BỘ NỘI VỤ ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA LÊ THỊ PHÚ VÂN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TẠI VIỆN NĂNG LƯỢNG N
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
/……… BỘ NỘI VỤ ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ PHÚ VÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TẠI VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
/……… BỘ NỘI VỤ ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ PHÚ VÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TẠI VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRỊNH ĐỨC HƯNG
ĐẮK LẮK, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trịnh Đức Hưng
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Đắk Lắk, ngày 15 tháng 6 năm 2017
T C GIẢ
Lê Thị Phú Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Trịnh Đức Hưng đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia đã truyền đạt những kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn cho tôi trong quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, đồng nghiệp đang công tác tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và Cục Năng lượng nguyên tử đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thu thập tài liệu, đây là những căn cứ quan trọng để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, tôi cũng gặp những khó khăn nhất định về năng lực và sự hiểu biết của bản thân cũng như thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được những góp ý của các nhà khoa học, các giảng viên và các đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PH T
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG
LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
1.1 Phát triển nguồn nhân lực khoa học trong lĩnh vực năng lượng
nguyên tử… 10 1.2 1.2 Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ
năng lượng nguyên tử……… 16 1.4 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới……… 35
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG
LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ TẠI VIỆN NĂNG
LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
2.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Viện Năng lượng
nguyên tử Việt Nam……… 43 2.2 Thực trạng nguồn nhân lực khoa học công nghệ tại Viện Năng
lượng nguyên tử Việt Nam……… 49 2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực
khoa học công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử tại Viện Năng
lượng nguyên tử Việt Nam……… 58
Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
PH T TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG
Trang 6NGHỆ TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ TẠI
VIỆN NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực
khoa học công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử……… 70 3.2 Giải pháp quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học
công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử tại Viện Năng lượng
nguyên tử Việt Nam……… 79
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC C C KÝ HIỆU, C C CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ KH&CN Bộ Khoa học và Công nghệ ĐHN Điện hạt nhân
EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam IAEA Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế KHCN Khoa học Công nghệ
LPƯHN Đà Lạt Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt NLTN Năng lượng nguyên tử
NM ĐHN Nhà máy điện hạt nhân NNL Nguồn nhân lực
QLNN Quản lý nhà nước
Tổ chức R&D Tổ chức nghiên cứu và triển khai
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên hiệp quốc Viện NLNT VN Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp nhân lực NLNT hiện có của Viện NLNT VN
(trong biên chế)
49
Bảng 2.2 Tổng hợp nhân lực hoạt động trong lĩnh vực NLNT tại Viện NLNT VN
50
Bảng 2.3 Tổng hợp số cán bộ nghỉ hưu ở các đơn vị trực thuộc
Viện NLNT VN tính từ năm 2012 đến 2017
56
Bảng 3.1 Nhu cầu nhân lực cần tuyển mới trong lĩnh vực NLNT
tại Viện NLNT VN đến năm 2020
80
Bảng 3.2 Tổng hợp nhu cầu bồi dưỡng nhân lực NLNT đến năm
2020 tại Viện NLNT VN
80
Bảng 3.3 Nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng nhân lực giai đoạn 2016 -
2020
89
Trang 9DANH MỤC C C HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 1.1 Các tổ chức quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân
lực khoa học công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử
27
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Viện Năng lượng nguyên tử Việt
Nam
47
Hình 2.1 Phân bổ trình độ nhân lực của Viện NLNT VN (2016) 51
Hình 2.2 Bài báo khoa học và công nghệ trong nước 52
Hình 2.3 Bài báo khoa học và công nghệ ngoài nước 53
Đồ thị 2.1 Phân bố cán bộ nghiên cứu đã và sẽ nghỉ hưu theo các
đơn vị trực thuộc Viện
57
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Con người là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất quyết định sự tồn tại, phát triển cũng như vị thế của quốc gia, một đơn vị, một tổ chức Trong những năm qua, chủ trương phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ (KHCN) nói chung, nhân lực KHCN trong lĩnh vực Năng lượng nguyên
tử (NLNT) nói riêng đã được đề cập tại nhiều văn kiện quan trọng của Đảng
và Nhà nước Gần đây, chủ trương này cũng đã được khẳng định trong Quyết
định 1558/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 về phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử” [32], “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
1855/QĐ-TTg [30] và Nghị quyết số 02-NQ/HNTW của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa VIII về “Định hướng chiến lược phát triển KH-CN
trong thời kỳ CNH, HĐH” [11] Điều đó cho thấy, Nhà nước ta đang thúc đẩy
việc xây dựng kế hoạch, định hướng và giải pháp để phát triển đội ngũ nhân lực KHCN, trong đó chú trọng đến nhân lực KHCN lĩnh vực NLNT
Trong lĩnh vực NLNT, với đặc thù cơ bản của nguồn nhân lực KHCN là trình độ cao, lĩnh vực chuyên môn hẹp nhưng sâu, cần nhiều thời gian để đào tạo mới có khả năng sử dụng, môi trường làm việc đặc thù Đó là những yếu
tố ảnh hưởng đáng kể đến mục tiêu phát triển nguồn nhân lực KHCN trong lĩnh vực NLNT Trong từng giai đoạn nhất định, phát triển nguồn nhân lực KHCN thường gắn với mục tiêu phát triển cụ thể của lĩnh vực, như mục tiêu phát triển thành công chương trình điện hạt nhân, mục tiêu xây dựng nhà máy điện hạt nhân trong tương lai gần ở Việt Nam
Để xây dựng một đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao phục vụ cho mục tiêu ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích
Trang 112
hòa bình cụ thể là phát triển các ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong đời sống và hơn cả là phát triển thành công chương trình điện hạt nhân và xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam, một trong những việc cấp thiết cần làm là nghiên cứu đề xuất giải pháp, định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực KHCN, trong đó có giải pháp đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc cũng như chuyên môn sâu cho từng cán bộ, từng tổ chức, đơn vị
Trong thực tiễn những năm qua, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đã được chú trọng quan tâm và được khẳng định tại các văn bản, chủ trương của Nhà nước:
- Luật Năng lượng nguyên tử (2008) [24] quy định về các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử;
- Quyết định số 1558/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực
năng lượng nguyên tử” [32]
- Quyết định số 940/QĐ-TTg ngày 17/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử [33]
Nghiên cứu tìm hiểu các giải pháp phát triển nguồn nhân lực KHCN trong lĩnh vực NLNT để thực hiện thành công các mục tiêu trên là một việc làm cấp thiết Trong đó, một trong những giải pháp cụ thể phát triển nguồn nhân lực là áp dụng một mô hình đào tạo có hệ thống mang lại lợi ích to lớn đối với xã hội, tổ chức, đơn vị cũng như lợi ích đến từng cá nhân
Tác giả đang công tác tại Viện Nghiên cứu hạt nhân chịu sự quản lý của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam Đây là một trong những cơ quan đầu đàn về khoa học công nghệ; đặc biệt là ứng dụng năng lượng nguyên tử vào
sự phát triển kinh tế - xã hội Với đặc thù là cơ quan nghiên cứu khoa học, việc phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ luôn là ưu tiên hàng đầu
Trang 123
của Viện Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển nguồn
nhân lực khoa học công nghệ năng lượng nguyên tử tại Viện Năng lượng
nguyên tử Việt Nam” làm cơ sở nghiên cứu của luận văn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
- Tình hình trong nước
Nhận thức rõ vai trò của khoa học công nghệ đối với đời sống kinh tế xã
hội và sự tồn vong của đất nước, trong Hiến pháp 2013 xác định “Phát triển
KH&CN là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước” Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều nghị
quyết quan trọng về khoa học công nghệ và khẳng định … Cùng với giáo dục,
đào tạo khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học công nghệ … sẽ nhanh chóng thay đổi thế giới một
cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người
Nghiên cứu về những vấn đề phát triển nguồn nhân lực KHCN nói chung và phát triển nguồn nhân lực KHCN trong lĩnh vực năng lượng nguyên
tử nói riêng là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế mang tính kế hoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước
đã ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến các hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D) Nó đề ra những đòi hỏi mới trong hoạt động quản lý KHCN nói chung và quản lý nguồn nhân lực KHCN nói riêng
Hoạt động QLNN trong lĩnh vực NLNT gần đây mới trở thành một vấn
đề thời sự, mang tính cấp bách từ khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư
Dự án ĐHN Ninh Thuận Một số cơ quan chuyên về QLNN trong lĩnh vực
Trang 134
NLNT mới được thành lập một vài năm trở lại đây Phần lớn cán bộ được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan QLNN là cán bộ trẻ, ngành nghề đào tạo chưa thật phù hợp với yêu cầu, chưa có kinh nghiệm trong công tác quản lý Từ những thực tế đó cho thấy, sự thiếu hụt về nguồn nhân lực KHCN trong lĩnh vực NLNT cả về số lượng lẫn chất lượng Viện Năng lượng nguyên
tử Việt Nam tuy là tiền thân của ngành NLNT nhưng cũng không tránh khỏi những khó khăn đó
Trong thời gian qua, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cũng đã có những hoạt động nhằm phát triển nguồn nhân lực KHCN của đơn vị như:
- Xây dựng giáo trình đào tạo chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, chương trình đào tạo, bồi dưỡng về hạt nhân cho nguồn nhân lực các ngành liên quan
- Xây dựng các chương trình thực tập ngắn và dài hạn cho nhóm cán bộ chuyên môn theo từng lĩnh vực cụ thể
- Cử các nhà khoa học trẻ tham dự các khoá đào tạo chuyên môn ngắn hạn, dài hạn ở nước ngoài
- Tổ chức Hội nghị KH&CN hạt nhân toàn quốc (2 năm/lần) tạo cơ hội cho các nhà khoa học được trao đổi thông tin, học hỏi kinh nghiệm,
Ngoài những thành tựu trên thực trạng hiện nay đáng quan tâm là sự thiếu hụt các chuyên gia đầu ngành, các nhóm nghiên cứu mũi nhọn Theo ý kiến của một số chuyên gia cho rằng đây là một thách thức không nhỏ cho sự nghiệp phát triển nghiên cứu khoa học công nghệ ở Việt Nam nói chung, Viện NLNT VN nói riêng
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, số biên chế khoảng hơn 550 cán
bộ, mỗi năm chỉ tuyển thêm vài nhân sự mới để bổ sung vào “chỗ trống” do
người cũ về hưu trong khi tình hình phát triển hiện nay luôn đòi hỏi nhiều nhân sự mới vẫn chưa được triển khai Đó là sự thiếu hụt các chuyên gia trẻ
Trang 145
trong khi đội ngũ chuyên gia của Viện ngày càng già đi Và cũng vì chế độ đãi ngộ hạn chế và mức lương thấp, mặc dù nhà nước đã có chính sách tăng
ưu đãi tối đa 0,7 cho các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực hạt nhân, nhưng vẫn thấp so với các công ty nước ngoài hoặc liên doanh dẫn đến rất khó thu hút được những tài năng trẻ
Luận văn này tập trung nghiên cứu vào hoạt động quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng, số lượng nguồn lực khoa học công nghệ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử vì vậy tác giả đã nghiên cứu, tham khảo các tài liệu, công trình nghiên cứu có tên sau:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013);
- Nghị quyết số 02-NQ/HNTW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về
“Định hướng chiến lược phát triển khoa học - công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”;
- Nguyễn Thị Yên Ninh (2011), Nghiên cứu thực tiễn trong nước, quốc
tế và đề xuất giải pháp kiện toàn, tăng cường quản lý nhà nước về phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử, Báo cáo tổng kết Đề án nghiên cứu cấp Bộ
“Nghiên cứu thực tiễn trong nước và quốc tế và đề xuất giải pháp kiện toàn
và tăng cường quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử”, Cục Năng lượng
nguyên tử, Hà Nội
- Phạm Thị Bảo Thoa (2013), Phát triển nguồn nhân lực khoa học công
nghệ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Đại học Quốc
gia Hà Nội
- Nguyễn Chín (2011), Các giải pháp thu hút nguồn nhân lực trình độ
cao cho các cơ quan nhà nước ở tỉnh Quảng Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng
Trang 156
- Nguyễn Ngọc Ánh (2009), Tăng cường quản lý nhà nước đối với
nguồn nhân lực khoa học, công nghệ tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công,
Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội
- Phạm Thị Hiếu (2010), Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công
nghệ trong các đơn vị sự nghiệp khoa học công lập ở Việt Nam hiện nay,
Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia,
Hà Nội
- Tình hình trên thế giới
Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử cũng được khuyến cáo từ Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA), tổ chức này nhận định rằng việc nâng cao trình độ cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử phải đi đôi với việc nâng cao mô hình đào tạo, gắn đào tạo với thực tế trong từng vị trí công việc cụ thể Hiện nay rất nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ, Nga, … đã và đang áp dụng mô hình đào tạo có hệ thống và đã thu được những kết quả nhất định
Phát triển nguồn nhân lực được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó giáo dục đào tạo luôn được đặt lên hàng đầu Ngoài ra, việc cải thiện môi trường, hệ thống sử dụng nguồn nhân lực cùng với các điều kiện phát triển nguồn nhân lực cũng được chú trọng thực hiện Việc phát triển nguồn nhân lực phải đảm bảo được sự phối kết hợp giữa các thành phần liên quan; tính đa dạng trong phương thức phát triển nguồn nhân lực; tính công bằng thông qua việc chọn lựa những chương trình, hành động nhằm mang lại lợi ích tối đa cho sự phát triển chung theo những mục tiêu đã được xác định Các chính sách, biện pháp phát triển nguồn nhân lực quốc gia không phải lúc nào cũng mang lại thành công như dự kiến, vì vậy, công tác quy hoạch, lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cần được chú trọng, đầu tư thực hiện một