1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh sán lá gan nhỏ và một số yếu tố liên quan đến thực hành của người dân tại xã hà vinh và hà dương, huyện hà trung, thanh hóa năm 2021

94 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức, Thái độ, Thực hành phòng chống bệnh sán lá gan nhỏ và một số yếu tố liên quan đến thực hành của người dân tại xã Hà Vinh và Hà Dương, huyện Hà Trung, Thanh Hóa Năm 2021
Tác giả Nhữ Văn Hùng
Người hướng dẫn TS. Phạm Đức Phúc
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y học công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tổng quan về sán lá gan nhỏ (11)
  • 1.2. Công tác phòng chống bệnh sán lá gan nhỏ tại Việt Nam (15)
  • 1.3. Tổng quan nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành PC bệnh SLGN (0)
  • 1.4. Tổng quan nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến KAP PC bệnh SLGN (0)
  • 1.5. Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu (20)
  • 1.6. Khung lý thuyết nghiên cứu (21)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 2.1. Đối tượng nghiên cứu (11)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (22)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (22)
    • 2.4. Cỡ mẫu (22)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (23)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (24)
    • 2.7. Công cụ thu thập số liệu (24)
    • 2.8. Biến số nghiên cứu (24)
    • 2.9. Tiêu chuẩn đánh giá (25)
    • 2.10. Nhập liệu và phân tích số liệu (26)
    • 2.11. Đạo đức nghiên cứu (26)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của NTGNC (22)
    • 3.2. Mô tả thực trạng KAP phòng chống bệnh SLGN của NTGNC (0)
    • 3.3. Các yếu tố liên quan đến KAP về phòng chống SLGN của NTGNC (0)
  • Chương 4 BÀN LUẬN 35 KẾT LUẬN 40 KHUYẾN NGHỊ 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn 47 PHỤ LUC 2: Bảng tiêu chuẩn đánh giá KAP của NTGNC 63 (27)

Nội dung

Tổng quan về sán lá gan nhỏ

1.1.1 Đặc điểm sinh học của sán lá gan nhỏ

Bệnh SLGN được biết đến từ hàng ngàn năm trước đây thường biết đến với 2 loài Clonorchis sinensis và Opisthorchis viverrini Loài C sinensis tồn tại ở Trung

Vào năm 1875, Meconell lần đầu tiên phát hiện ra SLGN trong tử thi người Hoa tại Calcuta, Ấn Độ, và được Cobbold đặt tên là Distoma sinense Đến năm 1907, Loss và Kobayashi đã thống nhất tên gọi Clonorchis sinensis dựa trên hình thái học của loài sán này Trong tiếng La Tinh, "Clonos" có nghĩa là phân nhánh, "Orchis" nghĩa là tinh hoàn, và "Sinensis" có nghĩa là Trung Quốc.

Hình 1 minh họa hình thể và cấu tạo của SLGN trưởng thành, với loài Clonorchis sinensis ở bên trái và loài Opisthorchis viverini ở bên phải Ảnh chụp tiêu bản được thực hiện bởi Nguyễn Văn Đề từ Đại học Y Hà Nội vào năm 2012.

SLGN là một loại sán có hình dạng lá, thân dẹt và màu đỏ nhạt, với chiều dài từ 10-12 mm và chiều ngang từ 2-4 mm Loại sán này có hai giác, bao gồm giác miệng và giác bụng, và đặc biệt là lưỡng tính, nghĩa là trong một cơ thể có cả bộ phận sinh dục đực và cái Trứng của SLGN rất nhỏ, với kích thước chiều dài từ 26-30 μm và chiều ngang từ 16-17 μm.

Vào năm 1910, các nhà ký sinh trùng học Nhật Bản đã có những đóng góp quan trọng trong việc làm rõ vòng đời của sán lá gan C sinensis cũng như các đặc điểm dịch tễ học liên quan.

2004, Byung Ihn Choi và cộng sự nghiên cứu vòng đời và vật chủ trung gian của loài

C sinensis là loài sán có vật chủ chính là người, chó, mèo, lợn và chuột cống Vật chủ trung gian đầu tiên là ốc thuộc họ Bithynidae, trong khi vật chủ trung gian thứ hai là các loại cá nước ngọt thích hợp Con người có nguy cơ nhiễm bệnh SLGN khi tiêu thụ các cá thể trung gian thứ hai bị nhiễm ấu trùng nang của SLGN.

Chu kỳ phát triển của SLGN được thể hiện dưới hình sau:

Hình 2: Sơ đồ chu kỳ sán lá gan nhỏ (7)

Chu kỳ phát triển của SLGN bao gồm các giai đoạn:

1) Sán trưởng thành ký sinh ở đường mật, sán đẻ trứng, trứng theo phân ra môi trường bên ngoài

2) Trứng rơi xuống môi trường nước được ốc nuốt rồi nở ra ấu trùng lông miracidia trong ốc rồi phát triển thành ấu trùng đuôi cercaria

3) Ấu trùng đuôi cercaria được ốc thải ra môi trường và bơi tự do trong nước

4) Ấu trùng đuôi cercaria xâm nhập vào cá nước ngọt, rụng đuôi và phát triển thành ấu trùng nang metacercaria ký sinh ở cá

5) Người (hoặc động vật) ăn phải cá sống hoặc nấu chưa chín có chứa ấu trùng nang metacercaria

Sau khi ăn, ấu trùng nang metacercaria di chuyển từ dạ dày xuống tá tràng, sau đó ngược đường mật lên gan, nơi chúng phát triển thành sán trưởng thành Thời gian từ khi ăn phải ấu trùng nang trong cá đến khi chúng trở thành sán trưởng thành khoảng thời gian nhất định.

1.1.2 Đặc điểm dịch tễ của sán lá gan nhỏ

Sán lá gan nhỏ C sinensis chủ yếu phân bố tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, miền Bắc Việt Nam và vùng Viễn Đông Nga Trung Quốc ghi nhận số người nhiễm cao nhất, khoảng 13 triệu người, trong khi Hàn Quốc có khoảng 1,4 triệu người nhiễm, với tỷ lệ nhiễm cao nhất (40-48%) ở cộng đồng gần Sông Nakdong.

Tại Việt Nam, có hai loài sán lá gan nhỏ (SLGN) được xác định là C sinensis ở miền Bắc và O viverrini ở miền Nam và miền Trung Nguồn bệnh chủ yếu đến từ các vật nuôi như chó, mèo, lợn, chuột cống và con người, khi thải trứng ra môi trường nước Đường lây truyền chủ yếu là do ăn cá sống hoặc cá chưa nấu chín qua các món như gỏi cá, lẩu cá, cá nướng, cá hấp, và cá om dưa Vật chủ trung gian đầu tiên là ốc nước ngọt thuộc họ Bithynidae, và vật chủ trung gian thứ hai là các loài cá nước ngọt như mè, trôi, chép, trắm, diếc, rôphi, mương, thiểu gù Việc ăn gỏi cá thường diễn ra trong các dịp lễ, tết, hội làng, và hiếu hỉ, nhưng việc sử dụng nước cốt chanh, ớt tươi, hoặc uống rượu khi ăn gỏi cá không thể tiêu diệt ấu trùng SLGN.

Năm 2016, bệnh SLGN đã được phát hiện tại 32 tỉnh, thành trên toàn quốc với tỷ lệ nhiễm khác nhau Cụ thể, huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định ghi nhận tỷ lệ nhiễm cao nhất là 35,5%, tiếp theo là huyện Dương Kinh tỉnh Hải Phòng với 15,69%, huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa đạt 8,7%, huyện Lục Yên, Yên Bái có tỷ lệ 36%, và huyện Gia Viễn, Ninh Bình với 20,5%.

Tỷ lệ nhiễm bệnh SLGN liên quan chặt chẽ đến thói quen ăn gỏi cá, đặc biệt phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung.

Tại các tỉnh HUPH Bắc như Nam Định, Ninh Bình, Hà Tây và Thanh Hóa, tỷ lệ nhiễm SLG ở người dao động từ 37-40%, trong khi tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán ở cá cao, đạt từ 44,4-92,9%.

1.1.3 Tác hại của bệnh sán lá gan nhỏ

Sán lá gan, mặc dù không gây hại cấp tính cho sức khỏe con người, nhưng lại là nguyên nhân dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng Chúng có thể tồn tại trong ống mật của người lên tới 26 năm Năm 2009, Hiệp hội nghiên cứu ung thư quốc tế đã phân loại sán lá gan C sinensis và O viverrini vào nhóm tác nhân gây ung thư (nhóm 1) ở người Nghiên cứu cho thấy nguy cơ ung thư ở những người nhiễm sán lá gan cao hơn so với những người nhiễm vi rút viêm gan B và C, với tỷ lệ tương ứng là 4,8; 2,6 và 1,8, đặc biệt tại một số quốc gia Châu Á.

1.1.4 Chẩn đoán và điều trị bệnh sán lá gan nhỏ

1.1.4.1 Chẩn đoán bệnh sán lá gan nhỏ

Trong giai đoạn sớm, hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng, tuy nhiên một số trường hợp có thể gặp phải rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi và cảm giác ăn chậm tiêu Các triệu chứng rối loạn tiêu hóa bao gồm đầy bụng, khó tiêu, cảm giác ậm ạch và đau dạ dày, đặc biệt khi tiêu thụ thực phẩm nhiều mỡ, tình trạng bệnh có thể trở nên nghiêm trọng hơn.

Đau tức hạ sườn phải và vùng gan thường xảy ra khi lao động nặng hoặc di chuyển, có thể kèm theo triệu chứng vàng da và nước tiểu vàng Đôi khi, cơn đau gan xuất hiện theo từng đợt, và một số trường hợp có dấu hiệu xạm da Gan có thể sưng to dưới bờ sườn, với mật độ mềm và mặt nhẵn, tiến triển chậm, có thể gây đau ở điểm túi mật Ngoài ra, một số trường hợp có thể liên quan đến viêm đường mật, viêm tụy hoặc xơ gan cổ trướng.

Chẩn đoán cận lâm sàng:

- Chủ yếu là xét nghiệm tìm trứng trong phân (kỹ thuật Kato, Kato-Katz, kỹ thuật Formalin Ether) hoặc dịch tá tràng (đối với trường hợp nhiễm ít)

Các xét nghiệm như siêu âm cho thấy nhu mô gan tăng sáng, đường mật dày lên và kém đàn hồi Ngoài ra, xét nghiệm máu cho thấy sự gia tăng bạch cầu ái toan, cùng với các kết quả từ huyết thanh chẩn đoán.

Công tác phòng chống bệnh sán lá gan nhỏ tại Việt Nam

Trong những năm qua, ngành Y tế Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động khám, điều trị và cấp phát thuốc cho bệnh nhân cũng như các đối tượng có nguy cơ nhiễm SLGN cao tại các vùng dịch tễ Mặc dù công tác giáo dục truyền thông về bệnh SLGN đã được thực hiện, nhưng vẫn chỉ tập trung vào một số tỉnh có tỷ lệ nhiễm cao và chủ yếu nhắm đến các đối tượng có nguy cơ.

Vào năm 2006, các hoạt động truyền thông cộng đồng đã được triển khai tại Thanh Hóa và Bình Định, đồng thời thuốc điều trị SLGN được thử nghiệm và cấp phát cho những người có nguy cơ cao, trừ một số trường hợp đặc biệt Từ năm 2006 đến 2010, tại 6 tỉnh Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa và Bình Định, nơi có SLGN lưu hành, hơn 180.000 người đã được điều trị, góp phần giảm tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh, cũng như giảm thiểu ảnh hưởng của bệnh đối với sức khỏe con người.

1.3 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành PC bệnh SLGN

Nhiều nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt tại các quốc gia có bệnh SLGN lưu hành, đã chỉ ra rằng kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về phòng bệnh SLGN còn hạn chế Đặc biệt, nhiều người chưa nhận thức được sự nguy hiểm của bệnh này Một nghiên cứu tại 26 thôn/bản huyện Tân Phong, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc cho thấy chỉ có 19,51% người dân có thói quen ăn gỏi cá, 11,46% biết rằng việc ăn gỏi cá hoặc cá chưa nấu chín có thể dẫn đến nhiễm SLGN, và chỉ 5,28% trong số họ nhận thức được tác hại của SLGN đối với sức khỏe.

Một nghiên cứu tại huyện Yanqing, Bắc Kinh, Trung Quốc đã khảo sát 283 người dân và cho thấy 25,09% đã từng nghe về bệnh SLGN Tỷ lệ người dân biết về đường lây nhiễm, tác hại và biện pháp phòng bệnh lần lượt là 10,6%, 9,89% và 10,6% Ngoài ra, 7,07% người dân có thói quen ăn gỏi cá nước ngọt.

Một nghiên cứu năm 2007 tại Thái Lan với 1.077 người tham gia cho thấy 55,11% có kiến thức về phòng bệnh SLGN, 39,26% có thái độ tích cực về phòng bệnh này, và 41,42% có hành vi nguy cơ, trong đó có việc ăn gỏi cá.

Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ người dân hiểu biết về nguyên nhân, tác hại và biện pháp phòng tránh bệnh SLGN còn thấp Cụ thể, nghiên cứu của Nguyễn Văn Chương và cộng sự (2006) tại 4 tỉnh miền Trung cho thấy 55-97% người dân không biết nguyên nhân gây bệnh, trong khi 75-90% không nắm rõ tác hại và cách phòng ngừa bệnh SLGN.

Nghiên cứu của Lê Hữu Thọ (2014) chỉ ra rằng người dân còn thiếu kiến thức về bệnh sán lá gan nhỏ (SLGN) Cụ thể, trong số 384 người được phỏng vấn, chỉ có 39,3% có kiến thức chung về bệnh, 42,71% hiểu đúng về đường lây truyền, 38,8% nhận biết đúng món ăn truyền bệnh là gỏi cá nước ngọt, 38,5% biết về tác hại của SLGN, và chỉ 33,3% có kiến thức đúng về biện pháp phòng bệnh.

Thái độ và thực hành của người dân về phòng bệnh SLGN còn hạn chế, với nghiên cứu của Lê Hữu Thọ (2014) cho thấy chỉ 40,1% có thái độ tích cực và 35,7% thực hành đúng Tại xã An Hòa, tỷ lệ người dân ăn gỏi cá đạt 33,3%, trong đó 52,3% ăn gỏi cá từ 5 lần trở lên trong năm Nghiên cứu của Lê Thị Tuyết (2007) ở huyện Xuân Trường, Nam Định cho thấy tỷ lệ người dân nhận thức về nguyên nhân gây bệnh SLGN chỉ đạt 31,2% và 47,5% về các biện pháp phòng bệnh.

Tại HUPH, người dân Xuân Ninh có tỷ lệ nhận thức về việc phòng bệnh SLGN còn thấp, chỉ đạt 34,2% khi đi khám xét nghiệm khi có dấu hiệu nghi ngờ Tỷ lệ sử dụng phân người chưa ủ để nuôi cá là 3,2%, trong khi tỷ lệ ăn gỏi cá rất cao, đạt 45,2% Đặc biệt, số người chỉ thỉnh thoảng ăn gỏi cá chiếm 39,1%, và xã Xuân Kiên có tỷ lệ ăn gỏi cá cao hơn Xuân Ninh, với 52,5% so với 38,9%.

Kiến thức đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ và thực hành phòng chống bệnh SLGN của người dân Thiếu kiến thức sẽ khiến người dân không nhận thức được các nguy cơ mà bệnh SLGN mang lại cũng như các biện pháp phòng ngừa hiệu quả Nghiên cứu của Đinh Thị Thanh Mai và cộng sự đã chỉ ra thực trạng này.

2014), khi những người không có kiến thức phòng bệnh SLGN có nguy cơ mắc bệnh SLGN cao gấp 5,4 lần so với những người có kiến thức về bệnh (17)

Nhiều người dân vẫn chưa nhận thức rõ về tác hại của SLGN, điều này được thể hiện qua các nghiên cứu cho thấy chỉ có 53% người tham gia biết rằng SLGN gây đau bụng và 41,5% nhận ra đau vùng gan Tuy nhiên, những tác động nghiêm trọng hơn như ung thư và viêm đường mật lại ít được nhắc đến, chỉ chiếm 30%.

Một nghiên cứu cắt ngang tại hai xã Hà Dương và Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa do Lê Thị Huyền Trang thực hiện vào năm 2018 cho thấy chỉ 3,01% người tham gia có kiến thức tốt về phòng chống bệnh SLG, trong khi 90,97% có kiến thức trung bình và 6,02% có kiến thức kém Về thực hành, 67,37% người được phỏng vấn đã ăn gỏi cá trong vòng một năm qua, và 94,85% đã từng ăn rau sống, trong đó 44,02% tiêu thụ ít nhất một lần.

1 lần mỗi tuần (31) Đây cũng là khảo sát nghiên cứu đầu tiên thuộc khuôn khổ dự án FOODTINC trong năm 2018

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến KAP về PC SLGN

1.4.1 Các yếu tố nhân khẩu học

Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm SLGN tăng dần theo độ tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi từ 30 đến 59.

Nghiên cứu của Trương Tiến Lập tại Nam Định cho thấy tỷ lệ nhiễm SLGN cao nhất ở nhóm tuổi 40-49, đạt 38%.

HUPH theo là nhóm 50-59 tuổi (37,9%), 30-39 tuổi (28,1%) và thấp nhất ở nhóm tuổi dưới

Tỷ lệ nhiễm SLGN ở nam giới cao hơn nữ giới với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Nguyên nhân chính cho sự chênh lệch này là do nam giới thường xuyên tiêu thụ gỏi cá và rau sống nhiều hơn nữ giới, theo nghiên cứu của Đoàn Thúy Hòa.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 2.1 Đối tượng nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của NTGNC

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w