1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình việt nam khóa luận tốt nghiệp 10đ

56 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 607,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là thấy được những vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu; Những bất cập của pháp luật hiện hành về quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu, và đưa ra các kiến nghị cụ thể để giải quyết những vấn đề còn bất cập, vướng mắc đó.

Trang 1

ii

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA i

LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined MỤC LỤC ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỨ BA YÊU CẦU 6

1.1 KHÁI NIỆM LY HÔN VÀ CĂN CỨ LY HÔN 6

1.1.1 Khái niệm ly hôn 6

1.1.2 Khái niệm căn cứ ly hôn 8

1.2 CƠ SỞ ĐỂ QUY ĐỊNH CĂN CỨ LY HÔN TRONG PHÁP LUẬT 10 1.3 CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỨ BA YÊU CẦU 14

1.3.1 Khái niệm người thứ ba 14

1.3.2 Các trường hợp người thứ ba yêu cầu ly hôn 16

1.3.3 Ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu 17

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỨ BA YÊU CẦU THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014, THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ 21

2.1 CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỨ BA YÊU CẦU THEO QUY ĐỊNH CỦA LHN&GĐ 2014 21

2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỨ BA YÊU CẦU 28

Trang 2

iii

2.2.1 Tổng quan tình tình áp dụng quy định căn cứ ly hôn trong trường

hợp người thứ ba yêu cầu 28

2.2.2 Những khó khăn, hạn chế của việc áp dụng căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu 34

2.3 KIẾN NGHỊ 37

2.3.1 Về hoàn thiện pháp luật 37

2.3.2 Về việc nâng cao trình độ, kỹ năng và đạo đức người xét xử 41

2.3.3 Về việc nâng trình độ hiểu biết pháp luật của người dân về ly hôn và căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43

KẾT LUẬN 44

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 49

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội Gia đình hạnh phúc chính là mảnh ghép tạo nên

xã hội phát triển, phồn thịnh Vì vậy, hôn nhân gia đình là vấn đề rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và đặt lên hàng đầu Trải qua hàng ngàn năm, qua bao nhiêu thời kỳ, các hình thái kinh tế – xã hội thì gia đình cũng có sự thay đổi, chuyển biến nhất định: Từ hình thái chế độ quần hôn, hôn nhân đối ngẫu, kết hợp với những đôi riêng lẻ trong thời kỳ nhất định và cuối cùng là chế độ hôn nhân một vợ một chồng Hiện tại, chế độ hôn nhân có thể nói là đã đạt được rất nhiều tiến bộ kể từ khi các phong trào đòi quyền bình đẳng giới và sự vào cuộc của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức phi chính phủ,…

Ta thấy rằng kết hôn và ly hôn là quyền chính đáng của mỗi công dân, Hiến

pháp 2013 đã ghi nhận điều này: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo

nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn

đình, và ngược lại với nó chính là ly hôn Ly hôn vừa là vấn đề mang tính gia đình vừa là vấn đề mang tính xã hội sâu sắc Nếu kết hôn là việc hình thành quan hệ hôn nhân giữa hai người thì ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ đó về mặt pháp lý theo Luật HN&GĐ Khi đời sống hôn nhân không thể duy trì được nữa thì ly hôn là một giải pháp cần thiết cho cả đôi bên vợ chồng và xã hội Đồng thời ly hôn cũng như

là một phương thức giải thoát cho những thành viên trong gia đình khỏi xung đột, mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống hôn nhân

Có thể thấy, trong những năm gần đây, tình trạng ly hôn ở nước ta tăng nhanh làm mất đi sự ổn định, cân bằng của đời sống xã hội Pháp luật về HN&GĐ của nước ta đã có những sự đổi mới để điều chỉnh cách giải quyết phù hợp với thực

1 Điều 36 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

Trang 4

sẽ được thực hiện chính xác, hạn chế được những hậu quả mà ly hôn mang lại

Qua mỗi thời kỳ, căn cứ ly hôn lại có những thay đổi, bổ sung trên tinh thần

kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp cũ, loại bỏ những tư tưởng cổ hủ, lỗi thời Căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu là một quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2014, mặc dù là điểm tiến bộ hơn so với Luật HN&GĐ năm 2000 nhưng quy định này vẫn chưa có nghị định hướng dẫn cụ thể Từ đó ảnh hưởng một phần tới hiệu quả áp dụng căn cứ ly hôn trong thực tiễn

Với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ và chuyên sâu những quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu, thông qua đó đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện hơn nữa

quy định về vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài “Căn cứ ly hôn trong trường hợp

người thứ ba yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Tính đến thời điểm hiện tại chưa có công trình khoa học nghiên cứu về căn

cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu Tuy nhiên vấn đề này cũng đã

Trang 5

3

được đề cập trong một số công trình khoa học nghiên cứu về căn cứ ly hôn, có thể

kể đến những công trình tiêu biểu như:

Bài viết “Căn cứ ly hôn trong pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn

Cừ trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11(411), Kỳ I tháng 6/2020 Bài viết phân tích các căn cứ ly hôn trong pháp luật Việt Nam Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện vấn đề này

Bài viết “Ly hôn, căn cứ giải quyết cho ly hôn trong pháp luật hôn nhân và

gia đình của Việt Nam” trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 19, Kỳ I tháng 10/2015

của tác giả Trần Thị Minh Bài viết nêu một số vấn đề chung về ly hôn, trình bày

pháp luật về ly hôn qua các thời kỳ và một số vấn đề phát sinh từ thực tiễn; đồng thời kiến nghị việc ra văn bản hướng dẫn thực hiện Luật HN&GĐ năm 2014

Luận văn thạc sĩ luật học “Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014” năm 2015 của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai Luận văn nghiên cứu các

căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 qua đó đánh giá và phân tích áp dụng căn cứ ly hôn để giải quyết ly hôn

Luận văn thạc sĩ Luật học “Căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt

Nam” năm 2018 của tác giả Nguyễn Hà Thư Luận văn trình bày một số vấn đề lý

luận chung về ly hôn và căn cứ ly hôn Phân tích thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014; từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến quy định căn

cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu Tuy nhiên, hầu như những công trình nêu trên mới chỉ nghiên cứu chung về các căn cứ ly hôn của pháp luật hiện hành, chưa tập trung phân tích về quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu Với việc nghiên cứu quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu theo Luật HN&GĐ năm 2014, khóa luận đã tập trung trình bày những vấn đề lý luận chung về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu

Trang 6

4

cầu ly hôn, phân tích thực tiễn áp dụng và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về nội dung này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Những vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu; quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về căn cứ

ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu; thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu thông qua các bản án được công bố của các cơ quan có thẩm quyền

Phạm vi nghiên cứu đề tài:

- Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014

- Quy định về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu theo pháp luật HN&GĐ hiện hành

- Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật, chỉ ra tình hình thực tiễn chung và những khó khăn còn tồn tại Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật HN&GĐ về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Việc nghiên cứu khóa luận được hoàn thành dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin,

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp phân tích để làm rõ các quy định về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu; Phương pháp so sánh được dùng để chỉ những điểm khác biệt của pháp luật HN&GĐ hiện hành với các quy định cũ; Phương pháp tổng hợp được áp dụng trong quá trình nghiên cứu bản án Tất cả các phương pháp trên được kết hợp hài hòa tạo hiệu quả trong quá trình tìm hiểu thực tiễn và thực hiện khóa luận

Trang 7

5

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là thấy được những vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu; Những bất cập của pháp luật hiện hành về quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu, và đưa

ra các kiến nghị cụ thể để giải quyết những vấn đề còn bất cập, vướng mắc đó

Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích trên, khóa luận phải thực hiện được

những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, làm rõ những vấn đề khái quát chung về căn cứ ly

hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu Thứ hai, phân tích các quy định của pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành về căn cứ ly hôn trong trường hợp người

thứ ba yêu cầu; Thứ ba, tìm hiểu thực tiễn việc thực hiện các quy định để chỉ ra các

hạn chế, bất cập và đề xuất những kiến nghị hoàn thiện

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được chia làm 2 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu

Chương 2: Quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu theo luật Hôn nhân và gia đình 2014, thực tiễn áp dụng và kiến nghị

Trang 8

6

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ LY HÔN TRONG

TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỨ BA YÊU CẦU 1.1 KHÁI NIỆM LY HÔN VÀ CĂN CỨ LY HÔN

1.1.1 Khái niệm ly hôn

Ly hôn được hiểu chung là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân, vợ chồng không còn ở với nhau, đồng thời không thực hiện những quyền và nghĩa vụ của vợ chồng

nữa Theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam, ly hôn được định nghĩa: “Vợ chồng bỏ

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, hôn nhân (trong đó có ly hôn) là

hiện tượng xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc C.Mác viết: Ly hôn chỉ là việc xác

nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài lừa dối Đương nhiên, không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc hôn nhân

đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đã biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan 4

Theo quy định pháp luật Việt Nam, tại Khoản 8 Điều 8 Luật HN&GĐ 2000

thì: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định

theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng” Mở rộng hơn khái

niệm này, Luật HN&GĐ 2014 quy định tại Khoản 14 Điều 3 như sau: “Ly hôn là

2 Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, tr.1057

3 Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa, Nxb Tư pháp, tr.460

4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội,

tr.384

Trang 9

7

việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”

Nhìn chung khái niệm ly hôn của Luật HN&GĐ 2000 và 2014 có sự thay đổi

cơ bản Tuy nhiên, về bản chất, hai điều luật đó đều phản ánh được ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, quan hệ hôn nhân, để giúp các bên trong quan hệ hôn nhân được giải thoát khỏi tình trạng hôn nhân đổ vỡ

Như vậy, “xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng

Kết hôn, duy trì quan hệ hôn nhân và ly hôn Quan hệ hôn nhân là mối quan hệ tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa vợ chồng Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, việc tồn tại những mâu thuẫn là điều không thể tránh khỏi, khi đó vấn đề ly hôn được đặt ra để giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình thoát khỏi mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể chung sống với nhau nữa Nếu kết hôn là một hiện tượng xã hội bình thường thì ly hôn là mặt trái của hôn nhân, nhưng ly hôn lại là mặt không thể thiếu được trong trường hợp quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ

“Xét về mặt pháp lý thì ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt các nghĩa

vụ, quyền giữa vợ và chồng trên cơ sở yêu cầu của vợ chồng và được Tòa án công

như tình cảm của vợ chồng cũng bị hủy bỏ Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định Nếu vợ chồng thuận tình ly hôn, thỏa thuận được tất cả các nội dung về quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì

5 Nông Thị Nhung, Căn cứ ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ

Luật học, Hà Nội, tr.7

6 Nông Thị Nhung, , tlđd 5, tr 8

Trang 10

8

Toà án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn Việc Tòa án quyết định cho vợ chồng ly hôn phải dựa trên cơ sở đánh giá thực chất mối quan hệ

vợ chồng Chỉ khi xét thấy quan hệ vợ chồng rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án mới giải quyết cho vợ chồng ly hôn

Từ đó có thể thấy, ly hôn chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình

1.1.2 Khái niệm căn cứ ly hôn

được hiểu là những cơ sở do Nhà nước xác định để Tòa án thực hiện giải quyết việc chấm dứt quan hệ hôn nhân khi có yêu cầu

C.Mác viết: Về mặt hôn nhân, nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất, hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi Việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể là việc ghi biên bản sự tan rã bên trong của nó Quan điểm của nhà lập pháp là quan điểm của tính tất yếu 8 Khi căn cứ ly hôn theo luật định đảm bảo được “tính tất yếu” của sự

việc, xã hội sẽ vận động theo chiều hướng tích cực và ngược lại Điều kiện để vợ chồng giải quyết ly hôn là bản chất của quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, do đó căn cứ ly hôn phải phản ánh được bản chất của mối quan hệ

7 Nguyễn Lân (2006), tlđd 1, tr.243

8 Nguyễn Hà Thư (2018), Căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội,

tr.11

Trang 11

9

Quan điểm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là giải quyết ly hôn dựa vào thực chất của quan hệ vợ chồng, trên cơ sở đánh giá khách quan, đúng với thực tế tình trạng quan hệ hôn nhân Để được công nhận ly hôn, bên cạnh việc dựa vào ý chí của vợ chồng thì cần phải xem xét các điều kiện về ly hôn trong Luật HN&GĐ Những căn cứ này phản ánh bản chất của mối quan hệ như: Vợ chồng đang trong tình trạng như thế nào? Hôn nhân có thể kéo dài được nữa hay không? Chỉ khi quan

hệ hôn nhân thực chất đã hoàn toàn tan vỡ, mục đích của hôn nhân không thể đạt được thì mới giải quyết cho vợ chồng ly hôn Việc quy định căn cứ ly hôn phải phù hợp với bản chất của sự việc, phù hợp với tình trạng thực tế của hôn nhân Việc Tòa

án xét xử cho ly hôn có nghĩa là đã công nhận sự chấm dứt của một cuộc hôn nhân

Kế thừa và phát huy quan điểm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, hệ thống pháp luật HN&GĐ Nhà nước ta đã quy định căn cứ ly hôn ngày càng hoàn thiện, phản ánh thực chất mối quan hệ vợ chồng Luật HN&GĐ năm 2000 quy định căn

cứ ly hôn tại Điều 89: “Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm

trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn” Tới Luật HN&GĐ năm 2014, các nhà lập pháp đã

bỏ đi điều khoản quy định riêng về căn cứ ly hôn nhưng vẫn thể hiện được căn cứ

ly hôn trong các điều quy định về trường hợp ly hôn cụ thể Đó là căn cứ ly hôn trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn (Điều 55), căn cứ ly hôn trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn (Khoản 1, 2 Điều 56) và căn cứ ly hôn trong trường hợp cha, mẹ, người thân thích của vợ, chồng yêu cầu ly hôn (Khoản 2 Điều 51)

Xét về tổng thể, các căn cứ ly hôn trong hệ thống Luật HN&GĐ của nước ta qua các thời kỳ khác nhau vẫn bảo đảm được bản chất thống nhất là tình trạng trầm trọng của mâu thuẫn vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được Quy định căn cứ ly hôn như vậy vừa đảm bảo việc giải quyết

ly hôn chính xác, khách quan, vừa bảo vệ được quyền lợi cho các bên

Trang 12

10

Theo đó có thể thấy rằng, căn cứ ly hôn là những cơ sở, lập luận dựa trên những biểu hiện mang tính khách quan của một mối quan hệ hôn nhân mà dựa vào

đó, trên cơ sở yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên vợ chồng, Tòa án ra quyết định

công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án xét xử cho ly hôn Hay “căn cứ ly hôn là

những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật, chỉ khi có những tình tiết

1.2 CƠ SỞ ĐỂ QUY ĐỊNH CĂN CỨ LY HÔN TRONG PHÁP LUẬT

Hệ thống pháp luật HN&GĐ của nhà nước ta được phát triển, hoàn thiện dần theo thời gian; thể hiện qua nhiều văn bản luật có hiệu lực pháp lý cao như Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 và hiện nay

là Luật HN&GĐ năm 2014 Quy định về căn cứ ly hôn trong Luật HN&GĐ cũng được thay đổi để phù hợp hơn với tình hình thực tế, là cơ sở pháp lý quan trọng trong quá trình giải quyết ly hôn của Tòa án Việc quy định căn cứ ly hôn dựa trên một số cơ sở sau:

* Cơ sở để quy định căn cứ ly hôn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thể hiện quyền tự do kết hôn nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng Quyền tự do ly hôn được thực hiện khi hôn nhân “đã chết”, sự tồn tại của nó chỉ là

bề ngoài lừa dối Đương nhiên, chỉ có bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc sống hôn nhân này đã “chết” hay chưa, không phải do ý chí của nhà lập pháp

và cũng không phải sự tùy tiện của các cá nhân Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện bản chất của mối quan hệ, những trường hợp nào về mặt pháp lý hôn nhân được coi là sự tan vỡ Có nghĩa về thực chất hôn nhân tự nó đã tan vỡ và

9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), tlđd 4, tr.383

Trang 13

vợ và chồng, giữa các con trong gia đình cũng được duy trì như bản chất của xã hội phong kiến “trọng nam, khinh nữ” Pháp luật bảo đảm thực hiện quyền yêu cầu

ly hôn và căn cứ ly hôn thường chỉ thuộc về người chồng Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật thời Nhà Lê) và Bộ luật Gia Long (thời nhà Nguyễn) là hai đạo luật của xã hội phong kiến ở Việt Nam (được khảo cứu còn nguyên vẹn cho đến ngày nay), khi quy định về căn cứ ly hôn đã dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng; đặc biệt là

“tội”, “lỗi” của người vợ 10

Như vậy, pháp luật phong kiến đề cao bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông, trách nhiệm của người đàn ông Do đó, pháp luật thời kỳ phong kiến mang đậm tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, từ đó gây ra sự bất bình đẳng trong vấn đề ly hôn Căn cứ ly hôn trên cơ sở đạo đức Nho giáo, đặt ra đối với người đàn ông với vai trò gia trưởng trong gia đình

10 Nguyễn Văn Cừ (2020), Căn cứ ly hôn trong pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11(411), Kỳ I

tháng 6/2020, tr.38-39

Trang 14

12

Tới thời kỳ đất nước bị thực dân đế quốc chiếm đóng, sự giao thoa văn hóa giữa phương Đông và phương Tây đã làm cho sắc thái văn hóa ngoại lai xuất hiện trong xã hội Việt Nam và ảnh hưởng tới từng quy định pháp lý Ba BLDS được ban hành áp dụng ở ba miền (vùng) khác nhau (BLDS Bắc Kỳ năm 1931, BLDS Trung Kỳ năm 1936 và Tập dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883) Về căn cứ ly hôn, cả

ba văn bản luật này cùng với quan niệm coi hôn nhân như là một “hợp đồng”, một

“khế ước” do hai bên nam, nữ thỏa thuận xác lập để chung sống trong quan hệ vợ chồng Vì vậy, nội dung của căn cứ ly hôn cũng dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hoặc lỗi chung của hai vợ chồng dẫn tới cuộc sống chung của vợ chồng không thể tiếp tục 11 Các quy định về ly hôn của thời kỳ này đã dần hạn chế được tư tưởng trọng nam khinh nữ, pháp luật có xu hướng thể hiện sự bình đẳng của vợ chồng về

ly hôn và căn cứ ly hôn Luật cho phép tự do ly hôn dựa trên cơ sở “lỗi” của vợ, chồng hoặc lỗi chung của cả hai Tuy nhiên sự công nhận đó cũng rất mờ nhạt bởi

tư tưởng phong kiến với chế độ gia trưởng đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Việt Nam lúc bấy giờ

Khi tới thời kỳ xã hội chủ nghĩa, kinh tế phát triển, vị thế của người phụ nữ từ đó ngày càng được nâng cao Các quy định của pháp luật về ly hôn nói chung và căn cứ ly hôn nói riêng có sự quy định cụ thể, rõ ràng hơn, bình đẳng hơn giữa vợ

và chồng, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên Hôn nhân, trong đó có chế định ly hôn được xây dựng dựa trên các giá trị nhân văn của văn hóa – hôn nhân tiến bộ, tự nguyện và bình đẳng Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000 được xây dựng và thực hiện trên cơ sở kế thừa các nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ từ Luật HN&GĐ năm 1959 Nội dung của hai văn bản luật này có nhiều quy định

mới so với Luật HN&GĐ năm 1959 để phù hợp với cơ sở kinh tế của xã hội “Trong

đó, về căn cứ ly hôn, cả hai văn bản luật này vẫn dự liệu giống với Luật HN&GĐ năm 1959, với nội dung pháp lý của căn cứ ly hôn đều không dựa trên cơ sở “lỗi”

11 Nguyễn Văn Cừ (2020) , tlđd10, tr.39

Trang 15

13

thừa và phát triển các văn bản luật trước đó, Luật HN&GĐ năm 2014 hiện hành tiếp tục ghi nhận và bảo hộ quyền tự do hôn nhân của cá nhân, trong đó có quyền tự do ly hôn của vợ chồng

* Căn cứ ly hôn được quy định dựa trên thực trạng quan hệ vợ chồng

hoặc yếu tố “lỗi” của vợ chồng

Quan hệ hôn nhân là quan hệ tình cảm, việc xác lập hoặc chấm dứt hôn nhân đều xuất phát từ tình cảm tự nguyện của vợ chồng Khi vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống thì sẽ dẫn tới mong muốn phá bỏ hôn nhân

Sắc lệnh số 159/SL quy định căn cứ ly hôn vẫn dựa trên cơ sở “lỗi” của vợ chồng Luật HN&GĐ năm 1959 (Điều 26), Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 40), Luật HN&GĐ năm 2000 (Điều 89) và Luật HN&GĐ năm 2014 (Điều 55 và Điều 56) đã quy định căn cứ ly hôn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin đó là dựa vào bản chất mối quan hệ hôn nhân đã tan vỡ Luật HN&GĐ Việt Nam trước đây không quy định những căn cứ ly hôn riêng biệt mà quy định căn cứ ly hôn chung nhất, dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ Nhưng Luật HN&GĐ năm

2014 đã có sự thay đổi đó là lồng ghép quy định về căn cứ ly hôn vào quy định các trường hợp thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên

Quy định căn cứ ly hôn dựa vào yếu tố “lỗi” có ưu điểm là xác định căn cứ

ly hôn một cách chính xác, cụ thể, rõ ràng Tuy nhiên việc quy định này có hạn chế

là “lỗi” của vợ chồng chỉ phản ánh được một khía cạnh của quan hệ hôn nhân và chưa phản ảnh được tổng thể bản chất mối quan hệ

Việc quy định căn cứ ly hôn dựa vào thực trạng quan hệ hôn nhân có ưu điểm

là đảm bảo việc giải quyết ly hôn dựa trên cơ sở thực chất quan hệ vợ chồng, đảm bảo được lợi ích của vợ chồng, con cái Điều này giúp việc nhìn nhận, đánh giá và

12 Nguyễn Văn Cừ (2020) , tlđd10, tr.42

Trang 16

1.3 CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỨ BA YÊU CẦU 1.3.1 Khái niệm người thứ ba

Bên cạnh hai chủ thể chính trong quan hệ hôn nhân là vợ và chồng đương nhiên có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn thì pháp luật hiện hành đã có sự thay đổi khi mở rộng đối tượng có quyền này

Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung chủ thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc

ly hôn mà chưa từng được ghi nhận trong các Luật HN&GĐ trước đây Dựa vào quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 có các chủ thể mới được bổ

sung yêu cầu ly hôn là: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án

giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác

mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015: “…Đối với việc ly

hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện”

Luật chưa có quy định cụ thể về việc cha, mẹ có thể yêu cầu giải quyết ly hôn trong trường hợp trên là những ai Tuy nhiên theo quy định trên của pháp luật

Trang 17

15

HN&GĐ hiện nay thì có thể hiểu cha, mẹ của cả hai bên vợ chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn Bởi trong Điều 51 không quy định cụ thể là bố

mẹ của bên nào có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết; đồng thời, việc này nhằm bảo

vệ quyền lợi của con cái họ cũng như sự yên ấm trong gia đình

Ngoài cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn thì những người thân thích cũng có quyền tương tự Khái niệm người thân thích trong Luật

HN&GĐ 2014 được quy định tại khoản 19 Điều 3: “Người thân thích là người có

quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời” Như vậy, người thân thích bao gồm những đối tượng sau:

- Người có quan hệ hôn nhân: Vợ hoặc chồng

- Người có quan hệ nuôi dưỡng: Cha, mẹ, ông, bà

- Người có cùng dòng máu về trực hệ: Những người có quan hệ huyết thống,

trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau13, cụ thể là ông, bà, cha,

mẹ, con ruột

- Và người có họ trong phạm vi ba đời: Cha mẹ là đời thứ nhất; anh, ᴄhị, em ᴄùng ᴄha mẹ, ᴄùng ᴄha kháᴄ mẹ, ᴄùng mẹ kháᴄ ᴄha là đời thứ hai; anh, ᴄhị,

em ᴄon ᴄhú, ᴄon báᴄ, ᴄon ᴄô, ᴄon ᴄậu, ᴄon dì là đời thứ ba14

Những người thay vợ chồng yêu cầu ly hôn cần phải có năng lực hành vi dân

sự theo quy định của BLDS năm 2015: “Năng lực hành vi dân sự là khả năng của

cá nhân bằng năng lực hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Đồng thời, khoản 3 Điều 57 BLDS năm 2015 quy định đương sự là người từ

đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, trừ người mất năng lực hành

vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Như vậy, theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 người thứ ba có quyền yêu cầu ly hôn là cha, mẹ và người thân thích khác (ông, bà, con ruột; anh/ chị/ em cùng cha mẹ; anh/ chị/ em cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha khác mẹ; anh/chị/em

13 Khoản 17 Điều 3 Luật Hôn nhân ᴠà Gia đình năm 2014

14 Khoản 18 Điều 3 Luật Hôn nhân ᴠà Gia đình năm 2014

Trang 18

16

họ con chú, bác, cậu, cô, dì) của hai bên vợ chồng, với điều kiện người này có đủ năng lực hành vi dân sự

1.3.2 Các trường hợp người thứ ba yêu cầu ly hôn

Theo quy định của Luật HN&GĐ hiện hành, người thứ ba có thể yêu cầu giải quyết ly hôn khi có các căn cứ như sau:

- Một bên vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình với vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành

vi của mình (theo khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014)

- Vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia (theo khoản 3 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014)

Khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định về

hành vi bạo lực gia đình như sau: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên

gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” Hành vi bạo lực gia đình là hành vi cố ý của

vợ hoặc chồng với mục đích làm tổn thương đến người còn lại Như vậy, vợ hoặc chồng khi thực hiện những hành vi bạo lực gia đình ý thức được rõ ràng hành vi của mình có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với người còn lại

Do tính chất đặc biệt của chủ thể yêu cầu ly hôn trong trường hợp này nên khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định bên vợ, chồng là nạn nhân của bạo lực gia đình đồng thời phải bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể

nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình Quy định “một bên vợ, chồng bị

bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình” cũng chính là điều kiện để tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân

sự Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 BLDS năm 2015 quy định về cá nhân mất

năng lực hành vi dân sự như sau: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc

Trang 19

17

bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần” Theo đó, một người không thể nhận thức và làm

chủ hành vi chỉ được xác định là mất năng lực hành vi dân sự khi có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự Nói cách khác, về mặt pháp

lý, người vợ, chồng là nạn nhân của bạo lực gia đình có thể là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc cũng có thể chưa bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự nhưng thực tế đang bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi Thông thường người bị tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình là trường hợp sẽ bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án Vậy, trường hợp cha, mẹ người thân thích của người chồng hoặc vợ bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình yêu cầu giải quyết ly hôn, sau khi được thụ lý, Tòa án sẽ xem xét có cần tuyên bố người này bị mất năng lực hành vi dân sự hay không

Như vậy, chỉ có một trường hợp duy nhất mà người thứ ba có thể yêu cầu ly hôn đó là: Vợ (chồng) có những hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của bên chồng (vợ) bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình

1.3.3 Ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba

yêu cầu

Quy định căn cứ ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2014 đã khắc phục được một phần thiếu sót của những văn bản luật HN&GĐ trước về chế định ly hôn Đây là một quy định cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, thể hiện ở một số điểm sau:

Trang 20

18

Thứ nhất, căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu là cơ sở pháp

lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết việc ly hôn của vợ chồng khi có yêu cầu

Quyền tự do ly hôn chính đáng được nhà nước đảm bảo nhưng Tòa án chỉ giải quyết ly hôn khi xét thấy việc ly hôn là cần thiết, mối quan hệ hôn nhân không thể duy trì được Trong trường hợp quan hệ hôn nhân của vợ chồng không đủ căn

cứ để ra quyết định hay bản án ly hôn thì Tòa án sẽ không thể công nhận ly hôn cho

vợ chồng Lý do phải kiểm soát việc giải quyết ly hôn là vì quan hệ hôn nhân không chỉ ảnh hưởng tới quyền lợi riêng tư của vợ chồng, gia đình mà còn ảnh hưởng tới lợi ích chung của nhà nước và toàn xã hội Do đó, nhà nước chỉ giải quyết ly hôn khi có đủ những căn cứ theo quy định của pháp luật, và chỉ chấm dứt hôn nhân khi thực sự cần thiết

Thứ hai, quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu để bảo đảm việc giải quyết ly hôn được thực hiện một cách khách quan, chính xác, không tùy tiện

Quyền yêu cầu ly hôn vốn là quyền của vợ chồng, tuy nhiên thông qua sự sửa đổi, bổ sung của Luật HN&GĐ năm 2014 thì đối tượng có quyền này được mở rộng Theo đó, cha mẹ hoặc người thân thích khác của vợ, chồng cũng có thể yêu cầu ly hôn trong trường hợp đặc biệt mà pháp luật quy định Nhóm người thứ ba có quyền yêu cầu ly hôn không phải là chủ thể của mối quan hệ hôn nhân, nên khả năng đánh giá bản chất của mối quan hệ sẽ chưa thực sự chính xác Bởi lẽ đó, Tòa

án cần phải xem xét kĩ lưỡng về tình trạng sức khỏe, tinh thần của vợ chồng; về sự mâu thuẫn, tổn thương của quan hệ hôn nhân; từ đó mới cho thấy việc ly hôn là cần thiết và nên để người thứ ba đứng ra yêu cầu giải quyết ly hôn thay cho họ

Thứ ba, quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu giúp bảo đảm quyền tự do ly hôn của các bên đương sự

Trang 21

19

Quy định này đã tháo gỡ vướng mắc trong trường hợp muốn xin ly hôn thay cho người thân bị mất năng lực hành vi mà không thực hiện được, bởi lẽ trước đây Luật HN&GĐ chỉ quy định việc ly hôn phải do chính đương sự (vợ hoặc chồng) yêu cầu, trong khi họ lại bị mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi tố tụng dân sự để yêu cầu ly hôn Theo đó quy định này đã bảo đảm sự công bằng về quyền ly hôn, giúp giải thoát sự bế tắc trong đời sống hôn nhân của cả hai

vợ chồng, đặc biệt là đối với bên vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức và làm chủ hành vi

Thứ tư, quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu giúp bảo vệ “bên yếu thế” trong quan hệ hôn nhân

Nếu trong trường hợp hôn nhân có mâu thuẫn, xung đột, thậm chí xuất hiện hành vi bạo lực nhưng một bên vợ, chồng lại không đủ điều kiện để yêu cầu phá bỏ hôn nhân thì họ sẽ liên tục phải chịu những tổn thương về sức khỏe, tinh thần và kinh tế Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của

họ Việc quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu được coi như là một biện pháp bảo vệ của pháp luật đối với những người vợ, chồng không

có đủ điều kiện để tự thoát khỏi tình trạng trầm trọng của hôn nhân; là cơ sở để cha

mẹ cũng như những người thân thích khác bảo đảm sự an toàn, hạnh phúc cho con cái của mình

Thứ năm, căn cứ ly hôn giúp cho vợ chồng nhận thức rõ hơn về việc có thể tiếp tục duy trì hôn nhân nữa hay không, góp phần điều chỉnh hành vi xử sự của vợ chồng

Đây là biện pháp để củng cố quan hệ gia đình, bảo vệ cuộc hôn nhân đã được xác lập trong trường hợp vợ chồng vẫn còn tình cảm và cảm thấy có thể tiếp tục chung sống

Trang 22

sở cho Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc ra bản án ly hôn

Căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu là một điểm sáng trong Luật HN&GĐ năm 2014 có ý nghĩa quan trọng, quy định này góp phần giải quyết những bất cập của Luật HN&GĐ trước đó, thể hiện cái nhìn toàn diện hơn của các nhà lập pháp trước sự phát triển xã hội Tuy nhiên, căn cứ ly hôn trong trường hợp người thứ ba yêu cầu có sự giới hạn về đối tượng có quyền yêu cầu ly hôn và trường hợp áp dụng do đây là một quy định đặc biệt

Trang 23

Khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải

quyết ly hôn như sau: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án

giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác

mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”

Khoản 3 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về giải quyết ly hôn theo yêu cầu của cha mẹ, người thân thích khác đã dẫn chiếu đến Khoản 2 Điều 51, cụ

thể: “Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của

Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành

vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia”

Theo quy định trên, người thứ ba có thể yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thay cho vợ, chồng khi thỏa mãn các điều kiện như sau:

Điều kiện thứ nhất, một bên vợ chồng không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác

Bệnh tâm thần là bệnh do rối loạn hoạt động não bộ gây nên những biến đổi bất thường về lời nói, ý tưởng, hành vi, tác phong, tình cảm Bệnh tâm thần điển hình bao gồm trầm cảm, rối loạn lo âu, tâm thần phân liệt, rối loạn ăn uống và hành

vi gây nghiện Trường hợp mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi là trường hợp vợ hoặc chồng không thể nhận thức, làm chủ hành vi, làm

Trang 24

Khoản 1 Điều 22 BLDS năm 2015 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm

thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên

tối cao ngày 07 tháng 4 năm 2017 của TAND tối cao về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ, có tình huống đặt ra vấn đề: Trong vụ án dân sự, đương sự có dấu hiệu tâm thần nhưng chưa có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực

hành vi dân sự Tòa án giải quyết như thế nào? TAND tối cao giải đáp rằng “khi có

chủ thể cho rằng một người là đương sự trong vụ án mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án phải giải thích, hướng dẫn để họ thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố người

đó mất năng lực hành vi dân sự ;trường hợp họ có yêu cầu và Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu này thì Tòa án áp dụng điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015 để tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; trường hợp họ không yêu cầu thì Tòa án giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục chung” Theo đó, khi chủ thể thứ ba

có yêu cầu ly hôn với người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi, thì người khởi kiện phải giao nộp cho Tòa án bằng chứng để chứng minh vợ (chồng) đang trong tình trạng như vậy Các tài liệu

bao gồm: Một là, hồ sơ bệnh án có xác nhận của bệnh viện nơi bệnh nhân điều trị;

Hai là, bản kết luận giám định tư pháp của tổ chức giám định tư pháp có thẩm quyền

theo quy đinh tại khoản 3 Điều 12 của Luật Giám định tư pháp hiện hành 15

15 Trần Thị Minh (2015), “Ly hôn, căn cứ giải quyết cho ly hôn trong pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ I tháng 10/2015 số 19, tr.11

Trang 25

23

Như vậy, theo nguyên tắc người vợ (chồng) không thể nhận thức và làm chủ hành vi phải được Tòa án ra quyết định tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự để đảm bảo có người giám hộ tham gia tố tụng tại Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ Thông thường, theo quy định tại khoản 1 Điều 53 BLTTDS năm 2015 và khoản 3 Điều 24 Luật HN&GĐ năm 2014, vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì người còn lại sẽ được xác định là người giám hộ đương nhiên Khi thực hiện các giao dịch dân sự hoặc tham gia tố tụng tại Tòa án với một chủ thể thứ ba thì người giám hộ đại diện và thay mặt họ để thực hiện Tuy nhiên, người vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trong vụ án ly hôn xung đột về lợi ích, xung đột về quyền và nghĩa vụ nên không đủ điều kiện là người giám hộ, khi đó Tòa án sẽ chỉ định người khác giám

hộ để đại diện cho người bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự tham gia tố tụng thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích của họ 16 Cha, mẹ hoặc người thân thích khác là những đối tượng có thể được chỉ định đại diện cho con, cháu của họ - là người vợ (chồng) bị mất năng lực hành vi dân sự để tham gia tố tụng thực hiện yêu cầu ly hôn, bởi việc chỉ định những chủ thể này sẽ phù hợp với quy định người có quyền yêu cầu ly hôn tại khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ

Theo đó, có thể rút ra trình tự giải quyết yêu cầu ly hôn khi một bên đương sự mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác khiến họ không thể nhận thức và làm chủ hành vi như sau:

- Một là: Nguyên đơn sẽ yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực

hành vi dân sự theo quy định của Điều 319 BLTTDS Trong thời hạn chuẩn

bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của người yêu cầu, Tòa án có thể trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Khi nhận được kết luận, Tòa án phải ra quyết định mở phiên

16 Trương Thanh Hòa (2018), “Ly hôn một bên bị bệnh tâm thần hoặc có dấu hiệu bị bệnh tâm thần”, Tạp chí điện

tử Tòa án nhân dân, ngày truy cập 19/3/2022: tam-than-hoac-co-dau-hieu-bi-benh-tam-than

Trang 26

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ly-hon-mot-ben-bi-benh-24

họp để xét đơn yêu cầu Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án phải

ra quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, đó là chứng

cứ để khởi kiện vụ án ly hôn với người tâm thần 17

- Hai là: Khi có yêu cầu xin ly hôn với người tâm thần (mất năng lực hành vi

dân sự) thì Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ cho bị đơn theo quy định tại các Điều 58, 60, 62 và 63 của BLDS Khi có đủ các trình tự trên, Tòa án giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung

Điều kiện thứ hai, người bị tâm thần hoặc người mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần

“Nạn nhân của bạo lực gia đình được hiểu là người phải chịu đựng những

đình căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 1 Luật phòng chống bạo lực gia đình

năm 2007 như đã nêu ở tiểu mục 1.3.2 Bạo lực gia đình tồn tại dưới nhiều hình

thức khác nhau như bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, về kinh tế… Dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào thì bạo lực gia đình đều gây ra những hậu quả đối với người phải gánh chịu hành vi bạo lực gia đình 19 Người yêu cầu Tòa án cho ly hôn phải chứng minh có hành vi bạo lực gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người tâm thần, người mắc bệnh khác đến mức không

có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình

17 Điều 376, 377, 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

18 Bùi Thị Mừng (2018), “Bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình”, Tạp chí Luật học Số 8/2018, tr.43-44

19 Bùi Thị Mừng (2018), “Thực tiễn bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật

Số 10/2018, ngày truy cập 20/3/2022:

https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=514

Trang 27

25

Việc xác định vợ, chồng có xảy ra hành vi bạo lực gia đình hay không thì cần căn cứ theo các quy định tại Khoản 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 gồm các hình thức sau:

1 Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;

2 Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

3 Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

4 Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà

và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

8 Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

9 Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở Như vậy, đối tượng tác động của hành vi bạo lực gia đình không chỉ có riêng người vợ hoặc chồng mà còn có thể bao gồm cả các thành viên khác trong gia đình

Tình trạng bạo lực trong gia đình ngày càng gia tăng và thể hiện tính chất nghiêm trọng của nó Hành vi bạo lực chủ yếu là bạo lực về thể chất, đây là dạng

dễ nhận thấy và được lên án mạnh mẽ nhất Bên cạnh đó còn nhiều cách thức bạo lực khác để gây ra những tổn thương về tâm lý như mắng mỏ, chửi bới, xúc phạm danh dự… Bạo lực gia đình mang lại một nỗi đau đặc biệt nghiêm trọng, nó không chỉ gây tổn thương đến sức khỏe, tinh thần, danh dự của người vợ hoặc người chồng

Trang 28

26

mà còn ảnh hưởng đến con cái trong gia đình, vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội Đa phần bạo lực trong gia đình sẽ dẫn đến tình trạng vợ chồng ly hôn, có trường hợp dẫn đến án mạng Việc sử dụng hành vi bạo lực gia đình đối với những người không thể nhận thức, làm chủ được hành vi lại càng đáng bị lên án bởi lẽ những người này có thể sẽ không biết hoặc khó có cách bảo vệ bản thân khỏi sự bạo hành

Hậu quả của hành vi bạo lực gia đình được quy định là “làm ảnh hưởng” thay

vì “gây tổn hại” cho thấy hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần,

lực gia đình có thể là sự tổn hại trực tiếp tới tính mạng, sức khỏe, tinh thần hoặc là sự ảnh hưởng gián tiếp tới tính mạng, sức khỏe, tinh thần của vợ, chồng Ví dụ trường hợp chồng đánh đập vợ thì có gây hậu quả là trực tiếp tổn hại tới tính mạng, sức khỏe của người vợ Đối với trường hợp người chồng đập phá tài sản của người

vợ, hậu quả trực tiếp là tổn hại về kinh tế cho người vợ nhưng cũng có thể ảnh hưởng tới tinh thần của người vợ trong những trường hợp nhất định 20 Như vậy, hành vi bạo lực gia đình của vợ hoặc chồng là nguyên nhân tất yếu dẫn tới hậu quả ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người còn lại

Điều kiện thứ ba, về chủ thể thực hiện quyền ly hôn cho người tâm thần hoặc người mắc bệnh khác đến mức không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành

vi của mình: là cha mẹ của họ, người thân thích của họ theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014

Theo đó, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu Tòa

án giải quyết ly hôn như trước đây thì kể từ khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực pháp luật, cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính

20 Nguyễn Hà Thư (2018), tlđd 8 , tr.57

Ngày đăng: 08/08/2023, 23:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2006
6. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2015), Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Năm: 2015
10. Nông Thị Nhung (2014), Căn cứ ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Nông Thị Nhung
Năm: 2014
11. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa (2021), “Báo cáo thành tích của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa năm 2021” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thành tích của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa năm 2021
Năm: 2021
12. Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2021
13. Nguyễn Hà Thư (2018), Căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hà Thư
Năm: 2018
14. Nguyễn Thị Thơm (2015), “Căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014
Tác giả: Nguyễn Thị Thơm
Năm: 2015
15. Nguyễn Thị Thủy (2013), Tòa án nhân dân tối cao với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án nhân dân tối cao với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy
Năm: 2013
16. Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Nxb. Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb. Từ điển Bách Khoa
Năm: 2006
7. Trần Thị Minh (2015), “Ly hôn, căn cứ giải quyết cho ly hôn trong pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ I tháng 10/2015 số 19 Khác
8. Bùi Thị Mừng (2018), “Bảo vệ quyền của nạn nhân bạo lực gia đình”, Tạp chí Luật học Số 8/2018 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w