1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề quyền tác giả đối với sinh viên đại học quốc gia tp hồ chí minh công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần 9 năm 2007

93 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề quyền tác giả đối với sinh viên Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần 9 năm 2007
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Để thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành các công đoạn sau:  Nghiên cứu văn bản pháp lý về công ước Bern, Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam, các

Trang 1

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN - EURÉKA”

LẦN 9 NĂM 2007

Tên công trình:

VẤN ĐỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI

Nhóm ngành: Khoa học xã hội

Mã số công trình:………

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 5

TỔNG QUAN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ 5

TÌNH HÌNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 5

1.1 Khái quát về quyền tác giả 5

1.2 Vấn đề quyền tác giả ở Việt Nam 11

Chương 2 30

QUYỀN TÁC GIẢ VÀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – TỪ THỰC TIỄN NHẬN THỨC ĐẾN THỰC THI PHÁP LUẬT TRONG SINH VIÊN 30

2.1 Mô tả mẫu về sinh viên Đại học Quốc gia(ĐHQG) thành phố Hồ Chí Minh – đối tượng điều tra của đề tài 30

2.2 Thực trạng sử dụng tài liệu 33

2.3 Nhận thức của sinh viên về quyền tác giả 38

2.4 Những đề xuất giải quyết tình trạng vi phạm quyền tác giả trong sinh viên 56

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

PHỤ LỤC 71

Phụ lục 1 71

Phụ lục 2 76

Phụ lục 3 80

Phụ lục 4 84

Phụ lục 5 89

Trang 3

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những bước đi tích cực trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, trong đó có việc tạo ra những hành lang pháp lý bảo hộ cho quyền tác giả của các sản phẩm trí tuệ, cũng là một đòi hỏi cấp thiết Luật sở hữu trí tuệ có hiệu lực năm 2006, tuy chậm hơn việc gia nhập công ước Bern gần 2 năm, nhưng đã cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cũng như tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ đối với việc gia nhập thị trường thế giới

Tuy nhiên, trong giới sinh viên - đối tượng sử dụng phần lớn các sản phẩm trí tuệ, tình trạng sử dụng tài liệu photo, sách lậu vẫn còn phổ biến bởi nhiều

nguyên do Trước tình hình đó, nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài: “Vấn đề

quyền tác giả đối với sinh viên Đại học Quốc giaThành phố Hồ Chí Minh” để

làm rõ thực trạng này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Để thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành các công đoạn sau:

 Nghiên cứu văn bản pháp lý về công ước Bern, Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam, các nghị định, chính sách cũng như các điều khoản pháp luật liên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả

 Khảo sát nhận thức về quyền tác giả đối với sinh viên Đại học Quốc giaTP HCM

 Trao đổi với giảng viên, vừa là người trực tiếp giảng dạy, cũng là những tác giả có tác phẩm xuất bản tại các trường, các bộ môn, khoa… trong Đại học Quốc giaTP HCM về vấn đề liên quan đếnbảo hộ quyền tác giả

Trang 4

Từ tất cả những cơ sở trên, nhóm nghiên cứu đề xuất những biện pháp có thể phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam nhằm mục đích phục vụ tốt hơn việc học tập của sinh viên cũng như nâng cao ý thức của sinh viên về tôn trọng quyền tác giả

3 Mục tiêu của đề tài

Tình trạng tuân thủ theo những quy định về quyền tác giả trong sinh viên đặt ra cho nhóm nghiên cứu những câu hỏi cần giải đáp Vì sao sinh viên Đại học Quốc giaTP HCM lại sử dụng sách lậu, sách photo? Phải chăng do những mặt còn yếu kém về quản lý của các nhà chức trách, để thả nổi vấn đề sách cho sinh viên,

do trách nhiệm từ phía nhà trường hay do ý thức của sinh viên? Cuối cùng là phải giải quyết hiện trạng này như thế nào để cân bằng giữa quyền lợi người đọc (sinh viên) và người viết cũng như những vấn đề pháp lý có liên quan? Tuy những vấn

đề nhằm thực thi công ước Berne đã được một số học giả bắt tay vào nghiên cứu trên nhiều góc độ và khía cạnh, nhưng chưa có một đề tài nào cụ thể định hướng đến đối tượng sử dụng tài liệu với số lượng lớn như sinh viên Nhu cầu của sinh viên không giống với nhu cầu của các nhóm xã hội khác do những đặc thù riêng của mình Vì vậy, mục tiêu của đề tài là:

 Các quan niệm và nhận thức về quyền tác giả trong sinh viên để có cái nhìn đúng đắn về thực trạng thực thi công ước Berne trong nhóm sinh viên Đại học Quốc gia TP HCM

 Trên cơ sở khảo sát thực tế để đề ra một số đề xuất mang tính chất xã hội có khả năng thực thi cao nhằm tránh việc áp đặt, gây ra thiệt hại cho cả sinh viên lẫn tác giả

Trang 5

5 Giới hạn của đề tài

Do một số hạn chế về mặt chuyên môn, nhân lực cũng như điều kiện kinh phí thực hiện đề tài mà nhóm nghiên cứu không thể tiến hành phân tầng chọn mẫu được Mẫu được chọn một cách ngẫu nhiên trong số sinh viên 5 trường và khoa trực thuộc Đại học Quốc gia thành phố, với hi vọng phần nào thể hiện được nhận thức phổ biến của sinh viên về vấn đề này

6 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài đã làm rõ được thực tiễn nhận thức về quyền tác giả ở sinh viên ĐH

QG TP.HCM cũng như thực trạng bảo hộ quyền tác giả trong phạm vi mẫu nghiên cứu và có một số đề xuất nhằm dung hoà giữa lợi ích của các bên

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Về mặt lý luận và thực tiễn, nếu không có những nhận thức đúng đắn về quyền tác giả thì sẽ mang lại những hậu quả tiêu cực như:

 Ảnh hưởng đến việc học tập của sinh viên

 Không khuyến khích được các công trình nghiên cứu của tác giả

Trang 6

8 Kết cấu của đề tài

Dựa trên những tài liệu nghiên cứu được, nhóm chia đề tài thành 2 chương:

 Chương 1: Tổng quan về quyền tác giả - Tình hình pháp luật Việt Nam

và thế giới

Đưa ra những kiến thức tổng quát về quyền tác giả, các điều luật liên quan đến quyền tác giả ở trong và ngoài nước Qua đó, so sánh mức độ chặt chẽ và các biện pháp chế tài giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, làm tiền đề cho trọng tâm của đề tài được phân tích ở chương 2:

 Nhận thức pháp luật của sinh viên về vấn đề quyền tác giả như thế nào?

 Trong bối cảnh luật pháp trong nước được thực thi như đề tài sẽ nêu,

có gây ảnh hưởng gì đến thái độ và hành vi vi phạm quyền tác giả của Sinh viên?

 Chương 2: Quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả tại Đại học Quốc giathành phố Hồ Chí Minh – Từ thực tiễn nhận thức đến thực thi pháp luật trong sinh viên

Đưa ra những kết quả khảo sát và phỏng vấn giáo viên, sinh viên, từ

đó phân tích nguyên nhân và rút ra những kết kuận về tình trạng vi phạm quyền tác giả trong sinh viên Đồng thời, đề xuất những giải pháp cơ bản để khắc phục tình trạng vi phạm này

Trang 7

Song song với khái niệm quyền tác giả, còn có một khái niệm nữa là bản quyền Khái niệm quyền tác giả được sử dụng trong hệ thống luật pháp của Việt Nam cũng như hệ thống pháp luật của các nước châu Âu lục địa như: Pháp, Đức, trong khi khái niệm bản quyền lại được quy định trong hệ thống pháp luật Anh -

Mỹ Về mặt bản chất, hai khái niệm này là giống nhau, tuy nhiên cũng có một số điểm khác biệt cơ bản

Thứ nhất là sự khác biệt về mặt chủ thể Nếu quyền tác giả đặt tác giả như

là người sáng tạo và các quan hệ tinh thần của tác giả đối với tác phẩm làm trung tâm thì bản quyền (copy right) lại bảo vệ quyền lợi kinh tế của người sở hữu quyền tác giả (owner of the Copyright) hơn là chính tác giả Nói cách khác, luật

Trang 8

bản quyền bảo vệ quyền lợi cho người đầu tư kinh tế để khai thác bản quyền đó hơn là chính tác giả

Thứ hai, trong “Copyright” của hệ thống luật Anh - Mỹ, trái ngược với luật

về quyền tác giả của hệ thống luật Châu Âu lục địa, các quyền sử dụng và quyền định đoạt về một tác phẩm thường không dành cho tác giả (ví dụ cho một nghệ sĩ)

mà lại dành cho những người khai thác các quyền này về mặt kinh tế (ví dụ như nhà xuất bản) Tác giả chỉ giữ lại các quyền phủ quyết có giới hạn nhằm để ngăn cản việc lạm dụng của Copyright từ phía những người khác thác các quyền này1 Thứ ba, quyền tác giả bảo vệ các quyền về nhân thân của tác giả, như quyền bảo đảm được trích dẫn khi tác phẩm được sử dụng hoặc quyền bảo đảm tác phẩm không bị sửa đổi, bổ sung, thay đổi, chuyển thể dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của tác giả hay các tác giả Trong khi đó, quyền nhân thân mới được đưa vào hệ thống pháp luật bản quyền cuả các nước Anh - Mỹ trong thời gian gần đây Ngoài ra, bản quyền tác giả thì cần phải đăng ký, không giống với quyền tác giả tự nhiên phát sinh khi tác phẩm được định hình Hiện nay các tác phẩm mới tại Mỹ được bảo vệ cho đến 70 năm sau khi tác giả qua đời hay 95 năm dành cho các doanh nghiệp2 Việc đăng ký Copyright hiện tại không còn là cần thiết bắt buộc nữa nhưng vẫn được khuyên nhủ

1.1.2 Ý nghĩa của bản quyền hay quyền tác giả

Quyền tác giả hay bản quyền xác lập quan hệ độc quyền của tác giả đối với các tác phẩm của họ Theo đó, tác giả có độc quyền trên tác phẩm của mình Tác giả có toàn quyền cho phép hay ngăn cấm người khác sử dụng hay phổ biến tác phẩm của mình và giữ độc quyền cho mọi hình thức khai thác: dịch thuật, sao chép, trình diễn và truyền thông công cộng, phát sóng, cải biên, chuyển thể, phân

Trang 9

phối, thuê mướn và xuất khẩu sang nước khác Tất cả những hành động ấy nếu thực hiện mà không được tác giả cho phép bằng văn kiện đều coi như là vi phạm bản quyền Ngoài ra, tác giả cũng đựơc hưởng quyền lơi khi bán lại các tác phẩm gốc đã chuyển nhượng

Hơn nữa, ngay cả khi quyền lợi về kinh tế được chuyển nhượng, tác giả vẫn giữ nguyên quyền được đòi thừa nhận mình là tác giả của tác phẩm và phản đối bất kỳ sự xuyên tạc, cắt xén hay sửa đổi hoặc những vi phạm khác đối với tác phẩm có thể làm phương hại đến danh dự và tiếng tăm tác giả

Quyền tác giả là một vấn đề quan trọng đối với một tác giả Bảo vệ quyền tác giả, trước hết, về mặt tinh thần, thể hiện sự tôn trọng và trân trọng đối với các

nỗ lực sáng tạo của các tác giả đó Về mặt kinh tế, đảm bảo lợi ích phát sinh từ họat động lao động trí tuệ của tác giả Do đó, việc bảo hộ một tác phẩm đã góp phần khuyến khích các hoạt động sáng tạo các tác phẩm văn học nghệ thuật, khuyến khích các họat động nghiên cứu khoa học, công nghệ do đó sẽ tạo ra những tựu văn minh có ích cho cuộc sống nhân loại

Bên cạnh đó, việc bảo hộ một tác phẩm sẽ góp phần ngăn chặn tình trạng sao chép, in lại các tác phẩm, các phát minh sáng chế do đó nó sẽ góp phần bảo tồn giá trị đối với một tác phẩm, bởi lẽ, hầu hết các tác phẩm in lậu hoặc in lại đều

là các tác phẩm có nội dung xấu, không chính xác hoặc chất lượng giảm đi rất nhiều lần so với tác phẩm gốc Do đó, có thể nói việc bảo hộ quyền tác giả cũng góp phần ngăn chặn sự truyền bá của văn hóa phẩm phản động, giúp ổn định trật

tự xã hội và an ninh quốc gia

1.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển vấn đề quyền tác giả trên thế giới

*

Từ đây về sau, chúng tôi dùng từ “quyền tác giả” đại diện cho cả “quyền tác giả” và “bản quyền”

Trang 10

Khái niệm bản quyền hay quyền tác giả thực ra đã ra đời từ thời Cổ đại nhưng chưa thực sự được quan tâm bởi khi đó, việc xâm phạm đến bản quyền hoặc quyền tác giả rất hiếm xảy ra Nguyên nhân là vào thời điểm ấy, hầu hết sách được khắc hoặc chạm trên bản đồng, trên sách đất sét, trên đá….nên việc sao chép rất khó khăn Thêm một nguyên nhân nữa là vào thời Cổ đại, nhân dân phần lớn còn mù chữ, nhu cầu sử dụng sách của họ không nhiều, tầng lớp cần dùng sách để tra cứu là tầng lớp quý tộc, những người này thì không cần phải sao chép sách Mãi đến thế kỷ thứ 15, sau phát minh của Gutenberg (1398-1468) với sự ra đời của ngành in ấn, thì vấn đề quyền tác giả mới thực sự được quan tâm Ngành in ra đời đã giúp cho việc phổ biến sách vở dễ dàng hơn nhiều so với thời cổ đại, trình

độ học vấn trong công chúng nhờ vậy mà được nâng cao Tuy nhiên, điều này cũng làm nảy sinh một vấn đề tiêu cực liên quan đến bản quyền tác giả, đó là việc

in lại sách Vì thế, để ngăn chặn hiện tượng trên, các nhà in đã xin nhà cầm quyền lúc bấy giờ các quyền lợi như cấm việc in lại một cuốn sách trong một thời gian nhất định Rồi đến khi phong trào Phục Hưng bắt đầu, các giá trị của con người ngày càng được quan tâm thì đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người có công sáng tạo ra tác phẩm của họ Tuy nhiên, “việc bảo vệ này chỉ

dành cho người sáng tạo như là một cá nhân (quyền cá nhân) và chưa mang lại cho

tác giả một thu nhập nào”3 Giữa thế kỷ 16, các đặc quyền lãnh thổ được đưa ra, cấm in lại trong một vùng nhất định trong một thời gian nhất định

Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVIII, thì đạo luật về bản quyền đầu tiên trên thế giới mới chính thức ra đời tại Anh Đó là đạo luật Statute of Anne (1710) Mặc

dù chưa phải là một đạo luật hoàn thiện, song nó đã nêu ra được 2 vấn đề cơ bản là: tác giả có độc quyền trên tác phẩm của mình và độc quyền đó được bảo vệ trong một thời gian nhất định

3

Đỗ Tuyết Khanh, bđd, báo Nhân dân số 149 tháng 3 năm 2005

Trang 11

Sau Statute of Anne của Anh, hàng loạt các nước Phương tây và châu Mỹ Latinh bắt đầu ban hành các đạo luật về bản quyền riêng cho mình: Đan Mạch (1741), Mỹ (1790), Pháp (1791), Chile (1834), Peru (1849), Argentina (1869) và Mexico (1871) Những đạo luật này hầu hết còn tồn tại rất nhiều hạn chế và một trong những hạn chế đó là chỉ bảo vệ quyền cho tác giả trong lãnh thổ nước đó, cho nên, khi muốn lưu hành một tác phẩm ra nước ngoài cần phải ký các hiệp ước song phương Vào những năm cuối thế kỷ XVIII, hàng loạt các khái niệm mới bắt đầu hình thành và phát triển ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở Pháp, như khái niệm về nhân quyền, dân chủ và đặc biệt là khái niệm giao lưu văn hoá Chính điều đó đã làm cho việc xây dựng một hiệp ước quốc tế thống nhất về bản quyền trở nên cấp thiết Và vấn đề này càng nóng lên khi ngày càng nhiều các văn hào và thi sĩ Pháp quan tâm và tiếp tục khai thác các quan điểm về cải cách xã hội, chính trị, văn hoá Sang đến thế kỷ XIX, đề tài này lại sôi nổi hơn nữa ở các hội nghị châu Âu, nơi quy tụ nhiều nhà văn, luật gia và đại diện chính quyền tham gia Kết quả là vào năm 1878, tổ chức Association Litteraise et Artistique (Hiệp hội văn học và nghệ thuật_viết tắt là ALAI) ra đời dưới sự sáng lập của đại văn hào người Pháp Victor Hugo Ông đồng thời cũng nắm luôn chức vụ chủ tịch danh dự của hiệp hội này Từ đó, hằng năm ALAI triệu tập hội nghị để thảo luận và xây dựng một Công ước quốc tế về bản quyền Đến tháng 9/1886, tại hội nghị Berne (Thuỵ Sĩ), bản dự thảo cuối cùng đã được thông qua Bảy nước châu Âu là Anh, Bỉ, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Thuỵ Sĩ và Ý - hai nước bấy giờ thuộc quyền bảo hộ của Pháp là Haiti và Tusinia, đồng ý ký và phê chuẩn Công ước Berne, thành lập liên hiệp Berne và một văn phòng để quản lý Công ước Mỹ và Nhật tham dự hội nghị với tư cách tư vấn và không tham gia Công ước Từ khi thành lập đến nay, công ước Berne đã qua 8 lần sửa đổi, bổ sung và hòan thiện vào năm 1979 Công uớc Berne được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản, đó là: nguyên tắc bình đẳng quốc gia, nguyên tắc bảo hộ đương nhiên và nguyên tắc bảo hộ độc lập Thời gian bảo hộ đối với một tác phẩm trung bình kéo dài đến 50 năm sau khi tác giả qua

Trang 12

đời4 Công ước Berne không những bảo vệ những quyền lợi kinh tế mà nó còn bảo

vệ những quyền lợi tinh thần của tác giả

Song song với bản quyền, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật cũng đặt ra

vấn đề sở hữu tri thức trong công nghiệp Những tài liệu lịch sử về việc bảo vệ sáng chế trong công nghệ đã có từ thời Phục Hưng ở Venise (Italia) vào năm 1474, sau đó được ban hành ở Anh vào năm 1623 trong luật về bằng sáng chế và tiếp đó

là hiến pháp đầu tiên của Hoa Kỳ (1787) Tuy nhiên khái niệm bảo vệ sở hữu công nghiệp ở phạm vi quốc tế mới thực sự xuất hiện năm 1873, khi một số người từ chối lời mời tham dự “Hội chợ quốc tế triển lãm sáng chế” tại Vienna (Áo) vì sợ các phát minh của mình bị kẻ khác ăn cắp để khai thác ở nước khác Năm 1883, 14 nước họp tại Paris ký kết Công ước Paris, văn kiện quốc tế đầu tiên cho phép người dân một nước bảo vệ những sáng chế của mình trong một hoặc nhiều nước khác Cũng như cho Công ước Berne, Liên Hiệp Paris và một văn phòng được thành lập để quản lý Công ước Paris

Hai văn phòng quốc tế quản lý hai Công ước Paris và Công ước Berne sát

nhập năm 1893 dưới tên là Bureaux internationaux réunis pour la protection de la

propriété intellectuelle (BIRPI), đặt tại Berne trước khi dời xuống Genève để sát

gần hơn với Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế khác BIRPI, thời ấy chỉ có 7 nhân viên làm việc cho một số ít quốc gia, là tiền thân của Tổ chức sở hữu tri tuệ

thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO) ngày nay WIPO được

thành lập năm 1970, hiện quy tụ 181 nước thành viên và một đội ngũ 938 nhân viên WIPO có nhiệm vụ quản lý toàn bộ lĩnh vực sở hữu tri thức thông qua 21 hiệp ước và công ước quốc tế bên cạnh hai Công ước Berne và Paris, chi phối đủ

mọi vấn đề liên quan như bằng sáng chế (patent), thương hiệu (trademark)

4

Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật”(1979)

Trang 13

Bên cạnh đó, vấn đề bản quyền cũng được chi phối bởi một công ước khác

là Công ước Tác quyền toàn cầu (Universal Copyright Convention) hay Công ước UCC Công ước này được thông qua tại Genever năm 1952 trong khuôn khổ của

tổ chức UNESCO thuộc Liên Hơp Quốc Công ước UCC dành cho những nước

mà không đồng ý với một số quy định của Công ước Berne nhưng vẫn muốn tham gia vào một thể chế pháp lý đa phương về bản quyền Tham gia UCC lúc ấy chỉ

có Liên Xô, Mỹ, một số nước ở châu Mỹ Latinh và một số nước nghèo trên thế giới Tuy nhiên, dần dần, các nước này đều lần lượt tham gia công ước Berne Và cho đến ngày nay, hầu hết các Quốc giatrên thế giới hoặc đã là thành viên hoặc đang nộp đơn xin gia nhập “Tổ chức thương mại thế giới” (WTO), vậy nên, phải tham gia công ước Berne theo quy định của Hiệp định TRIPS của WTO Do đó, có thể nói công ước UCC đã đi vào lịch sử Công ước Berne vì thế là văn kiện đầu tiên và quan trọng nhất cho vấn đề bản quyền

Hiện tại, vấn đề bản quyền đều được tất cả các nước quan tâm Bên cạnh việc ban hành luật bản quyền trong pháp luật quốc gia, hầu hết các nước đều tham gia các hiệp ước quốc tế về bản quyền Như đã nói ở trên, hầu hết các hiệp ước ngày đều được quản lý bởi tổ chức sở hữu tri thức thế giới WIPO Các hiệp ước tiêu biểu về bản quyền như là: Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng, Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, Hiệp ước Luật nhãn hiệu,Thoả ước Lahaye về Đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp…

1.2 Vấn đề quyền tác giả ở Việt Nam 1.2.1 Tính tất yếu trong vấn đề tuân thủ các quy định quốc tế về quyền tác giả

Kỷ nguyên chúng ta đang sống là kỷ nguyên của hợp tác, của toàn cầu hóa, và Việt Nam, với mong muốn “làm bạn với tất cả các nước” cũng không nằm ngoài dòng chảy thời đại này, đồng nghĩa với việc thiết lập các quan hệ ngoại giao và

Trang 14

thương mại ngày càng đa dạng Do đó, việc tuân thủ những quy định quốc tế, đặc biệt là những quy định về sở hữu trí tuệ trong thời đại hiện nay là không thể tránh khỏi Năm năm cho việc triển khai thực hiện Hiệp định về Bảo hộ sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam với Liên bang Thụy Sỹ và 7 năm cho Hiệp định Thiết lập quan hệ quyền tác giả giữa Việt Nam với Hoa Kỳ là một thời gian khá dài Thế nhưng, vẫn

có không ít các doanh nghiệp Việt Nam gặp rắc rối, đặc biệt là với Hoa Kì trong vấn đề sở hữu trí tuệ

Việt Nam lại vừa trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh WTO, việc tuân theo Hiệp định TRIPS về các khía cạnh kinh tế của quyền sở hữu trí tuệ là điều mang tính bắt buộc mà chúng ta đã cam kết trong lộ trình gia nhập Và đã đến lúc, cam kết này cần phải được thực hiện triệt để vì đây không còn là vấn đề giữa các cá nhân mà đã trở thành vấn đề của nhà nước Việt Nam với 149 nước còn lại nói riêng và thế giới nói chung Điều này không chỉ liên quan đến lợi ích của công dân Việt Nam mà còn liên quan đến uy tín và hình ảnh của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế

Càng thấy rõ, trong bối cảnh hiện nay, việc bảo hộ và đảm bảo thực thi quyền tác giả đã trở thành một nhu cầu thiết yếu, mang tính khách quan và cực kì quan trọng Vấn đề này không chỉ dừng lại ở việc thực hiện nghiêm túc các cam kết song phương và đa phương trong lĩnh vực này mà nó còn mở rộng từ việc xây dựng thể chế pháp luật nghiêm minh hơn, nâng cao khả năng chức thực hiện và phối hợp giữa các cơ quan ban ngành, nâng cao ý thức pháp luật của người dân cho đến việc khuyến khích các tác giả chủ động hơn nữa trong việc bảo vệ quyền lợi của mình…

1.2.2 Những quy định pháp lý của Việt Nam về quyền tác giả

Việt Nam trở thành thành viên thứ 156 của Công ước Berne vào ngày 06/10/2004, hiệu lực của Berne tại Việt Nam bắt đầu từ 26/10 cùng năm Cho đến

Trang 15

nay đã gần 3 năm thực hiện, pháp luật cũng đã có những bước thể chế hóa cho phù hợp với tình hình trong nước, nhưng hiệu quả thế nào?

Trước khi gia nhập công ước, Việt Nam đã có những điều luật liên quan đến sở hữu trí tuệ nằm trong bộ luật Dân sự năm 1995 (phần VI – Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ), trong đó chương XXXIV quy định về quyền tác giả và quyền liên quan (điều 736 đến điều đến điều 749) Ngoài ra, vấn đề này còn được quy định trong Luật báo chí, Luật hải quan, Luật dân sự, Luật hình sự, cũng như trong các văn bản dưới luật khác như: Nghị định số 76/NĐ-CP ngày 29 tháng

11 năm 1996 của chính phủ hướng dẫn việc thi hành một số quy định về quyền tác giả trong bộ luật dân sự; Nghị định số 61/NĐ-CP ngày 11 tháng 06 năm 2002 của chính phủ quy định về vấn đề nhuận bút, Thông tư liên tịch của Bộ văn hóa thông tin (số 04/2003/TTLT-BVHTT-BXD) hướng dẫn về quyền tác giả đối với tác phẩm kiến trúc….Bên cạnh đó, quyền tác giả còn được quy định trong Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định về hợp tác khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, Hiệp định về bảo hộ sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam với Liên bang Thụy Sĩ…Theo cam kết tại Điều 1, Khoản 3 và Điều 18, Chương II Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, ngoài việc tham gia Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật trong thời hạn 24 tháng, Việt Nam còn phải tham gia Công ước Geneva 1971 về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi

âm, chống lại việc sao chép trái phép, Công ước Brussles 1974 về phân phối các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh trong thời hạn 30 tháng kể từ ngày hiệp định có hiệu lực5

Ngày 19/11/2005, Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam được Quốc hội thông qua sau hơn 1 năm là thành viên, với nền tảng là các điều khoản liên quan trong bộ luật Dân sự 2005 và có sự tham vấn của các chuyên gia đến từ Tổ chức sở hữu trí

5

Bài viết “bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam” của tiến sĩ Vũ Mạnh Chu đăng trên website www.nhandan.org.vn ngày 27 tháng 5 năm 2003

Trang 16

tuệ thế giới (WIPO), cộng đồng Châu Âu, cũng như những hỗ trợ về mặt tài chính của các dự án (STAR Việt Nam, SPC…) Trong đó, phần II quy định về Quyền tác giả và quyền liên quan, gồm 25 điều (điều 13 đến điều 57), chia làm 6 chương: điều kiện bảo hộ, nội dung – giới hạn quyền – thời gian bảo hộ, chủ sở hữu, chuyển giao, chứng nhận đăng ký, tổ chức đại diện – tư vấn – dịch vụ

Thông tin về quyền tác giả và các quyền liên quan liên tục được cập nhật nhằm cung cấp cho người dân những kiến thức cơ bản nhất, cũng như là cơ sở để các nhà quản lý, các nhà hoạt động nghệ thuật chuẩn hóa các hoạt động của mình

“Website quyền tác giả Việt Nam” được khai trương vào tháng 4 năm 2005, trình bày bằng 2 ngôn ngữ Việt và Anh, với đầy đủ các thông tin liên quan, từ các văn bản luật đến các bài xã luận phân tích, tổng hợp quá trình thực thi công ước, những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi là thành viên công uớc Bước đầu, các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng đã ý thức rõ hơn về quyền lợi của mình để đăng ký xin cấp giấy chứng nhận bản quyền, hoặc nộp các đơn khiếu nại

những hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm của mình Toàn bộ sách

cải cách giáo dục phổ thông từ lớp 1 đến lớp 9 đã được Nhà Xuất bản Giáo Dục đăng ký cấp giấy chứng nhận bản quyền Trong năm 2005 (tính đến 30/11/2005)

đã có 1.894 giấy chứng nhận bản quyền được cấp, tăng 31,8% so cùng kỳ năm trước 6 Niên giám quyền tác giả dự kiến được xuất bản hàng năm để lưu trữ và khai thác Các thông tin về quyền tác giả được điện tử hóa, nghĩa là các tác giả, tác phẩm khi đã đăng ký bản quyền và được cấp giấy phép sẽ được đưa lên

“website quyền tác giả Việt Nam” và các trang web liên quan khác, nhằm phục vụ cho mọi đối tượng muốn tra cứu tại bất kỳ thời gian và địa điểm nào

Các cơ quan quản lý, thực thi về quyền tác giả và quyền liên quan đã ký kết với nhau chương trình hợp tác kiểm tra, xử lý các vi phạm nhằm đẩy mạnh

6

Bài viết của TS Vũ Mạnh Chu, Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả văn học - nghệ thuật, đăng trên trang web của Bộ văn hóa – thông tin, ra ngày 30/12/2005

Trang 17

hoạt động đồng bộ, ngăn chặn và khắc phục và ngăn chặn các sai phạm Lễ ký kết

được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 24/5/2005 do những người đứng đầu Cục Bản quyền tác giả văn học – nghệ thuật, Cục Quản lý Thị trường, Bộ Thương mại, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm quản lý kinh tế và chức vụ, Bộ Công an và Thanh tra Bộ Văn hoá Thông tin cùng ký kết.7

1.2.3 Đánh giá tình hình bảo hộ quyền tác giả từ khi Việt Nam gia nhập công ước Berne (năm 2004) đến nay

Việt Nam đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của thế giới đối với vấn đề bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan của Việt Nam Đó là việc tìm hiểu hệ thống pháp luật và thực thi về quyền tác giả và quyền liên quan Việt Nam của các

tổ chức quốc tế, của các Quốc giabằng nhiều cách thức tiếp cận khác nhau, từ số lượt truy cập vào “Website quyền tác giả Việt Nam”, đến việc đặt câu hỏi của các thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Các tổ chức quốc tế, các Quốc giavà các doanh nghiệp nước ngoài quan tâm và đặt hy vọng nhiều tới môi trường đầu tư tại Việt Nam, từ việc soạn thảo và ban hành Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) đã cử chuyên gia đến tư vấn, cũng như cung cấp luật mẫu về quyền tác giả và quyền liên quan của WIPO dành cho các nước đang phát triển Cộng đồng Châu Âu, Dự án STAR Việt Nam, Dự án SPC đã cử chuyên gia, cung cấp về tài chính và tham gia tổ chức hội thảo dự thảo Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tổ chức hội thảo tại Hoa Kỳ và khu vực Châu á để bình luận và tham gia ý kiến đối với dự thảo Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam Liên đoàn Quốc tế các Nhà soạn nhạc và soạn lời (CISAC), Liên đoàn Quốc tế các tổ chức quản lý tập thể quyền ghi âm (IFPI) đã gửi các bản bình luận và ý kiến cổ vũ Việt Nam về việc soạn thảo, ban hành Luật

Sở hữu trí tuệ Một số doanh nghiệp, trong đó có Microsoft đã chủ động đặt vấn đề

7

Bài viết của TS Vũ Mạnh Chu, Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả văn học - nghệ thuật, đăng trên trang web của Bộ văn hóa – thông tin, ra ngày 30/12/2005

Trang 18

và cử chuyên gia cùng Việt Nam tổ chức toạ đàm Luật Sở hữu trí tuệ, tập trung vào các quy định liên quan đến chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu

Trong điểu kiện đó Việt Nam cũng đã có những bứơc chuyển biến quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và sự quan tâm của công chúng đối với đối với vấn đề bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan của Việt Nam, được thể hiện

rõ nét qua các họat động đáng chú ý:

a Nhằm đẩy mạnh công tác phòng và chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngày 19/01/2006 Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Công an đã ký kết chương trình hành động phòng và chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ giai đoạn 2006 - 2010; tiếp theo đó ở địa phương có 7 tỉnh: Yên Bái, Nghệ An, Nam Định, Bắc Giang, Quảng Ngãi, Quảng Ninh và Thành phố Đà Nẵng đã tổ chức triển khai chương trình hành động này Đây là những tín hiệu đáng mừng đối với việc đẩy mạnh tuyền truyền và nâng cao nhận thức của người dân Việt Nam về tầm quan trọng của việc bảo

hộ quyền tác giả Họat động hướng dẫn, triển khai thi hành Bộ luật Dân

sự, Luật Sở hữu trí tuệ và các điều ước quốc tế đã được tổ chức trên phạm vi toàn quốc và trong nhiều lĩnh vực khác nhau

b Riêng trong năm 2006, Cục Bản quyền tác giả Văn học - Nghệ thuật đã

tổ chức và phối hợp tổ chức 11 hội nghị, hội thảo, tập huấn cho các đối tượng làm nhiệm vụ quản lý, thực thi trong ngành Văn hoá - Thông tin, Hải quan, Tổ chức phát sóng, Doanh nghiệp sản xuất chương trình máy tính, các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả và quyền liên quan Một

số địa phương như Nghệ An, Thái Nguyên, Hải Phòng đã tổ chức giới

Trang 19

thiệu nội dung Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ cho các đối tượng quản lý, thực thi, v.v…

c Hoạt động của Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam đã bước sang năm thứ năm với các hoạt động tích cực hơn, từng bước triển khai việc bảo vệ quyền của hội viên thông qua đàm phán cấp phép, thu

và phân phối tiền bản quyền Hợp đồng uỷ thác quyền thứ 1.000 đã được công bố vào ngày 22/11/2006, số tiền bản quyền thu được trong năm 2006 là hơn 3 tỷ đồng Hoạt động đại diện giữa Trung tâm với Hiệp hội các nhà soạn nhạc, soạn lời Singapore (COMPASS) đã thực hiện được 1 năm với sự hỗ trợ về kỹ thuật và tư vấn của chuyên gia CISAC, trong việc bảo vệ quyền lợi 14 Quốc gialiên quan

d Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức, pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan tiếp tục được tăng cường với sự đóng góp tích cực, có hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng Trong năm riêng báo in đã có tới 1.000 tin bài đề cập tới lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan Hầu hết các đài truyền hình Trung ương và địa phương đều có tin, bài, chương trình về lĩnh vực này Bộ phim Trí tuệ Việt Nam - Thông điệp từ những di sản được sản xuất và phát hành 3 tập tiếp theo gồm các tập về: Văn hóa phồn thực, Hề chèo, Hát xẩm, nâng tổng số tập của bộ phim lên tập thứ 6

e “Diễn đàn Ý tưởng Việt Nam’’ và “Sàn giao dịch ý tưởng’’ là một ý tưởng hay nhằm liên kết các ý tưởng, tạo cơ hội cho các ý tưởng sáng tạo được bộc lộ, đầu tư, cho các nhà đầu tư đặt hàng sáng tạo Diễn đàn

và sàn giao dịch ý tưởng do Công ty Cổ phần sách niên giám (VIET BOOKS) tổ chức đã thu hút giới sáng tạo, đặc biệt là giới trẻ, các doanh nghiệp, ngân hàng Ý thức tôn trọng bản quyền ngày được nâng cao với việc tăng cường các giao dịch bản quyền Bộ Tài chính, công ty

Trang 20

FPT và ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và nhiều cơ quan hành chính, doanh nghiệp khác đã ký kết hợp đồng mua bản quyền sử dụng chương trình máy tính Về xuất bản có Nhà xuất bản Trẻ, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, Nhà xuất bản Thế Giới, Nhà xuất bản Giáo dục, Nhà xuất bản Kim Đồng, và Công ty First News

đã ký kết mua bản quyền tác phẩm của nước ngoài để dịch sang tiếng Việt và xuất bản tại Việt Nam Đài Truyền hình Việt Nam đã nghiêm chỉnh thực hiện việc ký kết mua bản quyền các chương trình phát sóng của các tổ chức phát sóng lớn trên thế giới Các giao dịch này đã góp phần thực thi nghiêm chỉnh luật sở hữu trí tuệ và các cam kết quốc tế trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan khi Việt Nam là thành viên của WTO Sàn giao dịch bản quyền VN chính thức mở phiên đầu tiên tại TP.HCM vào ngày 26-4 tới do Cục Bản quyền tác văn học nghệ thuật và Công ty cổ phần Sách niên giám (Vietbooks) tổ chức Khi đi vào hoạt động, sàn giao dịch bản quyền sẽ công bố các tác phẩm văn hóa nghệ thuật, phần mềm công nghệ thông tin mới và công bố bản quyền tác giả sau khi giao dịch thành công Dự kiến các phiên giao dịch bản quyền tại sàn sẽ mở hằng tháng

f Ngày 20/3/2006, Bộ Văn hoá - Thông tin đã ban hành Quyết định số 962/QĐ-BVHTT về việc tổ chức cuộc thi sáng tác tranh cổ động

“chống vi phạm bản quyền phần mềm” dành cho sinh viên và chương trình tuyên truyền về Luật Sở hữu trí tuệ Cuộc thi nhằm nâng cao ý thức của mọi công chúng nói chung và của thanh niên, sinh viên nói riêng trong việc sử dụng phần mềm có bản quyền hợp pháp, đồng thời tuyên truyền Luật sở hữu trí tuệ tới công chúng để chuẩn bị cho Luật sở

hữu trí tuệ có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 7 năm 2006

g Thị trường sách xuất hiện những cơn sốt dành cho các ấn phẩm sách Độc giả có nhu cầu đọc rất lớn và đa dạng Từ các lọai sách văn học

Trang 21

như những tiểu thuyết dài trong những năm gần đây Biên niên ký chim vặn dây cót của Haruki Murakami, Rừng Na Uy, Chuyện dài bất tận của nhà văn Đức Michael Ende, Tập bút ký Phùng Quán - ba phút sự thật, Những người đàn bà tắm của Thiết Ngưng, Hoa vàng cố hương, Điện thoại di động của Lưu Chấn Vân, Đảo hoa vàng của An Ni Bảo Bối, Vương quốc ảo của Quách Kính Minh cũng là những tựa sách

“mặt tiền”…Về Sách kinh tế đáng chú ý có Dấu ấn thương hiệu: tài sản

và giá trị của Tôn Thất Nguyễn Thiêm, sách Tiếp thị gồm ba quyển của tác giả Philip Kotler, Đặc biệt, bộ sách về nghệ thuật quản trị của Patrick Lecioni với các tựa “Chết vì hội họp, Bốn nỗi ám ảnh của một nhà quản trị tài ba, Năm điều cám dỗ giám đốc” được đánh giá là thiết thực trong môi trường kinh tế VN hiện nay và không thể không kể đến best - seller vẫn là Thế giới phẳng: trong hai tháng 8, 9 đã bán ra 10.000 bản… minh chứng rõ ràng cho sự đa dạng về chủng lọai cũng như sự gia tăng về nhu cầu của độc giả đối với các lọai sách có bản quỳên và được bảo hộ quyền tác giả Ngay cả thị trừơng sách nghiên cứu: Dù rất kén độc giả nhưng các tựa sách nghiên cứu vẫn có chỗ đứng trên thị trường Tín hiệu đáng mừng là tập Thần, người và đất Việt của Tạ Chí Đại Trường (nhà sách Kiến Thức liên kết với NXB Văn Hóa Thông Tin) đang bán rất chạy Tương tự là Kinh Dịch - cấu hình tư tưởng Trung Quốc của hai tác giả Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh Cũng đáng nể là hai bộ sách triết học phương Tây nổi tiếng Phê phán lý tính thuần túy của Kant và Hiện tượng học tinh thần của Hegel thật đồ sộ, giá 300.000 đồng/bộ vẫn có người mua Một công trình do cố giáo sư Ngô Gia Hi sinh thời biên soạn là Từ điển bách khoa y học Anh - Việt Tuy giá sách rất cao nhưng sức tiêu thụ vẫn cao cho thấy sự quan tâm của xã hội đối với sách phục vụ việc học tập nghiên cứu là không thể

Trang 22

chối cãi và việc bảo hộ quyền tác giả thúc đẩy việc đảm bảo cho độc giả những tác phẩm giá trị

h Website âm nhạc trực tuyến đầu tiên ký thỏa thuận mua bản quyền www.soncamedia.com của Công ty truyền thông Sơn Ca là website âm nhạc trực tuyến đầu tiên ký thỏa thuận mua bản quyền với Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc VN theo hình thức mỗi ngày tuyển chọn một bài hát mới nóng hổi và đang được ưa thích nhất trên thị trường ca nhạc đưa lên trang web để phục vụ bạn trẻ yêu nhạc (được nghe lẫn tải

về máy tính cá nhân) Sơn Ca sẽ mua bản quyền ca khúc VN phát trên website liên tục trong ba năm (tổng cộng khoảng 1.095 bài hát) Ba mươi ca khúc đầu tiên (tháng 9-2006) đã hiện diện trên website và sắp cập nhật thêm 30 ca khúc mới cho tháng 10-2006 Đây là tín hiệu đáng mừng cho thấy việc bảo hộ quyền tác giả trên thế giới mạng cũa đang

đi đúng hứơng và mở đầu cho những bứơc đi tiếp theo trong việc bảo

hộ quyền tác giả và các quyền liên quan của Việt Nam trong môi trừơng số

Ông Gerd T Becht, Phó Chủ tịch DaimlerChrysler, đại diện cho Liên minh những nhà lãnh đạo doanh nghiệp toàn cầu chống hàng giả (GBLAAC) đã phát biểu: “Nhiều cách tiếp cận hay đã được giới thiệu …, nhưng cần nhiều hơn nữa những nguồn lực và sự ủng hộ để đảm bảo hiệu lực của họ Để chống hàng giả và hàng sao chép lậu vi phạm bản quyền, một trong những cách hữu hiện cần phải phải tập trung chú ý nhiều hơn vào là tuyên truyền giáo dục người tiêu dùng, khuyên can người tiêu dùng và các doanh nghiệp đừng có dụng ý mua các sản phẩm vi phạm đó Như vậy chúng ta thấy tầm quan trọng của công tác tuyên truyền và giáo dục nhận thức của công chúng đối với việc nhận thức việc bảo hộ quyền tác giả Tuyên truyền pháp luật quyền tác giả có mối quan hệ mật thiết với việc thực thi pháp luật quyền tác giả Nhận thức của công chúng về quyền tác giả càng cao thì việc thực thi pháp luật quyền tác giả càng đạt hiệu quả trong thực

Trang 23

tiễn Tại các nước đang phát triển, việc nâng cao nhận thức cho công chúng về quyền tác giả cần được quan tâm cả về mức độ và cách thức tiến hành bởi trình độ dân trí và mức sống của người dân còn thấp Công tác này tại Việt Nam trong những năm qua đã được tiến hành khá tốt và quy mô theo những sự kiện và số liệu kể trên Việc tuyên truyền được tiến hành rộng khắp trên phạm vi tòan quốc với sự tham gia tích cực và hiệu quả của các ban ngành có liên quan cũng như các

tộ chức Xã hội khác Tuy nhiên vẫn còn những điểm ýêu kém đáng chú ý như việc hiện còn trên 50 tỉnh thành vẫn chưa thông qua chương trình hành động nhằm thúc đẩy quá trình bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam và các họat động còn chưa kêu gọi được sự tham gia của tất cả các ngành và tầng lớp nhân dân trong xã hội nên vẫn không tránh khỏi những thiếu sót dẫn đến những vi phạm vô tình hay

cố ý diễn ra”

Qua số lượng những vụ tranh chấp về quyền tác giả diễn ra trong thời gian qua 8 không thể đánh giá được ý thức về vấn đề bảo hộ quyền tác giả của người dân mà thực chất bên trong đó chúng ta lại nhận ra rất nhiều bất cập từ phía công chúng cũng như nhưng ban ngành có trách nhiệm Như từ vụ kiện hôm 25-12-

2006, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên toà xử sơ thẩm vụ kiện xâm phạm quyền tác giả giữa nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân (81 tuổi) và PGS-TS Đào Thái Tôn (63 tuổi) Kết quả là: cho dù đã có phán quyết, song cả bên đương

sự lẫn người thực thi pháp luật đều lúng túng trước những rắc rối cụ thể, thực tế của câu chuyện bản quyền…Nguyên nhân vụ kiện bắt đầu từ việc nguyên đơn - ông Nguyễn Quảng Tuân cho rằng ông Đào Thái Tôn đã sử dụng bốn tác phẩm báo chí của ông Tuân để in thành sách Văn bản truyện Kiều - Nghiên cứu và thảo luận (NXB Hội nhà văn, Trung tâm Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Tây, in năm 2001; tái bản năm 2003) mà không xin phép Vì vậy, ông Tuân yêu cầu ông Tôn phải công khai xin lỗi ông trên các phương tiện thông tin đại chúng và bồi thường

8

Xem phần phụ lục về danh sách những vụ tranh chấp liên quan đến bản quyền tại Việt Nam

Trang 24

thiệt hại (vật chất lẫn tinh thần) 75 triệu đồng Thế nhưng, câu chuyện không đơn giản chỉ là “xin phép” hay “không xin phép” để có thể kết luận một cách chóng vánh là: không xin phép thì xâm phạm tác quyền và có xin phép tức là không xâm phạm! Thế nên, phán quyết của TAND TP Hà Nội mới không làm thỏa mãn người trong cuộc và cả người tham dự phiên tòa, đến nỗi cả bên nguyên lẫn bên bị đều muốn kiện tiếp Theo phán quyết, ông Đào Thái Tôn phải bồi thường 25 triệu đồng tiền xâm phạm bản quyền cho ông Nguyễn Quảng Tuân, đồng thời phải trả 1.045.400 đồng nhuận bút bốn bài báo cho ông Tuân mà ông Tôn đã sử dụng Ngoài ra, ông Tôn phải công khai xin lỗi ông Tuân tại nhà riêng của ông Tuân và phải trả 3.730.000 đồng án phí cho toà Tuy nhiên, tòa đã bỏ qua điểm mấu chốt là việc ông Tôn cho in bốn bài viết của ông Tuân mà không xin phép thì được coi là hành vi “trích dẫn hợp lý” hay “không hợp lý”? Mà nếu là “trích dẫn hợp lý” thì không bị coi là xâm phạm tác quyền, và ngược lại Vậy vấn đề là trích dẫn ở mức

độ nào thì được coi là “hợp lý” và mức độ nào là “không hợp lý”? Trích dẫn một câu, một chữ, một đoạn trong tác phẩm, hay trích dẫn cả tác phẩm có được coi là

“hợp lý” không? Và nếu coi việc trích dẫn nguyên vẹn cả một tác phẩm để minh họa, bình chú trong một tác phẩm khác là hợp lý thì phán quyết của toà sơ thẩm e

là hơi khiên cưỡng! Thế nhưng, đáng tiếc là các bên liên quan đều không giải đáp được khúc mắc này Sự thực, vụ kiện bản quyền giữa ông Tôn và Tuân không đơn giản chỉ là chuyện của hai ông Bởi, trong các tác phẩm nghiên cứu, biên khảo, trích dẫn là loại tài liệu (tương đối) quan trọng và hầu như không thể vắng mặt, cho dù trích dẫn với mục đích nào chăng nữa (minh hoạ cho một nhận định, hay phê phán một luận điểm…) Vả lại, trên thực tế, phần lớn giới khoa học xã hội & nhân văn của ta (nếu không muốn nói là toàn bộ), không thể viết sách mà không cần đến bất kỳ một trích dẫn, hay nguồn tài liệu tham khảo nào! Vì thế, mối bận tâm hàng đầu sẽ là sử dụng trích dẫn thế nào để không bị rắc rối? Thế mà, các văn bản quy phạm pháp luật lại không ăn khớp với nhau Đơn cử trong Bộ luật Dân sự chỉ có cụm từ “trích dẫn”, mà không hề có từ “hợp lý” Hai từ “hợp lý” mới chỉ

Trang 25

xuất hiện trong Luật Sở hữu trí tuệ, song cũng không được giải thích rõ ràng trong Nghị định hướng dẫn thi hành, dẫn đến việc xúât hiện những khúc mắc trong quá trình thực thi Mặt khác, trong Nghị định hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ 2005, cũng nói: Mọi hành vi xâm phạm quyền tác giả trước ngày Luật 2005 có hiệu lực

sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật có giá trị hiện hành vào thời điểm xảy ra

vi phạm Nếu hiểu theo Nghị định này có nghĩa là vụ việc của ông Tôn phải được

xử theo Bộ Luật Dân sự 1995 Mà căn cứ vào điều khoản giới hạn quyền tác giả của Bộ luật Dân sự 1995 (vì sách của ông Tôn xuất bản năm 2001, tức vẫn chịu sự điều chỉnh của luật) và nghị định hướng dẫn thi hành, thì ông Tôn sẽ không bị coi

là xâm phạm tác quyền! Song, nếu hiểu theo luật 2005, như cách hiểu của toà sơ thẩm, bỏ qua sự phân tích “trích dẫn hợp lý” hay “không hợp lý” thì tình thế lại xoay ngược 180 độ Bất đồng với phán quyết của toà sơ thẩm, cũng không tâm phục khẩu phục ý kiến của Cục Bản quyền, ông Đào Thái Tôn đang xúc tiến mọi thủ tục kiện lên toà phúc thẩm Chưa biết toà phúc thẩm nghị án ra sao, song qua

vụ kiện hy hữu này (lần đầu tiên chuyện cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt của giới học thuật chuyển từ mặt báo sang pháp đình), đã làm lộ rõ những bất ổn trong các văn bản quy phạm pháp luật, cũng như hiểu biết hời hợt của người trong cuộc, cả

cơ quan quản lý lẫn người thực thi về bản quyền…

Qua vụ kiện hi hữu này, đã làm lộ rõ những bất ổn trong các văn bản qui phạm pháp luật, cũng như hiểu biết hời hợt của người trong cuộc, cả cơ quan quản

lý lẫn người thực thi về bản quyền Ngay cả khi yêu cầu pháp luật bảo vệ quyền lợi cho mình liên quan đến việc tranh chấp quyền tác giả các bên liên quan vẫn chưa hòan tòan nắm chắc được những quy định và quy trình tiến hành công tác bảo hộ quyền tác giả Không thể lấy một vụ kiện để đánh giá kết quả của quá trình nhận thức quyền tác giả của xã hội nhưng điểm đặc biệt là cả hai bên trong vụ kiện này đều là những trí thức có liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng và yêu cầu được bảo hộ quyền tác giả, thế nhưng việc nhận thức và áp dụng vẫn còn nhiều điều làm chúng ta phải suy nghĩ Đó là chưa kể đến vai trò và trách nhiệm của Cục Bản

Trang 26

Quyền, Tòa án và các bên có trách nhiệm trực tiếp đến vụ tranh chấp quyền tác giả này trong việc làm rõ và hứơng dẫn cho các bên có liên quan Sự thật rõ ràng về những vấn đề nảy sinh trong vài năm qua với hơn 19 vụ kiện có liên quan trực tiếp đến quyền tác giả nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung với những điều đáng

để chúng ta suy nghĩ cho thấy một thực tế là công chúng Việt Nam vẫn chưa hòan tòan sẵn sàng đón nhận và ủng hộ cũng như thực thi có hiệu quả nhằm thúc đẩy Việt Nam giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền tác giả và các quyền liên quan khác Những cố gắng trong việc nâng cao nhận thức của các cơ quan tổ chức

có liên quan là đáng ghi nhận nhưng thực tế vẫn đặt ra một bài tóan hóc búa đòi hỏi nỗ lực cao hơn nữa của các bên có trách nhiệm và của tòan xã hội

1.2.4 Một số vấn đề pháp lý còn tồn đọng

Mặc dù đã có những điều luật quy định về vấn đề bảo hộ quyền tác giả, cần nhìn nhận rằng, các hoạt động pháp luật về Quyền tác giả và các quyền liên quan chỉ thực sự sôi động giữa các nhà làm luật và các cơ quan pháp luật theo mối quan

hệ chiều ngang, còn việc quản lý thực thi giữa những người được hưởng quyền lợi

từ công ước này, những người buộc phải tuân thủ các điều luật với những người quản lý pháp luật vẫn còn nhiều vấn đề tồn đọng cần được giải quyết

Ngày 01/07/2006, Luật sở hữu trí tuệ mới có hiệu lực Như vậy, thời gian

từ lúc Luật ra đời cho đến lúc có hiệu lực trong thực tế cách nhau một khoảng khá

xa Nghĩa là từ lúc Việt Nam buộc phải thực thi nghiêm chỉnh các điều khoản của công ước với vai trò là một thành viên thì pháp luật trong nước vẫn chưa sẵn sàng

để hướng dẫn người dân cách thực hiện như thế nào, trong khi thời gian đầu là lúc người dân và các cơ quan hoạt động nghệ thuật cần được cập nhật những kiến thức nền tảng Thay vào sự thiếu hụt bước đầu là những thông tư, nghị định của Chính phủ, nhưng không đầy đủ, chặt chẽ và chưa đủ khả năng giải quyết các khúc mắc, xử lý các sai phạm bước đầu, cũng như thay đổi thói quen của người Việt Nam trong quá trình sử dụng các sản phẩm trí tuệ Với cấu trúc như vậy, có

Trang 27

thể thấy rằng có quá nhiều văn bản dưới luật đã phải đóng vai trò của văn bản luật, cấu trúc quy phạm vì vậy quá cồng kềnh, phức tạp, chồng chéo, khiến cho hiệu lực của toàn bộ hệ thống bị suy giảm và dễ gây ấn tượng rằng các quy định

về sở hữu trí tuệ của Việt Nam không ổn định, dễ bị thay đổi Cũng bằng đó thời gian, người dân loay hoay trong các thông tin đan xen và không đầy đủ Từ đó, dẫn đến các hành động sai phạm một cách vô tình hay hữu ý, càng gây khó khăn hơn trong việc chấn chỉnh hoạt động sau này và là một trở ngại lớn khi đẩy người dân đi vào một khuôn khổ nhất định theo những điều khoản của công ước Vô hình chung, đã tạo nên một thói quen mới trong lĩnh vực này – lách luật – khi người sử dụng đã quen với những quy định thiếu chặt chẽ Một ví dụ rõ ràng cho tình trạng này là việc xuất bản tác phẩm văn học Rất nhiều tác giả, nhất là các tác giả trẻ đều rất bức xúc với việc tác phẩm của mình liên tục được xuất bản ở nhiều nhà xuất bản khác nhau, trong khi tác giả chỉ ký hợp đồng với một nhà xuất bản

Có muốn kiện cũng không biết kiện ai và kiện ở đâu mặc dù đã có quy định cụ thể

về vấn đề này tại khoản 11 – điều 28 (Hành vi xâm phạm quyền tác giả) – Luật sở hữu trí tuệ “Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả” Các nhà chức trách và các cơ quan có thẩm quyền rõ ràng còn gặp nhiều lúng túng trong trường hợp này Nhiều trường hợp tương tự xảy ra sẽ làm mất lòng tin nơi người dân và dần dần, Quyền tác giả nói riêng và Luật sở hữu trí tuệ nói chung sẽ chỉ “có để mà có” Đó là chưa kể, những quy định về Quyền tác giả

và các quyền liên quan ra đời sẽ gây ảnh hưởng cho những lợi ích trước mắt của một số cá nhân hoặc cơ quan khiến họ càng có xu hướng “ngựa quen đường cũ”

Vì xét cho cùng, mức thu nhập và điều kiện sống của nước ta hiện nay còn khá thấp so với mặt bằng chung của các nước thành viên công ước, cũng là một trở ngại lớn khi thực hiện những điều khoản chặt chẽ về bản quyền, nhất là đối với các tác phẩm nước ngoài Về vấn đề này, các nhà làm luật lại tự cho thấy kẽ hở của mình Họ đã quá “hăng hái” với việc đưa ra những quy định chặt chẽ mà quên

đi những ưu đãi trong các công ước quốc tế khác có liên quan

Trang 28

Việt Nam được xếp vào hàng các nước đang phát triển, do đó được hưởng những ưu đãi đặc biệt theo những điều khoản được quy định trong phần phụ lục của công ước Berne (khoản 1 – điều 1) Theo đó, khoản 2a, điều 2, phần phụ lục quy định rõ “Tuân thủ quy định ở khoản 3, sau khi mãn hạn 3 năm, hoặc 1 thời gian dài hơn do luật pháp Quốc gianói trên quy định, kể từ lần xuất bản đầu tiên của tác phẩm, nếu người sở hữu quyền dịch không dịch hoặc không ủy thác dịch tác phẩm đó sang một ngôn ngữ thông dụng trong nước đó, thì bất kỳ công dân nào của nước nói trên đều có thể xin giấy phép để được dịch tác phẩm đó sang ngôn ngữ đã nói và xuất bản bản dịch dưới dạng in ấn hay các dạng sao in tương tự.” Như vậy, có thể hiểu, trong những điều kiện nhất định về thời gian, tác giả người dân vẫn được phép dịch các tác phẩm được bảo hộ mà không cần có ý kiến của tác giả được bảo hộ Và giấy phép ở đây được hiểu là “giấy phép cưỡng bức”

do Chính phủ ban hành đối với các trường hợp cụ thể được quy định trong phần phụ lục Ưu đãi này có ý nghĩa to lớn đối với các nước đang phát triển như nước

ta, bởi lẽ quyền thông tin và lưu hành tác phẩm của công chúng được bảo đảm, phá đi thế độc quyền dịch sách của một số tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường sách dịch và các nhà xuất bản Tuy nhiên, khi đối chiếu với Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam, cụ thể là phần quy định về Quyền tác giả và quyền liên quan, không có một quy định nào nêu rõ những hướng dẫn cụ thể, nên người dân không biết được phải sử dụng ưu đãi này như thế nào, cũng không đề cập đến những cơ chế áp dụng, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết hay ban hành “giấy phép cưỡng bức” này khi người dân có nhu cầu

Theo khoản 10, điều 4, phần thứ nhất (những quy định chung) của Luật sở hữu trí tuệ - Việt Nam “Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của các tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử.” Với quy định về khái niệm “Sao chép” như trên, thì việc copy và lưu trữ tài liệu từ Internet cũng bị xem là một hành vi vi phạm, đó là chưa kể đến những bản

Trang 29

sao do máy tính tự động lưu trữ dưới dạng file tạm thời Điều này đồng nghĩa với việc, để thực hiện đúng luật, khi mở bất kỳ một trang web nào lên, hay copy tài liệu từ Internet, người sử dụng phải xin phép tác giả, trong trường hợp này phải xin phép ai? Điều ước quốc tế cũng không quy định vấn đề này Như vậy rõ ràng chúng ta đang tự làm hẹp đi những quyền lợi mình được hưởng bằng những quy định phức tạp hơn

Tiến sĩ Anh Khang – Chủ tịch Hội sở hữu trí tuệ Việt Nam: “Sau khi nghiên cứu Dự thảo Luật, Hội chúng tôi đã phát hiện còn rất nhiều vấn đề nhất thiết phải được xử lý trước khi ban hành Trong nhiều trường hợp, lợi ích Quốc giabị thua thiệt, không được bảo đảm Có nhiều nội dung không phù hợp với cam kết quốc tế Chưa bảo đảm được sự cân bằng giữa lợi ích của người có quyền và công chúng Thí dụ, quy định về giới hạn, ngoại lệ đối với quyền tại các Điều 24,

25, 31, 32 quá hẹp so với phạm vi cho phép theo các điều ước quốc tế nhủ Công ước Berne, Công ước Rome hoặc theo thông lệ quốc tế Quy định như vậy làm mất đi quyền lợi chính đáng của công chúng về việc tiếp cận và sử dụng tác phẩm” Tuy nhiên, khi Luật chính thức được ban hành, cũng không sửa đổi thêm vào Dự thảo luật ở các điều này (là các điều 25, 26, 32, 33 trong Luật sở hữu trí tuệ)

Một điều thiếu sót trong Luật sở hữu trí tuệ, cụ thể là Quyền tác giả và quyền liên quan, tuy rằng đã được quy định nhưng chưa cụ thể, rõ ràng và minh bạch về trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp chế tài dân sự, hành chính, hình

sự, cũng như quy định còn quá chung chung về thẩm quyền xử và trách nhiệm xử

lý các sai phạm của các cơ quan hữu trách Khoản 2 – điều 11, Luật sở hữu trí tuệ quy định “Bộ văn hóa – thông tin trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan” Khoản 5

“Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ của Bộ khoa học và công nghệ, Bộ văn hóa – thông tin, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các cấp”, thế nhưng những quy định cụ thể

Trang 30

đó không thấy được đề cập trong Luật sở hữu trí tuệ nên người dân không biết được chức năng và quyền hạn của Bộ văn hóa – thông tin tới đâu trong lĩnh vực này Do đó quan hệ về sở hữu trí tuệ mang bản chất dân sự chưa được chú trọng

xử lý bằng trình tự dân sự mà, ngược lại, bị hành chính hoá một cách bất hợp lý

Từ đó mới xảy ra trường hợp người dịch đã xin phép tác giả về bản quyền tác phẩm để dịch tác phẩm đó ra tiếng Việt, nhưng lại gặp trở ngại với các nhà xuất bản Việt Nam vì tác giả đó đã ký hợp đồng với nhà xuất bản nên nếu muốn dịch lại, người dịch phải đồng thời xin phép nhà xuất bản (do chưa hết thời hạn 3 năm theo quy định phần phụ lục của công ước Berne.) Các thủ tục hành chính một phần đóng góp vào những trở ngại đó, và người dịch cũng rất lúng túng trong việc tìm ra cơ quan có thẩm quyền giải quyết vấn đề này

Điều cần nhấn mạnh ở đây: Công ước Berne chỉ là một cơ sở tiêu chuẩn, chứ không phải là một bộ luật quốc tế để bảo vệ tác quyền Vấn đề cưỡng chế và thi hành những gì trong Công Ước phải tuỳ thuộc vào luật pháp của Quốc gianơi

sự vi phạm xẩy ra Song hiện thực về việc thực thi và bảo hộ Quyền tác giả và quyền liên quan theo công uớc Berne của pháp luật Việt Nam vẫn còn nhiều điểm tối Mặc dù đã có những khuyến cáo và khuyến khích cho việc đăng ký bản quyền, nhưng những người được hưởng những quyền lợi chính đáng từ công ước vẫn chưa thật sự quan tâm Các thiết chế hỗ trợ thực thi vấn đề này chưa chặt chẽ Nhiều tổ chức vẫn chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm và sự cần thiết phải đứng ra bảo vệ quyền lợi các thành viên Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn gặp nhiều lúng túng, chưa đủ mạnh mẽ và chưa nghiêm túc trong việc xử lý vi phạm, nhất là về vấn đề nhân sự có trình độ thụ lý và giải quyết các sai phạm trong vấn

đề bản quyền Sự phối hợp giữa các cơ quan hữu trách xem ra còn lỏng lẻo Vai trò của pháp luật chưa được quan tâm đúng mức trước những “thói quen” của người dân, các vụ tranh chấp được đưa ra tòa án xử lý còn ở mức thấp hơn nhiều

so với những tranh chấp trong thực tế Sự hiểu biết pháp luật của quần chúng còn rất hạn chế và mơ hồ

Trang 31

Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, việc tuân thủ theo những quy định của công ước Berne để phù hợp với hiệp định TRIPS là hết sức quan trọng nếu chúng ta muốn “hội nhập toàn diện”, đây cũng là cách để chúng ta bảo vệ những quyền lợi chính đáng của chính mình Vì vậy, việc ban hành luật pháp và thực thi theo pháp luật là các yếu tố cần gắn bó chặt chẽ với nhau, để tạo được hiệu quả cao nhất trong toàn xã hội Nên chăng, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần chú trọng hơn nữa vào các biện pháp thúc đẩy việc tích cực tham gia bảo hộ Quyền tác giả và các quyền liên quan theo công ước một cách

có hiệu quả hơn và thiết thực hơn

Trang 32

Chương 2 QUYỀN TÁC GIẢ VÀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – TỪ THỰC TIỄN NHẬN THỨC ĐẾN THỰC THI PHÁP LUẬT TRONG SINH VIÊN

Minh – đối tượng điều tra của đề tài

Do một số hạn chế về mặt chuyên môn, nhân lực cũng như điều kiện kinh phí thực hiện đề tài mà nhóm nghiên cứu không thể tiến hành phân tầng chọn mẫu được Mẫu được chọn một cách ngẫu nhiên trong số sinh viên 5 trường và khoa trực thuộc Đại học Quốc giaTP, với hi vọng phần nào thể hiện được nhận thức phổ biến của sinh viên về vấn đề này

Số phiếu phát ra: 500 phiếu

Số phiếu thu về và hợp lệ: 337 phiếu

Nơi ở (Bảng 1)

Số lượng Tỉ lệ

Nông thôn 132 39.2%

Thành thị 205 60.8%

Tổng cộng 337 100.0%

Trang 33

Trường học (Bảng 2)

Số lượng Tỉ lệ

Trang 34

Sinh hoạt phí (Không tính chi phí ở) (Bảng 4)

SSố lượng Tỉ lệ

Trang 35

Mô tả mẫu:

Kết quả điều tra cho thấy:

- Trước khi vào đại học, sinh viên phản hồi điều tra đã cho thấy một hiện tượng khá lý thú rằng nơi ở của sinh viên trước khi vào Đại học ở thành thị chiếm tỉ lệ lớn hơn sinh viên ở nông thôn

- Số lượng sinh viên năm 1 và năm 2 được điều tra chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều so với

Trong số mẫu thu được, đa phần là sinh viên thành khu vực thành thị (60.8%), số lượng sinh viên năm 1 và 2 lại nhiều (77.1%) do chưa quen lắm với việc học ở bậc đại học nên tỷ lệ không làm thêm cũng chiếm số lượng lớn

Nguồn và mức độ sử dụng tài liệu (Bảng 6)

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Không bao giờ

Tài liệu mua do NXB phát hành 144 129 20 15

Với bảng số liệu trên, có thể thấy tổng số sinh viên sử dụng tài liệu photo từ mức độ thỉnh thoảng cho tới thường xuyên chiếm nhiều nhất (302/337 phiếu phỏng vấn), kế đến là tài liệu do các NXB phát hành (273/337 phiếu phỏng vấn), sau đó mới đến số lượng đọc sách ở thư viện (210/337 phiếu phỏng vấn) Trong

Trang 36

khi đó, số sinh viên hiếm khi hoặc không bao giờ sử dụng những nguồn trên đi theo chiều ngược lại

Những con số đã phản ánh thực trạng sử dụng tài liệu photo rất phổ biến trong sinh viên Tại sao lại có hiện tượng này? Có nhiều nguyên nhân khác nhau, ngoài lý do thiếu thốn tài liệu tham khảo như đã đề cập ở trên

Thứ nhất, thư viện chưa có sức hấp dẫn với sinh viên Xu hướng học tập và phát triển hiện nay khiến thư viện ngày càng là lựa chọn của nhiều bạn sinh viên sau các giờ học chính khóa Tuy nhiên, ngoài những đặc tính phù hợp cho không gian học tập như thoáng mát, yên tĩnh, sách báo tham khảo đa dạng, internet băng thông rộng, hệ thống thư viện hiện nay ở các trường ĐH thuộc khối ĐH Quốc giaTPHCM vẫn còn tồn tại nhiều bất cập gây khó khăn cho việc học tập, nghiên cứu

Các thư viện thường chỉ hoạt động vào giờ hành chính, đó cũng là thời gian sinh viên học chính khóa Một số thư viện thậm chí không hoạt động cả vào thứ 7 Vậy sinh viên sẽ tìm đến thư viện vào lúc nào cho phù hợp với quỹ thời gian học tập của mình

Sách tham khảo trong thư viện tuy nhiều về số lượng nhưng còn thiếu thốn

về mặt chất lượng và chủng loại Đa số sách trong thư viện là giáo trình, sách chuyên sâu không nhiều, nếu có cũng được xếp vào loại “sách quý” Mà đã “quý” thì “hiếm”, nên người này xem thì người kia không có để đọc, mượn về lại càng khó khăn Có những loại sách rất dư giả, nhưng cũng có những loại rất thiếu thốn, không đáp ứng được nhu cầu tra cứu và tham khảo Chỉ có thư viện trung tâm của

ĐH Quốc gia(nằm gần khuôn viên ĐH Quốc tế) là hạn chế được phần nào tình trạng trên, nhưng như thế là quá ít so với nhu cầu sử dụng của hàng chục ngàn sinh viên

Trang 38

Thứ hai, nhà sách gần khu vực làng Đại học quá xa, rất khó khăn cho những sinh viên ở gần hay ở ký túc xá không có phương tiện di chuyển riêng (Hình trang 23) Trong khi đó, các cửa hiệu và các loại sách photo lại tập trung quanh cổng trường, chỉ cần vài bước chân là đến, vừa rẻ vừa tiện lợi

Tài liệu học tập (Bảng 7)

Số lượng Tỉ lệ

Có đến 60.5% sinh viên cho rằng tài liệu học tập thiếu thốn, không đáp ứng

đủ cho nhu cầu học tập Tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn một số giảng viên các trường Đại học thành viên Đại học Quốc giaTP HCM

Cô Vương Tường Vân - giảng viên, và thầy Nguyễn Văn Hoàng - giảng viên kiêm giáo vụ khoa Địa lý Đại học Khoa học xã hội và nhân văn

(KHXH&NV) cho biết: tình trạng thiếu thốn tài liệu dành cho sinh viên, đặc biệt

là trong chuyên ngành là có thật Thậm chí có những môn học chỉ có duy nhất một

Trang 39

cuốn giáo trình do chính tay giáo viên biên soạn riêng nhằm phục vụ cho việc giảng dạy chứ không có sách tham khảo thêm, nếu muốn tìm hiểu sâu hơn phải chịu khó đi thu nhặt từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng số lượng này cũng rất hạn chế Đó là mới chỉ xem xét đến những sinh viên có nhu cầu học tập bình thường, chứ chưa đề cập đến những sinh viên buộc phải tìm hiểu sâu hơn để phục vụ cho việc nghiên cứu hoặc làm luận văn, báo cáo

Phỏng vấn TS Lê Phước Hảo – trưởng khoa Địa lý và Dầu khí đại học Bách Khoa, nhóm nghiên cứu lại được biết rằng: đối với ngành Dầu khí, tài liệu học tập cho sinh viên rất thoải mái do được sự tài trợ từ hiệp hội và các công ty dầu khí, hoặc do các cựu sinh viên của khoa đã tốt nghiệp tìm được trong quá trình công tác và gửi về, phần còn lại là do các giảng viên tự biên soạn, tích lũy từ kiến thức và kinh nghiệm bản thân; nhưng sách tham khảo thực sự không nhiều TS Lê Thị Quỳnh Anh – giảng viên trường đại học Khoa học Tự nhiên cũng đồng ý với

TS Lê Phước Hảo về vấn đề này

Như vậy, có thể thấy rằng việc tài liệu đủ hay thiếu tùy vào từng ngành học

và điều kiện của từng trường – khoa khác nhau, nhưng riêng đối với sách tham khảo thì chưa đáp ứng đủ nhu cầu về mặt nghiên cứu và học tập

Các giảng viên được phỏng vấn lại gặp nhau ở một điểm: tài liệu bằng tiếng Việt ít hơn rất nhiều so với tài liệu tiếng nước ngoài Được biết, tài liệu học tập của khoa Địa lý và dầu khí – ĐH Bách Khoa chủ yếu là do các giảng viên dịch lại

từ tư liệu sưu tầm được của các trường đại học có uy tín trên thế giới, các tổ chức quốc tế, các báo cáo hội nghị, hoặc tài liệu được tài trợ từ Đại sứ quán một số nước ở Việt Nam Và đây cũng là những hình thức phổ biến chung cho hầu hết các khoa và bộ môn ở trường ĐH Bách khoa Do đó, không thể tránh khỏi trường hợp phải photo lại tài liệu cho sinh viên học tập

Cũng về vấn đề photo tài liệu, TS Nguyễn Viết Đông – giảng viên trường

ĐH Khoa học Tự Nhiên cho biết: chuyện photo sách là không thể tránh vì thực

Trang 40

trạng sách khan hiếm Có những loại sách rất quý hiếm và giá tiền cao, chỉ có giảng viên mới có đủ điều kiện tìm kiếm và mua được Chỉ có thể chia sẻ với sinh viên qua hình thức photo

Mặt khác, việc sinh viên nhận xét tài liệu thiếu hay đủ còn do nhu cầu học tập của mỗi người Theo đánh giá của các giảng viên, chỉ khoảng 10% sinh viên chịu khó chủ động tìm sách tham khảo để phục vụ cho việc học, số lượng còn lại thường chỉ đọc những tài liệu do giảng viên giới thiệu, hoặc thậm chí không đọc Đây là một con số rất thấp,

Tuy nhiên, cũng theo nhận xét của thầy, chỉ có khoảng 10% sinh viên chịu khó đọc sách tham khảo Số lượng sinh viên còn lại chỉ học một giáo trình do giảnh viên trực tiếp giới thiệu

Do đó, theo ý kiến của giảng viên, có thể thấy một số lượng sinh viên chọn phương án dư hay dư giả về tài liệu là do không có nhu cầu trong quá trình học tập Cũng vì lý do trong mẫu có đến 77.1% sinh viên năm 1 và năm 2, chưa có nhu cầu nghiên cứu khoa học nên cũng có đến 36.5% số sinh viên cho rằng tài liệu học tập không thiếu

Ngày đăng: 21/08/2023, 03:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Gia Bảo (22/01/2007), “Hậu quả “nuôi ong tay áo”“, Báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu quả “nuôi ong tay áo”
Tác giả: Gia Bảo
Nhà XB: Báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp
Năm: 2007
3. Mạnh Hùng - Minh Trí (2006), “Nhật ký luật sở hữu trí tuệ 2006”, Báo Doanh nghiệp & thương hiệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật ký luật sở hữu trí tuệ 2006
Tác giả: Mạnh Hùng, Minh Trí
Nhà XB: Báo Doanh nghiệp & thương hiệu
Năm: 2006
5. Nhóm tác giả Bộ Tư Pháp (2007), Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, NXB Tư Pháp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2007
7. NXB Kim Đồng (2002), Sổ tay UNESCO về Bản quyền và Các quyền liên quan, NXB Kim Đồng, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay UNESCO về Bản quyền và Các quyền liên quan
Tác giả: NXB Kim Đồng
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2002
8. Paula Schepens (2001), Hướng dẫn về Quản lí tập thể các Quyền tác giả, NXB Kim Đồng, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về Quản lí tập thể các Quyền tác giả
Tác giả: Paula Schepens
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2001
9. Petya Totcharova (2006), Chính sách và hoạt động của UNESCO về bảo vệ bản quyền, NXB Kim Đồng, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và hoạt động của UNESCO về bảo vệ bản quyền
Tác giả: Petya Totcharova
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2006
10. Tamotsu Hozumi (2006), Cẩm nang quyền tác giả Châu Á, Trung tâm Văn hoá Châu Á - Thái Bình Dương (ACCU) thuộc UNESCO và NXB Kim Đồng, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang quyền tác giả Châu Á
Tác giả: Tamotsu Hozumi
Nhà XB: Trung tâm Văn hoá Châu Á - Thái Bình Dương (ACCU) thuộc UNESCO
Năm: 2006
11. Thanh Liêm (24/01/2007), “Lại một vụ tranh chấp bản quyền nhờ đến tòa án“, Báo Khoa học và Đời sống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại một vụ tranh chấp bản quyền nhờ đến tòa án
Tác giả: Thanh Liêm
Nhà XB: Báo Khoa học và Đời sống
Năm: 2007
12. Thanh Lương (23/01/2007), “Công ty Phần mềm Hà Nội khởi kiện Công ty Cổ phần Thương Mại Số“, Báo Pháp luật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty Phần mềm Hà Nội khởi kiện Công ty Cổ phần Thương Mại Số“
14. Tố Như (05/02/2007), “Ai là “cha đẻ” của I-Web?”, Báo Pháp luật TP. HCM.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ai là “cha đẻ” của I-Web
Tác giả: Tố Như
Nhà XB: Báo Pháp luật TP. HCM
Năm: 2007
1. Darrell Panethiere (2006), The Persistence of Piracy: the Consequences for Creativity, for Culture, and for Sustainable Development, UNESCO Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Persistence of Piracy: the Consequences for Creativity, for Culture, and for Sustainable Development
Tác giả: Darrell Panethiere
Nhà XB: UNESCO
Năm: 2006
2. Delia Lipszyc (1999), Copyright and Neighbouring Rights, UNESCO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Copyright and Neighbouring Rights
Tác giả: Delia Lipszyc
Nhà XB: UNESCO
Năm: 1999
3. Paula Schepens (2000), Guide to the Collective Administration of Authors' Rights - The Administration Society at the Service of Authors and Users, UNESCO.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guide to the Collective Administration of Authors' Rights - The Administration Society at the Service of Authors and Users
Tác giả: Paula Schepens
Nhà XB: UNESCO
Năm: 2000
5. Cục bản quyền tác giả văn học - nghệ thuật http://www.cov.gov.vn 6. Đại sứ quán CHXNCN Việt Nam tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳhttp://viet.vietnamembassy.us/tintuc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục bản quyền tác giả văn học - nghệ thuật
2. Hưng Hải (20/01/2007), “Những khuất tất sau vụ kiện phần mềm thứ hai tại Việt Nam“, Báo Dân Trí Khác
4. Minh Hồng (18/01/2007), “Công ty cổ phần phần mềm Hà Nội khởi kiện Công ty cổ phần Thương mại Số vi phạm bản quyền“, Báo Giao thông Vận tải Khác
6. Ngọc Tước (20/01/2007), ““Đạo phần mềm”, Công ty Thương mại số bị khởi kiện“, Báo Công An Nhân Dân Khác
13. Thu Nga (18/01/2007), “Toà án thụ lý thêm một vụ kiện vi phạm bản quyền phần mềm“, Tạp chí Thế giới Vi tính (PC World Vietnam) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm