TỔNG QUAN VẤ Ề NGHIÊN CỨU
Sơ lược về bảo tồn chuyển vị - bảo tồn ngoại vi (ex-situ)
ẶC Ể CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Vị trí địa lý, hành chính
Vườn Quốc gia Cúc Phương được thành lập theo Quyết định số 72/TTg ngày 07/7/1962 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 139/CT ngày 09/5/1998 của Chính phủ, có vị trí địa lý nằm ở phía Tây tỉnh Ninh Bình, cách Quốc lộ 1A khoảng 40km và cách Hà Nội 120km về phía Nam VQG Cúc Phương nằm ở tận cùng phía Đông Nam của dãy núi Tam Điệp, dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với tọa độ từ 20°14’ đến 20°24’ vĩ độ Bắc và từ 105°29’ đến 105°44’ kinh độ Đông, là khu vực có hệ sinh thái đa dạng và phong phú.
Các xã thuộc huyện Lạc Sơn và huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình nằm ở phía Tây Bắc và Đông Nam, tiếp giáp với các xã Yên Quang, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình ở phía Đông Nam Phía Nam của khu vực giáp xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Trong khi đó, các xã Thành Lâm, Thành Mỹ, Thành Yên thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa nằm ở phía Tây Nam và Tây Bắc, tạo nên vị trí tiếp giáp đa dạng của khu vực.
Vườn quốc gia Cúc Phương có tổng diện tích tự nhiên lên đến 22.200ha, phân bổ đều trên 14 xã Trong đó, 7 xã thuộc hai huyện Lạc Sơn và Yên Thủy của tỉnh Hòa Bình chiếm 5.805ha, còn 4 xã thuộc huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình có diện tích lớn nhất là 11.300ha Thêm vào đó, 3 xã thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa có diện tích là 5.000ha, tạo nên một khu vực bảo tồn đa dạng và phong phú.
Vườn quốc gia Cúc Phương có hệ thực vật đa dạng, gồm 31 họ quyết thực vật, 57 chi và 149 loài, cùng với 3 họ, 3 chi và 3 loài của ngành hạt trần, và 154 họ, 747 chi, 1588 loài của ngành hạt kín Mặc dù diện tích chỉ bằng 1/700 diện tích miền Bắc và gần 1/1500 diện tích cả nước, hệ thực vật Cúc Phương chiếm đến 76% số họ, 48,6% số chi và 30% số loài của miền Bắc, đồng thời chiếm 68,9% số họ, 43,6% số chi và 24,6% số loài hiện có ở Việt Nam Thảm thực vật chủ yếu của khu bảo tồn này là rừng trên núi đá vôi, có khả năng hình thành nhiều tầng tán lên đến 5 tầng, thể hiện sự đa dạng và phong phú của hệ sinh thái nơi đây.
ỤC TIÊU – Ố ƯỢNG – PH M VI – NỘI DUNG VÀ ƢƠ Á Ê CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Chúng tôi đang xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về kỹ thuật bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) nhằm nâng cao hiệu quả công tác cứu hộ và bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm này tại Việt Nam Việc bổ sung dữ liệu giúp phát triển các phương pháp bảo tồn phù hợp, tăng cường các hoạt động nghiên cứu và thực thi các chính sách bảo vệ đúng đắn Các cơ sở dữ liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp các hoạt động bảo tồn, phục hồi và phát triển bền vững loài Chà vá chân nâu trong môi trường tự nhiên.
- Đánh giá được hiện trạng các cá thể Chà vá chân nâu đang được nuôi tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp Vườn Quốc gia Cúc Phương
- Xác định được đặc điểm thành phần thức ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm
- Xác định được đặc điểm khả năng sinh sản của loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm
- Xác định được kỹ thuật xây dựng chuồng trại, các biện pháp làm giàu môi trường sống, khả năng tái thả loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm
- Xác định đặc điểm của một số loại bệnh thường gặp và công tác thú ý cho Chà vá chân nâu tại Trung tâm
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm
Loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771) hiện đang được cứu hộ tại Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp Vườn Quốc gia Cúc Phương
Nghiên cứu đã tập trung thu thập dữ liệu từ 14 cá thể Chà vá chân nâu đang được cứu hộ tại Trung tâm, bao gồm 5 cá thể đực và 9 cá thể cái.
- Phạm vi về địa điểm: Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp, VQG Cúc Phương
Dự án nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 9 năm 2019, bao gồm các hoạt động xây dựng đề cương và viết báo cáo kết quả nghiên cứu.
2.4 Nội dung nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau:
(1) – Hiện trạng các cá thể Chà vá chân nâu đang được nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc Phương
(2) – Đặc điểm thành phần thức ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm
(3) – Một số kỹ thuật xây dựng chuồng trại, các biện pháp làm giàu môi trường sống, khả năng tái thả loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm
(4) – Đặc điểm một số loại bệnh thường gặp và công tác thú y cho Chà vá chân nâu tại Trung tâm
(5) – Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Loài Chà vá chân nâu đã được cứu hộ và nuôi dưỡng tại Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp (CHLTNC) thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương từ năm 1998, với nhiều tài liệu quan trọng ghi chép về thành phần thức ăn, khẩu phần, cách chế biến và bảo quản thức ăn cũng như đặc điểm sinh sản của loài Các thông tin này đã được kế thừa để phục vụ nội dung nghiên cứu của đề tài Ngoài ra, các dữ liệu còn được xác thực thông qua hoạt động quan sát và theo dõi ngoài thực địa, đảm bảo tính chính xác và khách quan của thông tin.
Các tài liệu liên quan đến thú linh trưởng, đặc biệt là loài Chà vá chân nâu, đã được chọn lọc để phục vụ xây dựng tổng quan của đề tài, giúp làm rõ tình trạng và đặc điểm của loài Bên cạnh đó, các nguồn thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội cũng được kế thừa trong Chương 3, đảm bảo tính toàn diện và bối cảnh đầy đủ cho nghiên cứu.
Việc phỏng vấn cán bộ quản lý và nhân viên chăm sóc Chà vá chân nâu về thành phần thức ăn, khẩu phần ăn, kỹ thuật chế biến và bảo quản thực phẩm, phương thức cho ăn, kỹ thuật xây dựng chuồng trại là cần thiết để cập nhật thông tin mới và bổ sung kiến thức Đặc biệt, việc đánh giá khả năng sinh sản của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt giúp đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu Bên cạnh đó, việc tiến hành các thí nghiệm liên quan cần có sự đồng ý và phê duyệt từ Trung tâm để đảm bảo tiêu chuẩn và quy trình chặt chẽ.
Các câu hỏi phỏng vấn tập trung vào thành phần thức ăn, khẩu phần ăn, kỹ thuật chế biến và bảo quản thực phẩm, phương thức cho ăn, kỹ thuật xây dựng chuồng trại, khả năng sinh sản của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm Thông tin về lịch luân phiên chủng loại thức ăn theo tuần hoặc tháng và biến đổi theo mùa cũng được đề cập Ngoài ra, các dữ liệu về thành tích cứu hộ, tái thả, sinh sản của Chà vá chân nâu, nguồn kinh phí, khó khăn và thuận lợi trong quá trình cứu hộ và tái thả cũng được thu thập để đề xuất các giải pháp phù hợp.
Các thông tin về câu hỏi phỏng vấn và trình tự các câu hỏi phỏng vấn được trình bày chi tiết trong Phụ lục 01
2.5.3 Thu thập số liệu tại hiện trường
2.5.3.1 Xác định thành phần thức ăn và chế độ dinh dưỡng của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt a) Xác định thành phần thức ăn, cách chế biến và bảo quản thức ăn
Chà vá chân nâu là loài thú quý hiếm được chăm sóc lâu dài tại trung tâm, do đó, nhân viên không thực hiện các thí nghiệm với vật liệu mới làm thức ăn cho chúng Thay vào đó, thành phần thức ăn của chúng được xác định qua việc ghi chép tên các loài thực vật cung cấp hàng ngày, cùng với cách chế biến như vệ sinh, bó là, trộn, thái thức ăn Các bộ phận thực vật dùng làm thức ăn cho chà vá chân nâu được phân loại theo Davies (1984), đảm bảo theo dõi chặt chẽ quá trình cung cấp dinh dưỡng cho thú.
Bảng 2.1 Bộ phận thức ăn được sử dụng của Chà vá chân nâu (Davies, 1984)
Loại thức ăn ặc điểm nhận biết
Lá bánh tẻ Các loại lá đã phát triển đầy đủ
Phân biệt với các lá trưởng thành bởi ít nhất 2 đặc điểm như sau: Kích thước nhỏ hơn, màu nhạt hơn/đỏ hơn, chưa duỗi thẳng…
Cuống lá Phần liên kết giữa cuống lá và cành cây
Hoa và nụ non Mô sinh sản; đài hoa (calyx), tràng hoa (corolla), …
Hạt Chỉ gồm hạt hoặc hạt và áo hạt
Lá noãn (carpel) và các mô bao quanh lá noãn bao gồm cả vỏ quả xo (fibrous pericarp); có màu vàng, đỏ… và vỏ quả mọng hoặc mềm
Quả xanh Lá noãn (carpel) và các mô bao quanh lá noãn bao gồm cả vỏ quả xơ (fibrous); có màu xanh, nhạt… và vỏ quả cứng
Danh sách các loại thức ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm CHLTNC, VQG Cúc Phương được tổng hợp dựa trên số loài thực vật đã được ghi nhận trong quá trình khảo sát thực tế Ngoài ra, thông tin còn được bổ sung từ các nguồn kế thừa, tài liệu, phỏng vấn cán bộ và nhân viên, qua đó tổng hợp vào bảng 2.2 để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ.
Bảng 2.2 Thành phần thức ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại rung tâm C C, VQ Cúc hương
STT Tên phổ thông Tên khoa học Bộ phận sử dụng Ghi chú
Chà vá chân nâu thường ăn chủ yếu thức ăn thô xanh, do đó thức ăn này ít được bảo quản lâu dài mà thường dùng trong ngày hoặc tối đa một đến hai ngày Phương pháp bảo quản và chế biến thức ăn của loài này đã được ghi lại trong sổ tay ngoại nghiệp và công tác chăm sóc của nhân viên tại trung tâm Việc xác định khẩu phần ăn phù hợp cho Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển của chúng.
Khẩu phần ăn là hỗn hợp thức ăn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của con vật để duy trì sự sống, sinh trưởng và phát triển Đối với Chà vá chân nâu được nuôi dưỡng trong thời gian dài với chế độ ăn ổn định, việc xác định khẩu phần dựa trên sự chênh lệch về khối lượng giữa thức ăn đưa vào và thức ăn dư thừa hàng ngày Mặc dù nhân viên tại Trung tâm cung cấp lượng thức ăn cố định hàng ngày, nhưng Chà vá chân nâu chỉ tiêu thụ một phần thức ăn như chồi và lá non, khiến cho không phải toàn bộ thức ăn đều được ăn hết.
Trong nghiên cứu này, khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu được thử nghiệm trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm Bảo tồn Thú rừng Việt Nam (CHLTNC), Vườn Quốc gia Cúc Phương Các thử nghiệm được thực hiện trên 7 cá thể Chà vá chân nâu ở các độ tuổi từ 1 đến 21 tuổi, tại chuồng số 12A.
Thức ăn chuẩn bị cho Chà vá chân nâu được xác định dựa trên loài và khối lượng thức ăn cần thiết trước khi đưa vào chuồng nuôi Sau khi nhân viên vệ sinh sạch sẽ chuồng, toàn bộ thức ăn dư thừa, bao gồm bó lá và rơi vãi dưới đất, sẽ được thu lại và cân đo chính xác để duy trì chế độ dinh dưỡng phù hợp Khẩu phần ăn hàng ngày của Chà vá chân nâu được xác định dựa trên công thức cụ thể, đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng và tối ưu hóa quá trình chăn nuôi.
( ) ( ) Trong đó: L: Lượng thức ăn tiêu thụ mỗi ngày
C: Lượng thức ăn đưa vào T: Lượng thức ăn dư thừa cuối ngày Trong quá trình thử nghiệm xác định loại thức ăn bị suy giảm nhiều nhất và loại thức ăn mà Chà vá chân nâu ăn trước tiên để xây dựng danh sách các loại thức ăn ưa thích Số liệu nghiên cứu được ghi chép vào bảng 3.3
Bảng 2.3 Kết quả thử nghiệm khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại rung tâm C C, VQ Cúc hương
Tuổi (Trưởng thành/Gần trưởng thành/Bán trưởng thành/Con non)
Thành phần chủ yếu ƣa vào (g)
Còn lại (g) ƣợng tiêu thụ (g)
Tổng c) Xác định thức ăn ưa thích của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào 14 cá thể Chà vá chân nâu đang được cứu hộ tại Trung tâm, gồm 5 cá thể đực và 9 cá thể cái Đối tượng khảo sát đa dạng về giới tính, đảm bảo tính toàn diện trong phân tích và đánh giá trạng thái của loài Việc thu thập dữ liệu từ số lượng cá thể này giúp nâng cao hiệu quả bảo tồn và cải thiện các phương pháp chăm sóc, cứu hộ loài động vật nguy cấp.
- Phạm vi về địa điểm: Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp, VQG Cúc Phương
Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 9 năm 2019, bao gồm cả các hoạt động xây dựng đề cương và viết báo cáo kết quả nghiên cứu, đảm bảo phạm vi thời gian rõ ràng và phù hợp với kế hoạch đề ra.
Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau:
(1) – Hiện trạng các cá thể Chà vá chân nâu đang được nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc Phương
(2) – Đặc điểm thành phần thức ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm
(3) – Một số kỹ thuật xây dựng chuồng trại, các biện pháp làm giàu môi trường sống, khả năng tái thả loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm
(4) – Đặc điểm một số loại bệnh thường gặp và công tác thú y cho Chà vá chân nâu tại Trung tâm
(5) – Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Loài Chà vá chân nâu đã được cứu hộ và nuôi dưỡng tại Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp (CHLTNC) thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương từ năm 1998, ghi nhận nhiều tài liệu quan trọng về thành phần thức ăn, khẩu phần, cách chế biến và bảo quản thức ăn, cũng như đặc điểm sinh sản của loài Các thông tin này được kế thừa và phục vụ cho các nghiên cứu của đề tài, đồng thời được xác minh qua hoạt động quan sát và theo dõi thực địa để đảm bảo tính chính xác.
Các tài liệu liên quan đến thú linh trưởng, đặc biệt là loài Chà vá chân nâu, cùng với tình trạng của chúng được chọn lọc kỹ lưỡng để xây dựng tổng quan cho đề tài Ngoài ra, các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội cũng được kế thừa từ chương 3 để cung cấp cái nhìn toàn diện về môi trường sống và các yếu tố ảnh hưởng đến loài.
Việc phỏng vấn cán bộ quản lý và nhân viên chăm sóc Chà vá chân nâu về thành phần thức ăn, khẩu phần, kỹ thuật chế biến và bảo quản, phương thức cho ăn, cũng như kỹ thuật xây dựng chuồng trại giúp cung cấp thông tin cập nhật và bổ sung về điều kiện nuôi nhốt Đặc biệt, việc khảo sát khả năng sinh sản của Chà vá chân nâu trong môi trường nuôi nhốt là cần thiết để xác định các yếu tố ảnh hưởng Bên cạnh đó, quá trình bố trí thí nghiệm cần có sự đồng ý và phê duyệt từ Trung tâm để đảm bảo tính hợp pháp và chính xác của nghiên cứu.
Các câu hỏi phỏng vấn hướng đến việc thu thập thông tin về thành phần và khẩu phần ăn, kỹ thuật chế biến và bảo quản thức ăn, phương thức cho ăn, cùng kỹ thuật xây dựng chuồng trại phù hợp cho Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm Ngoài ra, phỏng vấn cũng liên quan đến khả năng sinh sản của loài và việc luân chuyển chủng loại thức ăn theo tuần, tháng và mùa để tối ưu hóa năng suất nuôi dưỡng Thông tin về thành tích cứu hộ, tái thả, sinh sản, nguồn kinh phí, cùng những khó khăn và thuận lợi trong quá trình bảo tồn và phát triển loài được thu thập làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp trong đề tài.
Các thông tin về câu hỏi phỏng vấn và trình tự các câu hỏi phỏng vấn được trình bày chi tiết trong Phụ lục 01
2.5.3 Thu thập số liệu tại hiện trường
2.5.3.1 Xác định thành phần thức ăn và chế độ dinh dưỡng của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt a) Xác định thành phần thức ăn, cách chế biến và bảo quản thức ăn
Chà vá chân nâu là loài thú quý hiếm được chăm sóc lâu dài tại trung tâm, nên nhân viên không thực hiện thí nghiệm với các loại vật liệu mới làm thức ăn cho chúng Thay vào đó, thành phần thức ăn của chà vá chân nâu được xác định dựa trên ghi chép tên các loài thực vật mà nhân viên chăm sóc chuẩn bị và cho ăn hàng ngày Các bộ phận thực vật dùng làm thức ăn cũng như cách chế biến (vệ sinh, bó là, trộn, thái) đều được ghi lại trong quá trình theo dõi Theo phân loại của Davies (1984), các bộ phận thực vật làm thức ăn cho chà vá chân nâu được phân loại rõ ràng phù hợp bảng 2.1.
Bảng 2.1 Bộ phận thức ăn được sử dụng của Chà vá chân nâu (Davies, 1984)
Loại thức ăn ặc điểm nhận biết
Lá bánh tẻ Các loại lá đã phát triển đầy đủ
Phân biệt với các lá trưởng thành bởi ít nhất 2 đặc điểm như sau: Kích thước nhỏ hơn, màu nhạt hơn/đỏ hơn, chưa duỗi thẳng…
Cuống lá Phần liên kết giữa cuống lá và cành cây
Hoa và nụ non Mô sinh sản; đài hoa (calyx), tràng hoa (corolla), …
Hạt Chỉ gồm hạt hoặc hạt và áo hạt
Lá noãn (carpel) và các mô bao quanh lá noãn bao gồm cả vỏ quả xo (fibrous pericarp); có màu vàng, đỏ… và vỏ quả mọng hoặc mềm
Quả xanh Lá noãn (carpel) và các mô bao quanh lá noãn bao gồm cả vỏ quả xơ (fibrous); có màu xanh, nhạt… và vỏ quả cứng
Danh sách các loại thức ăn của Chà vá chân nâu khi nuôi nhốt tại Trung tâm Chăn nuôi Thú, Nghiên cứu và Bảo tồn động vật hoang dã (CHLTNC), Vườn Quốc gia Cúc Phương dựa trên số lượng loài thực vật được ghi nhận qua khảo sát thực tế và các nguồn thông tin kế thừa, bao gồm các tài liệu, phỏng vấn cán bộ, nhân viên Thông tin này đã được tổng hợp thành bảng 2.2 để phục vụ nghiên cứu và quản lý sinh thái của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt.
Bảng 2.2 Thành phần thức ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại rung tâm C C, VQ Cúc hương
STT Tên phổ thông Tên khoa học Bộ phận sử dụng Ghi chú
Chà vá chân nâu chủ yếu ăn thức ăn thô xanh, thường được cung cấp trong ngày hoặc tối đa một đến hai ngày để đảm bảo độ tươi ngon Phương pháp bảo quản và chế biến thức ăn của loài này được ghi chép cẩn thận trong sổ tay ngoại nghiệp của nhân viên trung tâm, nhằm đảm bảo chế độ dinh dưỡng phù hợp Việc xác định khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt là yếu tố quan trọng để duy trì sức khỏe và sự phát triển của chúng.
Khẩu phần ăn là hỗn hợp thức ăn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con vật trong một ngày hoặc lượng thức ăn cần thiết để duy trì sự sống, sinh trưởng và phát triển Đặc biệt, đối với loài Chà vá chân nâu được nuôi dưỡng lâu dài với chế độ cho ăn ổn định, lượng thức ăn hàng ngày được cung cấp cố định nhưng không phải tất cả đều được tiêu thụ hết, do chúng chỉ ăn phần chồi, lá non Vì vậy, việc xác định khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu dựa vào sự chênh lệch về khối lượng giữa lượng thức ăn đưa vào và thức ăn dư thừa hàng ngày để đảm bảo quá trình nuôi dưỡng hiệu quả.
Trong nghiên cứu này, khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm bảo tồn và phát triển động vật hoang dã Cúc Phương đã được thử nghiệm trên 7 cá thể ở các độ tuổi từ 1 đến 21 tuổi Các cá thể được nuôi trong chuồng số 12A để đánh giá tác động của chế độ ăn đối với sự phát triển và sức khỏe của loài động vật này.
Thức ăn chuẩn bị cho Chà vá chân nâu phải dựa trên giống loài và khối lượng thức ăn phù hợp trước khi cho vào chuồng nuôi Sau khi nhân viên dọn dẹp, toàn bộ lượng thức ăn dư thừa như bó lá và rơi vãi dưới đất đều được thu lại và cân đo chính xác Khẩu phần ăn hàng ngày của Chà vá chân nâu được xác định dựa trên công thức cụ thể nhằm đảm bảo chế độ dinh dưỡng tối ưu và sức khỏe của vật nuôi.
( ) ( ) Trong đó: L: Lượng thức ăn tiêu thụ mỗi ngày
C: Lượng thức ăn đưa vào T: Lượng thức ăn dư thừa cuối ngày Trong quá trình thử nghiệm xác định loại thức ăn bị suy giảm nhiều nhất và loại thức ăn mà Chà vá chân nâu ăn trước tiên để xây dựng danh sách các loại thức ăn ưa thích Số liệu nghiên cứu được ghi chép vào bảng 3.3
Bảng 2.3 Kết quả thử nghiệm khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại rung tâm C C, VQ Cúc hương
Tuổi (Trưởng thành/Gần trưởng thành/Bán trưởng thành/Con non)
Thành phần chủ yếu ƣa vào (g)
Còn lại (g) ƣợng tiêu thụ (g)
Tổng c) Xác định thức ăn ưa thích của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt
Chà vá chân nâu có các loại thức ăn ưa thích dựa trên loại thức ăn mà chúng tiêu thụ nhiều nhất và thứ tự yêu thích ban đầu Các kết quả theo dõi về thức ăn ưa thích của loài này trong điều kiện nuôi nhốt được phân loại thành ba mức độ: rất ưa thích, ưa thích và bình thường Thông tin này được tổng hợp vào bảng 2.4 để dễ dàng đánh giá và nghiên cứu.
Bảng 2.4: Thành phần thức ăn ƣa thích của loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại rung tâm C C, VQ Cúc hương
STT Tên thức ăn Bộ phận sử dụng Mức độ ƣa thích
Trong quá trình quan sát tại hiện trường, chúng tôi ghi chép chi tiết về thời gian cung cấp thức ăn, cách chế biến các loại thức ăn, phương thức cho ăn và đặc điểm sinh sản của loài vào sổ tay ngoại nghiệp để đảm bảo quản lý hiệu quả và phù hợp với các tiêu chuẩn sinh học.
2.5.3.2 Xác định kỹ thuật xây dựng chuồng trại nuôi nhốt Chà vá chân nâu
Các chuồng nuôi Chà vá chân nâu tại Trung tâm CHLTNC, VQG Cúc Phương hiện có dạng hình chữ nhật với kích thước được đo theo chiều dài, rộng và cao Kiểu chuồng nuôi, vật liệu xây dựng, nội thất, cách bố trí không gian và hướng chuồng đều được ghi chép cẩn thận vào sổ tay ngoại nghiệp để đảm bảo quản lý và thiết kế phù hợp.
Phương pháp nghiên cứu
4.1 Hiện trạng các cá thể Chà vá chân nâu tại Trung tâm CHLTNC,
Trung tâm CHLTNC, VQG Cúc Phương đang chăm sóc và cứu hộ thành công 14 cá thể Chà vá chân nâu, gồm 5 đực và 9 cái, góp phần bảo tồn loài nguy cấp này Việc phân biệt giới tính của Chà vá chân nâu dựa trên đặc điểm hình thái như màu sắc lông, kích thước và trọng lượng cơ thể, giúp quản lý và bảo vệ chúng hiệu quả hơn.
Bảng 4.1: Phân biệt về giới tính của Chà vá chân nâu dựa trên đặc điểm hình thái ặc điểm Cá thể đực Cá thể cái
Trọng lượng cơ thể trung bình 11kg 8,5 kg
Kích thước cơ thể trung bình 55-63cm 50-57cm
Có hai túm lông trắng ở hai góc phía trên gốc đuôi hình tam giác
Không có túm lông trắng phía trên gốc đuôi
Hình 4.1: Chà vá chân nâu đực Hình 4.2: Chà vá chân nâu cái