Đặt vấn đề
Đào tạo nghề và tạo việc làm là yếu tố thiết yếu trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là ở nông thôn Tỉnh Đồng Nai xem công tác đào tạo nghề cho nông dân là nhiệm vụ quan trọng để tối ưu hóa nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập Việc triển khai đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đang được chú trọng mạnh mẽ trên địa bàn.
Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2015), trong giai đoạn 2010-2014, có 38.694 lao động nông thôn tham gia học nghề, với tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt 70% Tuy nhiên, số lượng lao động tham gia đào tạo giảm dần qua các năm, từ 7.000 lao động năm 2010 xuống còn 4.500 lao động năm 2014, và tỷ lệ lao động đã tham gia đào tạo chỉ chiếm 35% Mặc dù vẫn còn 65% lao động chưa tham gia đào tạo nghề, nhưng tỷ lệ tham gia đào tạo đang có xu hướng giảm.
65% lao động nông thôn chưa tham gia đào tạo nghề, đặt ra câu hỏi về hiệu quả của chương trình đào tạo nghề Chính sách đào tạo nghề có thực sự ảnh hưởng đến thu nhập và cải thiện đời sống của người nông dân hay không? Kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra tính hiệu quả của chương trình, từ đó cung cấp bằng chứng khoa học cho các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng các chương trình đào tạo nghề nhằm phát triển nông thôn hiệu quả hơn Đề tài “Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai” được chọn làm vấn đề nghiên cứu chính.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của việc tham gia đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của các hộ nông dân tại huyện Trảng Bom.
Với mục tiêu tổng quát trên, các mục tiêu cụ thể đặt ra :
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai
- Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ.
Câu hỏi nghiên cứu
- Những lý do nào ảnh hưởng đến quyết định có hay không tham gia đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom ?
Việc tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có thể ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của người nông dân tại huyện Trảng Bom Các khóa đào tạo giúp nông dân nâng cao kỹ năng và kiến thức, từ đó cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm Điều này không chỉ gia tăng thu nhập cá nhân mà còn góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề và tác động của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân trong khu vực này, với mục tiêu thu thập ý kiến và thông tin nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho vấn đề nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào thời gian từ năm 2014 đến năm 2016, trong đó khảo sát các hộ nông dân tham gia đào tạo nghề nông nghiệp.
Do hạn chế về nhân lực và thời gian, nghiên cứu chỉ được thực hiện tại huyện Trảng Bom, chọn 08 xã gồm Sông Trầu, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Thanh Bình, Trung Hòa, Cây Gáo, Đồi 61, và Sông Thao Huyện Trảng Bom có tiềm năng phát triển nông nghiệp và công nghiệp, đồng thời có điều kiện phù hợp với tỉnh Đồng Nai, từ đó các kiến nghị và đề xuất có thể được áp dụng rộng rãi trong toàn tỉnh.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp các nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, trong khoảng thời gian từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2017.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian ba năm, từ 2014 đến 2016, thông qua các báo cáo của các cơ quan liên quan Thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài từ tháng 12/2016 đến tháng 10/2017, bao gồm cả giai đoạn tổng hợp và xử lý dữ liệu đã thu thập.
Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 5 chương và phần kết luận:
Chương 1 - Mở đầu: Giới thiệu về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu Bên cạnh đó là các nội dung về phạm vi nghiên cứu và đối tượng của đề tài nghiên cứu
Chương 2 - Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày các lý thuyết có liên quan đến đào tạo nghề và mối quan hệ đào tạo và thu nhập Đồng thời, chương này trình bày các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến vấn đề đào tạo nghề Từ đó, thừa kế và phát triển dựa trên nền tảng của các nghiên cứu trước
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trình bày khung nghiên cứu, phương pháp phân tích và mô tả phương pháp chọn mẫu khảo sát
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu; Phân tích thực trạng đào tạo nghề trên địa bàn nghiên cứu; Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai; Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ; Thảo luận kết quả nghiên cứu tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Chương 5 - Kết luận và gợi ý chính sách: Tóm tắt lại các kết quả đạt được trong nghiên cứu, những hạn chế của đề tài, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo;
Để nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp, cần khuyến nghị một số chính sách cho cơ quan quản lý Nhà nước Những gợi ý này sẽ giúp cải thiện chương trình đào tạo, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp.
Các khái niệm có liên quan
Giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân (2002) định nghĩa nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động xã hội, bao gồm toàn bộ kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho người lao động Đào tạo được thực hiện bởi các tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc, giúp người lao động đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả công việc Quá trình đào tạo có mục đích và tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ, từ đó hoàn thiện nhân cách cá nhân và tạo tiền đề cho họ hành nghề một cách năng suất và hiệu quả.
Dạy nghề theo Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2013 là hoạt động nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho người học, giúp họ tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm Hệ thống dạy nghề bao gồm ba trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề, với hai hình thức dạy nghề chính quy và thường xuyên Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều quyết định, như Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 và Quyết định 971/QĐ-TTg ngày 01/7/2015, nhằm phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Để thực hiện các chính sách này, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 2577/QĐ-UBND ngày 29/09/2010.
Quyết định 1418/QĐ-UBND ngày 16/5/2016 phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” tại tỉnh Đồng Nai nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn Đề án này góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020.
Các lĩnh vực đào tạo nghề nông nghiệp bao gồm trồng trọt, kỹ thuật trồng nấm, chăn nuôi gia cầm và gia súc, nuôi thủy sản, chế biến nông, lâm, thủy sản, quản lý trang trại và kỹ thuật chăm sóc cây Phương thức đào tạo tập trung tại địa bàn dân cư, kết hợp với thực hành tại các mô hình sản xuất nông nghiệp và cơ sở kinh doanh Doanh nghiệp được khuyến khích tham gia đào tạo và cam kết sử dụng lao động sau tốt nghiệp, với quy mô lớp học tối đa 35 người Trình độ đào tạo bao gồm các khóa thường xuyên dưới 3 tháng và sơ cấp 3 tháng.
Theo Tổng cục thống kê (2010), thu nhập của hộ được định nghĩa là tổng số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi trừ chi phí sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm Thu nhập này bao gồm tiền công, tiền lương, thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi trừ chi phí và thuế), cũng như thu nhập từ các ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thủy sản Ngoài ra, các khoản thu khác không bao gồm tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn cũng được tính vào thu nhập.
Nông hộ, theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, là gia đình nông dân sống ở nông thôn, chủ yếu làm nghề nông và một số ngành nghề phụ khác Đây là đơn vị sản xuất quan trọng trong nông nghiệp Theo Liên hợp quốc (1993), "Hộ" được định nghĩa là những người sống chung dưới một mái nhà, làm việc cùng nhau và chia sẻ ngân quỹ Do đó, nông hộ là những hộ gia đình ở nông thôn, có nghề sản xuất chính là nông nghiệp, với nguồn thu nhập chủ yếu từ nghề nông.
Ngoài việc tham gia vào hoạt động nông nghiệp, nông hộ còn tích cực tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp, điều này giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống.
(như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) ở các mức độ khác nhau
2.2 Các lý thuyết có liên quan
Theo Mincer (1974), vốn con người cần được đầu tư thông qua việc tích lũy giáo dục và rèn luyện trong lao động, từ đó mang lại thu nhập cho người sở hữu.
Mức vốn con người của mỗi cá nhân phụ thuộc vào năng lực, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà họ tích lũy được qua quá trình đào tạo và rèn luyện.
Nó thể hiện qua số năm đi học và số năm làm việc
Becker (1993) khẳng định rằng đầu tư vào con người, đặc biệt là giáo dục và đào tạo, mang lại hiệu quả lớn nhất Mọi hoạt động nâng cao năng suất lao động đều được coi là đầu tư cho vốn con người Người lao động có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao thường có thu nhập cao hơn, và những người có kinh nghiệm, thâm niên công tác lâu dài cũng đạt được mức thu nhập cao hơn.
Theo Borjas (2005), quyết định của người lao động về việc học ngành nghề nào và mức độ học tập tương tự như quyết định đầu tư trong kinh tế học Việc đầu tư vào giáo dục được xem như đầu tư vào vốn hữu hình, trong đó người lao động đánh giá dòng thu nhập hiện tại ròng từ các lựa chọn khác nhau, bao gồm việc học nghề hay không Lựa chọn học nghề sẽ được ưu tiên khi nó mang lại dòng thu nhập cao nhất.
Nguyễn Bá Ngọc (2008) cho rằng việc học tập yêu cầu chúng ta phải đầu tư một khoản phí ban đầu, nhưng sẽ mang lại lợi ích từ thu nhập cao hơn trong tương lai Giả sử bạn gửi một khoản tiền “P” vào ngân hàng với lãi suất “r”, thì sau n năm, giá trị tương lai “V” của khoản tiền này được tính bằng công thức: \$V = P \cdot (1 + r)^n\$ Đối với một người học trong 4 năm, chi phí cho 4 năm học là (C0, C1, C2, C3) và thu nhập dự kiến trong tương lai là ∆𝑊, cùng với số năm làm việc trước khi nghỉ hưu là “T”, ta có thể tính được giá trị hiện tại của tấm bằng.
+ …+ ∆Wt (1+𝑟) 𝑡 tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Như vậy về mặt lý thuyết, người đó chỉ nên đi học khi giá trị hiện P(v) >0 Hình 1 Quyết định đi học
Đường (1) trong nghiên cứu của Harvey B King (2006) thể hiện dòng thu nhập của sinh viên tốt nghiệp đại học, với giả định rằng họ cần một vài năm để tích lũy kinh nghiệm làm việc và theo kịp những người chỉ tốt nghiệp trung học Trong khi đó, đường (2) phản ánh dòng thu nhập của những người tốt nghiệp phổ thông trung học.
Vùng (I): chi phí cho sách vở, đồ dùng học tập, học phí và những khoản chi phí khác không phải là chi phí sinh hoạt
Vùng (II) đề cập đến phần thu nhập bị mất do không đi làm và dành thời gian cho việc học, thể hiện chi phí cơ hội của thời gian dành cho việc học tập.
Vùng (III): thu nhập có được với tấm bằng đại học
Người đó nên đi học khi: giá trị hiện tại của vùng (III) > giá trị hiện tại của vùng (I) + vùng (II)
Như vậy, giáo dục đào tạo làm tăng thu nhập cho người lao động và giúp cải thiện triển vọng nghề nghiệp của họ theo 3 hướng tác động sau:
- Tích lũy vốn con người mới (kiến thức, kỹ năng và phẩm chất);
- Chứng thực năng lực của người lao động ở một trình độ nhất định;
Thu nhập, chi tiêu Đại học (1)
Phổ thông (2) tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
- Tích lũy vốn kiến thức để họ có thể tìm được công việc thích hợp hơn
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
Theo nghiên cứu của Theo Becker (1976) ở 21 quốc gia từ 1991-2005, học tập được xem là một quyết định đầu tư tối ưu hóa, giúp tăng năng suất lao động Những người lao động có tay nghề cao sẽ nhận được mức lương cao hơn trong một thị trường lao động hoàn hảo, nơi mà tiền lương được trả theo giá trị biên của họ Kết quả hồi quy cho thấy suất sinh lợi (IRR) đã tăng rõ rệt ở các quốc gia như Ireland, Bồ Đào Nha và Canada.
Khung nghiên cứu
dựa theo các bước được thiết kế ở Hình 3.1 sau đây
Kết quả nghiên cứu và thảo luận về luận văn tốt nghiệp mới nhất có thể tải xuống từ địa chỉ email vbhtj mk gmail.com Luận văn thạc sĩ cung cấp thông tin chi tiết và phân tích sâu sắc về các chủ đề liên quan.
Dựa trên các nghiên cứu liên quan, bài viết này đề xuất hai mô hình nghiên cứu quan trọng: thứ nhất, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề nông nghiệp; thứ hai, các yếu tố tác động đến thu nhập của nông hộ.
3.3 Phương pháp phân tích Để thực hiện các mục tiêu đề ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp đồ thị để phân tích thực trạng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, mô tả mẫu khảo sát Bên cạnh đó, để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai và phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến
- Am hiểu về chương trình đào tạo
- Nhận thức được lợi ích từ đào tạo
Khả năngtham gia đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom
- Tổng tiết kiệm của hộ/tháng
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom được phân tích thông qua mô hình hồi quy Binary Logistic và hồi quy đa biến Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố chính tác động đến thu nhập nông hộ, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc cải thiện đời sống của họ.
3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Các phương pháp thống kê được sử dụng trong đề tài như: tần suất, tỷ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn kết hợp với phân tích bảng chéo
Phương pháp phân tích thống kê mô tả bao gồm việc thu thập, tóm tắt và trình bày số liệu để mô tả các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu Các đại lượng thường được sử dụng trong phương pháp này bao gồm trung bình, phương sai và độ lệch chuẩn, giúp phản ánh tổng quát các đặc điểm của dữ liệu.
Phân tích tần số giúp mô tả và hiểu rõ đặc tính phân phối của mẫu số liệu thô thông qua bảng phân phối tần số Bảng này tóm tắt dữ liệu bằng cách sắp xếp chúng theo thứ tự tăng dần hoặc giảm dần dựa trên tần số và phần trăm.
3.3.2 Phương pháp hồi quy Binary Logistic và hồi quy đa biến
3.3.2.1 Phương pháp hồi quy Binary Logistic
Hồi quy Binary Logistic được áp dụng để phân tích mối quan hệ tuyến tính giữa nhiều biến độc lập và một biến phụ thuộc nhị phân Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic nhằm ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Biến Y là biến phụ thuộc, đại diện cho việc học nghề của người lao động, với giá trị 1 nếu lao động học nghề và 0 nếu không Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm trình độ học vấn, giới tính chủ hộ, tuổi tác, nghề nghiệp, sức khỏe, khả năng tiếp cận vốn vay, và sự am hiểu về chương trình đào tạo.
Chương trình đào tạo mang lại nhiều lợi ích, trong đó các biến độc lập (biến giải thích) đóng vai trò quan trọng trong mô hình nghiên cứu.
Bảng 3.1: Diễn giải biến trong mô hình Binary Logistic
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, 2017
3.3.2.2 Phương pháp hồi quy đa biến
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố đến thu nhập của nông hộ
Biến phụ thuộc (thu nhập), là biến thể hiện thu nhập thực của hộ gia đình
Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu bao gồm: trình độ học vấn (hocvan), tuổi của chủ hộ (Tuoi), số nhân khẩu của hộ (sonhankhau), nghề nghiệp của hộ (nnghiep), tiết kiệm hàng tháng của hộ (tietkiem), tình trạng sức khỏe của hộ (skhoe) và biến tham gia đào tạo (thamgiadaotao).
Tên biến Diễn giải Kỳ vọng
Bài viết này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn vay và chương trình đào tạo, bao gồm tham gia đào tạo (có = 1, không = 0), trình độ học vấn (số năm đi học), giới tính chủ hộ (nam = 1, nữ = 0), tuổi chủ hộ (số tuổi), nghề nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi = 1, khác = 0), và sức khỏe (tốt = 1, không tốt = 0) Các yếu tố này có thể tác động đến khả năng tiếp cận vốn vay (có vay = 1, không vay = 0) và mức độ am hiểu về chương trình đào tạo (có = 1, không = 0).
Loiich Nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo (có = 1, không = 0) + i ki k i i i X X X
Y 1 2 2 3 3 tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Bảng 3.2: Diễn giải biến trong mô hình hồi quy đa biến
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, 2017
Chọn mẫu và thu thập số liệu
Kích thước mẫu điều tra là 160 hộ gia đình tại huyện, được chọn từ 08 xã trong tổng số 16 xã, bao gồm các xã Sông Trầu, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Thanh Bình, Trung Hòa, Cây Gáo và Đồi.
Diện tích nông nghiệp của huyện Sông Thao chiếm 59,8% và dân số nông dân chiếm 39,8%, thể hiện vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn và khảo sát trực tiếp 160 hộ nông dân, tương đương 1,12% tổng số 14.247 hộ nông dân trong khu vực.
Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài, số liệu thống kê về đào tạo nghề từ năm 2014 đến 2016, tình hình phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn 2015 - 2016, và quy hoạch phát triển kinh tế của huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đến năm 2025.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn như sách báo, tạp chí, và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Ngoài ra, niên giám thống kê và các báo cáo từ UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như UBND huyện và Phòng Kinh tế huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cũng được sử dụng.
Biến "hocvan" thể hiện trình độ học vấn của chủ hộ, được tính bằng số năm đi học Biến "tuoi" đại diện cho tuổi của chủ hộ, tính bằng số tuổi Biến "sonhankhau" cho biết số người trong gia đình, trong khi biến "nnghiep" phân loại nghề nghiệp, với giá trị 1 cho các nghề liên quan đến trồng trọt và chăn nuôi, và 0 cho các nghề khác.
Tiết kiệm số tiền hàng tháng là một yếu tố quan trọng trong quản lý tài chính cá nhân Sức khỏe tốt (được đánh giá bằng 1) và việc tham gia đào tạo (có = 1) cũng góp phần vào sự phát triển bền vững Để nâng cao kiến thức, người dùng có thể tải luận văn mới nhất từ các nguồn uy tín.
3.4.2 Dữ liệu sơ cấp 3.4.2.1 Chọn điểm điều tra Đề tài chọn ra 08 xã mang tính đặc trưng nông thôn, tập trung chủ yếu sản xuất nông nghiệp của huyện là 08 xã để nghiên cứu (xã Sông Trầu, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Thanh Bình, Trung Hòa, Cây Gáo, Đồi 61, Sông Thao) Các xã này có diện tích chiếm 59,8%, dân số chiếm 39,8% và đại diện cho tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện
3.4.2.2 Phương pháp thu dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp nông hộ bằng bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn Điều tra viên sẽ đến nhà và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc người đại diện của hộ gia đình, nhằm thu thập thông tin cần thiết.
Giới thiệu mục đích của cuộc phỏng vấn, yêu cầu phỏng vấn và cam kết bảo mật thông tin của cuộc phỏng vấn
Kích thước mẫu điều tra là 160 nông hộ, được chọn bằng phương pháp ngẫu nhiên từ danh sách hộ gia đình thống kê tại UBND xã Các hộ được khảo sát được lựa chọn theo bước nhảy 1:20, tức là khảo sát 1 hộ bỏ qua 19 hộ tiếp theo.
Tiến hành khảo sát 20 hộ gia đình và tiếp tục thực hiện cho đến khi đạt đủ kích cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu.
Điều kiện tự nhiên
Huyện Trảng Bom có vị trí địa lý thuận lợi trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với thị trường mạnh mẽ, tiềm lực vốn và khoa học công nghệ phát triển Dân số huyện đông, với nguồn lao động chiếm trên 66,3% Huyện được thành lập từ việc tách huyện Thống Nhất theo Nghị định 97/2003/NĐ.CP, có tổng diện tích 32.541 ha, chiếm 5,52% diện tích toàn tỉnh Địa hình huyện chủ yếu là đồi thấp, cao độ giảm dần từ Bắc xuống Nam, được chia thành ba khu vực: khu vực thấp phía Nam ven Quốc lộ 1A, khu vực cao phía Bắc, và khu vực trung bình phía Bắc Quốc lộ 1A.
Ranh giới hành chính huyện Trảng Bom, được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu
- Phía Nam giáp huyện Long Thành
- Phía Tây giáp TP Biên Hòa
- Phía Đông giáp huyện Thống Nhất
Huyện có 17 đơn vị hành chính, bao gồm 16 xã và 1 thị trấn, với tổng dân số là 295.703 người, tương đương 72.727 hộ Trong đó, đồng bào có đạo chiếm 63,4% dân số, với đạo Công giáo chiếm 52,65%, Phật giáo 10,14% và Tin lành 0,33%.
Điều kiện xã hội
Huyện Trảng Bom hiện có 04 khu công nghiệp tập trung: Hố Nai 3, Sông Mây, Giang Điền và Bàu Xéo, với 168 dự án đầu tư và tổng vốn đạt 2,031 tỷ USD Ngoài ra, huyện còn phát triển 04 cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại Hố Nai 3, Hưng Thịnh, Thanh Bình và An Viễn, mỗi cụm có quy mô từ 35-50 hecta Đặc biệt, cụm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Hố Nai 3 đã lấp đầy 100% diện tích.
+ Lực lượng lao động tham gia vào lĩnh vực công nghiệp – TTCN đến nay đạt trên 100.000 lao động, cơ cấu lao động công nghiệp 61,7%, tăng 1,4% so năm 2011
Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã tăng trưởng bình quân 15% mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015 Cụ thể, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 15%/năm, trong khi công nghiệp địa phương đạt mức tăng trưởng bình quân 15,1%/năm.
Công nghiệp địa phương đang dần tăng trưởng, hiện chiếm 9,4% tổng tỷ trọng Các ngành như sản xuất thủ công mỹ nghệ, chế biến gỗ, cơ khí, chế biến nông sản, thực phẩm, dệt may, nguyên liệu giấy và sản xuất gạch nung đang phát triển mạnh mẽ.
Huyện có khoảng 520 doanh nghiệp thương mại và dịch vụ cùng với 15.600 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động Ngành dịch vụ ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 16,4%/năm trong giai đoạn 2011-2015, trong khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng trung bình 18,7%/năm Kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng 95,9%, trong khi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 0,74%.
Thị trường hàng hóa tại huyện rất phong phú, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân Hiện có 13/24 chợ theo quy hoạch đã được đầu tư đạt chuẩn, bao gồm 5 chợ loại 2 và 8 chợ loại 3, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu của cộng đồng.
Hoạt động du lịch tại các khu vực như sân golf, thác Giang Điền và thác đá Hàn diễn ra rất sôi nổi vào các dịp lễ lớn như 30/4, 1/5, Tết Nguyên Đán và lễ Quốc khánh 2/9 Những sự kiện này thu hút hơn 350.000 lượt du khách mỗi năm đến tham quan và vui chơi giải trí.
Hiện trạng đào tạo nghề nông nghiệp
Trong giai đoạn 2010-2016, huyện Trảng Bom đã tổ chức dạy nghề nông nghiệp cho 1.096 người, góp phần nâng cao kỹ năng và tạo cơ hội việc làm cho người dân địa phương.
+ Nhóm laođộng diện chính sách: Có 364 người
+ Nhóm lao động khác: Có 732 người
- Số người tốt nghiệp các khóa đào tạo: 1.054 người, trong số người tốt nghiệp sau khoá học có việc làm là 1.047 người, chiếm tỷ lệ 99,3%.Trong đó:
+ Tự giải quyết việc làm (tạo việc làm mới) :107 người, chiếm 25,92%
+ Làm việc tại cơ sở sản xuất và doanh nghiệp: 25 người, chiếm 18,76%
+ Làm tại hộ gia đình (nâng cao thu nhập): 915 người, chiếm 52,08%
- Số người thuộc hộ nghèo, sau học nghề có việc làm, thu nhập đã thoát nghèo là 6 người
- Số người thuộc hộ thu nhập trung bình, sau học nghề trở thành hộ có thu nhập khá là 8 người
- Tỷ lệ người làm việc trên dân số trong độ tuổi lao động đạt 96,1%
(196.622/204.612) Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 46,86% Thời gian sử dụng lao động khu vực nông thôn đạt > 96,7%.
Thu nhập
Trong giai đoạn 2011-2015, huyện ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 13,1% mỗi năm Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch đúng hướng và phát triển toàn diện, với tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 68,94%, dịch vụ 25,23% và nông nghiệp 5,83% Đến năm 2016, thu nhập bình quân đầu người đạt 52,5 triệu đồng.
Huyện Trảng Bom đã tích cực quy hoạch và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, hình thành 13 vùng sản xuất tập trung trên 16 xã với 8 loại cây trồng chính như tiêu, cà phê, điều, chuối, mía, lúa, bắp, và mỳ, tổng diện tích đạt 12.717ha Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm từ 150-200 ha mỗi năm do chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp phục vụ phát triển công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng giá trị sản xuất vẫn duy trì mức tăng trưởng bình quân hàng năm trên 3,9%.
Diện tích hađất (trồng trọt và nuôi trồng thủy sản) đạt 110,6 triệu đồng, tăng 39,5 triệu đồng/ha so với năm 2011, với nhiều diện tích có giá trị thu nhập từ 500-800 triệu đồng/ha/năm Huyện đã triển khai mô hình chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, như dự án cánh đồng lớn tại xã An Viễn và mô hình cánh đồng lúa chất lượng cao tại xã Sông Thao, góp phần giải quyết đầu ra cho sản phẩm, tạo việc làm cho địa phương và tăng thu nhập cho người dân.
Huyện đang tái cơ cấu ngành chăn nuôi từ hình thức nhỏ lẻ sang phát triển chăn nuôi trang trại, tận dụng nguồn nguyên liệu dồi dào và thị trường tiêu thụ rộng lớn Đồng thời, duy trì chăn nuôi nông hộ theo hình thức công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao Huyện khuyến khích các tổ chức sản xuất khép kín và liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị nhằm cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng Hiện tại, huyện có 483 trang trại, tăng 105 trang trại so với năm 2011.
The livestock population includes 4,358 buffalo and cattle, 264,337 pigs, and 3,014,327 poultry.
Thống kê mô tả
Nghiên cứu về thông tin của chủ hộ nông dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, bao gồm giới tính, tuổi tác và trình độ học vấn, được trình bày qua hình 5.1 và bảng 5.1.
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017
Hình 5.1 Đặc điểm giới tính của chủ hộ trong mẫu khảo sát
Kết quả khảo sát tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cho thấy giới tính của chủ hộ nông dân có sự chênh lệch rõ rệt, với tỷ lệ nam giới chiếm ưu thế Cụ thể, trong số 160 hộ được khảo sát, có 126 hộ do nam giới làm chủ, tương đương với 78,75%.
; với nữ chủ hộ là 34 người, chiếm tỷ lệ là 21,25%
Thông tin về độ tuổi và trình độ học vấn của các hộ nông dân tại huyện Trảng Bom được trình bày trong bảng 5.1.
Nam: 79% tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Bảng 5.1: Tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ nông dân
Chỉ tiêu Quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017
Tuổi của chủ hộ nông dân được khảo sát tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có sự phân bổ đồng đều, với độ tuổi từ 25 đến 65, trung bình là 42,73 và độ lệch chuẩn 9,51 Điều này cho thấy tuổi của các chủ hộ nông dân tương đối thấp Về trình độ học vấn, số năm học của chủ hộ dao động từ 1 đến 12 năm, với mức trung bình là 8,12 và độ lệch chuẩn 2,80, cho thấy trình độ học vấn của họ cũng tương đối thấp và phân bố đồng đều.
Bài viết này cung cấp thông tin về đặc điểm của các hộ nông dân tại huyện Trảng Bom, bao gồm số thành viên trong hộ, tổng tài sản và diện tích sản xuất Những dữ liệu này được thể hiện rõ ràng qua bảng 5.2.
Bảng 5.2: Mô tả đặc điểm của hộ
Trung bình Độ lệch chuẩn
Diện tích đất sản xuất
Tài sản (Triệu đồng) 160 211,50 131,66 85 972 Thu nhập (Triệu đồng/tháng) 160 9,67 2,47 5,00 18,00
Chi tiêu (Triệu đồng/tháng) 160 5,82 1,26 3,60 9,90
Tiết kiệm (Triệu đồng/tháng) 160 3,53 2,39 0 16,20
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017
Kết quả từ Bảng 5.2 cho thấy, số thành viên trong gia đình của các hộ nông dân dao động từ 1 đến 12 người, với trung bình là 4,05 người và độ lệch chuẩn thấp 1,56, cho thấy sự phân bổ đều giữa các hộ Về diện tích đất sản xuất, hộ có diện tích nhỏ nhất là 110 m² và lớn nhất là 50.000 m², với trung bình 4.529 m² và độ lệch chuẩn cao 8.032, cho thấy sự không đồng đều và tương đối thấp trong diện tích đất Tổng giá trị tài sản của các hộ cũng có sự phân bổ tương đối đồng đều, với giá trị thấp nhất là 85 triệu đồng và cao nhất là 972 triệu đồng, trung bình đạt 211,50 triệu đồng và độ lệch chuẩn thấp 131,66 Điều này cho thấy, mặc dù diện tích đất sản xuất thấp, nhưng giá trị tài sản lớn có thể đến từ các nguồn khác ngoài đất sản xuất hoặc từ những loại tài sản có giá trị lớn khác.
Thu nhập của các hộ nông dân tại huyện Trảng Bom khá cao, với mức thu nhập thấp nhất là 5 triệu đồng/tháng và cao nhất là 18 triệu đồng/tháng, trung bình đạt 9,67 triệu đồng/tháng và độ lệch chuẩn chỉ 9,57 Điều này cho thấy thu nhập được phân bổ đồng đều giữa các hộ Nguyên nhân chính là do nhiều nguồn thu nhập khác nhau, bao gồm tiền lương, tiền công của các thành viên trong hộ và thu nhập từ sản xuất nông nghiệp Do đó, thu nhập cao của các hộ nông dân góp phần quan trọng vào việc hình thành giá trị tài sản của họ, phù hợp với thực tế.
Chi tiêu của các hộ nông dân dao động từ 3,60 triệu đồng đến 9,90 triệu đồng mỗi tháng, với mức chi tiêu trung bình là 5,82 triệu đồng và độ lệch chuẩn thấp 1,26, cho thấy sự đồng đều trong chi tiêu Điều này có thể do thu nhập cao của phần lớn các hộ nông dân Ngoài chi tiêu, các hộ cũng có một khoản tiết kiệm, với số tiền tiết kiệm từ 0 đến 16,20 triệu đồng mỗi tháng, trung bình là 3,53 triệu đồng và độ lệch chuẩn 2,39, cho thấy mức tiết kiệm không nhiều nhưng khá đồng đều Nguyên nhân tiết kiệm ít có thể là do các hộ sử dụng thu nhập để đầu tư vào tài sản hoặc do mức chi tiêu tương đối lớn.
Thông tin về nghề nghiệp của các hộ tham gia sản xuất kinh doanh tại huyện Trảng Bom cho thấy nguồn thu nhập đáng kể của họ, như được thể hiện trong hình 5.2.
Hình 5.2: Nghề nghiệp của hộ nông dân
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017
Kết quả từ hình 5.2 cho thấy, trong số các hộ nông dân tham gia sản xuất kinh doanh, 74 hộ (46,25%) hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, 62 hộ (38,75%) chăn nuôi, 23 hộ (14,38%) tự kinh doanh, và chỉ 1 hộ (0,63%) làm công ăn lương Điều này cho thấy trồng trọt và chăn nuôi là nguồn thu nhập chính của các hộ nông dân tại huyện Trảng Bom, trong khi tỷ lệ hộ làm công ăn lương rất thấp Nguyên nhân có thể do điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương, phù hợp với các ngành nghề mà nông dân theo đuổi Những hoạt động này không chỉ giúp tăng thu nhập và cải thiện đời sống gia đình mà còn góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội của địa phương.
5.1.3 Thực trạng về việc đào tạo nghề
Sau đây là những thông tin về việc tham gia đào tạo các nghề cho các thành viên trong hộ, được thể hiện qua bảng 5.3 dưới đây
Làm công ăn lương 1% tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Bảng 5.3: Thực trạng về việc tham đào tạo nghề của hộ
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017
Theo Bảng 5.3, trong số 160 hộ, có 90 hộ tham gia đào tạo nghề, chiếm tỷ lệ 56,25%.
Trong tổng số hộ, có 70 hộ không tham gia đào tạo nghề, chiếm 43,75% Trong số hộ tham gia đào tạo, nam giới chiếm 70, trong khi nữ giới chỉ có 20, cho thấy nam giới là chủ hộ tham gia đào tạo nghề nhiều hơn Việc tham gia đào tạo nghề không chỉ nâng cao ý thức về ngành nghề kinh tế gia đình mà còn cải thiện sản xuất và thu nhập cho hộ So với nam giới, nữ giới chưa được tham gia đào tạo nghề nông nghiệp nhiều, với tỷ lệ chỉ 40% từ 2012-2016 Hình 5.3 dưới đây mô tả ngành nghề mà các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom đã tham gia đào tạo.
Hình 5.3: Ngành nghề được đào tạo
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017
Trồng cây ăn trái, 24% tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Theo hình 5.3, các hộ tham gia đào tạo nghề tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cho thấy sự phân bố đều giữa các ngành nghề Cụ thể, nghề chăn nuôi gia súc có 41 hộ, chiếm 25,63%; chăn nuôi gia cầm có 40 hộ, chiếm 25,00%; trồng cây công nghiệp cũng có 40 hộ, chiếm 25,00%; và trồng cây ăn trái có 39 hộ, chiếm 24,38% Tỷ lệ tham gia đào tạo nghề giữa các ngành nghề là khá đồng đều.
Mô tả về việc đánh giá chất lượng đào tạo nghề cho hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom được thể hiện qua bảng 5.4 sau
Bảng 5.4: Đánh giá chất lượng đào tạo nghề của hộ nông dân
Chất lượng đào tạo Tần suất Tỷ lệ (%)
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017
Kết quả từ Bảng 5.4 cho thấy, trong số các hộ nông dân tham gia đào tạo nghề tại địa phương, có 7 hộ (4,38%) đánh giá chất lượng đào tạo rất kém, và 23 hộ (14,38%) đánh giá kém Nguyên nhân có thể do cách nhìn nhận và khả năng tiếp thu của hộ hoặc chương trình đào tạo không phù hợp với đặc điểm kinh tế của họ Tuy nhiên, 26 hộ (16,25%) đánh giá chất lượng đào tạo trung bình, trong khi 74 hộ (46,25%) cho rằng chất lượng đào tạo là tốt, và 30 hộ (18,75%) đánh giá rất tốt Điều này cho thấy chương trình đào tạo phù hợp với đặc điểm của từng hộ nông dân, giúp cải thiện kinh tế và thu nhập gia đình.
Chương trình đào tạo nghề cho hộ nông dân tại huyện Trảng Bom đang được đánh giá dựa trên sự phù hợp của nội dung đào tạo, mức độ hiểu biết của nông dân về chương trình, và lợi ích mà chương trình mang lại Bảng 5.5 sẽ thể hiện rõ những thông tin này, bao gồm cách áp dụng kiến thức vào sản xuất và sự hỗ trợ tư vấn sau đào tạo.
Bảng 5.5: Thực trạng về chương trình đào tạo
Chỉ tiêu Tần suất Tỷ lệ (%)
Chương trình đào tạo phù hợp Không 67 41,87
Am hiểu về chương trình Không 49 30,63
Tổng 160 100,00 Áp dụng vào sản xuất Không 58 36,25
Lợi ích của chương trình đào tạo Không 57 35,63
Tư vấn hỗ trợ sau đào tạo Không 69 43,13
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai
hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai
5.2.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Cuộc khảo sát với 160 nông hộ tại 8 xã huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã được thực hiện Mô hình nghiên cứu bao gồm các yếu tố như trình độ học vấn, giới tính, tuổi của chủ hộ, lĩnh vực nghề nghiệp, sức khỏe, khả năng tiếp cận vốn, sự am hiểu về chương trình đào tạo và nhận thức về lợi ích từ chương trình đào tạo Đơn vị đo lường các biến này được mô tả chi tiết trong Bảng 5.6.
Bảng 5.6 Thống kê mô tả các biến trong mẫu khảo sát
Tên biến Diễn giải Trung bình Độ lệch chuẩn
Trong nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia đào tạo được phân tích Tỷ lệ tham gia đào tạo là 0,56, với trình độ học vấn trung bình là 8,11 năm Giới tính của chủ hộ chủ yếu là nam (79%), và độ tuổi trung bình là 42,73 Nghề nghiệp của chủ hộ chủ yếu liên quan đến trồng trọt và chăn nuôi (71%) Về sức khỏe, 81% cho biết sức khỏe tốt Tuy nhiên, chỉ có 32% chủ hộ tiếp cận được vốn vay Đáng chú ý, 69% có hiểu biết về chương trình đào tạo, và 64% nhận thức được lợi ích từ chương trình này.
Nguồn: Dữ liệu được xử lý từ khảo sát tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, năm 2017 Tải luận văn tốt nghiệp mới nhất qua địa chỉ email: vbhtj.mk@gmail.com.
Kết quả khảo sát cho thấy khoảng 56% hộ gia đình tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp Chủ hộ có trình độ học vấn trung bình là 8,12 năm, với 79% là nam giới và 21% là nữ giới Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 42,73 tuổi, trong đó 71% tham gia sản xuất trồng trọt và chăn nuôi, còn 29% làm nghề trồng cây công nghiệp hoặc làm thuê Tình trạng sức khỏe của hộ gia đình khá tốt, với 81% có sức khỏe đủ để tham gia sản xuất Tuy nhiên, chỉ khoảng 32% hộ có khả năng tiếp cận vốn vay Mức độ hiểu biết về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp và nhận thức về lợi ích của chương trình này đạt trên 60% Để kiểm định ảnh hưởng của các yếu tố trên đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, tác giả áp dụng mô hình hồi quy Binary logistic.
5.2.2 Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary logistic thể hiện ở Bảng 5.7 sau đây
Bảng 5.7 Kết quả mô hình hồi quy Binary logistic
Tên biến Diễn giải Hiệu ứng biên
Hocvan Trình độ học vấn 0,074 *** 0,001 0,030
Gioitinh Giới tính chủ hộ -0,062 0,615 0,303
Tuoi Tuổi chủ hộ 0,003 0,613 0,009 nnghiep Nghề nghiệp 0,624 *** 0,000 0,483 skhoe Sức khỏe 0,153 0,305 0,140 tiepcanvon Tiếp cận vốn vay 0,466 *** 0,000 0,310 amhieu Am hiểu về chương trình đào tạo 0,389 *** 0,001 0,163 loiich
Nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo 0,232 * 0,054 0,003
Xác suất dự báo trúng (%) 78,75
Ghi chú: * ; *** tương ứng với các mức ý nghĩa 10% và 1%
Nguồn: Dữ liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, năm 2017 Tải luận văn thạc sĩ mới nhất qua email vbhtj mk gmail.com.
Trước khi ước lượng mô hình thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, các kiểm định đa cộng tuyến và phương sai sai số thay đổi đã được thực hiện để đảm bảo độ tin cậy của mô hình Kiểm định đa cộng tuyến cho thấy hệ số VIF = 1,17 < 5, do đó không có hiện tượng đa cộng tuyến Kiểm định Breusch-Pagan cho kết quả chi2(1) = 0,01 và Prob > chi2 = 0,933 > 10%, chấp nhận giả thiết H0, tức là có hiện tượng phương sai sai số thay đổi Sau khi khắc phục hiện tượng này bằng vòng lặp robustness, mô hình Binary Logistic được ước lượng lại với kết quả Wald chi2(9) = 61,48 và Prob > chi2 = 0,000, cho phép bác bỏ giả thiết H0 ở mức ý nghĩa 1% Điều này cho thấy các yếu tố trong mô hình có thể giải thích khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, với tỷ lệ dự báo đạt 78,75%, cho thấy mô hình phù hợp và có khả năng dự báo tốt.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 8 biến được đưa vào mô hình, có 5 biến có tác động thống kê đáng kể đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, bao gồm trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiếp cận vốn vay, am hiểu về chương trình và nhận thức được lợi ích từ chương trình Tất cả các biến này đều có tác động tích cực đến khả năng tham gia Hầu hết các biến có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, ngoại trừ biến nhận thức lợi ích, có ý nghĩa ở mức 10% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Công Toàn và Bùi Lan Anh (2014) Ngoài ra, tác động của yếu tố thu nhập đến khả năng tham gia cũng tương tự như nghiên cứu của Phạm Đức Thuần và Dương Ngọc Thành.
Nghiên cứu của Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Hữu Lộc (2014) chỉ ra rằng nghề nghiệp (nnghiep) có hệ số tác động biên cao nhất là 0,624, cho thấy nếu nghề nghiệp trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi tăng lên 1 đơn vị, khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp sẽ tăng 62,4% Tiếp theo, biến tiếp cận vốn vay (tiepcanvon) có hệ số tác động biên 0,466, nghĩa là nếu số hộ vay vốn tăng thêm 1 hộ, khả năng tham gia chương trình sẽ tăng 46,6% Biến am hiểu về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp (amhieu) có hệ số tác động biên 0,389, cho thấy nếu số hộ am hiểu tăng lên 1 hộ, khả năng tham gia sẽ tăng 38,9% Biến nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có hệ số tác động biên 0,232, tức là nếu số hộ nhận thức lợi ích tăng 1 đơn vị, khả năng tham gia sẽ tăng 23,2% Cuối cùng, trình độ học vấn có hệ số tác động biên 0,074, cho thấy nếu trình độ học vấn của chủ hộ tăng thêm 1 đơn vị, khả năng tham gia chương trình sẽ tăng 7,4%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, hộ gia đình có trình độ học vấn cao và nhận thức rõ ràng về lợi ích của chương trình đào tạo nghề nông nghiệp sẽ có xu hướng tham gia nhiều hơn Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai bao gồm: trình độ học vấn, nghề nghiệp, khả năng tiếp cận vốn vay, hiểu biết về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, và nhận thức về lợi ích từ chương trình này.
Trong đó, yếu tố tác động mạnh nhất là yếu tố nghề nghiệp của hộ.
Ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai
5.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai Để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố đến thu nhập của nông hộ, tác giả ước lượng mô hình hồi quy đa biến Các biến độc lập đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ như: trình độ học vấn (hocvan), tuổi của chủ hộ (Tuoi), số nhân khẩu của hộ (sonhankhau), nghề nghiệp của hộ (nnghiep), số tiền tiết kiệm hộ (tietkiem)và tình trạng sức khỏe của hộ (skhoe) Bên cạnh đó, để xem xét chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có tác động đến thu nhập của hộ hay không, biến tham gia đào tạo (thamgiadaotao) cũng được đưa vào mô hình nghiên cứu để kiểm định Kết quả ước lượng mô hình thể hiện ở Bảng 5.8 Sau đây tot nghiep down load thyj uyi pl aluan van full moi nhat z z vbhtj mk gmail.com Luan van retey thac si cdeg jg hg
Bảng 5.8 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến
Tên biến Diễn giải Hệ số Giá trị P
Sai số chuẩn hocvan Trình độ học vấn 83,659 0,149 57,736 tuoi Tuổi chủ hộ 34,911 0,041 16,903 sonhankhau Số người trong gia đình -367,954 *** 0,000 101,185 nnghiep Nghề nghiệp -596,862 0,113 374,679
Tietkiem Số tiền tiết kiệm hàng tháng hộ 0,720 *** 0,000 0,063 skhoe Sức khỏe -953,035 0,018 397,367 thamgiadaotao Tham gia chương trình đào tạo nghề 935,254 *** 0,008 345,463
Ghi chú: *** tương ứng với các mức ý nghĩa 1%
Nguồn: Tác giả xử lý từ số liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 2017
Kết quả kiểm định đa cộng tuyến cho thấy hệ số VIF = 1,26, nhỏ hơn 5, xác nhận không có hiện tượng đa cộng tuyến Đồng thời, kiểm định Breusch-Pagan cho thấy giá trị kiểm định chi2(1) = 7,29 và Prob > chi2 = 0,0069, nhỏ hơn 1%, dẫn đến việc bác bỏ giả thiết.
Mô hình nghiên cứu cho thấy không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi, với giá trị kiểm định F (7, 152) = 22,25 và Sig = 0,000, cho thấy mô hình có ý nghĩa ở mức 1% Hệ số R² = 0,5061 cho biết các biến độc lập giải thích được 50,61% thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Phần trăm còn lại do các yếu tố khác ngoài mô hình, như thiên tai, lũ lụt, thị trường tiêu thụ, và khó khăn trong bảo quản sản phẩm sau thu hoạch Do đó, mô hình này được coi là chấp nhận được trong điều kiện nghiên cứu hiện tại.
Kết quả từ mô hình hồi quy đa biến cho thấy trong số 7 biến độc lập, có 3 biến có tác động ý nghĩa đến thu nhập của hộ, bao gồm số nhân khẩu, tiết kiệm và tham gia chương trình đào tạo nông nghiệp.
Biến nhân khẩu có mối tương quan nghịch chiều với thu nhập của hộ, tác động có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Kết quả này trái với kỳ vọng ban đầu, có thể do mẫu khảo sát có nhiều hộ gia đình có thành viên không trong độ tuổi lao động, dẫn đến thu nhập giảm khi số nhân khẩu tăng Ngược lại, cả hai biến tiết kiệm và chương trình đào tạo đều tác động tích cực đến thu nhập hộ, với ý nghĩa thống kê ở mức 1% Đặc biệt, tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có tác động mạnh nhất, với hệ số tác động là 935,254, tức là nếu số hộ tham gia tăng lên một hộ, thu nhập sẽ tăng khoảng 935 triệu đồng/hộ.
Biến tiết kiệm của hộ có hệ số tác động 0,720, nghĩa là khi các yếu tố khác được cố định, nếu số tiền tiết kiệm tăng 1 ngàn đồng, thu nhập của hộ sẽ tăng 0,720 ngàn đồng Kết quả này phản ánh thực tế rằng hộ sản xuất hiệu quả sẽ tích lũy được tiền, dẫn đến thu nhập ngày càng tăng.
5.3.2 Kiểm định tác động của chương trình đào tạo nghề nông nghiệp đối với thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai
Kết quả từ mô hình hồi quy đa biến cho thấy có sự tác động giữa việc tham gia chương trình đào tạo nghề và thu nhập của hộ Để kiểm tra độ tin cậy của hiệu quả từ chương trình đào tạo nghề nông nghiệp tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, chúng tôi thực hiện kiểm định tác động của chương trình đến thu nhập của nông hộ Kiểm định này so sánh các đặc điểm kinh tế xã hội của hai nhóm nông hộ: nhóm tham gia và không tham gia chương trình, mang lại độ tin cậy cao hơn so với việc kiểm định sự khác biệt về thu nhập giữa hai nhóm độc lập Kết quả kiểm định được trình bày trong Bảng 5.9.
Bảng 5.9: Kết quả kiểm định
Thunhap Hệ số Sai số chuẩn Giá trị P
Nguồn: Tác giả xử lý từ số liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 2017
Kết quả kiểm định độ tin cậy cho thấy, hộ tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có thu nhập gia tăng 950 ngàn đồng/hộ so với hộ không tham gia, với mức ý nghĩa thống kê 10% (P = 0,073) Sự chênh lệch này gần tương đương với hệ số tác động 935,254 ngàn đồng từ mô hình hồi quy đa biến, cho thấy độ tin cậy cao của kết quả ước lượng Mô hình này có thể được sử dụng kết hợp với kết quả kiểm định để đánh giá tác động thực tế của chương trình đào tạo nghề nông nghiệp đối với thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.