộ Cây Giỏ Bầu (Aquilaria crassna) sinh ra trầm hương, phân bố từ Nghệ Tĩnh đến Thuận Hải, cây dầu trái (Dipterocarpus) cho gỗ và cho dầu nhựa

- Về động vật: Cũng rất đa dạng, ngoài các loài động vật đặc hữu, Việt Nam còn có những loài mang tính chất tổng hợp của khu hệ động vật miền Nam Trung Hoa, Ấn Độ, Mã Lai, Miễn Điện, hiện tại đã thống kê được khoảng 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài cá nước ngọt

và 1650 loài cá ở rừng ngập mặn và cá biển chúng phân bố trên những sinh cảnh khác nhau trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, ý nghĩa khoa học, nhiều loại quý hiếm có tên trong sách đỏ của thế giới

Trang 13

1.7 Hiện trạng tài nguyên rừng ở vườn quốc gia Pù Mát

VQG Pù Mát là rừng nguyên sinh có diện tích trên 91.113 ha, trong đó diện tích rừng giàu là 23.110 ha (chiếm 24,5 %), rừng trung bình là 29.512 ha (chiếm 52,5 %) rừng nghèo là 28.477 ha (chiếm 31,3%), rừng đang phục hồi là 3.752 ha (chiếm 0,2 %), rừng hỗn giao gỗ - tre - nứa là 1.985 ha (chiếm 2,7%); rừng cây lùn, rêu và địa y là 1.652 ha (chiếm 1,7%), tổng trữ lượng cây đứng khoảng 8 triệu m3

gỗ cây đứng và trong tổng số 86.000 ha của vùng đệm có 68.540 ha là diện tích rừng che phủ, VQG Pù Mát còn là rừng tự nhiên lớn nhất

và tiêu biểu cho Bắc Trường sơn nói riêng và cho Việt Nam nói chung, là nơi có phần thực vật phong phú, đa dạng vào loại bậc nhất của Việt Nam, nơi đây đang lưu giữ nhiều nguồn gen quý về động thực vật, là nơi hội tụ các yếu tố địa lý, thực - động vật, Pù Mát có đầy đủ các lớp quần hệ (rừng thưa, rừng kín, cây bụi, cây thảo) trong số gần 2500 loài thực vật bậc cao có mặt đã biết, có gần 2000 loài thuộc nhóm chồi trên mặt đất chiếm tỷ lệ 74%, yếu tố chủ đạo cấu thành hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam trong đó có nhiều loài quý như: pơmu, samu, kim giao, táu, sến, dổi , VQG Pù Mát có môi trường sống của rừng nhiệt đới, hiện rừng quốc gia Pù Mát còn 62% diện tích rừng nguyên sinh

và hầu như chưa bị tác động bởi con người, với những cảnh quan địa lý độc đáo,

đa dạng, phong phú về các loài động vật, thực vật với độ che phủ rất cao đạt 98% (so với năm 1.993 là 94%) thì VQG Pù Mát đã trở thành khu dự trữ sinh quyển của thế giới

Như vậy nhìn chung thảm thực vật ở VQG Pù Mát khá phong phú đa dạng gồm những cây ở đồng ruộng, đồi núi trọc, đồi núi đá vôi, savan, thảm thực vật tái sinh, rừng nguyên sinh rộng lớn và một số biến thành rừng hỗn giao có thể do địa hình phức tạp, khí hậu đa dạng đã tạo nên nét độc đáo về tài nguyên rừng của VQG Pù Mát

Hiện tại ngoài một số ít khu rừng được xem là hoàn toàn chưa bị tác động còn rất nhiều rừng thành thục hay còn gọi là rừng già, tán khép kín và cây bụi thưa thớt, rừng thành thục có thể phân bố ở các vùng đất thấp, trên đất dốc có độ

Trang 14

cao trung bình 700- 800 m so với mực nước biển Rừng núi cao là rừng lá kim tuy không rộng nhưng là đại diện của một số loại môi trường sống quan trọng Phần lớn những khu rừng trong VQG Pù Mát nằm kề bên các dòng suối, các lưu vực sông đều bị tác động bởi các hoạt động khai thác của con người Rừng tái sinh là khu rừng bị tác động mạnh nhất, một số thung lũng của VQG đã bị tre, nứa mọc xâm lấn là do hậu quả của hoạt động phát nương làm rẫy trước đó, tuy nhiên phần lớn là những vùng xa lưu vực sông, suối hay những nơi có địa hình cao vẫn tồn tại những cánh rừng nguyên sinh

Vì vậy để đảm bảo nguồn tài nguyên rừng của VQG Pù Mát được phong phú, đa dạng và giữ được tính nguyên vẹn của cánh rừng nguyên sinh, thì chúng

ta cần đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng nhu cầu

và nâng cao mức sống của những cộng đồng dân cư sống trong rừng, gần rừng và phụ thuộc vào rừng

1.8 Các nghiên cứu có liên quan

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như các chương trình, dự án phát triển sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững với các kết quả thu được khác nhau

“Ứng dụng khung sinh kế bền vững, xác định các phương thức ứng phó với tình hình khan hiếm lương thực”, nghiên cứu của Tiến sĩ Vương Xuân Tình, Viện Dân tộc học và Thạc sĩ Mai Văn Thành - giảng viên Trường Đại học Nông nghiệp I

Đây là nghiên cứu trong khuôn khổ dự án “Các phương thức ứng phó với tình hình khan hiếm lương thực” được tài trợ bởi qũy Rokerfeller do Viện Dân tộc học chủ trì với sự tham gia của nhiều nhà khoa học Nghiên cứu đã áp dụng khung phân tích sinh kế bền vững với sự tập trung và năm loại vốn mà chúng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới tình trạng khan hiếm lương thực của người dân Nghiên cứu này đã xác định được một số chỉ tiêu đại diện cho từng loại vốn sau đó chuyển chúng dưới dạng chỉ số tổng hợp và biểu diễn trực quan qua ngũ

Trang 15

giác sinh kế, hình dạng ngũ giác sinh kế phản ánh phương thức ứng phó khác nhau giữa các hộ trong cộng đồng và giữa các cộng đồng khác nhau

Kết quả nghiên cứu này cho thấy bức tranh định tính về phương thức ứng phó với tình hình khan hiếm lương thực ở mức độ nông hộ và cộng đồng nhưng chưa lượng hóa được mức độ ứng phó

Vũ Văn Thịnh, “Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì” nghiên cứu góp phần

hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm VQG Ba Vì

Nghiên cứu này đã đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bền vững, đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao thu nhập có tính bền vững cho người dân tộc thiểu số nơi đây

“Nghiên cứu phân tích sinh kế có sự tham gia tại xã Vinh Hà - huyện Phú Vang - tỉnh Thừa Thiên Huế”, tác giả Lâm Thị Thu Sửu, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Huế Nghiên cứu này đã phân tích thực trạng đời sống của nhân dân xã Vinh Hà bằng phương thức tiếp cận sinh kế bền vững làm cơ sở đề xuất

dự án phát triển kinh tế xã hội tại địa phương Nghiên cứu đánh giá bối cảnh tổn thương, các nguồn vốn, thể chế, chính sách và đưa ra giải pháp cho sinh kế bền vững

Trang 16

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là VQG Pù Mát và một số hộ gia đình thuộc khu vực nghiên cứu

2.2 Phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Không gian

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại hai bản thuộc hai xã khác nhau của huyện Con Cuông đó là bản Yên Thành - Xã Lục Dạ - Con Cuông - Nghệ An và bản Liên Đình - xã Chi Khê - Con Cuông - Nghệ An

- Tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu

- Thực trạng công tác quản lí, bảo vệ rưng của VQG Pù Mát

- Tìm hiệu thực trạng sinh kế của địa điểm nghiên cứu

- Xác định sư giống và khác nhau về sinh kế của hai cộng đồng lựa chọn

- Giải thích sư giống nhau và khác nhau của việc lựa chọn sinh kế giữa hai cộng đồng nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Pù Mát

2.4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

2 4.1 Phương pháp khảo sát trực tiếp

Khảo sát, tìm hiểu thực tế công tác quản lý, bảo vệ rừng và hoạt động sinh

kế của người dân ở vùng đệm VQG Pù Mát

2.4.2 Phương pháp thống kê

Thu nhập các thông tin, số liệu của nguồn cung cấp thông tin là các văn bản, chỉ thị, dự án, các tài liệu thống kê có liên quan đến công tác QLBVR và đời sống sinh kế của người dân vùng đệm VQG Pù Mát

Trang 17

2.4.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Điều tra theo bảng câu hỏi sẵn theo mẫu

- Phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình và các cán bộ ở các cơ sở có liên quan theo bảng câu hỏi đã được soạn sẵn

2.4.4 Chọn mẫu điều tra

- Đề tài được điều tra trên phạm vi VQG Pù Mát, mẫu điều tra là các hộ gia đình trên địa bàn các bản

- Lí do chọn địa điểm nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại 2 bản Liên Đình và bản Yên Thành, bởi hai bản này có các điều kiện tự nhiên khác nhau và khoảng cách từ hai bản đến đường quốc lộ cũng khác nhau

Mẫu điều tra ở đây được chọn ngẫu nhiên bao gồm 3 nhóm hộ: hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo Quá trình điều tra được tiến hành ở 20 hộ thuộc bản Yên Thành và 15 hộ thuộc bản Liên Đình

2.4.5 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

- Xử lý số liệu thu thập được bằng phần mềm Microsoft Excel

- Thống kê, tổng hợp và phân tích thông tin theo các chủ đề nghiên cứu khác nhau

- Sử dụng các bảng biểu, hình ảnh, sơ đồ biểu thị kết quả nghiên cứu

Trang 18

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Tình hình cơ bản của VQG Pù Mát

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát được Chính phủ đưa vào hệ thống rừng đặc dụng quốc gia theo Quyết định số 194/CP ngày 08/09/1986 và đã được Bộ Lâm nghiệp thẩm định dự án khả thi số 343 ngày 20/11/1994

Pù Mát theo tiếng thái nghĩa là những con dốc cao, đây là tên gọi của ngọn núi cao nhất (cao 1.841m) nằm trong VQG Pù Mát Khu vườn được thành lập theo Quyết định số 174/2001 QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/11/2001 về việc chuyển hạng khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát thành VQG

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lí

VQG Pù Mát nằm trên sườn đông của dải Trường Sơn, nằm về phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 160km đường bộ, toạ độ địa lý của vườn:

18046’30”- 19012’42” độ vĩ Bắc

104031’57”- 105003’08” độ kinh đông Ranh giới của VQG, về phía Nam có chung 61km với đường biên giới quốc gia giáp với nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Phía Tây giáp với các xã: Tam Hợp, Tam Đình, Tam Quang (huyện Tương Dương)

Phía Bắc giáp với các xã: Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn (huyện Con Cuông)

Phía Đông giáp với các xã : Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn)

Vị trí của VQG nằm cuối dãy Pu Đen Đinh có đỉnh Pu Lai Leng cao 2710m

3.1.1.2 Địa giới hành chính Toàn bộ diện tích của VQG nằm trong địa giới hành chính của 3 huyện: Anh Sơn, Tương Dương, Con Cuông của tỉnh Nghệ An

Trang 19

Diện tích vùng lõi là : 91.113 ha (trong đó phân khu bảo tồn nghiêm ngặt: 89.517ha, phân khu phục hồi sinh thái: 1596ha)

Bản đồ 3.1: Vị trí của VQG Pù Mát Trong tỉnh Nghệ An

Trang 20

3.1.1.3 Địa hình, địa mạo

VQG Pù Mát nằm gọn trong dãy trường sơn bắc, địa hình của vườn phức tạp và hiểm trở, bị chia cắt bởi ba hệ suối chính: Khe Thơi, Khe Choăng (đoạn cuối nguồn Khe Bu) và Khe Khặng Các hệ suối này bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào và đổ về sông Cả

Địa hình của vườn ở độ cao từ 800 - 1500m Khu vực cao nhất nằm về phái nam, càng về phía Tây Nam của VQG các giông núi cao dần, gồm những định núi cao trên 1000m kế tiếp nhau kéo dài như: Cao Vều (1.343m), Pù Huổi Ngoãi (1.762m), đỉnh cao nhất của vườn là núi Pù Mát (cao 1.841m) nằm trong

hệ thống các đỉnh giông này Trong vùng có rất ít khu vực bằng phẳng, đáy các thung lũng có bốn lưu vực sông chính, nhưng mưa lũ diễn ra không thường xuyên, chỉ có một số vùng đất thấp dọc theo bờ của Khe Thơi và Khe Khặng trong vùng nghiêm ngặt là nơi sinh sống trước đây, cũng như hiện nay của một

số cộng đồng dân tộc, ở đó có nhiều hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp đã và đang diễn ra

Nằm trong khu vực có khoảng 7.057ha núi đá vôi và phần lớn diện tích này nằm ở vùng đệm của VQG, chỉ có khoảng 150ha nằm trong vùng lõi

3.1.1.4 Địa chất và thổ nhưỡng

- Địa chất:

Quá trình kiến tạo địa chất của vườn được hình thành qua các kỷ: Palêzôi,

Đề vôn, cacbon - pecmi, triat, hexini đến mirôxen cho đến ngày nay Do nằm gọn trên dãy Trường Sơn Bắc của dãy Trường Sơn nên địa hình luôn bị ngoại lực tác động mạnh mẽ tạo nên 4 địa mạo chủ yếu

+ Núi cao trung bình: Uốn nếp, khối nâng lên mạnh tạo nên một dải cao

và hẹp nằm trong biên giới Việt - Lào với vài đỉnh cao trên 2000m (pulaileng 2711m) , địa hình vùng này rất hiểm trở, đi lại cực kì khó khăn

+ Kiểu địa hình núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lớn diện tích của vườn và có độ cao từ 1000m trở xuống, tuy cấu trúc tương đối phức tạp, được cấu tạo bởi các trầm tích, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn

Trang 21

+ Thung lũng kiến tạo và xâm thực: kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏ, nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao nhỏ thua 300m và bao gồm thung lũng các sông suối Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng (sông Giăng) và bờ phải sông cả Vùng này được cấu tạo từ các trầm tích bở rời, dễ bị xâm thực, trong đó phổ biến là các dạng địa hình khá bằng phẳng, bãi bồi và thềm sông khá phát triển

+ Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp có quá trình karst trẻ và phân bố hữu ngạn sông cả ở độ cao 200 - 300m, cấu tạo phân phiến dầy, màu xám đồng nhất và tinh khiết

34.511ha (17,7%)

Đất có màu vàng đỏ và vàng xám, tầng mùn dầy, thành phần cơ giới (TPCG) nhẹ đến trung bình Có 2 loại tụ

Phân bố từ độ cao 800m đến 1800m dọc biên giới Việt - Lào

(2,5%)

Feralit đỏ vàng phát triển trên đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn, TPCG trung bình

Phân bố nhiều ở phía Nam và Đông Nam VQG

29693ha (15,2%)

Feralit vàng nhạt hay vàng xám phát triển trên đá trầm tích và biến chất,

có kết cấu hạt thô, TPCG nhẹ đến trung bình

Phân bố nhiều ở phía Tây Nam VQG

2

Đất Feralit

đỏ vàng vùng đồi và núi thấp (F)

151017ha (77,6%)

Đất có màu đỏ vàng hay vàng đỏ, phần tích tụ dày, nền vật chất tạo đất chia ra các loại phụ:

Phân bố ở phía Bắc

và Đông Bắc VQG

56584ha (29,1%)

Đất feralit đỏ vàng, TPCG nặng đến trung bình

Phân bố chủ yếu ở phần trung tâm và phía Đông VQG

(44,9%)

Đất Feralit vàng nhạt, TPCG nhẹ đến trung bình có nhiều đá lẫn trong tầng đất

Phân bố chủ yếu ở trung tâm và phía Tây Bắc VQG

Trang 22

phù sa (D,P)

9140 ha (4,7%)

Đất có màu nâu xám, TPCG trung bình, tơi xốp, giàu dinh dưỡng

Phân bố ven sông suối VQG

(K2)

7057 ha (3,6%)

Núi đá vôi dốc đứng có cây gỗ nhỏ che phủ thấp dưới 700 m

Phân bố thành giải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn sông Cả

Số liệu khí hậu của bốn trạm trong vùng Tương Dương, Anh Sơn, Con Cuông và TP Vinh được ghi trong bảng 3.2

Bảng 3.2: Số liệu khí hậu của 4 trạm trong vùng:

Nguồn : Cục thống kê tỉnh Nghệ An (2006) niên giám thống kê

Trang 23

Qua bảng 3.2 cho thấy :

- Chế độ nhiệt:

+ Nhiệt độ trung bình năm 23- 240

C, tổng nhiệt năng 8500- 87000C + Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2, do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ trung bình trong các tháng này xuống dưới 200C và nhiệt

độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 180

C (tháng giêng)

+ Ngược lại trong mùa hè do có sự hoạt động của gió mùa Tây Nam nên thời tiết rất khô nóng kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 tới tháng 7) Nhiệt độ trung bình mùa hè lên trên 250C, nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình là

290C, nhiệt độ tối cao lên tới 420C ở Con Cuông và 42,70C ở Tương Dương vào tháng 4 và tháng 5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%

- Chế độ mưa ẩm + Vùng nghiên cứu có lượng mưa từ ít tới trung bình, 90% lượng nước tập trung trong mùa mưa, lượng mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10 và kèm theo lũ lụt Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; các tháng 2, 3, 4 có mưa phùn do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Tháng 5, 6, 7 là những tháng nóng nhất

và lượng mưa cũng cao nhất

+ Độ ẩm không khí trong vùng đạt từ 85 - 86%, mùa mưa lên tới 90%, tuy vậy vào mùa khô nóng, độ ẩm xuống rất thấp

* Thuỷ văn:

Trong khu vực có hệ thống sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, các con khe như: khe Thơi, khe Khặng, khe Choăng lại chảy theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả

+ Dưới góc độ giao thông: đường thuỷ ở cả ba con khe trên đều có thể dùng bè mảng đi qua một số đoạn nhất định, riêng khe Choăng và khe Khặng có thể dùng thuyền máy ngược dòng ở phía hạ lưu

+ Nhìn chung mạng lưới sông suối trong vùng khá dày đặc, với lượng mưa trung bình năm từ 1300 - 1400mm, nguồn nước mặt trên diện tích của VQG

Trang 24

lên tới hơn 3 tỷ m3 Do lượng nước đó phân bố không đều giữa các mùa và các khu vực nên tình trạng lũ lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

VQG Pù Mát là một khu rừng đặc trưng có tính chất ĐDSH đại diện cho

hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới điển hình nhất khu vực Bắc Trường Sơn, trong đó phần lớn là rừng nguyên sinh với hệ động, thực vật vô cùng phong phú và đa dạng

3.1.2.1 Tài nguyên thực vật

Do đặc điểm về khí hậu, địa hình trong khu vực rất thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật nên hệ thực vật ở VQG Pù Mát rất phong phú về loài ở đây chủ yếu là rừng nguyên sinh với các môi trường sống khác nhau như: rừng lá rộng thường xanh á nhiệt đới nguyên sinh, rừng hỗn giao tre nứa tổng diện tích toàn bộ khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG là 91.113 ha, diện tích đất có rừng là 84.065 ha

Sau đây là hiện trạng phát triển của tài nguyên rừng quốc gia Pù Mát được thể hiện ở bảng 3.3

Bảng 3.3: Hiện trạng tài nguyên rừng của VQG Pù Mát

Trạng thái rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Trang 25

Bản đồ 3.2: Sơ đồ hiện trạng rừng quốc gia Pù Mát

Trang 26

Một cảnh của VQG Pù Mát

3.1.2.2 Tài nguyên động vật

Bên cạnh tài nguyên thực vật, hệ động vật của VQG Pù Mát cũng rất đa dạng và phong phú, theo nghiên cứu của các nhà khoa học, ở đây có 132 loài thú lớn nhỏ, trong đó có tổng cộng 98 loài được ghi tên trong sách đỏ Việt Nam và

thế giới, với các loài thú đặc hữu Đông Dương: Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) Thỏ sọc Bắc Bộ (Nesolagus SPP NOV) Vượn đen má trắng (Hylobates leucogenys), Đặc biệt ở đây đã phát hiện những loài thú lớn, mới làm

sửng sốt những nhà khoa học trên thế giới như: Mang Trường Sơn, Vooc chà vá chân nâu, Hổ, Voi

Đã có 313 Loài chim được phát hiện, trong đó có 22 loài có nguy cơ tuyệt chủng, 39 loài Dơi, 52 Loài bò sát, 84 Loài Cá, 11 Loại rùa, 305 Loài bướm ngáy, 83 Loài Bướm sừng, 11 Loài Bướm Hoàng Đế

Trang 28

3.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản

- Vật liệu xây dựng: Đá, cát ven khe suối tương đối dồi dào có khả năng

sử dụng làm vật liệu xây dựng, đảm bảo cho nhu cầu sử dụng của người dân

- Vàng: Vàng đã được phát hiện với trữ lượng thấp ở Khe Khặng và một

số chí lưu của nó (Khe Thẳng) Song hiện nay người dân chưa tiến hành khai thác

do còn mang lại hiệu quả thu nhập quá thấp

3.1.2.4 Tài nguyên du lịch

Ngoài sự đa dạng về động thực vật, Pù Mát còn tự hào về cảnh đẹp núi rừng, Sông suối nơi đây, nơi đây còn có nhiều di tích lịch sử ghi dấu một thời hào hùng của dân tộc trong các cuộc chống giặc ngoại xâm, những cái tên, những địa danh đã đi vào lòng người như: Hang ông trạng, Bia Mã Nhai, Cây Đa Cồn Chùa

Đến Pù Mát du khách sẽ được tìm hiểu thêm về những nét văn hoá đậm đà bản sắc của cộng đồng dân tộc anh em như: Đan Lai, Thái, Mông, Khơ mú, Tày , và những loại hình du lịch sinh thái khác nhau, với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp nổi tiếng như: Thác Khe Kèm, Bãi Đá Mỏ Vịt, rừng Săng Lẻ, Rốn Cô Tiên… Bạn cũng có thể ngâm trong những con khe, dòng suối mát lạnh: Khe kèm, Khe mọc…

3.1.3 Điều kiện xã hội VQG Pù Mát

3.1.3.1 Dân số

Sinh sống trong 3 huyện thuộc khu vực VQG có ba dân tộc chính là Thái, Khơ Mú và Kinh, ngoài ra còn có một bộ phận nhỏ các dân tộc khác như: Tày, H’Mông, Ơ Đu, Đan Lai

Thành phần đân tộc trên địa bàn khu vực VQG được trình bày trong bảng 3.4

Bảng 3.4: Thành phần dân tộc các huyện trong vùng

Trang 29

Tính đến năm 1999, dân số sống trong vùng đệm và một bộ phận nhỏ trong vùng nghiêm ngặt của VQG là 16.954 hộ và với 93.335 nhân khẩu, trung bình mỗi hộ gia đình có từ 5 - 6 nhân khẩu, như thế số người sinh con thứ 3, thứ

4 vẫn còn phổ biến, đâylà nguyên nhân gây ra tăng dân số trong những năm tới

Dân số trong khu vực phân bố không đồng đều Theo hướng Tây Bắc mật

độ dân số giảm dần từ 133 người/km2

còn 18 người/km2, tại xã Tam Hợp (Tương Dương) chỉ còn 7 người/km2

Theo nguồn niên giám thống kê các huyện, năm 1999, thì lực lượng lao động ở các huyện khá dồi dào cụ thể:

Ở huyện Anh Sơn có 8.511 lao động nam và 8.507 lao động nữ

Ở Huyện Con Cuông có 8.750 lao động nam và 8.754 lao động nữ

Ở Huyện Tương Dương có 2.741 lao động nam và 2.767 lao động nữ Lực lượng lao động này đã góp phần không nhỏ vào tính bền vững của VQG Pù Mát

Trang 30

Vào những ngày đầu mới thành lập tổ chức vườn chỉ có vẻn vẹn 6 đồng chí, nhưng hiện nay vườn đã có 5 phòng ban, trong đó có 93 cán bộ có trình độ đại học và trên đại học

- Ban giám đốc: 3 đồng chí (1 giám đốc; 2 phó giám đốc)

bộ phận chủ yếu thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng Hạt kiểm lâm Pù Mát

Hạt kiểm lâm

Trạm Tam Hợp

Trạm Tam Đình

Trạm Khe Thơi

Trạm khe Bu

Trạm Phà Lài

Phòng kế hoạch - Tài chính

Phòng tổ chức - Quản trị Phòng khoa học

P Giám đốc phụ trách khoa học

và hợp tác quốc tế

Trạm Cao Vều

Giám đốc Chi cục Kiểm Lâm

Trạm Khe Kèm

Trạm Làng Yên

Trang 31

được thành lập trên cơ sở từ quản lý bảo vệ rừng của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát trước đây, từ những ngày mới đầu thành lập, cuối năm 1996 lực lượng kiểm lâm Pù Mát mới chỉ có 15 đồng chí, từ đó đến nay, hạt đã dần dần phát triển về

cả số lượng lẫn chất lượng, đi vào chiều sâu hoạt động chuyên môn thể hiện qua các năm ở bảng 3.5

Bảng 3.5: Phân bố lực lƣợng của hạt kiểm lâm Pù Mát

Lãnh đạo trạm

Kiểm lâm viên

Đội cơ động

Trạm QLBVR

Trạm trưởng

P trạm trưởng

Nguồn: Hạt kiểm lâm Pù Mát, 2008

Như vậy qua nhiều giai đoạn phát triển đến nay hạt kiểm lâm Pù Mát có

64 đồng chí, trong đó có: Trình độ đại học là 24 đồng chí (38%), Trung cấp 40 đồng chí (62 %), đảng viên 21 đồng chí (33%)

Ban lãnh đạo hạt gồm 3 đồng chí: 1 hạt trưởng, 2 phó hạt trưởng, số còn lại là 61 đồng chí, trong đó được bố trí ở đội cơ động là 7 đồng chí và 8 trạm QLBVR là 54 đồng chí

Trang 32

3.2 Tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu

3.2.1 Tình hình cơ bản của bản Yên Thành - xã Lục Dạ - huyện Con Cuông - Nghệ An

3.2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

+ Đất nông nghiệp: 48 ha (26ha lúa nước, 22 ha đất màu) + Đất chuyên dùng: 86 ha

+ Đất khác: 327,5 ha (bao gồm: đất bùn ao hồ, đất rừng đã trồng tre nứa, đất đặc dụng)

3.2.1.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội

+ Dân số và lao động:

Bản Yên Thành là địa bàn sinh sống của 163 hộ dân với 701 khẩu, trong

đó chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái là 156 hộ (chiếm 95,7%) với 670 khẩu, dân tộc Kinh là 7 hộ (chiếm 4,3%) với 31 khẩu

Toàn bản có 331 khẩu nữ, và 339 khẩu nam, trong đó số người ở độ tuổi lao động là 359 người(chiếm 51,2 %), số còn lại là người già yếu và trẻ em Bản

có lực lượng lao động khá dồi dào chiếm hơn một nửa dân số trong bản, nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp lại chiếm tỉ lệ ít trong tổng diện tích đất tự nhiên của toàn bản, nên đời sống của người dân nơi đây gặp nhiều khó khăn, họ không chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp mà còn phải phụ thuộc vào TNR để có thể tồn tại, khả năng tiếp cận nguồn TNR đã phần nào ảnh hưởng đến sinh kế của người dân trong bản

Trang 33

+ Y tế và giáo dục

Về y tế: Cơ sở y tế của bản còn tạm bợ, cả bản chỉ có một y tá, trang thiết

bị, thuốc chữa bệnh của trạm còn chưa đầy đủ, người dân trong bản khi bị ốm đau, bệnh tật, đặc biệt là bệnh ngoài da, thì họ thường vào rừng lấy thuốc để chữa bệnh Điều này cũng là một vấn đề gây ảnh hưởng đến TNR

Về giáo dục: Bản đã có nhiều tiến bộ, số lượng người mù chữ đã giảm đi đáng kể và đã có nhiều con em trong bản được đi học ở các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học

3.2.1.3 Giao thông và thuỷ lợi

+ Giao thông từ huyện đến xã Lục Dạ đã được bê tông hoá thuận lợi cho việc đi lại, tuy nhiên đường đi lại trong bản vẫn đang còn đường đất, bản có 2,8km đường liên thông; 3,3km đường dân sinh

+ Hệ thống thuỷ lợi phát triển đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân

3.2.1.4 Thực trạng kinh tế của bản Yên Thành

Toàn bản có 163 hộ thì có đến 161 hộ làm nông - lâm nghiệp, (chiếm 98,77%), hai hộ còn lại là công chức nhà nước (chiếm 1,23%) tuy số hộ tham gia vào sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhưng do diện tích đất nông nghiệp ít (48ha), trong đó diện tích đất trồng lúa nước là 26ha (bình quân 370,9m2/khẩu) đất hoa màu là 22ha, ở đây do chủ động được nguồn tưới tiêu, công tác thuỷ lợi ở bản tốt, nên việc trồng lúa nước khá thuận lợi, tuy nhiên tình hình chăn nuôi ở bản không được khả quan, do tập quán của người dân là thường chăn thả trâu bò

ở trong rừng, nên chúng thường bị dịch bệnh hay bị giết chết, đời sống của người dân trong bản còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng thiếu đói vẫn luôn tiếp diễn, nên vào những tháng nông nhàn, người dân lại vào rừng kiếm củi, lấy măng, mộc nhị, thuốc, chặt tre mét, khai thác gỗ để bán hoặc đổi lấy lương thực, thực phẩm

Toàn bản có 163 hộ nhưng chỉ có 11 hộ có thu nhập khá với mức thu nhập (4 - 7 triệu đồng/năm) 116 hộ kinh tế trung bình với mức thu nhập từ 1,5 - 4 triệu đồng/hộ/năm và 36 hộ nghèo với mức thu nhập dưới 1,5 triệu đồng /hộ/năm

Trang 34

3.2.2 Tình hình cơ bản của bản Liên Đình xã Chi Khê - Con Cuông - Nghệ An

3.2.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý Bản Liên Đình nằm cách đường quốc lộ 1km, cách trung tâm huyện Con Cuông 9km

- Điều kiện tự nhiên Tổng diện tích tự nhiên của bản là: 897,45ha trong đó có:

+ Đất lâm nghiệp là 696,57ha + Đất nông nghiệp: 69,46ha (diện tích lúa nước là 13,08ha; diện tích đất màu 56,38ha)

+ Đất khoanh nuôi bảo vệ : 2,5ha + Đất thổ cư: 10,3ha

+ Đất chuyên dùng: 75,32ha + Đất khác: 43,3ha

3.2.2.2 Điều kiện dân sinh - Kinh tế - Xã hội

+ Dân số và lao động Bản Liên Đình là địa bàn sinh sống của 117 hộ dân với 574 khẩu, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thái với 113 hộ (chiếm 96,58%) và 558 khẩu, dân tộc kinh là 4 hộ (chiếm 3,42%) với16 khẩu

Toàn bản có 335 khẩu nam và 239 khẩu nữ trong đó số người trong độ tuổi lao động có 305 người (chiếm 53,2%), số còn lại chủ yếu là người già và trẻ

em, lực lượng lao động trong bản khá dồi dào, chiếm hơn một nữa dân số, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người là 1210,1m2/khẩu cao hơn ở bản Yên Thành là 684,73m2/khẩu (gấp 1,76 lần), nên người dân ở đây chủ yếu là làm nông nghiệp và chăn nuôi, tuy nhiên người dân trong bản vẫn thường xuyên vào rừng khai thác các sản phẩm từ đó để tăng thêm thu nhập cho gia đình và cải thiện đời sống, những hoạt động khai thác của bản Liên Đình thấp hơn bản Yên

Trang 35

Thành do công tác quản lý bảo vệ rừng ở bản Liên Đình có chặt chẽ hơn bản Yên Thành nên khả năng tiếp cận nguồn TNR ở bản này thấp hơn bản Yên Thành

+ Y tế và giáo dục:

Về Y tế: Toàn bản chỉ có 1 y tá, với điều kiện vật chất, thuốc chữa bệnh khá đầy đủ ở đây người dân thường vào rừng để lấy thuốc chữa những bệnh thông thường và hiệu quả của những loại thuốc do người dân tự làm ra này rất cao, điều này cho thấy kiến thức bản địa của người dân là rất phong phú, những kiến thức này thường ít gặp ở người dân tộc kinh

Về giáo dục: trẻ em trong bản được đi học đầy đủ, không có tình trạng trẻ

em bỏ học giữa chừng hay bị mù chữ Phong trào học tập của bản diễn ra mạnh

mẽ cụ thể như: Hoạt động loa đài, báo cáo thường xuyên những em nào thường

bị vi phạm học tập và đồng thời khen thưởng, ca ngợi những em có thành tích học tập tốt trong bản

Bản đã có nhiều em đi học đại học và các trường dạy nghề ở các thành phố lớn Đây là một nguồn nhân lực quan trọng đóng góp vào sự phát triển của bản làng nói riêng và của xã hội nói chung

Hộp 1: Câu chuyện đi học

Ông Lô Văn Thìn, 40 tuổi, ở bản Liên Đình có 4 người con Trước đây chúng tôi chỉ được đi học cho biết cái chữ rồi phải nghỉ học ở nhà giúp gia đình Bây giờ cuộc sống khá hơn rồi nên tôi sẽ cho các cháu đi học đầy đủ, không bắt chúng phải nghỉ học giữa chừng để sau này chúng sẽ có một cuộc sống sung sướng hơn

bố mẹ chúng

Phỏng vấn nông hộ tại bản Liên Đình

3.2.2.3 Giao thông - Thuỷ lợi

Xã Chi Khê nằm trên trục đường quốc lộ, nên giao thông đi lại liên huyện rất thuận lợi, tuy nhiên giao thông từ xã tới các bản là rất khó khăn, đường đi có nhiều dốc đèo và gồ ghề

Bản có 3,2km đường liên thông và 4,4km đường dân sinh

Ngày đăng: 22/08/2023, 00:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Đặng Công Oanh (1999), Công tác quản lý bảo vệ rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát, Tạp chí Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quản lý bảo vệ rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát
Tác giả: Đặng Công Oanh
Năm: 1999
[5]. Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), Tiếp cận sinh thái nhân văn và phát triển bền vững vùng núi Tây - Nam Nghệ An, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận sinh thái nhân văn và phát triển bền vững vùng núi Tây - Nam Nghệ An
Tác giả: Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
[6]. Trường ĐH nông nghiệp I Hà Nội (2001), Tác động của các chíng sách nông nghiệp, nông thôn đến quản lý tài nguyên và cuộc sống người dân vùng thượng nguồn khu vực sông cả; Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của các chíng sách nông nghiệp, nông thôn đến quản lý tài nguyên và cuộc sống người dân vùng thượng nguồn khu vực sông cả
Tác giả: Trường ĐH nông nghiệp I Hà Nội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[7]. Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải (1999), Mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển nông thôn bền vững, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển nông thôn bền vững
Tác giả: Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
[8]. Lê Trọng Cúc, Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội
[9]. Lê Trọng Cúc, Nguyễn Tất Cảnh, Trần Văn Ơn, Hội thảo đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo, Nxb Nông nghiệp, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[10]. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Phát triển Quốc tế Anh DFID 2003, Chương trình hỗ trợ xã nghèo 2003, Sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững và khung phân tích, Hội thảo Quốc tế đào tạo sinh kế bền vững ở Việt Nam, ngày 04/11/2003.[11]. Một số trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hỗ trợ xã nghèo 2003, Sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững và khung phân tích
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Phát triển Quốc tế Anh DFID
Năm: 2003
[1] Chi cục kiểm lâm Nghệ An (2002), Báo cáo đánh giá công tác quản lý bảo vệ rừng của các huyện vùng đệm VQG Pù Mát Khác
[3]. Vườn quốc gia Pù Mát (1997 - 2000), Báo cáo kết quả công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Pù Mát Khác
[4]. Dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên (SFNC, 2004), Đa dạng thực vật VQG Pù Mát Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Các loại đất trong vùng - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.1 Các loại đất trong vùng (Trang 21)
Bảng 3.2: Số liệu khí hậu của 4 trạm trong vùng: - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.2 Số liệu khí hậu của 4 trạm trong vùng: (Trang 22)
Bảng 3.3: Hiện trạng tài nguyên rừng của VQG Pù Mát - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.3 Hiện trạng tài nguyên rừng của VQG Pù Mát (Trang 24)
Bản đồ 3.2: Sơ đồ hiện trạng rừng quốc gia Pù Mát - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
n đồ 3.2: Sơ đồ hiện trạng rừng quốc gia Pù Mát (Trang 25)
Bảng 3.4: Thành phần dân tộc các huyện trong vùng - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.4 Thành phần dân tộc các huyện trong vùng (Trang 28)
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức VQG Pù Mát - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức VQG Pù Mát (Trang 30)
Bảng 3.6: Tổng hợp về tình hình tổ chức xây dựng lực lƣợng - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.6 Tổng hợp về tình hình tổ chức xây dựng lực lƣợng (Trang 37)
Bảng 3.7. Tổng hợp tình hình thực hiện công tác PCCR - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.7. Tổng hợp tình hình thực hiện công tác PCCR (Trang 39)
Bảng dưới đây cho thấy tình hình thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát  lâm sản, phòng chống khai thác lâm sản trái phép - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng d ưới đây cho thấy tình hình thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát lâm sản, phòng chống khai thác lâm sản trái phép (Trang 40)
Bảng 3.9: Một số chỉ tiêu về lúa nước ở các điểm nghiên cứu - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu về lúa nước ở các điểm nghiên cứu (Trang 45)
Bảng 3.10: Chi phí đầu tư cho sản xuất lúa nước ở các cộng đồng nghiên cứu - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.10 Chi phí đầu tư cho sản xuất lúa nước ở các cộng đồng nghiên cứu (Trang 46)
Bảng 3.11: Thực trạng chăn nuôi ở các cộng đồng nghiên cứu - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.11 Thực trạng chăn nuôi ở các cộng đồng nghiên cứu (Trang 48)
Bảng 3.12: Tình hình khai thác LSNG ở các cộng đồng nghiên cứu - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.12 Tình hình khai thác LSNG ở các cộng đồng nghiên cứu (Trang 50)
Bảng 3.13: Thu nhập của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu (1000đ/năm) - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.13 Thu nhập của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu (1000đ/năm) (Trang 52)
Bảng 3.15:   Tình trạng thiếu ăn của nông hộ - Đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và sự ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên rừng quốc gia pù mát đến sinh kế của người dân
Bảng 3.15 Tình trạng thiếu ăn của nông hộ (Trang 55)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm