viÖn ®¹i häc më hµ néi VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA LUẬT KINH TẾ TIỂU LUẬN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Đề tài HIỆP ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA WTO VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TRONG LĨNH[.]
Trang 1TIỂU LUẬN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Đề tài:
HIỆP ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI THƯƠNG MẠI DỊCH
VỤ CỦA WTO VÀ NHỮNG THÁCH THỨC TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Sinh viên thực hiện: PHẠM QUANG THẮNG
Lớp : LUẬT KINH TẾ KHÓA 2
Địa điểm : TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN ĐÔNG ANH
Hà Nội 05 - 2007
Trang 2Trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh
tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu Cơ cấu kinh tế đã từng bước dịchchuyển theo hướng hợp lý, tích cực, tăng dần tỷ tọng công nghiệp và dịch vụ
Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: "Phát triển nhanh du
lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính - viễn thông, thương mại, vận tải, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, công nghiệp, pháp lý, thông tin… và các dịch vụ phục vụ cuộc sống nhân dân Từng bước đưa nước
ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại - dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực".
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế khu vực, nước ta đã từng bướcthực hiện cam kết hợp tác về dịch vụ trong khuôn khổ khối ASEAN Năm
1994, Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO
Trong quá trình 11 năm, Việt Nam đã vượt qua các đàm phán với WTOcũng như đàm phán song phương với tất cả các thành viên của tổ chức này.Đến cuối tháng 11/2006 thì toàn bộ các văn kiện thỏa thuận được thống nhất
Trang 3Lễ ký kết văn kiện thỏa thuận đã được tổ chức ngày 7/11/2006 tại Geneva.Ngày 12/12 tại Geneva, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tuyên
bố Việt Nam sẽ chính thức trở thành thành viên thứ 150 vào ngày 11/2007.Đây chính là thời điểm các nội dung thỏa thuận bắt đầu có hiệu lực
Năm 1998, Việt Nam trở thành viên chính thức của Diễn đàn hợp táckinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC)
Sau tám năm là thành viên của tổ chức APEC, Việt Nam đã tổ chứcthành công tuần lễ cao cấp diễn ra từ 12/11-19/2006 tại Hà Nội
Tháng 7/2000, Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký Hiệp định thương mại Việt
-Mỹ, trong đó nội dung mở cửa thị trường dịch vụ về cơ bản phù hợp vớinguyên tắc, luật lệ của WTO Ngày 9/12 toàn thể Hạ viện Mỹ thông qua Quychế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam
Tuy nhiên, các ngành dịch vụ nước ra xét tổng thể vẫn ở trình độ pháttriển thấp, thương mại dịch vụ chủ yếu là quy mô nhỏ, nhiều tiềm năng dịch
vụ chưa thực sự đồng bộ, chưa đầy đủ, nhiều quy định hiện hành còn bất cậpvới nguyên tắc của WTO Hơn nữa, khu vực dịch vụ có những đặc thù riêngbởi tính chất nhạy cảm với vấn đề chủ quyền, an ninh quốc gia và bản sắc vănhóa dân tộc; tính chất đa dạng của các loại hình dịch vụ Chính vì vậy, hộinhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ nói chung, gia nhập GATS nóiriêng một mặt tạo cho nước ta cơ hội để phát triển, nhưng mặt khác cũng đặt
ra nhiều thách thức, khó khăn, mà một trong những thách thức lớn là phảithích ứng chính sách, khó khăn, mà một tỏng những thách thức lớn là phảithích ứng chính sách, pháp luật về thương mại dịch vụ với quy định củaGATS
Xuất phát từ thực tế đó, em đã chọn vấn đề "Hiệp định của Tổ chứcthương mại thế giới về thm dịch vụ của WTO và những thách thức trong lĩnhvực dịch vụ khi Việt Nam gia nhập WTO" làm đề tài cho tiểu luận của mình
Trang 4Trên cơ sở phân tích các quy định của WTO về thương mại dịch vụ, xem xétthực trạng pháp luật về thương mại dịch vụ ở Việt Nam hiện nay Tiểu luậnxin đề xuất một số giải pháp mà Việt Nam cần thực hiện để thích ứng vớiquy định của WTO về thương mại dịch vụ.
CHƯƠNG I NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH CHUNG
VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA WTO
Đầu thập kỷ 70, do sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại và sựđiều chỉnh mang tính toàn cầu về kết cấu công nghiệp, lợi thế so sánh của cácnước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Mỹ chuyển từ các ngành công nghiệptruyền thống sang ngành dịch vụ và có xu hướng xuất siêu lớn trong thươngmại dịch vụ Chính vì vậy, ngay tại vòng đàm phán Tokyo (1973 - 1979)trong khuôn khổ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Mỹ
đã đề nghị đưa vấn đề thương mại dịch vụ vào nội dung đàm phán Uỷ banhợp và phát triển kinh tế thuộc Liên hợp quốc đã căn cứ vào để nghị nàyquyết định bắt đầu nghiên cứu thí điểm loại bỏ các trở ngại thương mại tronglĩnh vực dịch vụ kỹ thuật công trình xây dựng, ngân hàng, vận tải và bảohiểm Sau nhiều thảo luận, các nước phát triển quyết định đưa vấn đề thươngmại dịch vụ vào nội dung đàm phán tại Vòng đàm phán Urygoay (1986 -1995) Xuất phát từ lợi ích kinh tế của mình, các nước đang phát triển lúc đầukhông đồng ý đàm phán về thương mại dịch vụ Tuy nhiên, do sức ép từ phíacác nước phát triển nên họ đã chấp nhận đàm phán với điều kiện phải táchđàm phán thương mại dịch vụ ra khỏi đàm phán thương mại hàng hóa
Trong quá trình đàm phán tại vòng Urugoay, mục tiêu của các nước pháttriển là định ra một hệ thống quy tắc quốc tế về thương mại dịch vụ, theo đó
dỡ bỏ hoàn toàn những trở ngại và hạn chế đối với thương mại dịch vụ
Trang 5Ngược lại, các nước đang phát triển rất thận trọng trong đàm phán thương mạidịch vụ Họ e ngại rằng mở cửa thị trường dịch vụ cho các nước phát triển sẽnguy lại tới chủ quyền và an ninh quốc gia, không thực hiện được chính sáchphát triển kinh tế của mình Nhiều ngành dịch vụ ở nước đang phát triển còn
"non trẻ" nên năng lực cạnh tranh không cao, nếu mở cửa hoàn toàn thì cácngành dịch vụ đó tất yếu bị "bóp chết" Vì vậy, lập trường của các nước đangphát triển là từng bước mở cửa thị trường dịch vụ, nhưng bảo hộ hợp lý một
số ngành dịch vụ then chốt như viễn thông, ngân hàng, vận tải
Kết thúc Vòng đàm phán Urugoay, cùng với sự ra đời của WTO thay thếcho GATT, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATT) đã được thôngqua GATT là hiệp định khung mang tính quốc tế đầu tiên điều chỉnh thươngmại dịch vụ Đây cũng là một hiệp định bắt buộc phải tham gia đối với cácnước thành viên của WTO Trong gần 5 năm qua, phải tham gia đối với cácnước thành viên của WTO Trong gần 5 năm qua, các nước thành viên WTO
đã tích cực thỏa thuận, xây dựng và thông qua các quy định mới về thươngmại dịch vụ nhằm hoàn thiện hơn khung pháp lý cho thương mại dịch vụ quốc
tế, đó là Hiệp định về các dịch vụ tài chính và Hiệp định về các dịch vụ viễnthông cơ bản mà được đông đảo các nước thành viên WTO tham gia
Mục tiêu GATS là:
- Thiết lập một khuôn khổ đa biên cho những nguyên tắc và quy tắc củathương mại dịch vụ nhằm mở rộng thương mại trong lĩnh vực này trong điềukiện minh bạch và tự do hóa dần dần trong thương mại và sự phát triển củacác nước đang phát triển
- Đạt được tự do hóa thương mại dịch vụ ở mức ngày càng cao hơnthông qua những vòng đàm phán đa biên liên tiếp nhằm tăng cường lợi íchcủa các bên tham gia trên cơ sở cùng với lợi ích và bảo đảm sự cân bằngchung về quyền và nghĩa vụ, đồng thời tôn trọng các mục tiêu trong chính
Trang 6Nội dung của GATS bao gồm:
- Nguyên tắc và quy định chung
- Các phụ lục
- Danh mục các cam kết cụ thể
1.1 Những nguyên tắc và quy định chung
1.1.1 Phạm vi áp dụng
Phạm vi áp dụng của GATS được quy định tại điều I, theo đó Hiệp định
áp dụng đối với các biện pháp tác động tới thương mại dịch vụ của các nướcthành viên Đó là những biện pháp về:
- Mua, thanh toán hay sử dụng một số dịch vụ:
- Sự tiếp nhận hay sử dụng các dịch vụ gắn liền với việc cung cấp dịch
vụ, các dịch vụ được các thành viên đó yêu cầu phải đưa ra phục vụ côngchúng một cách phổ biến
- Sự hiện diện, bao gồm cả hiện diện thương mại, của những ngườithuộc một thành viên để cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của một thành viênkhác
Tuy nhiên, GATS không được điều chỉnh mọi biện pháp tác động tớithương mại dịch vụ, mà chỉnh những biện pháp tác động tới thương mại dịch
vụ được áp dụng bởi:
- Chính quyền trung ương, khu vực hoặc địa phương: và các cơ quan phichính phủ trong việc thực thi quyền hạn được chính trung ương, khu vực hoặcđịa phương giao cho
Trang 7- Thương mại dịch vụ, theo GATS, được hiểu là sự cung cấp dịch vụtheo 4 phương thức sau đây:
- Cung cấp qua biên giới: Dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một
thành viên khác Ví dụ, dụng cụ viễn thông, vận tải
- Tiêu dùng ở nước ngoài: Dịch vụ được cung cấp trên lãnh thổ của một
thành viên cho người tiêu dùng của một thành viên khác Ví dụ, dịch vụ dulịch
- Hiện diện thương mại: Dịch vụ cung cấp bởi một người cung cấp dịch
vụ của một thành viên thông qua sự hiện diện thể nhân trên lãnh thổ của thànhviên khác Ví dụ, dịch vụ tài chính, bảo hiểm
- Hiện diện của thể nhân: dịch vụ được cung cấp bởi một người cung cấp
dịch vụ của một thành viên thông qua sự hiện diện của thể nhân trên lãnh thổcủa thành viên khác Ví dụ dịch vụ tư vấn, kiểm toán
Như vậy, GATS chỉ điều chỉnh những biện pháp của các nước thànhviên tác động tới thương mại dịch vụ được thể hiện qua bốn phương thứccung cấp dịch vụ nói trên Dịch vụ được cung cấp qua những phương thức đó
là bất kỳ loại dịch vụ nào, ngoại trừ dịch vụ được cung cấp tỏng khi thi hànhthẩm quyền của chính phủ (những dịch vụ được cấp không trên cơ sở thươngmại, hoặc không trên cơ sở cạnh tranh một hoặc nhiều người cung cấp)
1.1.2 Những nguyên tắc điều chỉnh thương mại dịch vụ
a Nguyên tắc tối huệ quốc (Most Favored Natinal Treatment - MFN).Nguyên tắc tối huệ quốc được quy định tại Điều II của GATS với nộidung như sau: Mỗi thành viên phải ngay lập tức và không điều kiện dành chomột dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác sự đãingộ mà thành viên đó đã, đang và sẽ dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch
vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác
Cùng với nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), nguyên tắc tối huệ quốc là
Trang 8nền tảng của thể chế thương mại dịch vụ đa biên Nội dung của nguyên tắcnày yêu cầu mọi nước thành viên phải thực hiện đối xử (ưu đãi hoặc hạn chế)bình đẳng giữa dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của các nước thành viênkhác nhau trên lãnh thổ nước mình.
Theo quy định của GATS, chế độ đối xử tối huệ quốc phải được áp dụngngay lập tức và vô điều kiện Tức là một nước thành viên dành sự đối xửMFN cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của một nước thành viên khácnhững không yêu cầu phải đáp ứng bất kỳ một điều kiện nào Tuy nhiên, chế
độ đối xử tối huệ quốc bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định
Thứ nhất, GATS cho phép các thành viên được miễn trừ đối với xử tối
huệ đối với những biện pháp thông qua đàm phán Các thành viên phải quyđịnh rõ trong Danh mục miễn trừ đối xử tối huệ quốc những biện pháp đượcmiễn trừ và thời hạn miễn trừ Về nguyên tắc, các miễn trừ không được vượtquá thời hạn 10 năm Danh mục miễn trừ tối huệ quốc là bộ phận không thểtách rời của GATS
Thứ hai, các nước thành viên có thể dành cho nước lân cận những thuận
lợi nhằm thúc đẩy thương mại dịch vụ trong phạm vi vùng cận biên Tỏng cáckhu vực tự do hóa mậu dịch cận biên, các nước thành viên có chung đườngbiên giới có thể dành những ưu đãi cho nhau mà không phụ thuộc vào nghãi
vụ thực hiện đối xử tối huệ quốc đã cam kết trong Danh mục cam kết cụ thể
b Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment - NT) và tiếp cận thịtrường:
Nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định tại Điều 17 của GATS, theo
đó những lĩnh vực được ghi trong Danh mục cam kết cụ thể, mỗi thành viêndành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác
sự đãi ngộ không kém sự thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà thành viên đó đã, đang
và sẽ dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của nước mình Sự đối xử
Trang 9không thỏa mãn yêu cầu của nguyên tắc NT là sự đối xử làm cho điều kiệncạnh tranh có lợi hơn cho dịch vụ hay người cung cấp dịch vụ trong nước sovới dịch vụ hay người cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Nguyên tắc MFN được áp dụng ngay lập tức, vô điều kiện mà mọi thànhviên của GATS phải chấp nhận, nhưng có ngoại lệ Khác với nguyên tắcMFN, việc áp dụng đãi ngộ quốc gia không phải là nghĩa vụ chung mà lànghĩa vụ có điều kiện và được đàm phán trong quá trình gia nhập Kết quảđàm phán về mở cửa thị trường và đối xử quốc gia được ghi nhận trong Danhmục cam kết cụ thể
Theo quy định của GATS, các thành viên phải loại bỏ 6 hạn chế sau đâytrong những lĩnh vực có cam kết mở cửa thị trường:
- Các hạn chế về số lượng người cung cấp dịch vụ dưới hình thức hạnngạch
- Độc quyền, toàn diện cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầukinh tế
- Hạn chế về tổng giá trị các giao dịch dịch vụ hoặc tài sản dưới hìnhthức hạn ngạch hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế
- Hạn chế số lượng các hoạt động dịch vụ hoặc số lượng dịch vụ đầu tính
ra theo số lượng đơn vị dưới hình thức hạn ngạch hoặc đáp ứng nhu cầu kinhtế
- Hạn chế số lượng thể nhân có thể được tuyển dụng trong một lĩnh vựcdịch vụ cụ thể hoặc một số người cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng cầnthiết hoặc trực tiếp liên quan tới việc cung cấp một dịch vụ cụ thể dưới hìnhthức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế
- Các hạn chế hoặc yêu cầu các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc liêndoanh thông qua đó người cung cấp dịch vụ có thể cung cấp dịch vụ
- Hạn chế về tỷ lệ góp vốn của bên người ngoài bằng việc quy định giới
Trang 10hạn phần trăm tối đa số cổ phần của bên nước ngoài hoặc tổng giá trị đầu tưnước ngoài tính đơn hoặc tính gộp.
c Nguyên tắc công khai, minh bạch hóa (publicity, transprency)
Mục đích của nguyên tắc công khai, minh bạch hóa là nhằm đảm bảomột môi trường kinh doanh rõ ràng, có thể tiên liệu (predctability), tạo điềukiện thuận lợi cho thương mại và đầu tư phát triển Các thành viên GATSphải đảm bảo tính minh bạch của chính sách, pháp luật, những quy định vềthủ tục, tiêu chí xét duyệt, cơ chế giải quyết khiếu kiện phải rành mạch, rõràng
Nguyên tắc công khai, minh bạch hóa không yêu cầu các thành viên phảicung cấp những thông tin mà việc tiết lộ chúng có thể cản trở việc thi hànhpháp luật, hoặc trái với lợi ích công cộng hoặc phương hại tới quyền lợithương mại hợp pháp của doanh nghiệp nào đó
d Nguyên tắc tự do hóa từng bước:
Việc thừa nhận nguyên tắc tự do hóa từng bước trong GATS là kết quảđấu tranh của các nước đang phát triển trong đàm phán về thương mại dịch vụtại Vòng đàm phán Urygoay Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc này chính là sựkhông đồng bộ nhất về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia.Hơn nữa, hiện tại khoảng cách và trình độ phát triển, xét cả về tổng thể nềnkinh tế cũng như từng lĩnh vực cụ thể, giữa các nước phát triển và đang pháttriển là rất lớn Vì vậy, quá trình tự do hóa thương mại dịch vụ phải được tiếnhành từng bước phù hợp với thực tiễn của mỗi quốc gia
Theo quy định của GATS, "tiến trình tự do hóa được tiến hành với sựquan tâm đúng mức đến mục tiêu chính sách quốc gia và trình độ phát triểncủa mỗi thành viên" Mục tiêu của nguyên tắc này là nhằm đạt được mức độ
tự do hóa thương mại dịch vụ ngày càng cao hơn, hướng tới giảm hoặc loại bỏnhững trở ngại đối với thương mại dịch vụ trên cơ sở cùng có lợi đảm bảo cân
Trang 11bằng tổng thể quyền lợi và nghãi vụ Tiến trình tự do hoá từng bước được đẩymạnh thông qua từng vòng đàm phán (song phương hoặc đa phương) theohướng tăng dần mức độ của cam kết cụ thể.
e Nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước thành viênđang phát triển và hoặc đang trong quá trình chuyển đổi
Tổ chức tiền thân của WTO là GATT đã có những ưu đãi nhất định dànhcho các nước thành viên đang phát triển thông qua qua hệ thống các đối xử vàkhác biệt dành cho các nước thành viên đang phát triển mới khẳng định lànguyên tắc cơ bản điều chỉnh hệ thống thương mại đa biên Nguyên tắc nàykhông chỉ kế thừa những quy định định ưu đãi của GATT về thương mại hànghóa không chỉ dành cho các nước đang phát triển mà còn mở rộng áp dụngcho thương mại dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ Đây là thành quả đấutranh liên tục của các nước đang phát triển qua những phòng đàm phán trongkhuôn khổ của GATT, đặc biệt là Vòng đàm phán Urugoay Bởi vì, một trongnhững nguyên tắc cơ bản trong quan hệ cơ bản trong quan hệ quốc tế nóichung, thương mại quốc tế nói riêng và bình đẳng về cùng có lợi Tuy nhiên,trên thực tế, ưu thế trong thương mại quốc tế thuộc về những nước côngnghiệp phát triển với tiềm lực lớn về công nghệ, tài chính Trong khi đó, bấtlợi thuộc về các nước đang phát triển do khoảng cách lớn về trình độ pháttriển với các nước phát triển Vì vậy, nguyên tắc bình đẳng, không phân biệtđối xử chỉ có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển, nhờ đó thúc đẩy họtham gia vào hệ thống thương mại đa biên, hạn chế phần nào bất lợi và tậndụng được những lợi ích của hệ thống thương mại đa biên
Theo quy định của GATS, nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt dànhcho các nước thành viên đang phát triển thể hiện ở những nội dung sau đây:
Thứ nhát, những cam kết cụ thể đạt được thông qua đàm phán đảm bảo
các nước thành viên đang phát triển tăng cường năng lực cạnh tranh của các
Trang 12ngành dịch vụ, nâng cao khả năng tiếp cận các kênh phân phối và hệ thốngthông tin, đồng thời mở cửa thị trường trong các lĩnh vực và thành viên đangphát triển.
Thứ hai, về đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ, những nước phát triển
phải áp dụng phương thức loại trừ (không mở cửa lĩnh vực nào thì phải liệt kêtrong Danh mục cam kết cụ thể và những lĩnh vực còn lại thì đều phải mởcửa), nhưng các nước đang phát triển được áp dụng phương pháp "chọn cho".Nghĩa là mở cửa lĩnh vực nào thì liệt kê là không cam kết Hơn nữa các thànhviên đang phát triển hướngự linh hoạt thích đáng trong việc mở cửa thị trường
ít lĩnh vực hơn, tự do hóa ít loại hình giao dịch hơn Tuy nhiên, việc chọn lĩnhvực dịch vụ để cam kết không được thực hiện một cách tùy ý mà phải thôngqua đàm phán Thực tế cho thấy các nước phát triển thường gây áp lực để cácnước đang phát triển đưa nhiều lĩnh vực dịch vụ vào cam kết mở cửa thịtrường
Thứ ba, trong thời hạn 2 năm kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực,
các nước thành viên phát triển và các thành viên khác, tùy theo khả năng, sẽlập những điểm liên lạc để tạo điều kiện cho những cung cấp dịch vụ của cácnước thành viên đang phát triển tiếp cận hệ thốngông tin về thị trường củanước đó
Việc ghi nhận sự đối xử ưu đãi dành cho các nước đang phát triển trongcác hiệp định của WTO nói chung, GATS nói riêng thể hiện sự tiến bộ trongthương mại quốc tế hiện nay Tuy nhiên, phần lớn những ưu đãi được quyđịnh chỉ mang tính định hướng, thiếu tính cụ thể và khả thi Chẳng hạn như
Điều 19 của GATS quy định: "Sự linh hoạt thích đáng cho các thành viên
đang phát triển trong việc mở cửa thị trường với ít lĩnh vực hơn, tự do hóa ítloại hình giao dịch…" Những ưu đãi nhìn chung vẫn chưa phản ánh đúngkhoảng cách lớn về trình độ phát triển giữa các nước thành viên phát triển và
Trang 13đang phát triển Ví dụ, Hiệp định dịch vụ viễn thông cơ bản cho phép cácnước có thu nhập thấp kéo dài thêm 6 năm so với các nước phát triển trongviệc mở thị trường dịch vụ viễn thông, nhưng thực tế các nước đólạc hậu hơncác nước phát triển trong lĩnh vực này từ 20 đến 30 năm.
1.1.3 Quy định về sợ công nhận
GATS cho phép các nước thành viên được quy định cấp phép đối vớiviệc cung cấp dịch vụ trong những lĩnh vực cam kết cụ thể nhưng những yêucầu về chuyên môn, thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật để được cấp phép không tạothành những trở ngại cho thương mại dịch vụ Những yêu cầu như vậy phảiđảm bảo: (i) dựa trên những tiêu thức khách quan và minh bạch, như năng lực
và khả năng cung cấp (ii) không rườm rà hơn mức cần thiết để đảm bảo chấtlượng dịch vụ; (iii) trong trường hợp có thủ tục cấp phép, không trở thành hạnchế cung cấp dịch vụ
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấp phép cho người cung cấp dịch vụnước ngoai, một thành viên có thể công nhận giấy phép hoặc chứng chỉ domột nước thành viên khác cấp là đáp ứng toàn bộ hoặc một phần những yêucầu cấp phép của nước mình Khi áp dụng các tiêu chuẩn, tiêu thức để đượccấp phép hoặc chứng nhận người cung cấp dịch vụ, nước thành viên sẽ không
sử dụng sự công nhận để tạo ra sự phân biệt đối xử hoặc hạn chế trá hình đốivới thương mại dịch vụ Việc công nhận giấy phép hoặc chứng chỉ do mộtnướ thành viên khác cấp có thể tiến hành trên cơ sở một hiệp định hoặc thỏathuận với nước có liên quan hoặc mặc nhiên công nhận Nếu giữa một sốnước thành viên đang, hoặc sẽ có hiệp định về sự công nhận như trên, thì phảitạo điều kiện cho các nước thành viên khác được đàm phán gia nhập hiệpđịnh đó Các nước thành viên phải thông báo cho Hội đồng thương mại dịch
vụ về những biện pháp công nhận hiện hành và những biện pháp công nhậnmới dự định áp dụng, những hiệp định về công nhận mình đang hoặc sẽ tham