1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013

138 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống HIV/AIDS của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố Nha Trang, năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Quế Lâm
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thanh Hương
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Y Tế Công Cộng
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 3,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm bước đầu tìm hiểu những kết quả của hoạt động can thiệp qua ĐĐV đến MSM, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến k

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ QUẾ LÂM

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP THÔNG QUA ĐỒNG ĐẲNG VIÊN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS

CỦA NAM QUAN HỆ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI

TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG, NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

Hà Nội, 2014 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ QUẾ LÂM

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP THÔNG QUA ĐỒNG ĐẲNG VIÊN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS

CỦA NAM QUAN HỆ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI

TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG, NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

PGS.TS NGUYỄN THANH HƯƠNG

Hà Nội, 2014 HUPH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập tại Trường Đại học Y tế công cộng (2011-2013), em xin gửi lời cảm ơn đến quývThầy, Cô đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức thiết thực Để hoàn thành luận văn đạt được kết quả như hôm nay, em xin gửi lời cảm ơn đến:

Cô hướng dẫn khoa học là PGS.TS Nguyễn Thanh Hương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Ban Giám đốc Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe tỉnh Khánh Hòa đã tạo thuận lợi về thời gian và hỗ trợ tinh thần trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Lãnh đạo Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa đã nhiệt tình hợp tác

và hỗ trợ trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Các bạn MSM, các đồng đẳng viên đã tích cực hỗ trợ, giúp đỡ trong quá trình thu thập dữ liệu thực hiện luận văn

Các đồng nghiệp đã tích cực hợp tác và giúp đỡ trong quá trình tổ chức điều tra, thu thập và xử lý thông tin

Các bạn học viên lớp cao học khóa 15 đã động viên và chia sẻ những kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập và làm luận văn

Gia đình đã động viên tinh thần để an tâm học tập

Trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2014

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình dịch HIV/AIDS hiện nay 4

1.1.1 Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới 4

1.1.2 Tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam 4

1.1.3 Tình hình HIV/AIDS tại tỉnh Khánh Hoà 5

1.1.4 Tình hình HIV/AIDS tại thành phố Nha Trang 5

1.2 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan 6

1.2.1 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM 6

1.2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6

1.2.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 8

1.2.2 Các nghiên cứu về can thiệp phòng chống HIV/AIDS cho nhóm MSM 12

1.2.2.1 Trên thế giới 12

1.2.2.2 Tại Việt Nam 12

1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 17

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Thiết kế nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 20

2.4.1 Cỡ mẫu 20

2.4.1.1 Nghiên cứu định lượng 20

2.4.1.2 Nghiên cứu định tính 21

HUPH

Trang 5

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 21

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.5.1 Các bước tiến hành 23

2.5.2 Thu thập số liệu 24

2.6 Các biến số nghiên cứu (chi tiết xem phụ lục 1) 24

2.6.1 Nghiên cứu định lượng 24

2.6.2 Nghiên cứu định tính: 25

2.7 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 25

2.7.1 Một số khái niệm 25

2.7.2 Cách đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống HIV/AIDS của MSM 26

2.7.3 Tiếp cận các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại TP Nha Trang 27

2.8 Phương pháp xử lý số liệu 27

2.8.1 Đối với nghiên cứu định lượng: 27

2.8.1 Đối với nghiên cứu định tính: 27

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 28

2.10.1 Hạn chế và sai số 28

2.10.2 Cách khắc phục 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Kết quả về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM tại thành phố Nha Trang năm 2013 30

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 30

3.1.2 Kiến thức phòng chống HIV/AIDS của MSM 33

3.1.3 Thái độ của MSM về phòng chống HIV/AIDS 34

3.1.4 Thực hành về phòng chống HIV/AIDS trong nhóm MSM 35

3.1.4.1 QHTD với bạn tình nam và bạn tình nữ 35

3.1.4.2 Sử dụng BCS trong QHTD với bạn tình nam và bạn tình nữ 36

3.1.4.3 Hành vi QHTD khi say rượu 39

HUPH

Trang 6

3.2 Ảnh hưởng của một số hoạt động can thiệp thông qua ĐĐV đến kiến thức, thái

độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM tại TP Nha Trang 40

3.2.1 Ảnh hưởng tới kiến thức 40

3.2.2 Ảnh hưởng tới thái độ 45

3.2.3 Ảnh hưởng tới thực hành 50

3.2.3.1 Sử dụng BCS trong QHTD với BTTN nam 50

3.2.3.2 Sử dụng BCS trong QHTD với bạn tình tự nguyện (BTTN) nữ 52

3.2.3.3 Xét nghiệm HIV 53

3.2.4 Kiểm soát yếu tố nhiễu tìm hiểu ảnh hưởng của việc tiếp cận ĐĐV đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của ĐTNC 57

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 60

4.1 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM tại TP Nha Trang 60

4.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 60

4.1.2 Kiến thức phòng chống HIV/AIDS của ĐTNC 61

4.1.3 Thái độ phòng chống HIV/AIDS của ĐTNC 63

4.1.4 Thực hành phòng chống HIV/AIDS của ĐTNC 65

4.1.4.1 QHTD với bạn tình nam và bạn tình nữ 65

4.1.4.2 Sử dụng BCS trong QHTD hậu môn với bạn tình nam 65

4.1.4.3 Sử dụng BCS trong QHTD với bạn tình nữ 67

4.1.4.4 Xét nghiệm HIV 68

4.1.4.5 Hành vi QHTD khi say rượu 69

4.2 Ảnh hưởng của một số hoạt động can thiệp thông qua ĐĐV đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM tại TP Nha Trang 70

4.2.1 Ảnh hưởng tới kiến thức 71

4.2.2 Ảnh hưởng tới thái độ 72

4.2.3 Ảnh hưởng tới thực hành 74

4.3 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu 78

KẾT LUẬN 80

Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM 80

HUPH

Trang 7

Ảnh hưởng của một số hoạt động can thiệp thông qua ĐĐV đến kiến thức, thái độ,

thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM 80

KHUYẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 88

Phụ lục 1 CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 88

Phụ lục 2 KHUNG LÝ THUYẾT 96

Phụ lục 3: PHIẾU SÀNG LỌC VÀ PHỎNG VẤN 97

Phụ lục 4 PHIẾU THOẢ THUẬN ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 109

Phụ lục 5 BẢNG HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU/ THẢO LUÂN NHÓM 111

Phụ lục 6: HƯỚNG DẪN CÁCH TÍNH ĐIỂM KIẾN THỨC VỀ HIV/AIDS 118

Phụ lục 7: HƯỚNG DẪN CÁCH TÍNH ĐIỂM THÁI ĐỘ VỀ HIV/AIDS 119

Phụ lục 8: HƯỚNG DÂN CÁCH TÍNH ĐIỂM THỰC HÀNH 120

Phụ lục 9 MỘT SỐ BẢNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 121

Phụ lục 10 BIÊN BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA SAU BẢO VỆ………… 125

HUPH

Trang 8

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

ĐTV Điều tra viên

GDVĐĐ Giáo dục viên đồng đẳng

GSV Giám sát viên

HIV/AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

HSS+ Giám sát trọng điểm HIV/AIDS lồng ghép hành vi

IBBS Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI MSM Nam quan hệ tình dục đồng giới

NCĐL Nghiên cứu định lượng

TTGDTT Thông tin giáo dục truyền thông

UNAIDS Ủy ban phòng chống HIV/AIDS của Liên Hiệp quốc VCT Tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện

WHO Tổ chức Y tế thế giới

HUPH

Trang 9

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên trong nhóm MSM 10

Bảng 1.2 QHTD và sử dụng BCS với bạn tình nam trong nhóm MSM 11

Bảng 1.3 Tiếp cận các dịch vụ can thiệp dự phòng HIV/AIDS trong nhóm MSM 16

Bảng 3.1 Một số đặc điểm chung về nhân khẩu học của ĐTNC 30

Bảng 3.2 Đặc điểm tình dục của ĐTNC 31

Bảng 3.3 Tình hình sử dụng ma túy 31

Bảng 3.4 Nguồn tiếp cận thông tin về phòng chống HIV/AIDS 32

Bảng 3.5 Kiến thức đúng về HIV/AIDS của ĐTNC 33

Bảng 3.6 Thái độ đúng về phòng chống HIV/AIDS của MSM 34

Bảng 3.7 MSM có QHTD với bạn tình nam và với bạn tình nữ 35

Bảng 3.8 Mức độ sử dụng BCS trong tháng qua với bạn tình nam 36

Bảng 3.9 Lý do không sử dụng BCS khi QHTD hậu môn lần gần nhất với BTTN nam trong tháng qua 37

Bảng 3.10 Sử dụng BCS khi QHTD với BTTN nữ 12 tháng qua 38

Bảng 3.11 Tỷ lệ MSM xét nghiệm HIV 38

Bảng 3.12 QHTD khi đang say rượu 39

Bảng 3.13 Kiến thức đúng về HIV của ĐTNC 40

Bảng 3.14 Tỷ lệ MSM có kiến thức đạt về phòng chống HIV/AIDS theo mức độ tiếp cận với ĐĐV 43

Bảng 3.15 Thái độ tích cực về phòng chống HIV/AIDS của MSM 45

Bảng 3.16 Tỷ lệ MSM có thái độ tích cực về phòng chống HIV/AIDS theo mức độ tiếp cận với ĐĐV 48

Bảng 3.17 MSM sử dụng BCS trong QHTD hậu môn với BTTN nam trong 1 tháng qua 49

HUPH

Trang 10

Bảng 3.18 Mức độ sử dụng BCS trong QHTD hậu môn với BTTN nam trong 1 tháng qua 50 Bảng 3.19 MSM sử dụng BCS trong QHTD với BTTN nữ trong 12 tháng qua 52 Bảng 3.20 Mức độ sử dụng BCS trong QHTD với BTTN nữ trong 12 tháng qua 52 Bảng 3.21 Tỷ lệ MSM xét nghiệm HIV 53 Bảng 3.22 Tỷ lệ MSM có thực hành đạt về phòng chống HIV/AIDS theo mức độ tiếp cận với ĐĐV 55 Bảng 3.23 Mô hình hồi quy đa biến kiểm soát yếu tố nhiễu của việc tiếp cận ĐĐV

đến kiến thức phòng chống HIV/AIDS của ĐTNC ……….57

Bảng 3.24 Mô hình hồi quy đa biến kiểm soát yếu tố nhiễu của việc tiếp cận ĐĐV

đến thái độ phòng chống HIV/AIDS của ĐTNC ……….58

Bảng 3.25 Mô hình hồi quy đa biến kiểm soát yếu tố nhiễu của việc tiếp cận ĐĐV đến thực hành phòng chống HIV/AIDS của ĐTNC ………59

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ sử dụng BCS với BTTX nam và nữ trong nhóm MSM không QHTD nhận tiền So sánh kết quả IBBS năm 2006 – 2009 11 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ MSM có kiến thức đạt về phòng chống HIV/AIDS 33 Biểu đồ 3.2 Thái độ chung về phòng chống HIV/AIDS của MSM 35 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ MSM có sử dụng BCS khi QHTD hậu môn lần gần nhất trong 1 tháng qua với bạn tình nam 36 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ MSM thực hành về phòng chống HIV/AIDS đạt yêu cầu 39

HUPH

Trang 11

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nha Trang là thành phố du lịch nổi tiếng của Việt Nam và cũng là địa bàn có

số người nhiễm HIV cao nhất tỉnh Khánh Hoà Từ năm 2006 đến nay, thành phố Nha Trang đã có hoạt động can thiệp phòng chống HIV/AIDS đến MSM qua đồng đẳng viên (ĐĐV) Nhằm bước đầu tìm hiểu những kết quả của hoạt động can thiệp

qua ĐĐV đến MSM, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của các

hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành

về phòng chống HIV/AIDS của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố Nha Trang, năm 2013” với hai mục tiêu (1) mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về

phòng chống HIV/AIDS của MSM; và (2) xác định ảnh hưởng của một số hoạt động can thiệp qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM tại thành phố Nha Trang

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang định lượng kết hợp với định tính, tiến hành trên 230 MSM; 12 cuộc phỏng vấn sâu gồm MSM, CBYT, cán bộ phụ trách chương trình phòng chống HIV/AIDS của tỉnh và 04 cuộc thảo luận nhóm MSM Nghiên cứu thực hiện từ tháng 1 đến tháng 08 năm 2013 Số liệu định lượng được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0, sử dụng test χ2, tỷ suất chênh (OR)

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ MSM có kiến thức đạt, thái độ tích cực và thực hành đạt lần lượt là 62,6%, 12,2%, và 17,8% MSM tiếp cận ĐĐV hơn 1 lần có kiến thức đạt, thái độ tích cực và thực hành đạt cao hơn nhóm MSM không tiếp cận ĐĐV lần lượt là hơn 28 lần (p<0,001); gần 4 lần (p<0,05) và gần 11 lần (p<0,001) Kết quả nghiên cứu định tính cũng khẳng định kết quả nghiên cứu định lượng, ĐĐV

đã xây dựng được mối quan hệ thân thiện, tạo được niềm tin đến MSM, qua đó cung cấp kiến thức, thay đổi thái độ phòng chống HIV/AIDS và giúp MSM vượt qua các rào cản để sử dụng BCS thường xuyên, xét nghiệm HIV và biết kết quả xét nghiệm Nghiên cứu đã đưa ra kết luận mạng lưới ĐĐV đã có ảnh hưởng rất rõ rệt đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM

Nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hoà, Trung tâm Y tế thành phố Nha Trang cần tiếp tục ưu tiên công tác can thiệp phòng chống HIV/AIDS cho nhóm MSM qua mạng lưới ĐĐV

HUPH

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dịch HIV/AIDS đang là vấn đề y tế và xã hội nghiêm trọng trên toàn cầu Số người sống với HIV và số người tử vong do AIDS vẫn đang tiếp tục tăng lên Năm

2012 có khoảng 35,3 triệu người đang sống chung với HIV tăng hơn 4 triệu so với

năm 2005[37] Ở Việt Nam, tính đến 31/5/2013, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn

sống là 213.413 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 63.373 và 65.133 trường hợp tử vong do AIDS Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn còn diễn biến phức tạp[8] Theo báo cáo của Uỷ ban Quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm trong năm 2012 tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy (NCMT) là 13,4%, phụ nữ mại dâm (PNMD) là 3%, nhóm nam quan

hệ tình dục đồng giới (MSM) là 16,7%[26]

Thành phố (TP) Nha Trang là địa bàn có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất trong tỉnh Khánh Hoà Tính đến 31/12/2013, TP Nha Trang có 1.198 người nhiễm HIV/AIDS, 1.030 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 707 người đã tử vong

do AIDS Toàn bộ 27 xã, phường của TP đều có người nhiễm HIV/AIDS[20] Năm

2005, một nghiên cứu thiết kế mô tả cắt ngang trên 295 MSM tỉnh Khánh Hoà bằng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát do Sở y tế thực hiện cho thấy chưa phát hiện trường hợp nhiễm HIV nào trong quần thể này[15] Năm 2010 Tôn Thất Toàn đã thực hiện một nghiên cứu với thiết kế mô tả cắt ngang trên 107 MSM tại

TP Nha Trang bằng phương pháp chọn mẫu toàn bộ tại các điểm nóng thì tỷ lệ này tại TP Nha Trang đã tăng lên 3,7%[18] So với dự báo của Cục Phòng, chống AIDS Việt Nam giai đoạn 2007-2012, tỷ lệ nhiễm HIV của MSM ở các thành phố chỉ vào khoảng 2%[11] Như vậy tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm MSM ở TP Nha Trang đang có chiều hướng gia tăng, trong khi tỷ lệ này trong các nhóm NCMT, PNMD đang có

xu hướng giảm Cụ thể kết quả giám sát trọng điểm tại tỉnh Khánh Hòa cho thấy tỷ

lệ HIV dương tính trong nhóm NCMT năm 2009 là 11,9%, năm 2011 là 7,66%, ở nhóm PNMD năm 2009 là 4%, năm 2011 là 0,66%[19]

HUPH

Trang 13

Nghiên cứu của Sở Y tế Khánh Hoà năm 2005 chỉ ra hành vi luôn luôn sử dụng bao cao su (BCS) của MSM khi QHTD qua hậu môn với bạn tình nam là 29%, có 66% MSM cho rằng QHTD qua âm đạo dễ lây nhiễm hơn qua hậu môn[15]

Nghiên cứu của Tôn Thất Toàn năm 2010 tại Khánh Hòa cho thấy MSM luôn luôn sử dụng BCS khi QHTD hậu môn với bạn tình nam là 13,3%, MSM có sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình nữ là 32,5%, đồng đẳng viên (ĐĐV) là nguồn cung cấp chủ yếu BCS (87,9%), MSM được nhận dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV là 19,6%[18]

Từ năm 2010 đến nay, tại TP Nha Trang các chương trình phòng chống HIV/AIDS của Quỹ toàn cầu, Ngân hàng thế giới, Life Gap, Tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế tại Việt Nam, chương trình mục tiêu quốc gia đã thực hiện các hoạt động can thiệp giảm tác hại, trong đó có hoạt động của mạng lưới ĐĐV đến các nhóm NCMT, PNMD và MSM Đánh giá đúng thực chất ảnh hưởng của một số hoạt động can thiệp qua mạng lưới ĐĐV trên địa bàn TP Nha Trang trong thời gian

qua đến nhóm MSM là rất cần thiết Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Ảnh

hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái

độ, thực hành về phòng chống HIV/AIDS của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố Nha Trang, năm 2013”

Kết quả nghiên cứu này sẽ là bằng chứng làm cơ sở cho việc lập kế hoạch phòng chống HIV/AIDS qua mạng lưới ĐĐV phù hợp cho nhóm đối tượng MSM tại địa phương, góp phần đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mới mắc HIV trong cộng đồng MSM nói riêng và cộng đồng người dân tại TP Nha Trang- Khánh Hoà nói chung trong thời gian tới

HUPH

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

HUPH

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình dịch HIV/AIDS hiện nay

1.1.1 Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới

Theo báo cáo của chương trình phối hợp của Liên hiệp quốc về phòng, chống HIV/AIDS (UNAIDS) năm 2013, đến cuối năm 2012 toàn thế giới có khoảng 35,3 triệu người nhiễm HIV Ở Bắc Mỹ khoảng 1,3 triệu người bị nhiễm HIV, Đông Âu

và Trung Á 1,3 triệu người Nam Á và Đông Nam Á có 3,9 triệu người[37]

Kể từ năm 1980, khi thế giới bắt đầu với dịch HIV/AIDS, MSM đã chịu nhiều tác động, nguy cơ lây nhiễm cao, đặc biệt ở các nước phát triển[41] Năm 2006, số trường hợp nhiễm HIV mới do QHTD nam giới với nam giới ở Canada chiếm 40%

và 53% ở Mỹ Ở Đức, so sánh năm 2002 và năm 2006 cho thấy số trường hợp nhiễm HIV mới của nhóm nam QHTD đồng giới đã tăng lên gấp đôi (96%), trong khi đó việc lây truyền qua đường TCMT lại giảm xuống[38] Tại các nước có thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ nhiễm HIV của MSM cao hơn gấp 19,3 lần so với nhóm dân số chung[29] Cũng theo báo cáo Beyrer năm 2012, tỷ lệ nhiễm HIV của MSM khu vực Caribê cao gấp 25,4 lần so với nhóm dân số chung; tỷ lệ này tại khu vực Đông Á cao gấp 5 lần[27] Nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy dịch HIV trong nhóm MSM đang gia tăng Ở Băng cốc - Thái Lan, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM được báo cáo là 17,3% năm 2003, 28,3% năm 2005 và 30,8% năm 2007[40] Tại Jakarta – Indonexia tỷ lệ nhiễm HIV là 22% ở những MSM chuyển đổi giới tính

và bán dâm[30]

1.1.2 Tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam

Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên của Việt Nam được phát hiện tại thành phố

Hồ Chí Minh (TP HCM) vào năm 1990[26] Hiện nay, dịch vẫn đang trong giai đoạn tập trung, với tỷ lệ hiện nhiễm cao nhất được phát hiện trong các nhóm quần thể như NCMT, PNMD và MSM Cho đến nay, ở tất cả 63 tỉnh, thành phố, gần 98% huyện, quận và 78 % xã, phường đều đã phát hiện có người nhiễm HIV Tính đến 31/5/2013, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 213.413 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 63.373 và 65.133 trường hợp tử vong do AIDS,

HUPH

Trang 16

nam giới chiếm 66,3% tổng số trường hợp nhiễm HIV[8] Số ca nhiễm HIV mới được phát hiện hàng năm là khoảng 14.000 trường hợp[26]

Theo kết quả giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) năm 2009, tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm MSM tại một số tỉnh dao động từ 5%-19,9%, cao hơn so với IBBS năm 2006 là 6,2%-11%[6]

1.1.3 Tình hình HIV/AIDS tại tỉnh Khánh Hoà

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam Theo báo cáo của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa, tính đến ngày 31/5/2013 toàn tỉnh có 3.016 người nhiễm HIV, trong đó có 1.727 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, 1.082 người đã chết vì AIDS 8/9 huyện, thị, thành phố (trừ huyện đảo Trường Sa) có người nhiễm HIV, 117/140 xã phường (83,6%) có người nhiễm HIV/AIDS Các trường hợp nhiễm HIV vẫn tập trung chủ yếu ở độ tuổi 20- 39, chiếm 74,4%[20] Năm 2005, Sở Y tế tỉnh Khánh Hoà lần đầu tiên thực hiện một nghiên cứu cắt ngang với sự tham gia của 295 MSM xét nghiệm máu và không phát hiện trường hợp nào dương tính với HIV[15] Năm 2010, một nghiên cứu cắt ngang của Tôn Thất Toàn trên 445 MSM được thực hiện tại Khánh Hoà cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM của toàn tỉnh là 1,3%[18]

1.1.4 Tình hình HIV/AIDS tại thành phố Nha Trang

Tháng 4/1993, TP Nha Trang phát hiện 33 trường hợp nhiễm HIV đầu tiên Từ

đó cho đến nay, TP Nha Trang là địa bàn có tỷ lệ người nhiễm HIV luôn cao nhất trong toàn tỉnh Khánh Hoà Tính đến 31/12/2013, TP Nha Trang có 1.198 người nhiễm HIV/AIDS, 1.030 người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 707 người đã tử vong do AIDS Toàn bộ 27 xã, phường của TP đều có người nhiễm HIV/AIDS Tỷ

lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân của TP Nha Trang là 398, cao hơn so với tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân của toàn quốc là 257[20]

Theo số liệu tổng hợp từ Khoa Giám sát của Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hoà, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tại TP Nha Trang năm 2005 là 57%, năm 2010 tỷ lệ này giảm xuống còn 31,5% Nhóm PNMD năm

2005 tỷ lệ nhiễm HIV là 0,01%, năm 2010 là 0,03% Trong khi đó tỷ lệ này ở

HUPH

Trang 17

nhóm MSM lại tăng lên, cụ thể năm 2005 là 0% và năm 2010 là 3,7%[15],[18],[19]

Như vậy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV của MSM TP Nha Trang đang gia tăng trong khi nhóm NCMT đang có chiều hướng giảm Nếu so với dự báo của Cục phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2007-2012, tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm MSM tại Việt Nam ở mức 2%, thì tỷ lệ nhiễm HIV của MSM ở TP Nha Trang cao hơn gần gấp đôi so với dự báo[11] Nếu so sánh với chương trình giám sát trọng điểm HIV/STI trong các nhóm nguy cơ cao ở Việt Nam (HSS+) năm 2011, tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm MSM TP Nha Trang thấp hơn TP HCM (14%), Hà Nội (6,7%), tuy nhiên cao hơn Đà Nẵng (0%), Hải Dương (1,2%) và An Giang (3%)[13]

1.2 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan

1.2.1 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM

1.2.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM, sau đây là một số tổng hợp kết quả nghiên cứu ở một

số khu vực trên thế giới và các nước ở Đông Nam Á

Theo báo cáo toàn cầu về HIV của WHO và UNAIDS năm 2011 cho thấy tỷ lệ MSM đã đi xét nghiệm HIV và có nhận kết quả ở châu Âu là 31%, trong đó Ukraine là 43%; Croatia là 4% Ở châu Mỹ Latinh và Caribe là 32%, trong đó Braxin 13%, Cộng hoà Dominica 7% Ở Đông Nam và Đông Nam Á là 27%, trong

đó Campuchia 51%, Trung Quốc 49%, Myanma 48%, Malaysia 41%, Lào 22%, Việt Nam 19%, Philippines 7%[39] Tỷ lệ MSM xét nghiệm HIV và nhận kết quả thấp được giải thích thêm từ nghiên cứu của Wijngaarden cùng cộng sự tại các nước trong khu vực Mêkong và Trung Quốc giai đoạn 2000-2007, với thiết kế mô tả cắt ngang cho thấy MSM khu vực sông Mêkong và Trung Quốc vẫn còn thiếu kiến thức và hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, xét nghiệm và điều trị Nghiên cứu này còn cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS trong QHTD qua hậu môn thấp, điều này sẽ càng làm gia tăng số trường hợp nhiễm HIV mới của MSM Tại Campuchia MSM QHTD qua hậu môn trong một tháng gần đây có tỷ lệ là 94%,

HUPH

Trang 18

trong đó tỷ lệ không sử dụng BCS tới gần một nửa (48,4%) Tại Trung Quốc MSM QHTD qua hậu môn trong sáu tháng gần đây có tỷ lệ là 98,7%, trong khi tỷ lệ không sử dụng BCS tới 54,7% Tại Lào, tỷ lệ MSM QHTD qua hậu môn trong sáu tháng gần đây thấp hơn (55%), nhưng tỷ lệ không sử dụng BCS lại cao hơn (66,3%) Tại Thái Lan MSM QHTD qua hậu môn trong sáu tháng gần đây có tỷ lệ

là 83,6%, trong khi tỷ lệ không sử dụng BCS là thấp hơn hẳn các nước khác và ở mức 31,7% Tỷ lệ MSM xét nghiệm HIV tự nguyện ở Campuchia và Trung Quốc là khá thấp và tương tự nhau (tương ứng là 20% và 19,8%), trong khi đó tỷ lệ này tại Thái Lan có cao hơn nhưng cũng chỉ là 43,4%[32]

Cũng là nghiên cứu mô tả cắt ngang, tuy nhiên bằng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát, Shiman Ruan đã phỏng vấn 428 MSM tại thành phố Tế Nam, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc năm 2007 cho thấy MSM không biết QHTD qua hậu môn có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn đường miệng là 33,6%; MSM không biết BCS có thể phòng tránh được HIV là 22,9%; MSM không biết dùng chung bơm kiêm tiêm (BKT) có nguy cơ lây nhiễm HIV là 19,5%; MSM cho rằng HIV lây qua muỗi đốt là 65,2%; MSM cho rằng dùng chung nhà vệ sinh (60,9%) và ăn chung với người nhiễm HIV (37,5%) thì có thể bị lây nhiễm HIV; MSM cho rằng họ không có nguy cơ nhiễm HIV là 50,1%, chỉ có 3,4% MSM cho rằng họ có nguy cơ cao nhiễm HIV[35] Tại Thẩm Quyến Trung Quốc năm 2007, tương tự một nghiên cứu với thiết kế mô tả cắt ngang bằng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát, Hongjie đã thực hiện trên 350 MSM cho thấy tần suất MSM luôn luôn sử dụng BCS là 69%; tỷ lệ MSM có ít nhất một lần khuyên bạn tình sử dụng BCS thành công là 67% Nghiên cứu đã chỉ ra tác động của mạng lưới MSM có liên quan đến việc thay đổi hành vi chấp nhận sử dụng BCS thường xuyên của MSM trong mạng lưới đó[31]

Một số báo cáo của UNAIDS nhận định MSM ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ Báo cáo năm 2006 cho thấy MSM có niềm tin rất phổ biến là các bệnh lây truyền qua đường tình dục kể cả HIV là bệnh của phụ nữ vì vậy ít có MSM đi xét nghiệm HIV và STI[36] Báo cáo của Uỷ ban

về AIDS châu Á năm 2008 đệ trình cho Tổng thư ký Liên hiệp quốc ghi nhận tình

HUPH

Trang 19

dục đồng giới nam ngày càng chiếm số lượng lớn trong số ca nhiễm mới ở châu Á Quan hệ đồng giới với một bạn tình là khá hiếm Sự kỳ thị và phân biệt đối xử của

xã hội đồng nghĩa với việc nhiều nam giới quan hệ đồng giới có QHTD với cả nữ giới Nhiều MSM có nhiều bạn tình và ít khi sử dụng BCS[29]

Các nghiên cứu trên đa phần đều sử dụng phương pháp định lượng và chọn mẫu theo phương pháp dây chuyền có kiểm soát, đây là một điểm mạnh của các tác giả nghiên cứu trên quần thể MSM

1.2.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, từ năm 2001 đến nay đã có một số nghiên cứu kiến thức, thái

độ, hành vi phòng chống HIV/AIDS trên nhóm MSM được thực hiện tại một số tỉnh, thành phố của các tác giả như Donn Colby, Nguyễn Anh Tuấn, Vũ Ngọc Bảo,

Vũ Mạnh Lợi, Tôn Thất Toàn; Bộ Y tế; Viện vệ sinh Dịch tễ Trung ương; Cục phòng, chống HIV/AIDS đã thực hiện các nghiên cứu giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) năm 2006 và 2009; Nghiên cứu giám sát trọng điểm HIV/AIDS lồng ghép hành vi trong các nhóm nguy cơ cao (HSS+) năm 2010

và 2011 Dưới đây là một số kết quả chính từ các nghiên cứu này

Về kiến thức và thái độ

Một nghiên cứu định tính tiến hành năm 2005 tại TP HCM với 40 MSM tham gia phỏng vấn sâu của Vũ Ngọc Bảo cho thấy có những MSM nhận thức sai lầm việc xuất tinh ra ngoài là an toàn đối với lây nhiễm HIV, nghiên cứu cũng cho thấy MSM có thái độ không muốn sử dụng BCS khi QHTD[2] Cũng trong năm 2005, tại Khánh Hoà, Sở Y tế đã thực hiện nghiên cứu với thiết kế mô tả cắt ngang trên

295 MSM cho thấy có khoảng 90% MSM biết chính xác các đường lây truyền HIV, 81% MSM biết QHTD qua hậu môn dễ lây nhiễm hơn qua miệng Tuy nhiên MSM vẫn còn nhầm lẫn QHTD qua âm đạo dễ lây nhiễm hơn qua hậu môn (66%) MSM biết rằng có thể tự bảo vệ không bị nhiễm HIV bằng cách không QHTD qua hậu môn là 69% MSM biết rằng nếu sử dụng BCS đúng cách sẽ không bị nhiễm HIV là 86% MSM biết rằng những người QHTD đồng giới nam có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn so với những nam giới khác là 46% và MSM trả lời bản thân thuộc nhóm nguy cơ cao là 13% MSM biết nơi nào cần đến để tư vấn xét nghiệm về

HUPH

Trang 20

HIV/AIDS có 17%[15]

Năm 2009, Bộ Y tế đã thực hiện đánh giá IBBS bằng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát cho thấy tỷ lệ MSM hiểu biết đúng về các phương pháp phòng tránh HIV tại Hà Nội là 79%, Cần Thơ là 51%, Hải Phòng là 41% và TP HCM là 40,9% MSM cho rằng bản thân mình có nguy cơ lây nhiễm HIV tại TP HCM là 43,9%, Hà Nội là 40,9%, Cần Thơ là 30,9% và Hải Phòng là 25,8%[6] Số liệu về kiến thức và thái độ phòng chống HIV/AIDS của MSM tại TP Nha Trang được bổ sung thêm từ nghiên cứu mô tả cắt ngang của Tôn Thất Toàn năm 2010 tại

TP Nha Trang với 107 MSM tham gia cho thấy 49,5% MSM có kiến thức tốt về đường lây truyền HIV và cách phòng chống HIV; tỷ lệ MSM không thảo luận với bạn tình về HIV là 60,4% Tỷ lệ MSM cho rằng QHTD chung thuỷ với 1 bạn tình chung thuỷ và không bị nhiễm HIV làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV là 93,5% Ăn uống chung hoặc ôm hôn người nhiễm HIV có thể lây nhiễm HIV lên tới 92,5% Có tới 98,5% MSM sẵn sàng đi tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện[18]

Về thực hành

Nghiên cứu với thiết kế mô tả cắt ngang trên 219 MSM vào năm 2001 tại TP HCM của Donn Colby đã cho thấy mức độ hành vi nguy cơ cao đối với HIV và STI MSM đã QHTD đường hậu môn không sử dụng BCS với các bạn tình nam bất chợt là 78%[28] Tiếp tục tại địa bàn TP HCM, năm 2004 Nguyễn Anh Tuấn – Viện

Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 600 MSM tại TP HCM bằng phương pháp hòn tuyết lăn cho thấy có 43% MSM là người nhận

và 51% MSM là người cho đã QHTD qua hậu môn không bảo vệ với các bạn tình nam bất chợt trong tháng qua[22]

Tìm hiểu về mức độ sử dụng BCS của MSM, nghiên cứu của Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa năm 2005 cũng đã cho thấy 77% MSM trong vai trò “người cho” có sử dụng BCS với bạn tình nam bất kỳ, 55% MSM chỉ thỉnh thoảng mới dùng BCS và 29% MSM thường sử dụng BCS khi QHTD hậu môn 51% MSM bán dâm ở vai trò

“người cho” có sử dụng BCS Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng BCS với khách hàng một cách thường xuyên hoặc luôn luôn chiếm từ 23-28% Tỷ lệ MSM đã từng đi xét nghiệm HIV là 3%[15]

HUPH

Trang 21

Tìm hiểu lý do tại sao MSM không sử dụng BCS, năm 2005 Vũ Ngọc Bảo đã tiến hành nghiên cứu định tính với 40 MSM tham gia, nghiên cứu cho kết quả MSM không dùng BCS là do “người cho” (người QHTD), “người nhận” (người được QHTD), đặc biệt là những người hành nghề mại dâm nam, thường thiếu cả nguồn lực kinh tế lẫn kỹ năng thuyết phục bạn tình của họ để yêu cầu sử dụng BCS Nghiên cứu cũng cho thấy MSM vừa QHTD đường hậu môn không bảo vệ vừa có thói quen uống rượu và sử dụng ma tuý vì không nhận thức được các nguy cơ và biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV[2]

Các thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM càng cho thấy mức độ nguy

cơ của họ từ nghiên cứu IBBS của Bộ Y tế năm 2009 tại Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM và Cần Thơ Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với các loại bạn tình khác nhau trong nhóm MSM có QHTD nhận tiền và QHTD không nhận tiền với bạn tình nam Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD với các loại bạn tình khác nhau trong nhóm MSM có QHTD nhận tiền nhìn chung rất thấp, dưới 50% tất cả các thành phố (ngoại trừ MSM tại Hà Nội khi QHTD với PNMD là 64%) Tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình nữ thấp hơn khi QHTD với bạn tình nam trong nhóm MSM có QHTD nhận tiền (bảng 1.1),[6]

Bảng 1.1 Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên trong nhóm MSM

Hà Nội Hải Phòng TP HCM Cần Thơ

Khi so sánh kết quả nghiên cứu IBBS của 2 năm 2006 và 2009 cho thấy, tỷ lệ

sử dụng BCS khi QHTD với các loại bạn tình trong nhóm MSM QHTD không nhận tiền tại Hà Nội là tăng lên trong khi ở TP HCM lại giảm (biểu đồ 1.1),[6]

HUPH

Trang 22

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ sử dụng BCS với BTTX nam và nữ trong nhóm MSM không

QHTD nhận tiền So sánh kết quả IBBS năm 2006-2009[6]

Theo báo cáo giám sát trọng điểm HIV/STI trong các nhóm nguy cơ cao ở Việt Nam năm 2011 do Cục phòng, chống HIV/AIDS và Viện vệ sinh Dịch tễ Trung ương thực hiện theo cách chọn mẫu điểm nóng ngẫu nhiên và thực hiện giám sát toàn bộ MSM tại điểm nóng tại các tỉnh An Giang, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Dương và TP HCM cho thấy hành vi QHTD và sử dụng BCS với bạn tình nam lần gần nhất trong một tháng qua của nhóm MSM cao ở Đà Nẵng và thấp ở Hải Dương

Hà Nội

Hải Dương

TP HCM

Sử dụng BCS trong lần QHTD với bạn

tình nam gần nhất (%)

76,5 91,0 73,3 69,3 68,0

Sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD

với bạn tình nam trong tháng qua (%)

65,0 84,0 43,3 17,3 41,3

QHTD với bạn tình nam để nhận tiền

trong 12 tháng qua (%)

21,0 3,0 34,0 4,0 52,7

Sử dụng BCS trong lần QHTD qua hậu

môn gần đây nhất với bạn tình nam để

nhận tiền (%)

64,3 77,8 77,5 91,7 74,7

Sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD

qua hậu môn với bạn tình nam để nhận

tiền trong tháng qua (%)

57,1 66,7 56,9 66,6 44,7

(Nguồn Cục phòng, chống HIV/AIDS, 2011[13])

HUPH

Trang 23

Một hành vi nguy cơ khác của MSM đã được phát hiện từ nghiên cứu năm

2009 của Vũ Mạnh Lợi tại 6 tỉnh, TP gồm Hà Nội, TP HCM, Cần Thơ, Đà Nẵng, Khánh Hòa và Thái Nguyên Trong kết quả định tính của nghiên cứu cho thấy một

số MSM khi không tìm được bạn tình, họ đã bán dâm để có cơ hội QHTD với nam giới Ngược lại, có nhiều nam giới NCMT thực hiện bán dâm hoặc làm “trai bao” cho người nam đồng tính, những hành vi này góp phần gia tăng nguy cơ lây nhiễm HIV và STI đến MSM và cả cộng đồng[14] Riêng tại TP Nha Trang, các thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM đã được bổ sung thêm từ nghiên cứu cắt ngang của Tôn Thất Toàn năm 2010 trên 107 MSM Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ MSM sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình tự nguyện (BTTN) nam trong lần gần nhất là 67,3%; mức độ sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD với BTTN nam là 32,7%; mức độ không bao giờ sử dụng BCS là 5,9%; tỷ lệ MSM cho rằng không sử dụng BCS vì lý do không sẵn có BCS là 57,6% Đối với tỷ lệ sử dụng BCS với BTTN nữ trong 12 tháng qua là 28,6%[18]

Các nghiên cứu trên đều là thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, các phương pháp chọn mẫu được sử dụng là phương pháp hòn tuyết lăn, chọn ngẫu nhiên hoặc chọn toàn bộ tại các điểm nóng, chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát Có hai nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính Đây là các điểm mạnh của các nghiên cứu khi tiến hành trên nhóm MSM, tuy nhiên ít nghiên cứu sử dụng cả hai phương pháp định lượng kết hợp định tính

1.2.2 Các nghiên cứu về can thiệp phòng chống HIV/AIDS cho nhóm MSM 1.2.2.1 Trên thế giới

Báo cáo dự phòng và điều trị HIV đối với MSM của UNAIDS và WHO năm

2011 nhận định sự can thiệp phòng chống HIV/AIDS trên nhóm MSM kể từ khi trên thế giới xuất hiện những ca nhiễm đầu tiên vào năm 1980 là chưa cân xứng Báo cáo nhấn mạnh cần nâng cao quyền con người, đẩy mạnh công tác phòng chống, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS trên nhóm MSM Các chiến lược can thiệp giảm tác hại được đưa ra với mục đích đẩy mạnh các can thiệp thay đổi hành vi trên cấp độ cá nhân, nhóm; các chiến lược tiếp thị xã hội nhằm cung cấp các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV, chiến lược tiếp cận tại các điểm nóng, thúc đẩy MSM tìm

HUPH

Trang 24

kiếm các thông tin về sức khoẻ trên internet và các thông điệp phòng chống HIV/AIDS có liên quan Báo cáo lưu ý các can thiệp giảm tác hại trên nhóm MSM cần chú ý hoạt động tiếp cận từ ĐĐV đến mạng lưới của họ[41]

Trên thế giới đã có các nghiên cứu đánh giá tác động phòng chống HIV/AIDS đối với nhóm MSM thông qua ĐĐV Nghiên cứu đánh giá trước và sau can thiệp của Williamson tại Glasgow được thực hiện trước can thiệp vào tháng 10 năm 1997

và sau can thiệp vào tháng 6 năm 1998 trên 1.442 MSM Các MSM tham gia nghiên cứu được điều tra viên tiếp cận tại các điểm nóng của thành phố Glasgow, Scotland Các hoạt động ĐĐV đã thực hiện can thiệp trên MSM trong nghiên cứu này là: truyền thông thay đổi hành vi, cung cấp dịch vụ VCT, cung cấp BCS, chất bôi trơn (CBT) Có 145 MSM đã được ĐĐV tiếp cận, nghiên cứu cho thấy MSM có tiếp cận ĐĐV hơn 1 lần đi xét nghiệm HIV cao hơn nhóm MSM không tiếp cận ĐĐV là 1,65 lần (CI=1,21 – 2,26; p<0,001), còn so với nhóm MSM có tiếp cận ĐĐV 1 lần thì tỷ lệ này là 1,08 lần (p>0,05) Nghiên cứu đã đưa ra kết luận những MSM có tiếp cận ĐĐV giảm thiểu được nguy cơ lây nhiễm HIV, nhận thức về an toàn tình dục cao hơn và gia tăng tỷ lệ xét nghiệm HIV tự nguyện Nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị hoạt động tiếp cận ĐĐV thường xuyên của nhóm MSM là rất cần thiết

để thúc đẩy nhóm MSM sử dụng các dịch vụ phòng chống HIV/AIDS[42]

Khuyến nghị của nghiên cứu trên đã được bổ sung thêm bằng nghiên cứu đánh giá hoạt động can thiệp tại Dakar Senegan của tổ chức Population Council Nghiên cứu nhằm đánh giá hoạt động tiếp cận của 40 ĐĐV là MSM, sử dụng phương pháp hòn tuyết lăn trên 258 MSM vào thời điểm trước can thiệp (tháng 10/2003) và 290 MSM vào thời điểm sau can thiệp (tháng 3/2005) Nghiên cứu cho kết quả MSM từng nghe về VCT trước can thiệp là 52%, sau can thiệp là 83% MSM từng xét nghiệm HIV trước can thiệp là 16%, sau can thiệp là 64% MSM nhận kết quả VCT trước can thiệp là 0%, sau can thiệp là 80% Kết quả cũng cho thấy lý do MSM không đi xét nghiệm HIV vì sợ biết tình trạng nhiễm HIV trước can thiệp là 35% và sau can thiệp chỉ còn 13%; lý do MSM không sử dụng BCS trong lần QHTD qua hậu môn lần cuối do không có sẵn trước can thiệp là 14% và sau can thiệp là 7%

HUPH

Trang 25

Đối với lý do không thích sử dụng BCS khi QHTD trước can thiệp là 38%, sau can thiệp là 7%[33]

Một đánh giá quy mô hơn trong khuôn khổ dự án Quỹ Toàn cầu, Shaodong Ye

đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang hằng năm, sử dụng phương pháp hòn tuyết lăn tại 16 thành phố vùng Đông bắc Trung Quốc trong thời gian 4 năm từ 2006 đến

2009 Nghiên cứu có sự tham gia của 20.843 MSM Các MSM tham gia nghiên cứu

đã nhận các hoạt động can thiệp phòng chống HIV/AIDS từ ĐĐV bao gồm: truyền thông thay đổi hành vi, cung cấp BCS, khuyến khích VCT Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS lần cuối trong 12 tháng qua ở nhóm MSM vào các năm

2006, 2007, 2008, 2009 ở nhóm không can thiệp là 50,2%, 53,2%; 62,3%, 68,4%, còn nhóm có can thiệp là 63,8%, 69,1%, 79,1%, 81,9% Nghiên cứu đã đưa ra kết luận tác động của hoạt động can thiệp phòng chống HIV/AIDS trong đó có hoạt động của ĐĐV đến nhóm MSM là rất tích cực, điều này đã làm gia tăng tỷ lệ sử dụng BCS và góp phần giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM tại địa bàn nghiên cứu[34]

1.2.2.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam Luật phòng chống HIV/AIDS do Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2006, Chỉ thị số 54 của Ban bí thư Trung ương Đảng ban hành ngày 30 tháng 11 năm 2005, Nghị định 108/2007-NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 26 tháng 6 năm 2007 nêu rõ cần phải đổi mới, đa dạng hóa và thúc đẩy thông tin, giáo dục và truyền thông trên cả nước về HIV, đặc biệt là trong các nhóm có nguy cơ cao bao gồm cả nhóm MSM[1],[10],[17] Năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành kế hoạch hành động quốc gia về giảm thiểu tác hại (theo Quyết định số 34/2007/QĐ-BYT ngày 26/9/2007) nêu rõ cần phải thành lập một mạng lưới phân phát BCS và CBT tan trong nước cho nhóm MSM[5] Hiện nay, Bộ Y tế vẫn chưa ban hành một văn bản hướng dẫn quốc gia nhằm can thiệp toàn diện phòng chống HIV/AIDS cho

nhóm MSM

Đến cuối năm 2009, UNAIDS tại Việt Nam đã có báo cáo đánh giá nhanh tình hình và đáp ứng của chương trình HIV/AIDS dành cho nhóm MSM đệ trình lên Cục phòng chống HIV/AIDS với mục tiêu nhằm thúc đẩy việc ban hành hướng dẫn

HUPH

Trang 26

quốc gia can thiệp phòng chống HIV/AIDS cho MSM Đánh giá nhanh này đã xem xét các tài liệu hiện có tại Việt Nam về HIV liên quan đến nhóm MSM, đã thực hiện

46 cuộc PVS và 7 TLN với các đối tượng là cán bộ lãnh đạo và quản lý chương trình dự phòng cho MSM cấp trung tương và cấp tỉnh, người cung cấp dịch vụ VCT, đại diện cộng đồng MSM và đại diện các nhà tài trợ Đánh giá cho thấy năm

2009 chương trình phòng chống HIV với nhóm MSM tại Việt Nam chỉ được tiến hành tại 6/63 tỉnh, thành phố Chương trình thực hiện chủ yếu là do Tổ chức Sức khỏe Gia đình quốc tế tại Việt Nam triển khai Báo cáo đã đề xuất gói các dịch vụ can thiệp toàn diện về sức khoẻ tình dục về HIV dành cho nhóm MSM Đối với công tác dự phòng, hình thức tiếp cận ĐĐV được nhấn mạnh trong báo cáo cùng với hoạt động tiếp thị xã hội nhằm cung cấp các dịch vụ BCS, chất bôi trơn, tư vấn xét nghiệm HIV và điều trị các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục Báo cáo cho thấy kết quả tổng số lần tiếp cận MSM năm 2009 là 52.952 người tăng 47% so với năm 2007 Tổng số MSM tiếp cận lặp lại năm 2009 là 8.187 người, giảm 9% so với năm 2007 Dựa trên ước tính quần thể MSM của Cục phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2007-2012, độ bao phủ tiếp cận trên nhóm MSM tại 6 tỉnh, TP này đạt 19% Cũng theo báo cáo, các ĐĐV đã tạo được một mối quan hệ tốt trong quần thể nhóm MSM, tuy nhiên độ bao phủ đến các cơ sở vui chơi giải trí, các điểm nóng vẫn còn hạn chế, đặc biệt việc tiếp cận nhóm MSM ở tầng lớp cao Báo cáo đánh giá cho rằng kiến thức về HIV của MSM còn thấp, chỉ có 46% MSM ở Hà Nội và 16,8% ở TP HCM có thể nêu chính xác các đường lây nhiễm HIV Ở Hà Nội, 54% MSM nhận thức rằng họ có nguy cơ lây nhiễm HIV so với 30% ở TP HCM Nhiều MSM tin rằng HIV chỉ lây qua QHTD khác giới hoặc khi QHTD hậu môn nhưng xuất tinh bên ngoài sẽ phòng tránh được HIV hiệu quả Rất nhiều MSM cảm thấy ngần ngại khi mua BCS ở hiệu thuốc vì sợ xấu hổ, chỉ có 20% MSM ở Hà Nội và 24% ở TP HCM làm xét nghiệm HIV và biết kết quả của mình Mặc dù số lần chuyển gửi đến dịch vụ VCT năm 2009 tăng 162% so với năm 2008, nhưng khi đi xét nghiệm HIV MSM lo sợ kết quả xét nghiệm HIV dương tính là một rào cản đáng kể khiến MSM ngại xét nghiệm Nhiều MSM nói rằng họ chưa được chuẩn bị

về mặt tâm lý và sợ bị bạn bè xa lánh nếu biết được sự thật Đánh giá nhanh này

HUPH

Trang 27

cũng ghi nhận MSM sử dụng trang web nam-men, một trang web cung cấp các thông tin về phòng chống HIV cho nhóm MSM bắt đầu từ tháng 9/2008 cho thấy số lượt truy cập tính đến thời điểm đánh giá là 75.016 lượt, thời gian trung bình cho mỗi lần truy cập là 6 phút Đánh giá cho thấy các hoạt động về MSM ở các tỉnh,

thành phố chủ yếu sử dụng ngân sách từ nhà tài trợ là nguồn tiền duy nhất[23]

Nghiên cứu IBBS (năm 2006, 2009) và giám sát trọng điểm (HSS+) năm 2011

do Cục phòng chống HIV/AIDS, Viện Vệ sinh Dịch tể Trung ương tiến hành đều không cung cấp các thông tin về việc tác động ảnh hưởng của các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại các tỉnh, thành phố nghiên cứu đến kiến thức, thái độ, thực hành của MSM

Trong nghiên cứu IBBS năm 2009 cho thấy MSM ở Hà Nội nhận được BCS trong 6 tháng qua là 55,4%, TP HCM là 46,9%, nhận được thông tin về tình dục an toàn trong 6 tháng qua ở TP HCM là 54,6%, Hà Nội là 51,1%, nhận được thông tin

về MSM và tiêm chích an toàn trong 6 tháng qua TP HCM 50,1%, Hà Nội 48,9% Kết quả giám sát trọng điểm (HSS+) năm 2011 tại Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng,

An Giang và TP HCM cho thấy tỷ lệ MSM nhận được BCS miễn phí trong tháng qua tại một số tỉnh, thành phố còn thấp Tỷ lệ này thấp nhất tại TP HCM và cao nhất tại Hà Nội Tỷ lệ MSM tiếp cận các dịch vụ can thiệp dự phòng HIV/AIDS chung cho tất cả các kênh trên các địa bàn nghiên cứu (không chỉ bao gồm kênh tiếp cận qua ĐĐV) như nhận được BCS miễn phí, nhận được BKT sạch miễn phí, được xét nghiệm HIV và biết kết quả trong nhóm MSM ở các tỉnh, thành phố là khác nhau,

Hà Nội

Hải Dương

TP HCM

Nhận được BCS miễn phí trong 1

Trang 28

Kết quả giám sát trọng điểm (HSS+) năm 2011 cũng cho thấy tỷ lệ được xét nghiệm HIV trong 12 tháng qua và biết kết quả trong nhóm MSM là 30,2%[13] Các nghiên cứu đánh giá trên thế giới và tại Việt Nam được trình bày ở trên hầu hết các nghiên cứu đều được thực hiện bằng phương pháp định lượng Rất ít nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính để tìm hiểu thêm những yếu tố nào ảnh hưởng tới việc ra quyết định về hành vi hoặc yếu tố nào ảnh hưởng đến sự quan tâm phòng chống HIV/AIDS của MSM Đây cũng là một thiếu hụt của các nghiên cứu

đã được thực hiện

1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

TP Nha Trang nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Khánh Hòa, là một trung tâm du lịch lớn của cả nước TP Nha Trang có diện tích tự nhiên 253 km2; dân số 392.218 người với 98.931 hộ dân sống tại 08 xã và 19 phường[25] Trong thời gian qua, trên địa bàn TP Nha Trang đã triển khai các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của các

dự án như: Dự án phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ; dự án DFID năm 2010 đã nhập cùng vào dự án WB, đối tượng đích của dự án WB là nhóm PNMD và TCMT; Dự án phòng, chống HIV/AIDS do Quỹ toàn cầu tài trợ đối tượng đích cũng là nhóm PNMD và NCMT; Dự án Life Gap đối tượng đích là PNMD và NCMT; Chương trình mục tiêu phòng, chống HIV/AIDS của quốc gia đối tượng đích là PNMD, NCMT và hội viên, học sinh, sinh vên các ngành, đoàn thể; Chỉ có Dự án An toàn sức khỏe tình dục cho nam giới do Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc tế tài trợ đối tượng đích ngoài nhóm PNMD còn can thiệp nhóm MSM Các dự án triển khai các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi cho các nhóm đối tượng đích của dự án hướng đến bao gồm nói chuyện chuyên đề, tập huấn, thảo luận nhóm nhỏ, truyền thông lưu động, hội thảo phổ biến pháp luật phòng, chống HIV/AIDS cho các cấp chính quyền, đoàn thể, truyền thông trên các kênh thông tin đại chúng như Đài phát thanh truyền hình Khánh Hòa, Báo Khánh Hòa, mạng lưới phát thanh của 27 xã, phường Các dự án cũng đã thiết lập một mạng lưới ĐĐV là ma túy, mại dâm, MSM, người nhiễm HIV trên địa bàn toàn tỉnh Mạng lưới ĐĐV là ma tuý, mại dâm và MSM của các dự án hoạt động độc lập nhau Tại TP Nha Trang, do các dự án WB, Life Gap, Quỹ toàn

HUPH

Trang 29

cầu, chương trình mục tiêu quốc gia đều tác động đến đối tượng đích là PNMD, NCMT do đó số ĐĐV của hai nhóm này là 08 ĐĐV ma tuý, 17 ĐĐV mại dâm; Trong khi đó, vì chỉ có Tổ chức sức khỏe gia đình quốc tế tài trợ cho Dự án An toàn sức khỏe tình dục cho nam giới nên chỉ có 04 ĐĐV là MSM (từ năm 2006 – 2011) Đối với ĐĐV nhóm MSM họ được tập huấn kiến thức hàng năm, họ có nhiệm vụ đến các “điểm nóng” tiếp cận các MSM để tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS Các nội dung được ĐĐV truyền thông bao gồm các đường lây truyền, không lây truyền HIV, triệu chứng các bệnh LTQĐTD; hướng dẫn sử dụng BCS đúng cách; hướng dẫn tiêm chích an toàn, vận động xét nghiệm HIV, các hoạt động của họ được giám sát bởi Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hoà[20]

Đối với hoạt động can thiệp giảm tác hại, các hoạt động chủ yếu của ĐĐV là cung cấp BCS, bơm kim tiêm sạch Từ năm 2006 đến cuối năm 2011, nguồn BCS được cung cấp cho MSM miễn phí Tổ chức sức khỏe gia đình quốc tế tài trợ Từ năm 2012 đến nay, phương thức cung cấp BCS không còn miễn phí mà chuyển sang hình thức các ĐĐV nhóm MSM tiếp thị xã hội bán giá rẻ, nguồn BCS được nhận từ dự án Phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tài trợ Đối với hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV, tại TP Nha Trang có 05 cơ sở tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện Tại các cơ sở này triển khai các hoạt động tư vấn trước xét nghiệm, sau xét nghiệm cho các nhóm đối tượng trong đó có nhóm MSM Một hình thức khác là tại phòng khám bệnh viện Da liễu và 27 phòng khám STI/27

xã, phường cũng tiến hành đề nghị, vận động khách hàng của họ xét nghiệm HIV khi khách hàng có nhu cầu đến khám và điều trị STI Dự án phòng chống HIV/AIDS cho nhóm MSM do FHI tài trợ, năm 2006 đã thành lập câu lạc bộ (CLB) Muôn Sắc Màu tại TP Nha Trang CLB có sự tham gia hoạt động của 13 ĐĐV trên toàn tỉnh, trong đó tại TP Nha Trang có 04 ĐĐV CLB có các dịch vụ như truyền thông thay đổi hành vi, VCT, điều trị STI, các hoạt động vui chơi giải trí sân khấu hoá phòng chống HIV/AIDS cho cộng đồng MSM tại địa phương Tuy nhiên, do nguồn tài chính giảm sút, nên năm 2011 tổ chức FHI đã không còn duy trì mô hình CLB, hiện nay trên địa bàn TP Nha Trang chỉ có 02 ĐĐV thực hiện việc tiếp cận MSM tại các điểm nóng và mạng lưới của họ

HUPH

Trang 30

Trong những năm qua, tại tỉnh Khánh Hoà, TP Nha Trang vẫn chưa ban hành những chính sách, kế hoạch cụ thể nào phòng chống HIV/AIDS dành riêng cho nhóm MSM Các kết quả hoạt động và nghiên cứu về MSM hiện có tại Khánh Hòa chỉ ở mức độ mô tả kiến thức, thái độ hành vi của nhóm MSM ở các thời điểm khác nhau Cho đến nay tỉnh Khánh Hoà và các tổ chức tài trợ cho các dự án phòng chống HIV/AIDS đến MSM chưa có một nghiên cứu đánh giá hoạt động can thiệp phòng chống HIV/AIDS đã tác động như thế nào đến kiến thức, thái độ, thực hành của nhóm MSM tại tỉnh Khánh Hòa Đây là một khoảng trống mà nghiên cứu của chúng tôi sẽ cung cấp bằng chứng quan trọng để góp phần cho TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà xây dựng kế hoạch phòng chống HIV/AIDS cho nhóm MSM trong thời gian đến

HUPH

Trang 31

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Là nam giới có tiêu chuẩn lựa chọn như sau:

- Tự nhận có hành vi QHTD đồng giới nam

- Từ 18 tuổi trở lên

- Đang sinh sống tại TP Nha Trang

- Có quốc tịch Việt Nam

- Trong 12 tháng qua phải có ít nhất một lần QHTD với nam giới

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 01/2013 đến tháng 08/2013

- Địa điểm: nghiên cứu đã được tiến hành tại TP Nha Trang- Khánh Hoà

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang định lượng kết hợp với định tính Nghiên cứu định lượng nhằm cung cấp những bằng chứng về kiến thức, thái độ, thực hành cũng như những bằng chứng về mức độ tiếp cận ĐĐV đến MSM đã ảnh hưởng như thế nào đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm bổ sung cho nghiên cứu định lượng, đồng thời tìm hiểu các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc ra quyết định về hành vi, yếu tố nào ảnh hưởng đến sự quan tâm phòng chống HIV/AIDS của MSM Việc sử dụng đồng thời hai phương pháp sẽ dung hòa được những hạn chế của mỗi phương pháp, đồng thời bổ sung những điểm mạnh của mỗi phương pháp[21]

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

2.4.1.1 Nghiên cứu định lượng

Sử dụng tỷ lệ MSM có kiến thức tốt về đường lây truyền và cách phòng chống HIV trong “Nghiên cứu tình hình nhiễm HIV ở nhóm MSM tỉnh Khánh Hòa năm 2010” để tính cỡ mẫu theo công thức[7]:

HUPH

Trang 32

n =

Z 2 p(1-p)

d2 Trong đó:

n: là cỡ mẫu cần thiết

α: là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 0,05

p: tỷ lệ MSM có kiến thức tốt về đường lây truyền và cách phòng chống HIV: 0,47[18]

d: 0,07 (sai số mong muốn)

1,962 0,47 (1-0,47)

Áp dụng vào công thức ta có: n = = 195

0,072 Ước tính thêm 10% số trường hợp từ chối tham gia nghiên cứu, vì vậy cỡ mẫu

nghiên cứu được làm tròn là 214

2.4.1.2 Nghiên cứu định tính

- Tiến hành 12 cuộc phỏng vấn sâu, 04 cuộc thảo luận nhóm

- Có 24 MSM tham gia

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu định lượng

MSM là nhóm đối tượng khá nhạy cảm, để chọn được mẫu khả thi và mang tính đại diện cao nhất có thể được, chúng tôi đã tiến hành lập khung mẫu, khảo sát ước tính số lượng MSM tại địa bàn nghiên cứu bằng cách tiến hành vẽ bản đồ địa

dư và xã hội MSM[12] Chúng tôi đã căn cứ kết quả vẽ bản đồ địa dư để có được các điểm nóng trên địa bàn nghiên cứu Quá trình vẽ bản đồ địa dư, xã hội nhóm MSM đã được tiến hành như sau:

Bước 1: thành lập nhóm vẽ bản đồ điểm nóng MSM gồm 04 cán bộ y tế thuộc Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Khánh Hoà, giáo dục viên đồng đẳng (GDVĐĐ), đồng đẳng viên (ĐĐV) là những người thông thạo địa bàn, có nhiều thông tin về MSM

1-α/2

HUPH

Trang 33

Bước 2: thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu, tụ điểm thông qua GDVĐĐ, chủ cơ sở vui chơi giải trí

Bước 3: đánh dấu các điểm nóng trên bản đồ địa lý của thành phố

Bước 4: đi thực địa xác định lại các điểm nóng và phát hiện thêm các điểm nóng mới Ước tính số lượng MSM có tại tụ điểm, xác định các thời gian MSM có mặt tại tụ điểm đông nhất (giờ cao điểm), thời điểm ít nhất, và thời điểm trung bình Bước 5: điều chỉnh bản đồ điểm nóng dựa trên thông tin thu thập từ thực tế Bước 6: So sánh và đối chiếu với các bản đồ tụ điểm khác đã có của Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hoà về MSM để rà soát, bổ sung

Bước 7: tiến hành điều tra theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ, chúng tôi đã chọn tất cả MSM có mặt tại 17 điểm nóng Khi chúng tôi tiến hành vẽ bản đồ địa dư

và xã hội MSM, số MSM có mặt tại tại 17 điểm nóng trên địa bàn TP Nha Trang vào thời điểm nghiên cứu là 223 MSM So sánh với cỡ mẫu dự kiến của nghiên cứu

là 214 MSM, chúng tôi đã quyết định chọn mẫu toàn bộ MSM có mặt tại tất cả các điểm nóng tại TP Nha Trang Qua thực tế triển khai số MSM đã tham gia nghiên cứu là 230 Trước khi tham gia vào nghiên cứu, các MSM được sàng lọc từ ĐĐV để xác nhận họ có phải là MSM hay không, chỉ những người hội đủ tiêu chuẩn lựa chọn nghiên cứu mới được tham gia nghiên cứu Điều tra viên (ĐTV) tiếp cận và phát giấy mời tham gia nghiên cứu đến từng MSM tại các điểm nóng với sự trợ giúp của người dẫn đường là ĐĐV

Nghiên cứu định đính: chọn mẫu có chủ đích

Phỏng vấn sâu (PVS):

- 9 MSM (4 MSM tiếp cận hoạt động phòng chống HIV/AIDS qua ĐĐV hơn

1 lần, 1 MSM tiếp cận hoạt động phòng chống HIV/AIDS qua ĐĐV 1 lần, 4 MSM không tiếp cận hoạt động phòng chống HIV/AIDS qua ĐĐV tại TP Nha Trang)

- 1 CBYT cung cấp dich vụ VCT tại TP Nha Trang

- 1 CB phụ trách hoạt động phòng chống HIV/AIDS cho nhóm MSM tại TP Nha Trang

- 1 Lãnh đạo Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa

Thảo luận nhóm (TLN):

HUPH

Trang 34

- 1 nhóm MSM tiếp cận hoạt động phòng chống HIV/AIDS qua ĐĐV hơn 1 lần tại TP Nha Trang (4 người)

- 1 nhóm MSM tiếp cận hoạt động phòng chống HIV/AIDS qua ĐĐV 1 lần tại

TP Nha Trang (3 người)

- 1 nhóm MSM không tiếp cận hoạt động phòng chống HIV/AIDS thông qua mạng lưới ĐĐV tại TP Nha Trang (4 người)

- 1 nhóm ĐĐV phòng chống HIV/AIDS nhóm MSM tại TP Nha Trang (4 người)

Các MSM chỉ tham gia hoặc PVS hoặc TLN

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Các bước tiến hành

Bước 1: Xác định điểm nóng nhóm MSM trên địa bàn TP Nha Trang nhằm

xác định địa điểm nghiên cứu (theo kết quả vẽ bản đồ địa dư xã hội MSM của tỉnh)

Bước 2: Tuyển chọn 4 ĐTV là cán bộ thuộc Trung tâm TTGDSK Khánh Hòa

có kinh nghiệm trong các lĩnh vực liên quan đến ĐTNC

Bước 3: Tuyển chọn 2 giám sát viên (GSV) là cán bộ của Trung tâm

TTGDSK và Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Khánh Hòa, tham gia giám sát toàn bộ địa bàn điều tra và trong toàn bộ thời gian thu thập số liệu

Bước 4 : Tuyển chọn 4 người dẫn đường là ĐĐV nhóm MSM của chương

trình phòng chống HIV/AIDS tại TP Nha Trang

Bước 5: Tiến hành tập huấn về nội dung và yêu cầu của điều tra, vẽ bản đồ địa

dư xã hội, các kỹ năng tiếp cận, kỹ năng phỏng vấn để đảm bảo độ chính xác của thông tin thu thập cao

Bước 6: Tiến hành điều tra tại địa bàn theo các trình tự sau:

- ĐTV tiếp cận đối tượng thông qua người dẫn đường tại các điểm nóng Trước khi phỏng vấn ĐTV giới thiệu mục đích của nghiên cứu, bảo đảm bảo mật, không lưu tên đối tượng, chỉ phỏng vấn những đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

- ĐTV phát giấy mời mời ĐTNC tham gia nghiên cứu ĐTNC được mời đến địa điểm phỏng vấn đảm bảo thuận tiện cho cuộc phỏng vấn khi trả lời các thông tin

HUPH

Trang 35

riêng tư nhạy cảm Sau khi phỏng vấn xong, ĐTV kiểm tra lại toàn bộ phiếu khi ĐTNC đang có mặt ở đó để chỉnh sửa những thông tin cần thiết

- Vào cuối ngày ĐTV có trách nhiệm thu và kiểm tra toàn bộ các phiếu điều tra thu thập được trong ngày

2.5.2 Thu thập số liệu

Nghiên cứu định lượng:

- ĐTV tiến hành phỏng vấn trực tiếp 230 đối tượng theo bộ câu hỏi được thiết

kế sẵn Địa điểm phỏng vấn tại 4 quán cà phê yên tĩnh, kín đáo, thuận lợi tại TP Nha Trang do ĐTNC chọn

- Công cụ thu thập: bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu (tham khảo từ bộ câu hỏi của nghiên cứu IBBS do Bộ Y tế tiến hành trên nhóm MSM được cập nhật năm 2009) Bộ câu hỏi đã được điều chỉnh phù hợp với ĐTNC tại TP Nha Trang (xem phụ lục 2)

Nghiên cứu định tính

- Công cụ thu thập: bảng hướng dẫn PVS và TLN (xem phụ lục 5)

- Kỹ thuật thu thập số liệu: ghi chép, thu băng các cuộc PVS, TLN

- Nghiên cứu viên chính đảm nhận 12 cuộc PVS; 4 cuộc TLN cùng với sự hỗ trợ của một thư ký là cán bộ Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh Khánh Hoà

- Địa điểm PVS do ĐTNC chọn (tại quán mát xa nam trên địa bàn thành phố Nha Trang), TLN đã được thực hiện tại phòng họp của Trung tâm TTGDSK tỉnh Khánh Hoà tại TP Nha Trang

Điều tra viên, giám sát viên

- 4 ĐTV là cán bộ Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh Khánh Hoà; học viên đang học năm cuối cao học tại trường Y tế Công cộng

- Giám sát viên: là nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên chính cũng tham gia vào quá trình điều tra, giải quyết các khó khăn trong quá trình thu thập số liệu

2.6 Các biến số nghiên cứu (chi tiết xem phụ lục 1)

2.6.1 Nghiên cứu định lượng

- Nhóm biến thông tin chung

- Nhóm biến kiến thức

HUPH

Trang 36

- Nhóm biến về thái độ

- Nhóm biến hành vi QHTD và sử dụng BCS, CBT

- Nhóm biến hành vi uống rượu và sử dụng ma tuý

- Nhóm biến tiếp cận hoạt động phòng chống HIV/AIDS

- Tính bền vững của hoạt động tiếp cận ĐĐV về phòng chống HIV/AIDS

2.7 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá

2.7.1 Một số khái niệm

2.7.1.1 MSM

MSM là từ viết tắt của tiếng Anh từ “Men who have sex with men” có nghĩa là

“Nam giới quan hệ tình dục với nam giới” MSM là thuật ngữ để chỉ bất kỳ nam giới nào có hành vi QHTD với một nam giới khác[23],[24]

2.7.1.2 Đồng tính nam

Là một người nam giới bị hấp dẫn tình dục bởi những người nam giới khác

và/hoặc tự nhận mình là đồng giới nam[24]

2.7.1.3 Khuynh hướng tình dục hay sở thích tình dục

Là khái niệm được sử dụng để nói về việc một người bị hấp dẫn về mặt tình dục bởi người khác, bao gồm khuynh hướng tình dục khác giới, khuynh hướng tình dục đồng giới và khuynh hướng tình dục lưỡng giới Khuynh hướng tình dục của một người không phải lúc nào cũng được thể hiện qua hành vi tình dục Ngược lại, hành

vi tình dục của một người không phản ánh được khuynh hướng tình dục của họ Những người có QHTD với cả người cùng giới lẫn người khác giới đều có thể là người đồng tính, dị tính, lưỡng tính hoặc chuyển giới[24]

2.7.1.4 Bóng lộ

Là những người nam thường mặc áo quần phụ nữ, có vẻ ngoài nữ tính và tự coi bản thân mình là phụ nữ Những người này thường được coi là người chuyển

HUPH

Trang 37

giới trong các nghiên cứu quốc tế Bóng lộ thể hiện nữ tính rõ trong cách đi đứng,

ăn nói và họ mong muốn trở thành một người phụ nữ[2],[24]

2.7.1.5 Bóng kín

Là những người nam hoàn toàn bị hấp dẫn về tình dục với những người nam khác Họ thường có vẻ ngoài nam tính và mặc quần áo của nam Bóng kín thường giấu kín khuynh hướng tình dục của mình Một số bóng kín lấy vợ, có con để hoàn thành trách nhiệm với gia đình và cộng đồng Số lượng bóng kín được coi là lớn hơn bóng lộ rất nhiều[2],[24]

- Câu hỏi có 1 lựa chọn thì câu trả lời đúng được 1 điểm

- Câu hỏi có nhiều lựa chọn thì mỗi ý đúng cho 1 điểm Không biết, trả lời sai thì cho 0 điểm

2.7.2.1 Đánh giá kiến thức phòng chống HIV/AIDS

Thang điểm với tổng số điểm tối đa là 5 điểm (Phụ lục 6)

- Tổng điểm < 4 : kiến thức không đạt

- Tổng điểm = 5 : kiến thức đạt

HUPH

Trang 38

2.7.2.2 Đánh giá thái độ phòng chống HIV/AIDS

Thang điểm với tổng số điểm tối đa là 5 điểm (Phụ lục 7)

- Tổng điểm < 4 : thái độ không tích cực

2.7.3 Tiếp cận các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại TP Nha Trang

Tiếp cận được các hoạt động: đã từng tiếp cận được ít nhất một lần trong

các hoạt động sau:

- Hoạt động cung cấp BCS: từng được nhận BCS qua ĐĐV

- Hoạt động cung cấp BKT: từng được nhận BKT qua ĐĐV

- Hoạt động cung cấp tư vấn xét nghiệm tự nguyện (VTC): từng đến phòng VTC từ vận động qua ĐĐV

- Hoạt động TTGDTT: từng nghe nói về các thông tin phòng chống HIV/AIDS từ ĐĐV

Không tiếp cận được các hoạt động:

Không tiếp cận được bất kỳ hoạt động nào được liệt kê ở trên

2.8 Phương pháp xử lý số liệu

2.8.1 Đối với nghiên cứu định lượng:

Sử dụng phần mềm Epi.data 3.1 để nhập và quản lý số liệu Phần mềm SPSS 16.0 được sử dụng làm sạch và phân tích số liệu Sử dụng phương pháp thống kê

mô tả, sử dụng test thống kê χ2, tỷ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy để xem xét ảnh hưởng của hoạt động can thiệp thông qua mạng lưới ĐĐV đến kiến thức, thái

độ, thực hành phòng chống HIV/AIDS của MSM

2.8.1 Đối với nghiên cứu định tính:

Các nội dung ghi âm đã được gỡ băng thành dạng văn bản, các thông tin đã được mã hoá, tổng hợp và phân tích theo chủ đề Thông tin từ nghiên cứu định tính

đã lý giải và bổ sung cho kết quả thu được từ nghiên cứu định lượng

HUPH

Trang 39

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng

Nghiên cứu đã được sự đồng ý của lãnh đạo, các ban ngành liên quan của TP Nha Trang

Các thông tin trên đều được bảo mật, chỉ phục vụ cho quá trình nghiên cứu Nghiên cứu đã đảm bảo được tính bí mật thông tin của người tham gia nghiên cứu, tôn trọng quyền của người tham gia nghiên cứu

Các hồ sơ, tài liệu nghiên cứu được quản lý, giữ gìn an toàn, cẩn thận Người tham gia nghiên cứu được nhận một khoản nhỏ hỗ trợ cho chi phí đi lại tham gia nghiên cứu, đồng thời sau khi được phỏng vấn đã được ĐTV cung cấp thông tin về phòng chống HIV/AIDS và các địa điểm cung cấp dịch vụ VCT, dịch vụ cung cấp BCS

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

2.10.1 Hạn chế và sai số

Nhóm MSM là một quần thể ẩn, việc tiếp cận các đối tượng chúng tôi đã gặp một số khó khăn Phương pháp chọn mẫu toàn bộ qua kết quả vẽ bản đồ địa dư xã hội mà chúng tôi áp dụng trong nghiên cứu này có thể bỏ sót những đối tượng có các hành vi nguy cơ cao với HIV không đến các điểm nóng trên địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên, tuy nhiên nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, đều này cũng là hạn chế của nghiên cứu Vì vậy, nghiên cứu không tránh khỏi gặp sai số thông tin hoặc yếu tố nhiễu như sai số nhớ lại hoặc đối tượng phỏng vấn có thể đã không nói thật khi trả lời một số câu hỏi nhạy cảm

2.10.2 Cách khắc phục

- Chúng tôi đã giải thích cho ĐTNC rõ về mục tiêu, ý nghĩa của nghiên cứu

- Địa điểm phỏng vấn đã bảo đảm tính bí mật

- Các ĐTV đã được tập huấn để có các kỹ năng và thái độ tốt khi thực hiện nghiên cứu để có được chất lượng phỏng vấn đồng đều

HUPH

Trang 40

- Nhóm nghiên cứu đã tạo mối quan hệ thân thiện, tin cậy, nghiêm túc trong quá trình phỏng vấn giữa ĐTV và ĐTNC

- Nội dung bảng hỏi đã được thử nghiệm với 06 MSM, qua đó nhóm nghiên cứu đã rút kinh nghiệm và hoàn chỉnh bảng hỏi cho phù hợp Các MSM tham gia

phần thử nghiêm bảng hỏi, chúng tôi không mời tham gia vào điều tra chính thức

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2005), Chỉ thị số 54-CT/TƯ ngày 30/11/2005 về việc tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới, truy cập ngày, tại trang webhttp://www.vaac.gov.vn/Desktop.aspx/Van-ban-phap-quy/Dang-Quoc-hoi/E97E709EC46649768137D8FCF53B3674/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 54-CT/TƯ ngày 30/11/2005 về việc tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2005
2. Vũ Ngọc Bảo và Girault Philippe (2005), "Đối mặt với sự thật: Tình dục đồng giới nam (MSM) và HIV/AIDS ở Việt Nam", Chuyên san Giới &amp; Tình dục. số 05, tr. 9,19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối mặt với sự thật: Tình dục đồng giới nam (MSM) và HIV/AIDS ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Bảo, Girault Philippe
Nhà XB: Chuyên san Giới & Tình dục
Năm: 2005
3. Bộ Y tế (2006), Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe: Sách dùng đào tạo cử nhân y tế công cộng, NXB Y học, Hà Nội, 41-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học hành vi và giáo dục sức khỏe: Sách dùng đào tạo cử nhân y tế công cộng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2006
4. Bộ Y tế (2007), Khung theo dõi, đánh giá chương trình phòng chống HIV/AIDS quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khung theo dõi, đánh giá chương trình phòng chống HIV/AIDS quốc gia
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
5. Bộ Y tế (2007), Quyết định số 34/2007/QĐ-BYT ngày 26/9/2007 về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV giai đoạn 2007-2010, truy cập ngày, tại trang web http://www.vaac.gov.vn/Desktop.aspx/Van-ban-phap-quy/Cac-chuong-trinh-hanh-dong/CA9696858F32491D8FD6EBB110AF067E/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 34/2007/QĐ-BYT
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2007
6. Bộ Y tế (2011), Báo cáo kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam, vòng II, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam, vòng II, 2009
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
7. Bộ Y tế (2011), Dịch tễ học: sách đào tạo sau đại học, NXB Y học, Hà Nội, tr 117-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học: sách đào tạo sau đại học
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2011
8. Bộ Y tế (2013), Báo cáo số 506/BC-BYT ngày 4/7/2013 về công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2013 và trọng tâm kế hoạch 6 tháng cuốinăm 2013, truy cập ngày, tại trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 506/BC-BYT ngày 4/7/2013 về công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2013 và trọng tâm kế hoạch 6 tháng cuốinăm 2013
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. QHTD và sử dụng BCS với bạn tình nam trong nhóm MSM - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 1.2. QHTD và sử dụng BCS với bạn tình nam trong nhóm MSM (Trang 22)
Bảng 3.1. Một số đặc điểm chung về nhân khẩu học của ĐTNC (n=230) - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.1. Một số đặc điểm chung về nhân khẩu học của ĐTNC (n=230) (Trang 41)
Bảng 3.2. Đặc điểm tình dục của ĐTNC (n=230) - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.2. Đặc điểm tình dục của ĐTNC (n=230) (Trang 42)
Bảng 3.4. Nguồn tiếp cận thông tin về HIV/AIDS (n=230) - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.4. Nguồn tiếp cận thông tin về HIV/AIDS (n=230) (Trang 43)
Bảng 3.7. MSM có QHTD với bạn tình nam và với bạn tình nữ (n=230) - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.7. MSM có QHTD với bạn tình nam và với bạn tình nữ (n=230) (Trang 46)
Bảng 3.8. Mức độ sử dụng BCS trong tháng qua với bạn tình nam - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.8. Mức độ sử dụng BCS trong tháng qua với bạn tình nam (Trang 47)
Bảng 3.10. Sử dụng BCS khi QHTD với BTTN nữ 12 tháng qua (n=76) - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.10. Sử dụng BCS khi QHTD với BTTN nữ 12 tháng qua (n=76) (Trang 49)
Bảng 3.12. QHTD khi đang say rượu (n=230) - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.12. QHTD khi đang say rượu (n=230) (Trang 50)
Bảng 3.15. Thái độ tích cực về phòng chống HIV/AIDS của MSM - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.15. Thái độ tích cực về phòng chống HIV/AIDS của MSM (Trang 56)
Bảng 3.16. Tỷ lệ MSM có thái độ tích cực về phòng chống HIV/AIDS - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.16. Tỷ lệ MSM có thái độ tích cực về phòng chống HIV/AIDS (Trang 59)
Bảng 3.17. MSM sử dụng BCS trong QHTD hậu môn - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 3.17. MSM sử dụng BCS trong QHTD hậu môn (Trang 61)
Bảng 9.1  Một số đặc điểm chung về nhân khẩu học của ĐTNC (n=230) - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 9.1 Một số đặc điểm chung về nhân khẩu học của ĐTNC (n=230) (Trang 132)
Bảng 9.5. Số lượng bạn tình nam có QHTD hậu môn trong 1 tháng qua - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 9.5. Số lượng bạn tình nam có QHTD hậu môn trong 1 tháng qua (Trang 133)
Bảng 9.8. MSM có QHTD với bạn tình nữ trong 12 tháng qua - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 9.8. MSM có QHTD với bạn tình nữ trong 12 tháng qua (Trang 134)
Bảng 9.11. Tỷ lệ MSM có kiến thức đạt về phòng chống HIV/AIDS - Ảnh hưởng của các hoạt động can thiệp thông qua đồng đẳng viên đến kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống hivaids của nam quan hệ tình dục đồng giới tại thành phố nha trang, năm 2013
Bảng 9.11. Tỷ lệ MSM có kiến thức đạt về phòng chống HIV/AIDS (Trang 135)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w