1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong thời gian nằm viện tại khoa sản, bệnh viện quốc tế hạnh phúc tỉnh bình dương năm 2022 và một số yếu tố ảnh hưởng

118 12 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong thời gian nằm viện tại khoa sản, bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương năm 2022 và một số yếu tố ảnh hưởng
Tác giả Lê Thị Phê
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Trọng Hưng
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu “Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong thời gian nằm viện tại khoa Sản, Bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương năm 2022 và một số yếu tố ảnh hưởng”

Trang 1

LÊ THỊ PHÊ

THỰC TRẠNG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA SẢN PHỤ SAU SINH TRONG THỜI GIAN NẰM VIỆN TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN QUỐC TẾ HẠNH PHÚC TỈNH BÌNH DƯƠNG

NĂM 2022 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

Hà Nội, 2022

HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠỌ - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THỊ PHÊ

THỰC TRẠNG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA SẢN PHỤ SAU SINH TRONG THỜI GIAN NẰM VIỆN TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN QUỐC TẾ HẠNH PHÚC TỈNH BÌNH DƯƠNG

NĂM 2022 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN TRỌNG HƯNG

Hà Nội, 2022

HUPH

Trang 3

Em xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Trọng Hưng và Th.S Lê Thị Thu Hà

đã tận tâm góp nhiều ý kiến, hướng dẫn, hỗ trợ em hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ Bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn các sản phụ tại Bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc đã tham gia, giúp đỡ tôi trong khi triển khai nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết đã động viên, khuyến khích tôi, cùng tôi chia sẻ những khó khăn và dành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong suốt thời gian qua

Trân trọng!

Hà Nội, ngày15 tháng 12 năm 2022

Lê Thị Phê

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Tổng quan về sữa mẹ 4

1.1.1 Sơ lược về giải phẫu học tuyến vú với chức năng cho con bú 4

1.1.2 Thành phần của sữa mẹ 4

1.1.3 Các giai đoạn sản xuất sữa mẹ 5

1.2 Tổng quan nuôi con bằng sữa mẹ 6

1.2.1 Cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn 6

1.2.2 Lợi ích của bú mẹ sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn đối với trẻ 7

1.2.3 Lợi ích đối với bà mẹ 8

1.2.4 Những khó khăn khi NCBSM những ngày đầu hậu sản 9

1.3 Quy trình chăm sóc sơ sinh 10

1.3.1 Quy trình chăm sóc sơ sinh đẻ thường 10

1.3.2 Quy trình chăm sóc sơ sinh đẻ mổ 11

1.4 Chính sách khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ 12

1.5 Một số nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ, bú sớm sau sinh trên Thế giới và Việt Nam 13

1.5.1 Một số nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ trên Thế giới 13

1.5.2 Một số nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ Việt Nam 15

1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện 17

1.6.1 Yếu tố từ phía mẹ 17

1.6.1.1 Đặc điểm cá nhân của bà mẹ 17

1.6.1.2 Kiến thức của bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ 18

1.6.1.3 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ 20

HUPH

Trang 5

1.6.1.4 Phương pháp sinh con 20

1.6.2 Yếu tố gia đình 21

1.6.3 Yếu tố thuộc về cơ sở y tế 22

1.7 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 24

1.8 Khung lý thuyết nghiên cứu 26

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 27

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 27

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 27

2.2 Thiết kế nghiên cứu 27

2.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 27

2.3.2 Chọn mẫu định tính 28

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 28

2.4 Biến số nghiên cứu 31

2.4.1 Biến số nghiên cứu định lượng 31

2.4.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính 32

2.5 Các tiêu chí đánh giá 33

2.6 Xử lý và phân tích số liệu 33

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1.1 Đặc điểm dân số xã hội về đối tượng nghiên cứu 35

3.1.2 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh tại Khoa sản Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương 36

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh tại Khoa sản tại Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc năm 2022 39

3.2.1 Yếu tố từ phía mẹ 39

3.2.2 Yếu tố gia đình 45

3.2.3 Yếu tố từ bệnh viện 46

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 51

HUPH

Trang 6

4.1 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong thời gian nằm viện

tại Khoa sản Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc 51

4.1.1 Đặc điểm dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu 51

4.1.2 Đặc điểm tiền sử sản phụ khoa của đối tượng nghiên cứu 52

4.1.3 Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong thời gian nằm viện 54

4.1.3.1 Tỷ lệ cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh 54

4.1.3.2 Tỷ lệ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh 55 4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh tại khoa Sản tại Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc 56

4.2.1 Yếu tố từ phía mẹ 56

4.2.2 Yếu tố ảnh hưởng từ người thân trong gia đình 59

4.2.3 Yếu tố thuộc về bệnh viện 60

4.3 Hạn chế trong nghiên cứu 62

KẾT LUẬN 64

1 Đánh giá thực trạng cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh và cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh 64

2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện 64

KHUYẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm dân số xã hội của người mẹ 35

Bảng 3.2 Một số đặc điểm sản khoa và thực hành trong thai kỳ 36

Bảng 3.3 Cho con bú sớm trong thời gian bà mẹ nằm viện sau sinh 36

Bảng 3.4 Cách cho trẻ bú, tần suất cho con bú sữa mẹ 37

Bảng 3.5 Tình trạng vắt bỏ sữa non bỏ sau khi sinh 38

Bảng 3.6 Lý do bà mẹ cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh 39

Bảng 3.7 Lý do cho trẻ bú muộn trên 1 giờ sau sinh của các bà mẹ 39

Bảng 3.8 Yếu tố cản trở việc cho con BSMHT trong thời gian nằm viện 40

Bảng 3.9 Một số lý do chủ quan không cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh 40

Bảng 3.10 Yếu tố liên quan giữa đặc điểm chung của bà mẹ với thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh 41

Bảng 3.11 Đặc điểm phương pháp sinh, con thứ mấy liên quan tới cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh 42

Bảng 3.12 Các yếu tố liên quan đến cho con bú sớm sau sinh qua phân tích hồi quy đa biến 43

Bảng 3.13 Sự tư vấn NCBSM và yếu tố gia đình liên quan đến tỷ lệ cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện qua phân tích đơn biến 45

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ cho trẻ bú sớm ở các bà mẹ sinh thường và sinh mổ 37 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện 38 HUPH

Trang 8

JCI Joint Commission International - Chứng chỉ quản lý chất

lượng bệnh viện toàn cầu

NCBSMHT Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

UNICEF United Nations International Children's Emergency Fund -

Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

HUPH

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là phương pháp nuôi dưỡng trẻ tự nhiên mang lại lợi ích tối ưu nhất cho phát triển của trẻ Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) khuyến cáo cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu,

tiếp tục cho ăn bổ sung hợp lý Nghiên cứu “Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản

phụ sau sinh trong thời gian nằm viện tại khoa Sản, Bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương năm 2022 và một số yếu tố ảnh hưởng” thực hiện với mục tiêu: Mô tả

thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong thời gian nằm viện và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa Sản của Bệnh viện

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp

nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính với cỡ mẫu là 270 sản phụ, thực hiện PVS ban giám đốc, lãnh đạo khoa Sản và bác sĩ cùng TLN với 8 sản phụ, thời gian nghiên cứu

từ tháng 06/2022 đến tháng 11/2022

Kết quả: Thời điểm cho trẻ bú cữ đầu tiên đạt 86,7%; Tỷ lệ trẻ được bú sớm trong 01 giờ

đầu sau sinh đạt 96,3% Cách cho trẻ bú sai cách chiếm tỷ lệ cao 64,4% so với cách cho

bú đúng Tỷ lệ người mẹ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh đạt 57,8%, vẫn còn tình trạng bà mẹ bỏ sữa non sau khi sinh (13,5%)

Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong giai đoạn nằm viện: Do mẹ không đủ sữa và có vấn đề về vú Sự mệt mỏi, đau do vết khâu tầng sinh môn đối với sản phụ sinh thường và đau do vết khâu khi sinh mổ Tuy nhiên, về phía gia đình thì phần lớn sản phụ không gặp khó khăn trong nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện Tại bệnh viện không tiếp nhận tài trợ, quảng cáo từ các hãng sữa dành cho sản phụ, ưu tiên hướng dẫn sản phụ nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện

Kết luận: Phần lớn các bà mẹ sinh con tại bệnh viện Quốc tế Hạnh phúc thực hiện cho

trẻ bú sớm sau sinh Tuy nhiên tỷ lệ người mẹ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh đạt không cao, đạt 57,8% Bà mẹ gặp vấn đề về yếu tố mệt mỏi, đau do vết khâu tầng sinh môn ảnh hưởng tới việc cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện

Khuyến nghị: Tăng cường tổ chức các lớp học tiền sản cho thai phụ và thân nhân thường

xuyên hơn tại bệnh viện, bố trí NVYT hỗ trợ sản phụ sinh con lần đầu trong việc thực hành cho bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn

HUPH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là phương pháp nuôi dưỡng trẻ tự nhiên mang lại lợi ích tối ưu nhất cho phát triển của trẻ Quỹ Nhi đồng Liên hơp quốc UNICEF khuyến cáo cho trẻ bú sớm trong vòng 01 giờ đầu sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, tiếp tục cho ăn bổ sung hợp lý, duy trì bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi bảo đảm

sự tăng trưởng và phát triển thể chất, tinh thần và trí tuệ của trẻ Nuôi con bằng sữa mẹ

là biện pháp can thiệp có hiệu quả nhất trong giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cho trẻ (1) Theo số liệu thống kê của UNICEF năm 2017, Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á, chỉ 27% trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh, khoảng 24% bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và 66% tiếp tục cho con bú đến 1 tuổi, khu vực thành thị có tỷ lệ NCBSM thấp hơn khu vực nông thôn (2) Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF chỉ riêng với can thiệp cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn (BMHT) trong 6 tháng đầu sẽ làm giảm 1,3 triệu ca tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi mỗi năm trên toàn thế giới (3)

Cho trẻ bú sữa mẹ sớm sau sinh và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời đem lại lợi ích rất lớn đối với tình trạng dinh dưỡng, sự phát triển của trẻ, giảm tỷ lệ bệnh tật hoặc tử vong và phòng ngừa các bệnh mãn tính ở trẻ (1) Tổ chức Y tế Thế giới và các tổ chức khác cũng khuyến cáo nên trì hoãn trong vòng ít nhất một giờ đầu sau sinh việc tiến hành các thủ tục chăm sóc trẻ sơ sinh như vệ sinh cho trẻ hay cân trẻ khiến bà mẹ và trẻ bị tách riêng Trong nghiên cứu của Smith và cộng sự cho kết quả: trẻ sơ sinh được bú mẹ muộn từ 2 đến 23 giờ sau sinh có nguy cơ

tử vong sơ sinh cao hơn 30% so với trẻ sơ sinh được bú mẹ sớm (BMS) trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và trẻ sơ sinh bắt đầu bú mẹ sau 24 giờ sau sinh có nguy cơ tử vong cao gấp 2,19 lần Trong số trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ hoàn toàn những trẻ bắt đầu bú

mẹ sau 24 giờ sau sinh có nguy cơ tử vong sơ sinh cao hơn 85% so với trẻ được bú mẹ hoàn toàn (BMHT) trong vòng 24 giờ đầu sau sinh (4) Ở Việt Nam, hầu hết các bà mẹ đều NCBSM, tuy nhiên tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm và NCBSMHT còn thấp Do đó, việc đánh giá tỷ lệ và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ cho con bú sữa mẹ hoàn

HUPH

Trang 11

toàn trong thời gian nằm viện hậu sản tại cơ sở y tế có ý nghĩa quan trọng, giúp cung cấp cơ sở khoa học trong việc đề xuất và thực hiện giải pháp can thiệp hiệu quả

Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc là một bệnh viện tư nhân tại Bình Dương, giáp ranh với Thành phố Hồ Chí Minh, đây là bệnh viện được công nhận thực hành nuôi con sữa mẹ xuất sắc Mỗi năm bệnh viện tiếp đón hơn 600.000 lượt bệnh nhân ngoại trú, chào đón

sự ra đời của 13.500 em bé Tại bệnh viện, chương trình nuôi con bằng sữa mẹ được triển khai theo các khuyến nghị và các quy định Tuy nhiên, thực tế vẫn ghi nhận nhiều trường hợp không cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh hoặc không cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện, có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này Hiện nay, tại bệnh viện chưa có đánh giá về vấn đề này, chưa có khảo sát tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện Câu hỏi đặt ra

là tỷ lệ cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh và cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh là bao nhiêu? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến cho con bú sữa

mẹ sớm sau sinh và cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh? Để

trả lời những câu hỏi này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng nuôi con bằng

sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong thời gian nằm viện tại khoa Sản, Bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương năm 2022 và một số yếu tố ảnh hưởng”

HUPH

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong thời gian nằm viện tại Khoa sản Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương năm 2022

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong giai đoạn nằm viện tại khoa Sản tại Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương năm 2022

HUPH

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về sữa mẹ

1.1.1 Sơ lược về giải phẫu học tuyến vú với chức năng cho con bú

Bên trong tuyến vú gồm nhiều nang sữa, được cấu tạo bởi các tế bào tiết sữa Chung quanh các nang sữa có các tế bào cơ trơn, khi co thắt sẽ đẩy sữa ra ngoài Chất Prolactin giúp các tế bào tiết sữa tạo ra sữa, còn Oxytocin làm các tế bào cơ co thắt Từ nang sữa, sữa theo các ống dẫn chảy ra ngoài Ở quầng vú, xoang sữa là nơi sữa được gom lại để chuẩn bị cho bữa bú Các nang sữa và ống tiết sữa được bao bọc bởi mô mỡ

và mô liên kết Vú mỗi người mẹ có thể to nhỏ khác nhau do thành phần mô mỡ và mô liên kết nhiều hay ít, còn số lượng mô tuyến vú thì hầu như tương đương nhau (5)

Hình 1.1 Giải phẫu tuyến vú Nguồn: benhvienducgiang.com

1.1.2 Thành phần của sữa mẹ

Sữa mẹ chứa khoảng 87,5% là nước, không có bằng chứng cho thấy một trẻ sơ sinh khỏe mạnh bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu cần bổ sung thêm nước, ngay cả khi thời tiết nóng Sữa mẹ chứa tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ trong 6 tháng đầu sau sinh, bao gồm cả chất béo, chất đường, chất đạm, vitamin và khoáng chất Sữa mẹ cũng chứa các yếu tố có hoạt tính sinh học giúp tăng cường hệ miễn dịch chưa trưởng thành của trẻ sơ sinh, bảo vệ trẻ trước tác nhân nhiễm trùng, các yếu tố khác giúp trẻ tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng (1)

HUPH

Trang 14

Sữa mẹ là thức ăn tự nhiên, lý tưởng nhất phù hợp với trẻ nhỏ Sữa mẹ có đủ protein, lipid, vitamin và khoáng chất với tỷ lệ thích hợp và dễ hấp thu đáp ứng với từng giai đoạn phát triển của trẻ Sữa mẹ còn chứa các chất miễn dịch, kháng thể giúp trẻ chống các bệnh nhiễm khuẩn, dị ứng, suy dinh dưỡng béo phì và một số bệnh tật khác (6)

Thành phần protein, lipid, glucid trong sữa mẹ

Lượng protein trong sữa mẹ ít hơn sữa động vật nhưng lại có đủ các axit amin cần thiết với tỷ lệ cân đối đồng thời lại dễ hấp thu Protein của sữa mẹ gồm nhiều casein kết cầu mềm dễ hấp thụ hơn so với sữa động vật Thành phần Lipid trong sữa

mẹ gồm nhiều acid béo cần thiết chuỗi dài, không no dễ hấp thu cho trẻ Đặc biệt, sữa

mẹ có nhiều acid béo đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện hệ thần kinh ở trẻ nhỏ như DHA và ARA Glucid trong sữa mẹ chủ yếu là đường lactose, hàm lượng 7g/10ml(7)

Thành phần vitamin và muối khoáng

Vitamin trong sữa mẹ có đủ cho trẻ trong 4-6 tháng đầu nếu bà mẹ được ăn uống đầy đủ, ngoại trừ vitamin D là vitamin do cơ thể tự tổng hợp khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời Về thành phần muối khoáng thì lượng sắt (Fe) và kẽm (ZinC) trong sữa mẹ tuy ít nhưng có hoạt tính cao, dễ hấp thụ nên vẫn đáp ứng được nhu cầu của trẻ (7)

Các yếu tố miễn dịch

Sữa mẹ được ví như như “liều vác xin đầu tiên” cho trẻ vì có chất thúc đẩy hoàn thiện hệ thống miễn dịch ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non Sữa mẹ chứa nhiều globulin miễn dịch tạo kháng thể và các chất bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn bằng cách bọc niêm mạc ruột, bạch cầu, tiêu diệt vi khuẩn, virut, nấm, chất không cho vi khuẩn bám mặt niêm mạc Hơn thế nữa, sữa mẹ còn thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển hệ thống miễn dịch ở trẻ về sau

1.1.3 Các giai đoạn sản xuất sữa mẹ

Sữa non: có từ ngay sau khi sinh và trong tuần đầu sau sinh Số lượng ít trong ngày đầu, nhiều hơn từ ngày thứ 2-3 Sữa non có màu vàng nhạt, đặc sánh có nhiều kháng thể, bạch cầu hơn sữa trưởng thành giúp trẻ sơ sinh chống nhiễm khuẩn và dị ứng Hơn thế nữa, các chất giúp phòng nhiễm khuẩn này tiếp tục góp phần vào việc

HUPH

Trang 15

hình thành và hoàn chỉnh hệ thống miễn dịch về sau cho trẻ Chính vì vậy sữa non được coi như là liều vắc xin đầu tiên giúp trẻ chống đỡ bệnh tật Sữa non còn có tác dụng xổ nhẹ giúp tống phân su nhanh, kéo theo đào thải bilirubin nhanh Vì vậy, trẻ được bú sữa non ít vàng da hơn và thời gian vàng da cũng ngắn hơn Sữa non còn có nhiều yếu tố phát triển giúp bộ máy tiêu hoá non nớt của trẻ nhanh chóng trưởng thành Lượng vitamin A trong sữa non rất nhiều giúp giảm nhẹ bệnh khi trẻ mắc bệnh Mặc dù số lượng sữa non ít nhưng vừa đủ so với kích thước dạ dày và nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sau khi sinh (6)

Sữa trung gian: Là sữa tiết ra từ ngày 7-14, chuyển đổi từ sữa non sang sữa trưởng thành Lượng sữa nhiều hơn và có thay đổi một số thành phần cả về số lượng và chất lượng (6)

Sữa trưởng thành: Sữa được tiết ra sau 2 tuần là sữa trưởng thành Nếu bà mẹ được ăn uống đủ, nghỉ ngơi hợp lý sẽ sản xuất đủ sữa và giữ thành phần sữa hằng định trong suốt thời gian cho con bú (6)

Chất lượng sữa tiết ra trong một bữa bú có khác nhau Sữa tiết ra ngay khi bắt đầu bữa

bú gọi là sữa đầu, sữa tiết ra sau đó gọi là sữa cuối Sữa đầu thường loãng hơn, có màu hơi xanh so với sữa cuối và số lượng nhiều hơn Sữa đầu có rất nhiều chất đạm (protein), lactosa và nhiều chất dinh dưỡng khác Sữa cuối có màu trắng hơn so với sữa đầu vì chứa nhiều chất béo hơn và cung cấp nhiều năng lượng cho trẻ Vì vậy, trong mỗi bữa bú cần cho trẻ bú hết từng bên vú một để trẻ nhận được đủ các chất đạm, dinh dưỡng ở sữa đầu và nhiều chất béo ở sữa cuối (6)

1.2 Tổng quan nuôi con bằng sữa mẹ

1.2.1 Cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn

Bú mẹ sớm sau sinh: Là cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ sau khi sinh (7) Bú sớm giúp trẻ tận dụng được sữa non là loại sữa hoàn thiện nhất trong những ngày đầu sau sinh, hoàn hảo về dinh dưỡng và các chất sinh học thích ứng với cơ thể non nớt vừa ra đời của đứa trẻ

Bú mẹ hoàn toàn: Là đứa trẻ chỉ đươc bú sữa mẹ trực tiếp từ mẹ hoặc từ vú mẹ vắt ra, ngoài ra không ăn thêm bất kỳ loại thức ăn, nước uống nào khác kể cả nước lọc, trừ các dạng vitamin, khoáng chất bổ sung hoặc thuốc theo chỉ định của thầy thuốc (8)

HUPH

Trang 16

Khuyến nghị của WHO cho tất cả các bà mẹ cho con bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Bú mẹ chủ yếu: Là cách nuôi dưỡng trong đó nguồn dinh dưỡng chính là sữa mẹ, tuy nhiên trẻ có thể được cho ăn thêm nước uống đơn thuần hoặc một số thức ăn, đồ uống dạng lỏng như nước hoa quả, nước đường, ORS hoặc các loại thức ăn lỏng cổ truyền với số lượng ít (8)

Bú bình: là cho trẻ bú bằng bình sữa, bất kể sữa gì kể cả sữa mẹ vắt ra cho vào bình (8)

1.2.2 Lợi ích của bú mẹ sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn đối với trẻ

Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất bảo đảm cho sự sống còn và phát triển tối ưu cho trẻ

em mà không có một loại thức ăn nào có thể thay thế được Sữa mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết và dễ cho trẻ tiêu hoá, hấp thu Cùng với sự lớn lên của trẻ, sữa

mẹ thay đổi số lượng để đáp ứng nhu cầu thay đổi đó kể cả số lượng sản xuất trong ngày và cho từng bữa bú Một số thành phần trong sữa mẹ cũng thay đổi để đáp ứng phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ

Bắt đầu cho bú ngay sau sinh đảm bảo cho trẻ sơ sinh nhận được những giọt sữa đầu tiên (sữa non), chính là liều vắcxin đầu tiên cho trẻ Sữa non cung cấp các yếu tố miễn dịch cũng như các chất kháng viêm và diệt khuẩn, giúp thúc đẩy sự hoàn thiện của ruột và hệ thống miễn dịch của trẻ, bảo vệ trẻ khỏi các tác nhân gây bệnh

Việc cho bú mẹ sớm và bú mẹ hoàn toàn giúp bảo vệ trẻ, tránh phơi nhiễm với các mầm bệnh nhiễm khuẩn Các chất khác ngoài sữa mẹ như nước, mật ong, được quan niệm là tốt cho trẻ thường là nguồn gây các bệnh nhiễm khuẩn (9)

Cho trẻ bú mẹ sớm và thường xuyên cùng với việc cho trẻ tiếp xúc da kề da với

mẹ giúp giữ ấm cho trẻ, chống lại bệnh tật và tử vong liên quan đến hạ thân nhiệt Trẻ

sơ sinh có nguy cơ cao bị hạ thân nhiệt đặc biệt trong 12 giờ đầu sau sinh, nguyên nhân chủ yếu là do mất nhiệt khi nước ối bay hơi ngay sau khi sinh Bị nhiễm lạnh và hạ thân nhiệt được biết đến như một yếu tố nguy cơ đối với bệnh tật và tử vong sơ sinh, bao gồm tăng nguy cơ viêm phổi và nhiễm trùng máu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (10)

Cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh là cung cấp cho trẻ nguồn sữa non quý giá từ

mẹ Như đã đề cập ở trên, sữa non có trong bầu vú mẹ, ngay sau khi sinh sẵn sàng cho

HUPH

Trang 17

con bú ngay khi trẻ vừa lọt lòng mẹ Sữa non chứa nhiều kháng thể, các protein kháng khuẩn và nhiều tế bào bạch cầu hơn sữa trưởng thành giúp trẻ sơ sinh chống các bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm và cung cấp khả năng miễn dịch đầu tiên cho trẻ chống nhiều bệnh mà trẻ có thể mắc sau sinh(11) Sữa non có tác dụng xổ nhẹ, giúp thải phân su và cũng có tác dụng thải bilirubin ra khỏi ruột, giảm mức độ vàng da Thêm vào đó, sữa non chứa nhiều yếu tố tăng trưởng giúp ruột chưa trưởng thành của trẻ tiếp tục phát triển sau sinh, giúp trẻ phòng dị ứng và phòng bệnh không dung nạp những thức ăn khác Sữa non chứa nhiều vitamin A có tác dụng làm giảm độ nặng của các bệnh nhiễm khuẩn mà trẻ có thể mắc phải Vì vậy, trẻ được bú sữa non trong những bữa bú đầu tiên là rất quan trọng, tận dụng được thức ăn lý tưởng nhất, phù hợp nhất với trẻ mới sinh đồng thời cũng tạo nền tảng vững chắc cho sự lớn lên và phát triển của trẻ (6) Cho trẻ bú mẹ sớm và thường xuyên cùng với việc cho trẻ tiếp xúc da kề da với

mẹ giúp giữ ấm cho trẻ, chống lại bệnh tật và tử vong liên quan đến hạ thân nhiệt Trẻ

sơ sinh có nguy cơ cao bị hạ thân nhiệt đặc biệt trong 12 giờ đầu sau sinh, nguyên nhân chủ yếu là do mất nhiệt khi nước ối bay hơi ngay sau khi sinh Bị nhiễm lạnh và

hạ thân nhiệt được biết đến như một yếu tố nguy cơ đối với bệnh tật và tử vong sơ sinh, bao gồm tăng nguy cơ viêm phổi và nhiễm trùng máu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

1.2.3 Lợi ích đối với bà mẹ

Khi trẻ bú sẽ kích thích tuyến yên sản xuất oxytocin, vì thế cho con bú sớm ngay sau khi đẻ sẽ giúp tử cung co hồi tốt, giảm nguy cơ chảy máu sau sinh (8) Các bà mẹ cho con bú thường giảm cân nhanh hơn, đồng thời ít nguy cơ mắc các bệnh như tiểu đường type II, ung thư vú, ung thư buồng trứng, loãng xương Hàm lượng oxytocin trong máu cao hơn nên có thể giảm căng thẳng và chứng trầm cảm ở bà mẹ sau khi sinh(12),(13) Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu làm ức chế hoạt động của buồng trứng, sẽ làm bà mẹ chậm có kinh trở lại, vì vậy nuôi con bằng sữa mẹ có tác dụng như một biện pháp tránh thai tự nhiên (12) Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy rằng nếu bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và không

có dấu hiệu có kinh nguyệt trở lại thi khả năng mang thai là dưới 2% (14) Việc nuôi con bằng sữa mẹ sẽ tăng thêm tình cảm gần gũi giữa mẹ và con và chính điều đó là yếu tố tâm lý quan trọng giúp cho sự phát triển hài hòa của trẻ

HUPH

Trang 18

Các nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa thời gian cho con bú của bà mẹ với việc mắc các bệnh không truyền nhiễm Những người phụ nữ không cho con bú sữa mẹ có nhiều khả năng bị bệnh cao huyết áp hơn những phụ nữ nuôi con bằng sữa

mẹ hoàn toàn trong 6 tháng Bên cạnh đó, việc kéo dài thời gian nuôi con bằng sữa mẹ

có liên quan đến việc giảm nguy cơ bà mẹ bị trầm cảm sau sinh Thêm vào đó, thời gian nuôi con bằng sữa mẹ kéo dài có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc đái tháo đường tuýp 2 Với mỗi một năm nuôi con bằng sữa mẹ thì nguy cơ mắc đái tháo đường của bà mẹ giảm đi 15% Ngoài ra, thời gian nuôi con bằng sữa mẹ kéo dài sẽ giảm nguy cơ bị loãng xương của mẹ, trong đó bà mẹ có thời gian NCBSM 7-12 tháng, 13 – 23 tháng hoặc trên 24 tháng thì nguy cơ mắc bệnh giảm dần từ 1,14 lần xuống 0,28 lần và 0,34 lần (15)

1.2.4 Những khó khăn khi NCBSM những ngày đầu hậu sản

Chảy sữa: Xảy ra 3-5 ngày sau sinh, là hiện tượng sữa mẹ "tuôn trào" Các bà mẹ cảm thấy không thoải mái Mẹ càng cho trẻ bú thường xuyên thì vú càng ít chảy sữa, sau một vài ngày sẽ hoàn toàn biến mất (16)

Căng vú: Hai hoặc ba ngày sau sinh, vú của bà mẹ sẽ bị căng tức và nổi cục với đầu vú xẹp Sưng tấy có thể lan tới nách và có thể bị sốt nhẹ, điều này là do mẹ xuống sữa, làm cho bà mẹ có cảm giác khó chịu, nhưng không gây hại gì và sẽ khỏi rất nhanh Để làm dịu triệu chứng này, bà mẹ có thể dùng tay hoặc bơm hút một ít sữa ra trước khi cho trẻ bú Bà mẹ có thể tắm nước nóng hay lau bằng khăn ấm để giảm đau

và thư giãn giữa các cữ bú (16)

Tắc sữa: xuất hiện một vẩy ở đầu vú: bà mẹ chỉ cần cậy ra, lau sạch vú và tiếp tục cho trẻ bú, hoặc xuất hiện một u cục nhỏ bên trong vú và lớp da bên ngoài bị sưng, đây

có thể là dấu hiệu ban đầu của tình trạng viêm vú Để khắc phục tình trạng này mẹ nên cho bé bú thường xuyên hơn để giảm lượng sữa thừa ứ trong vú, cho bé ngậm vú đúng cách, mát-xa bầu vú nhẹ nhàng, lau bằng khăn ấm (16)

Viêm vú: Hiện tượng sưng cứng ở vú, đỏ da lan tỏa, đau dữ dội, mẹ sốt, mệt mỏi

Để khắc phục bà mẹ nên nghỉ ngơi nhiều, cho trẻ bú thường xuyên hơn, thói quen bú cạn sữa, và sử dụng thuốc kháng sinh theo chỉ định của bác sỹ (16)

HUPH

Trang 19

Áp xe vú: Sữa ứ đọng gây viêm vú lúc đầu không nhiễm trùng, sau đó nhiễm trùng và hình thành ổ áp xe, triệu chứng là khối u trở nên căng cứng, đau dữ dội, đỏ lan tỏa, sờ thấy khối u nóng, bà mẹ sốt và mệt mỏi Khi bị áp xe vú, trẻ tiếp tục bú mẹ, hoặc vắt sữa bằng tay hoặc hút sữa bằng dụng cụ để tránh các tuyến sữa khác trở thành

ổ ápxe mới Có thể làm giảm đau bằng chườm lạnh nơi bị áp xe Nếu áp xe chưa làm

mủ có thể uống thuốc kháng sinh để khu trú ổ nhiễm trùng, nếu đã tạo mủ nên chích tháo mủ Sau khi hết áp xe nên cho trẻ bú lại bình thường (16)

Sưng, nứt, chảy máu đầu vú: dấu hiệu của việc ngậm bắt vú không đúng cách Nhân viên y tế nên hướng dẫn bà mẹ cách cho trẻ bú đúng

Đầu vú ngắn hoặc bị tụt vào trong: Thường gặp ở những bà mẹ sinh con đầu lòng Lúc đầu trẻ sẽ bỏ bú, và không ngậm được đầu vú sâu vào trong miệng, nhưng dần dần cùng với thời gian đầu vú sẽ dài ra

Tưa đầu vú: hiện tượng nhiễm nấm thường gặp ở mệng trẻ, chúng lây sang vú mẹ khi cho trẻ bú, bà mẹ sẽ nhìn thấy những đốm trắng trong miệng của trẻ, đồng thời xuất hiện trên đầu vú của bà mẹ, các nốt này có thể gây ngứa và đau Điều trị bằng xanh methylen hoặc thuốc kháng nấm Nếu người mẹ có biểu hiện triệu chứng, cả mẹ

và bé cần được điều trị Nếu chỉ có trẻ có triệu chứng, không cần thiết điều trị cho mẹ (16)

Sữa quá ít: mẹ nghĩ mình không đủ sữa nuôi con hoặc sữa quá ít, qua lời kể của

mẹ với nhân viên y tế: trẻ khóc nhiều khi bú, trẻ bú nhiều lần… điều này chứng tỏ trẻ

bú chưa đúng cách, nhân viên y tế sẽ hỗ trợ bà mẹ thực hành cho bú đúng cách (16) Sữa mẹ không đủ: Dấu hiệu nhận biết mẹ không đủ sữa: lượng nước tiểu ít, đi tiêu phân su 4 ngày sau sinh Lý do không đủ sữa mẹ: trẻ bú mẹ muộn sau sinh, bú không đúng cách, không bú theo nhu cầu, không bú cạn sữa, bú bình hoặc uống thức uống khác ngoài sữa mẹ như nước (16)

Yếu tố tâm lý của bà mẹ: bà mẹ có thể bị trầm cảm, lo lắng, hoặc căng thẳng, không tự tin NCBSM

1.3 Quy trình chăm sóc sơ sinh

1.3.1 Quy trình chăm sóc sơ sinh đẻ thường

HUPH

Trang 20

Quy trình chăm sóc sơ sinh đối với sản phụ sinh thường tuân thủ theo Quyết định số 4673/QĐ-BYT ngày 10/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế “Về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ” (17) Quy trình gồm 6 bước chăm sóc thiết yếu dành cho bà mẹ sau sinh:

 Lau khô và ủ ấm; cho trẻ tiếp xúc trực tiếp da kề da (trẻ được đặt lên bụng mẹ ngay sau khi sinh và kéo dài ít nhất 90 phút sau sinh)

 Tiêm bắp 10 đơn vị oxytocin

 Kẹp dây rốn muộn (sau khi dây rốn đã ngừng đập hoặc 1-3 phút sau khi thai sổ)

và kẹp và cắt dây rốn một thì

 Kéo dây rốn có kiểm soát

 Xoa đáy tử cung cứ 15 phút một lần trong vòng 2 giờ đầu sau đẻ

 Hỗ trợ cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn

Trong quy trình thì trẻ tiếp xúc da kề da rất quan trọng Trẻ được tiếp xúc da kề

da với mẹ ngay từ những phút đầu sau khi sinh giúp tăng sự tương tác sớm giữa mẹ và con Trẻ sẽ không bị hạ thân nhiệt, trẻ sẽ tìm vú mẹ sớm hơn và bú mẹ khỏe hơn Người mẹ cũng giảm lo lắng, giảm nỗi đau “vượt cạn một mình” Trẻ được tiếp xúc trực tiếp da kề da với mẹ ngay sau sinh thì ít khóc hơn so với các trẻ được nhân viên y

tế chăm sóc, các bà mẹ cũng cảm thấy dễ dàng cho con bú mẹ hơn trong những tháng đầu sau sinh, thời gian cho bú cũng lâu hơn Các bà mẹ cũng ghi nhận trẻ gần gũi với

mẹ hơn Cho trẻ bú sớm và bú sữa mẹ hoàn toàn trong giờ đầu sau sinh, không cho trẻ

ăn thêm bất cứ một loại thực phẩm nào khác (17)

1.3.2 Quy trình chăm sóc sơ sinh đẻ mổ

Quy trình chăm sóc sơ sinh đối với sản phụ sinh thường tuân thủ theo Quyết định số 6734/QĐ-BYT ngày 15/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế “Về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ lấy thai”(18) Quy trình gồm 5 bước chăm sóc thiết yếu dành cho bà mẹ sinh mổ lấy thai:

 Lau khô và ủ ấm;

 Tiêm bắp 10 đơn vị oxytocin cho mẹ;

 Kẹp dây rốn muộn (sau khi dây rốn đã ngừng đập hoặc 1-3 phút sau khi lấy thai ra) và cắt dây rốn một thì;

HUPH

Trang 21

 Cho trẻ tiếp xúc trực tiếp da kề da (trẻ được đặt lên ngực mẹ ngay trong khi mổ

đẻ và kéo dài ít nhất 90 phút sau mổ)

 Cho trẻ bú sớm trong giờ đầu và bú mẹ hoàn toàn

Tương tự như quy trình sinh thường, tiếp xúc da kề da rất quan trọng đối với trẻ mới sinh Trẻ được tiếp xúc da kề da với mẹ ngay từ những phút đầu sau khi sinh giúp tăng sự tương tác sớm giữa mẹ và con Trẻ sẽ không bị hạ thân nhiệt, tìm vú mẹ sớm hơn và bú mẹ khỏe hơn Người mẹ cũng giảm lo lắng, giảm nỗi đau “vượt cạn một mình” Trẻ cần được bú sớm hoàn toàn trong giờ đầu, không cần ăn thêm bất kỳ sản phẩm nào (18)

Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương ban hành quy trình chăm sóc sơ sinh, bệnh viện triển khai sáng kiến “Bệnh viện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ” mang lại sự hài lòng cho sản phụ Tại Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương, 100% khách hàng của bệnh viện đã được tư vấn, hướng dẫn thực hành nuôi con bằng sữa mẹ từ sớm, bé được da kề da đủ 90 phút ở bệnh viện với sinh thường đạt 92% và sinh mổ đạt 76% Tỉ lệ bú sớm sau sinh ở cả sinh thường và sinh mổ đạt lần lượt 92% và 88% (19) Với kết quả đánh giá trên, Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương chính thức được Bộ Y tế công nhận là “Bệnh viện Thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc”, qua đó trở thành một trong những bệnh viện tư nhân đầu tiên tại Việt Nam đạt danh hiệu này

1.4 Chính sách khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ

Chính phủ Việt Nam đưa ra các khuyến cáo về bú mẹ bằng các Quyết định, hướng dẫn thực hiện nhằm chăm lo tốt nhất đối với bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ:

- Quyết định số 6734/QĐ-BYT ngày 15 tháng 11 năm 2016 của Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu Hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong

và ngay sau mổ lấy thai (18)

- Quyết định số 4673/QĐ-BYT ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong

và ngay sau đẻ (17)

HUPH

Trang 22

- Nghị định số 100/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ quy định về kinh doanh và sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ (20) trong đó nghiêm cấm quảng cáo sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi,

có hiệu lực ngày 1/3/2015

- Công văn số 8388/SYT-NVY của Sở Y tế TP Hồ Chí Minh ngày 19/12/2013 qui định về việc thực hiện NCBSM tại các cơ sở y tế nhằm cụ thể hóa “10 điều kiện NCBSM thành công” giúp các cơ sở y tế triển khai hoạt động NCBSM hiệu quả và thực thi tốt Nghị định 21/2006/NĐCP của Chính phủ (21)

Bằng việc tăng cường thực hiện các chính sách pháp luật, chúng ta có thể bảo vệ các gia đình và nhân viên y tế khỏi sự tấn công của các quảng cáo có hại cho việc nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa mẹ là sự lựa chọn tốt nhất mà các bà mẹ Việt Nam dành cho con cái mình

1.5 Một số nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ, bú sớm sau sinh trên Thế giới và Việt Nam

1.5.1 Một số nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ trên Thế giới

Nghiên cứu của tác giả Megbey Berhe và cộng sự (2016) về “Sử dụng chăm sóc

sơ sinh thiết yếu và các yếu tố liên quan giữa các bà mẹ trong các cơ sở y tế công cộng tại thị trấn Aksum, phía nam Ethiopia, 2016” thực hiện trên 423 phụ nữ cho tỷ lệ chăm

sóc rốn an toàn, cho bú sữa mẹ sớm, chăm sóc nhiệt 63,1%; 32,6% và 44,7% Chỉ có

113 sản phụ (26,7%) trong số những người tham gia đã thực hiện các biện pháp chăm sóc mới sinh (22) WHO và UNICEF trong một báo cáo công bố: Ước tính trên toàn cầu có 78 triệu trẻ mới sinh - hoặc ba trong số năm trẻ - không được bú sữa mẹ trong giờ đầu tiên Hầu hết những trẻ này được sinh ra ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình Tỷ lệ cho con bú mẹ sớm sau sinh cao nhất ở Đông và Nam Phi (65%) và thấp nhất ở Đông Á và Thái Bình Dương (32%)(23) Báo cáo cũng trích nguồn từ những nghiên cứu trước đây cho thấy trẻ nhỏ được bắt đầu bú mẹ trong vòng

từ 2 - 23 giờ sau khi sinh có nguy cơ tử vong cao hơn 33% so với những trẻ được bắt đầu bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh Với những trẻ được bắt đầu cho bú mẹ muộn sau một ngày, hoặc lâu hơn nữa thì nguy cơ cao gấp 2 lần (23) Trong khảo sát

HUPH

Trang 23

nghiên cứu của Vehling tại Canada về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện cho thấy 97% trẻ sơ sinh bắt đầu bú mẹ và 74% được bú mẹ hoàn toàn trong bệnh viện Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ hoàn toàn cuối cùng được bú mẹ lâu hơn so với những trẻ được bổ sung sữa công thức trong thời gian nằm viện (trung bình 11,0 so với 7,0 tháng, p < 0,001) Yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới việc bú mẹ hoàn toàn ở những phụ nữ không có bằng cấp sau trung học (HR = 0,65, 0,53-0,79), có tình trạng kinh tế thấp (24) Nghiên cứu cắt ngang của Mirahmadizadeh và cộng sự tại tỉnh Fars ở Iran tiến hành vào năm 2020, các tác giả đã tiến hành phỏng vấn các bà mẹ bằng bảng câu hỏi về cách nuôi con trong 24 giờ đầu sau sinh Kết quả thu được trong 24 giờ đầu sau sinh có 96% các bà mẹ cho con bú mẹ và có tới 87% trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ hoàn toàn Các tác giả cũng tìm thấy tỷ lệ cho con bú mẹ và BMHT trong 24 giờ đầu sau sinh ở các bà mẹ sinh ngã âm đạo cao hơn ở các bà mẹ sinh mổ, các yếu tố ảnh hưởng đến việc cho con BMHT như nghề nghiệp, trình độ học vấn và nguồn thu nhập của gia đình (25) Khảo sát dân số và Y tế của Ủy ban dân số quốc gia Cộng hòa Nigeria Abuja vào năm 2013: không như khuyến cáo có tới 83% trẻ được cho ăn bổ sung trước

6 tháng tuổi trong đó có 9% trẻ từ 0-1 tháng tuổi, 16% trẻ từ 2-3 tháng tuổi, 38% trẻ từ 4-5 tháng tuổi đã được cho ăn bổ sung thức ăn ngoài sữa mẹ: 47% được uống nước sạch, 5% được bú sữa ngoài và 23% được ăn các loại thực phẩm bổ sung khác (26) Tại Trung Quốc, mặc dù Chính phủ đã cố gắng thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ từ thập niên 90 đến nay Tuy nhiên trong nghiên cứu của Haoyue Gao cùng cộng sự được thực hiện trên 201 bà mẹ sắp xuất viện tại 2 bệnh viện thành thị và 5 bệnh viện nông thôn thuộc Tây nam Trung Quốc (2016) cho thấy có tới 87,3% (86% ở thành thị và 88,7% ở nông thôn) đã cho trẻ ăn bổ sung trước lần bú đầu tiên: phổ biến nhất là sữa bột (82,7% ở thành thị và 86,5% ở nông thôn), sau đó là nước ấm (11,2% ở thành thị và 10,4% ở nông thôn), nước đường (2% ở thành thị và 1% ở nông thôn), ngoài ra còn có

bà mẹ cho trẻ uống nước trái cây, dầu cá,…Đây là một trong số ít những nghiên cứu được tiến hành tại 2 khu vực khác nhau (thành thị và nông thôn) các kết quả đã cho thấy được sự khác biệt về tỉ lệ giữa 2 khu vực trong vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ (27) Kết quả của một nghiên cứu được tiến hành vào năm 2010 tại hai khu ổ chuột của Nairobi Kenya (Korogocho và Viwandani) nơi Trung tâm Nghiên cứu Dân số và

HUPH

Trang 24

Sức khoẻ Châu Phi (APHRC) điều hành hệ thống giám sát sức khoẻ và nhân khẩu học: hầu hết tất cả đã từng được bú mẹ (99%), tuy nhiên có đến 40% trẻ được cho uống một thứ khác ngoài sữa mẹ trong vòng 3 ngày sau sinh, chỉ có khoảng 2% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, đa số đều được cung cấp thức ăn bổ sung sớm(28)

1.5.2 Một số nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ Việt Nam

Tại Việt Nam, Bộ Y tế cũng khuyến cáo các bà mẹ cần nuôi trẻ bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, tuy nhiên tỉ lệ phụ nữ cho trẻ ăn bổ sung trước 6 tháng tuổi vẫn còn ở mức cao, việc bú sữa mẹ đang có xu hướng giảm dần thay vào đó

là việc bú sữa ngoài và ăn bổ sung sớm Đây cũng là lí do khiến trẻ em phải đối mặt với các bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hoá và hô hấp và hậu quả là suy dinh dưỡng ở trẻ em Năm 2011, Alive & Thrive phối hợp với Viện Nghiên cứu Y-Xã hội học, tiến hành điều tra tại 11 tỉnh của dự án, theo kết quả điều tra nhận thấy có mối liên quan giữa nơi sinh, can thiệp sản khoa với bú mẹ sớm sau sinh và không sử dụng sữa công thức, cụ thể là: so với những bà mẹ sinh con tại trạm y tế/nhà hộ sinh thì bà mẹ sinh con tại bệnh viện ít có khả năng cho trẻ bú mẹ sớm sau sinh và có nhiều khả năng cho trẻ uống sữa công thức trong 3 ngày đầu sau sinh, có 75,2% bà mẹ cho trẻ ăn/uống các thức ăn khác ngoài sữa mẹ trong 3 ngày đầu sau sinh, chủ yếu là sữa công thức và

nước (29) Nghiên cứu Nguyễn Thị Liên và cộng sự về "Kiến thức và thực hành cho

trẻ bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn của bà mẹ tại Bệnh viện Phụ sản Hà

là các bà mẹ ở độ tuổi tuổi 25-34 với tỷ lệ 69,3%, có tới 78,6% bà mẹ biết bú sớm trẻ

sẽ được cung cấp kháng thể, 51,4% biết bú càng sớm càng tốt và chỉ có 1,3% không biết về khái niệm cho bú sớm, Tỷ lệ bà mẹ đạt kiến thức về cho trẻ bú sớm chiếm 73,2%, có 46,9% bà mẹ hiểu đúng về khái niệm bú mẹ hoàn toàn, Tuy nhiên, chỉ có 33,8% bà mẹ thực hành cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, bà mẹ cho rằng

mẹ mệt và đau sau sinh đã cản trở việc cho con bú sớm chiếm 53,8% Chỉ có 14,5% bà

mẹ cho trẻ bú hoàn toàn tại thời điểm xuất viện và còn tới 85,5% cho trẻ uống thêm sữa công thức hoặc một số thứ khác Nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường tư vấn cho các bà mẹ ngay sau sinh về bú sớm và bú mẹ hoàn toàn đồng thời phát huy hơn

HUPH

Trang 25

nữa vai trò tư vấn của nhân viên y tế và các kênh truyền thông nhằm giúp bà mẹ có thêm kiến thức và kỹ năng thực hành trong việc NCBSM (30) Nghiên cứu cắt ngang tác giả Lục Thị Thanh Nhàn tiến hành trên 196 bà mẹ có con dưới 2 tuổi nhằm mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan của các bà mẹ có con dưới

2 tuổi ở hai phường tại Thành phố Thái Nguyên năm 2020 Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ lần đầu trong vòng 1 giờ đầu sau sinh 42,8%, trong 24 giờ đầu sau sinh 18,4%, sau 24 giờ 38,8% Tỷ lệ cho con bú mẹ hoàn toàn tương đối thấp trong thời gian nằm viện Nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn, phương pháp sinh trẻ, số con hiện tại, được cán bộ hướng dẫn về nuôi con bằng sữa

mẹ (31)

Tác giả Đinh Thị Hải Yến đã tiến hành nghiên cứu về “Những yếu tố ảnh hưởng

đến hành vi NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại huyện Củ Chi” vào năm 2014

cho thấy (32): NCBSM hoàn toàn theo đúng tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong mẫu khảo sát này chiếm tỷ lệ là 4% Sữa mẹ là thức ăn đầu tiên chỉ chiếm 31% Tỷ lệ cho trẻ bú mẹ lần đầu trong vòng 01 giờ đầu khá thấp (28%) Trong

đó, loại sữa được sử dụng phổ biến thì 62% bà mẹ cho bé uống thêm sữa bột do mẹ thiếu sữa, đứng thứ hai là lý do thuận tiện cho mẹ đi vắng hoặc đi làm với tỷ lệ 27% Đối với bột/cháo, làm quen dần với thức ăn là lý do nhiều nhất (47%), 35% bà mẹ cho rằng ăn bột/cháo sẽ giúp trẻ phát triển nhanh và cứng cáp Đối với các sản phẩm từ sữa, lý do được đưa ra nhiều nhất là để giúp trẻ làm quen dần với thức ăn (49%), tiếp theo là để đa dạng thức ăn cho trẻ (31%) Nghiên cứu cắt ngang trên các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi của Hà Minh Trang và cộng sự (2016) tại phường Tân Hồng, thị xã

Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cho thấy 81,8% người mẹ cho con bú sớm trong 1 giờ đầu sau sinh, tuy nhiên tỷ lệ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ là 14% (33) Nghiên cứu của Lâm Kim Hường trên 686 sản phụ tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ (2016), kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ bú mẹ sớm sau sinh trong vòng 1 giờ là 74,1% Tỷ

lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tại thời điểm xuất viện (3,8 ± 0,8 ngày) là 46%(34)

Nghiên cứu của Huỳnh Công Lên (2017) về “Đánh giá việc thực hiện chăm sóc thiết

yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ thường tại Bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Đắk Lắk năm 2017” quan sát 60 ca sinh thường cho kết quả là: 58% số ca đẻ có

HUPH

Trang 26

NVYT thực hành đúng các bước chuẩn bị cho cuộc đẻ Có 96,7% trẻ sơ sinh được da

kề da với mẹ; Phỏng vấn bà mẹ sau sinh có con đủ tháng cho thấy có 76,5% trẻ sơ sinh

bú mẹ cữ đầu tiên trong vòng 15-60 phút sau sinh; 61,1% trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 90 phút đầu đời, 74% được duy trì đến 90 phút, tuy nhiên chỉ có 57,5% trẻ được tiếp xúc da kề da với mẹ không bị cách ly trong 90 phút và hoàn thành

cữ bú đầu tiên (35) Nghiên cứu mới đây của Ngô Thị Thanh Thảo (2019) trên 1.771

bà mẹ tại Bệnh viện Hùng Vương, tác giả thực hiện nghiên cứu với thiết kế nghiên cứu cắt ngang kết hợp phỏng vấn và quan sát bảng kiểm Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng

có 56,6% người mẹ cho con bú sữa mẹ trong một giờ sau sinh và chỉ có 28,5% người

mẹ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện (36) Tác giả Trần Thị Nhi

và cộng sự tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 298 bà mẹ có con tại khoa Sản, bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ bà mẹ vắt bỏ sữa non là 12,1% và

có 30,2% trẻ vẫn được bà mẹ cho ăn thực phẩm khác ngoài sữa trước khi bú lần đầu sau sinh Tỷ lệ bà mẹ thực hành đúng tư thế khi cho trẻ bú là 30,4% Thực trạng này làm ảnh hưởng đến thực hành đúng trong nuôi con bằng sữa mẹ (37) Như vậy, tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn sau sinh trong thời gian nằm viện có sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực, phụ thuộc vào nhiều yếu tố

1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện

1.6.1 Yếu tố từ phía mẹ

1.6.1.1 Đặc điểm cá nhân của bà mẹ

Nhiều nghiên cứu được tiến hành về các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ NCBSM Tác

giả Nguyễn Thị Tâm với “Nghiên cứu tình hình nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng

đầu của các bà mẹ có con từ 6-24 tháng tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2012” cho thấy cho thấy tỉ lệ bà mẹ có kiến thức về NCBSM

tốt là 59%, thái độ tích cực/ tốt về NCBSM là 76,7% Tỉ lệ các bà mẹ cho trẻ bú sớm sau sinh (BSSS) trong vòng 1 giờ đầu là 75,7%; tỉ lệ bà mẹ NCBSM hoàn toàn là 25,3% Nơi cư ngụ, trình độ học vấn, kiến thức chung về NCBSM có liên quan đến thái độ NCBSM của các bà mẹ Thái độ cho trẻ bú sớm sau sinh liên quan đến thực

HUPH

Trang 27

hành cho trẻ bú sớm sau sinh Trình độ học vấn, qui mô gia đình, kinh tế gia đình và kiến thức chung về NCBSM liên quan đến thực hành NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu của các bà mẹ (38) Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu tiến hành tại Bệnh viện Hùng Vương-TP Hồ Chí Minh (2010) của Nguyễn Thị Anh Đào, trong số 258 trường hợp tái khám 1 tháng sau sinh, những yếu tố có liên quan đến tình hình cho con bú mẹ hoàn toàn sau sinh 1 tháng bao gồm: kiến thức đúng về cho con bú mẹ, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, có sống với người lớn tuổi Qua đó, kiến thức đúng NCBSM giúp tăng tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn (39) Trong nghiên cứu 400 cặp mẹ con đến khám tại phòng khám phúc lợi cho trẻ sơ sinh bệnh viện đại học Nnamdi Azikiwe trong năm

2012 cho thấy những bà mẹ có trình độ tiểu học và trung học có tỉ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ thấp hơn những bà mẹ đại học, những bà mẹ sinh mổ có tỉ lệ cho ăn

bổ sung cao hơn những bà mẹ sinh thường, những bà mẹ cho trẻ sử dụng sữa mẹ làm thức ăn đầu tiên cũng có tỉ lệ cho ăn bổ sung thấp hơn những bà mẹ cho trẻ sử dụng những thực phẩm khác Các lí do trẻ không được sử dụng sữa mẹ làm thức ăn đầu tiên được các bà mẹ đưa ra là sữa mẹ không ra (33,5%), bà mẹ không đủ mạnh để cho con

bú (27,8%), người thân chăm sóc trẻ (12%), tác động từ người thân (3,8%) và có 22,9% các bà mẹ không có lí do (40)

1.6.1.2 Kiến thức của bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ

Hiện nay, ở nhiều nước đã ghi nhận được các bằng chứng về sự thay đổi các chuẩn mực và giá trị trong cách nuôi con để đáp ứng với điều kiện kinh tế xã hội trong tiến trình đô thị hóa Nghiên cứu về nhận thức và kiến thức của cha mẹ về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ ở Rajanpur, tỉnh Punjab, Pakistan nhận thấy cho trẻ bú mẹ hoàn toàn có liên quan đáng kể đến khả năng miễn dịch mạnh mẽ và sự phát triển tối ưu của trẻ sơ sinh Tầm quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ bị đánh giá thấp Sự thiếu hiểu biết của cha mẹ và các thực hành không lành mạnh liên quan đến việc cho con bú

sẽ tước đi quyền cơ bản của trẻ được bú sữa mẹ Ở các nước đang phát triển, bao gồm

cả Pakistan, với tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng ở trẻ em cao, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ lành mạnh có thể mang lại những thay đổi tích cực về tình trạng sức khỏe của trẻ Nghiên cứu cho thấy phần lớn những người tham gia tin rằng thứ đầu tiên được cho trẻ sơ sinh sau khi sinh không phải là sữa mẹ mà là mật ong, hoa hồng hoặc

HUPH

Trang 28

sữa dê từ tay của một người lớn tuổi trong gia đình hoặc một người theo đạo Không

có biện pháp vệ sinh sạch sẽ nào được thực hiện về vấn đề này Những người tham gia

đã có những quan niệm sai lầm về lợi ích của sữa non, điều này khiến trẻ sơ sinh thường xuyên bị ngăn cản việc cung cấp sữa non Những người tham gia báo cáo nhiều yếu tố, chẳng hạn như hội chứng không đủ sữa (trẻ chậm lớn do bú không đủ sữa mẹ hàng ngày), khối lượng công việc cao của người mẹ, thiếu hỗ trợ xã hội, ảnh hưởng của các cố vấn được chỉ định về văn hóa và các chiến lược quảng bá và tiếp thị cho trẻ sơ sinh các công ty sữa công thức, đã làm suy yếu nỗ lực nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ và khuyến khích các bà mẹ chuyển sang dùng sữa công thức cho trẻ sơ sinh Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị cần có các can thiệp sức khỏe cộng đồng và phù hợp về mặt văn hóa để nâng cao hiểu biết và thực hành nuôi con bằng sữa tới các bậc cha mẹ, ông bà và cộng đồng, làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và tỷ lệ suy dinh

dưỡng cao ở Pakistan (41) Nghiên cứu đánh giá định lượng và định tính về “Các yếu

tố ảnh hưởng đến việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời ở các nước đang phát triển” của tác giả Balogun (2015) cho thấy: Việc làm của bà mẹ là rào

cản thường được nhắc đến nhất đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn Nhận thức của bà mẹ về nguồn cung cấp sữa mẹ không đủ phổ biến trong nghiên cứu, trong khi các rào cản y tế liên quan đến bệnh tật của bà mẹ và trẻ sơ sinh cũng như các vấn

đề về vú mẹ hơn là các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe Các yếu tố văn hóa

xã hội như niềm tin, tín ngưỡng của bà mẹ và những người khác về dinh dưỡng cho trẻ

sơ sinh cũng thường là rào cản mạnh mẽ đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn Các bà mẹ ở các nước đang phát triển thường có những đặc điểm cá nhân nhất định và phát triển các kế hoạch chiến lược để nâng cao thành công của việc nuôi con bằng sữa

mẹ Các nhà quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe cần thông báo về các yếu tố quyết định việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn và cung cấp hướng dẫn y tế nhằm khắc phục những rào cản trên Làm như vậy, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở các nước đang phát triển có thể góp phần cải thiện kết quả sức khỏe bà mẹ và trẻ em (42)

HUPH

Trang 29

1.6.1.3 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Nhiều nghiên cứu cho thấy việc giáo dục của nhân viên y tế, cho con nằm chung với mẹ sau khi sinh, cho trẻ bú theo yêu cầu ở các phòng đẻ có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ và thời gian cho con bú Vai trò của các nhân viên y tế và những người phục vụ về sức khỏe có ảnh hưởng rất lớn đến việc nuôi con của các bà mẹ Trong những bệnh viện chuyên khoa Sản, cũng như những phòng khám Sản khoa, hoặc ở nơi chăm sóc sau sinh, lại càng đặc biệt quan trọng, bởi vì sản phụ đến trong tình trạng cần được chăm sóc sức khỏe hoặc vì những bệnh lý của họ Những nhân viên y tế trở thành một phần của xã hội ảnh hưởng mạnh mẽ đến sản phụ Các nhân viên y tế có thể ảnh hưởng tới hành vi về nuôi con của các bà mẹ bằng cách cung cấp thông tin, hướng dẫn cách chăm sóc và bảo vệ nguồn sữa Cả hai việc đều làm cho bà mẹ hiểu và bảo vệ được nguồn sữa (3)

Những thực hành của nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong việc cho con

bú sớm của các bà mẹ Nghiên cứu Karcz tiến hành năm 2017 cho thấy chỉ có 3-4% trẻ

sơ sinh Ba Lan được bú mẹ hoàn toàn khi được 6 tháng tuổi Trẻ được bú mẹ trong vòng 48 giờ đầu sau khi sinh và hầu hết các bà mẹ đều vứt bỏ sữa non trong vòng 24 giờ đầu lý do chủ yếu là các bà mẹ không được nhận những lời khuyên thích hợp, mẹ

và con phải nằm tách nhau sau khi sinh Tác giả đã nhấn mạnh nên có một chương trình giáo dục dinh dưỡng về chế độ dự phòng về chế độ ăn uống cho các bà mẹ đang cho con bú của các nhân viên y tế (43)

1.6.1.4 Phương pháp sinh con

Phương pháp sinh có tầm quan trọng sống còn đối với sức khoẻ của cả mẹ và con Sản phụ sinh con thông thường và sản phụ sinh mổ ảnh hưởng trực tiếp tới nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện Trong nghiên cứu về phương pháp sinh mổ của tác giả Chen kéo dài trong 6 tháng được trích từ một nghiên cứu thuần tập tiền cứu kéo dài 24 tháng về các cặp mẹ - con ở ba cộng đồng ở Hồ Nam, Trung Quốc Số phụ nữ sinh mổ là 387 (40,6%) và 567 (59,4%) sinh ngã âm đạo Tỷ

lệ trẻ 1, 3 và 6 tháng được bú mẹ hoàn toàn lần lượt là 80,2%, 67,4% và 21,5% Những phụ nữ sinh mổ có tỷ lệ cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ và bất kỳ lần nào cho con

HUPH

Trang 30

bú thấp hơn so với những phụ nữ sinh ngả âm đạo (p <0,05) Ngoài ra, sinh mổ có liên quan đến việc sử dụng sữa công thức trong bệnh viện và việc chậm bắt đầu cho con

bú Sinh mổ cũng rút ngắn thời gian cho con bú (OR = 1,40, 95%CI: 1,06 - 1,84) Nghiên cứu cho thấy các chuyên gia chăm sóc sức khỏe nên cung cấp nhiều kỹ năng cho con bú hơn đối với phụ nữ sinh mổ và cảnh báo các bà mẹ về sự nguy hiểm của việc mổ lấy thai tự chọn đối với các phương pháp cho con bú (44)

1.6.2 Yếu tố gia đình

Điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới việc NCBSM và cho

trẻ bú sớm sau sinh Nghiên cứu “Hoàn cảnh xã hội và tín ngưỡng văn hóa ảnh hưởng

đến dinh dưỡng của bà mẹ, việc nuôi con bằng sữa mẹ và thực hành nuôi dưỡng trẻ

em ở Nam Phi” cho thấy chế độ ăn của bà mẹ rất đa dạng và ít được thực hiện việc cho

trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, trẻ còn nhỏ phải ăn uống thiếu chất, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ Điều kiện kinh

tế, xã hội bao gồm thiếu thu nhập, phụ thuộc vào việc mua thực phẩm, cảm xúc của các bà mẹ trẻ về việc cho con bú và tín ngưỡng văn hóa là những động lực chính ảnh hưởng đến thói quen ăn uống, hành vi cho con bú và thực hành đa dạng trong chế độ

ăn của các bà mẹ Các ông bố bị bỏ mặc trong việc ra quyết định cho con bú và thực hành đa dạng trong chế độ ăn của các bà mẹ và các bà mẹ trẻ không sẵn sàng sử dụng kiến thức bản địa khi chế biến thức ăn (đặc biệt là thức ăn truyền thống) và cho con mình ăn Hầu hết các bà mẹ đều mong muốn NCBSM, 93% những người chồng, 83% những người mẹ chồng và 81% những người bạn tốt của bà mẹ có ảnh hưởng tích cực đối với việc cho con bú (45) Các nghiên cứu cho thấy các nhân viên y tế, bạn bè và các thành viên của gia đình cũng ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề nuôi con, bởi vì chính

họ là nguồn gốc của mọi thông tin về cách nuôi con Họ cung cấp cho các bà mẹ những thông tin về khoa học và thực hành về cách nuôi con và trên cơ sở đó tạo điều kiện cho sự quyết định về cách nuôi con như thế nào, và đây cũng là nơi luôn động viên họ về mặt tinh thần mà mỗi người phụ nữ đều rất cần thiết Một nghiên cứu của tác giả Nuzrina và cộng sự (2016) tại đô thị ở phía Tây Jakarta đã cho thấy các yếu tố kiến thức, sự hỗ trợ, sự chuẩn bị sẵn một kế hoạch nuôi con trước khi sinh, ảnh hưởng

HUPH

Trang 31

từ quyết định của mẹ chồng và các thành viên trong gia đình đã ảnh hưởng đến việc tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ của các phụ nữ tại đây (46)

Tác giả Đinh Thị Hải Yến đã tiến hành nghiên cứu về “Những yếu tố ảnh hưởng

đến hành vi NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại huyện Củ Chi” vào năm 2014

cho thấy những khó khăn, rào cản ảnh hưởng đến thực hành NCBSM hoàn toàn trong

6 tháng đầu bao gồm: 45% bà mẹ có vấn đề khó khăn khi cho con bú Khó khăn thường gặp nhiều nhất là không có sữa/thiếu sữa với tỷ lệ 75% Bà mẹ chịu ảnh hưởng của người khác lên các quyết định nuôi con của mình trong 6 tháng đầu là 49% Người ảnh hưởng đến bà mẹ nhiều nhất là bố mẹ đẻ/bố mẹ chồng Quyết định bị ảnh hưởng nhiều nhất là cho uống nước (60%), uống thêm sữa bột (41%) Rào cản tiếp theo là hiện nay trong vấn đề nuôi dưỡng trẻ nhỏ, các bà mẹ vẫn còn chịu nhiều tác động, ảnh hưởng của những người có kinh nghiệm đi trước như việc cho ăn dặm sớm để trẻ quen với thức ăn (32)

1.6.3 Yếu tố thuộc về cơ sở y tế

Về phía bệnh viện khi có đầy đủ trang thiết bị và cơ sở hạ tầng tốt sẽ giúp cho các NVYT thực hiện quy trình được thuận lợi hơn Việc kiểm tra giám sát giúp NVYT thực hiện quy trình theo đúng các bước, quy định Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh tại bệnh viện Quốc tế Hạnh phúc năm 2020 cho thấy rằng tỷ lệ cho con bú

mẹ sớm và bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh là rất cao, cao hơn nhiều so với nhiều nghiên cứu Tác giả giải thích rằng, có được kết quả này chủ yếu là

do môi trường chính sách, quy định của Bệnh viện Bệnh viện đã triển khai chương trình nuôi con bằng sữa mẹ tại bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc Tại đây đã thực hiện các chương trình nhằm nâng cao tỷ lệ cho bé bú sữa mẹ như: sản phụ được da kề da thường qui đối với sinh thường, nhân viên y tế luôn luôn có mặt, hướng dẫn cho con

bú sớm ngay sau sinh tại phòng hậu sản gần đối với trẻ sinh thường Bệnh viện tổ chức cho nhân viên y tế hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện (Bệnh viện có nguyên 01 đơn nguyên về sữa mẹ, các nữ hộ sinh chuyên phụ trách về NCBSM sẽ thường xuyên thăm và hướng dẫn bú mẹ từ cách ngậm vú đúng cách cho đến xử lý ngay các trường hợp tắc tia), bên cạnh đó Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc mở

HUPH

Trang 32

các lớp tiền sản và hậu sản hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ mỗi tuần cho các sản phụ

và thân nhân thai phụ (47)

Sự tư vấn, giúp đỡ, hỗ trợ của NVYT về nuôi con bằng sữa mẹ cũng là một yếu

tố ảnh hưởng tới thực hành NCBSM của bà mẹ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh tại Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc ghi nhận tỷ lệ mẹ được NVYT tư vấn về NCBSM hoàn toàn đạt 98,4% Mặc dù Bệnh viện quốc tế Hạnh phúc đã đẩy mạnh hoạt động tư vấn về NCBSM, tuy nhiên nguyên nhân sản phụ không được tư vấn đầy

đủ có lẽ do một số sản phụ không theo dõi thai kỳ tại bệnh viện, họ tới bệnh viện khi chuyển dạ và vào phòng sinh ngay, dẫn tới việc chưa được tư vấn đầy đủ về NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh Kết quả phân tích đa biến cho thấy không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa việc được NVYT tư vấn NCBSM hoàn toàn với

tỷ lệ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện Do hầu hết sản phụ đã được NVYT tư vấn cũng như đã tham gia lớp học tiền sản, chỉ một bộ phận rất nhỏ sản phụ chưa được tư vấn, dẫn đến kết quả không thấy được sự khác biệt về mặt thống

kê (47) Một báo cáo được đăng trên Tạp chí Dinh dưỡng vào tháng 9 năm 2014, cũng dựa trên kết quả khảo sát của Dự án Alive & Thrive, đã xác định được khoảng cách giữa nhận thức và áp dụng thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong cộng đồng các bà mẹ Việt Nam, là do không được sự hỗ trợ cần thiết trong các cơ sở y tế Khoảng cách nhận thức này sẽ được thu hẹp nếu họ nhận được sự chăm sóc từ nhân viên y tế và tư vấn về nuôi con sữa mẹ lúc thai kỳ và ngay sau sinh (48)

Bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc nhận danh hiệu BV Thực hành Nuôi con bằng sữa

mẹ xuất sắc” là danh hiệu được trao cho những BV tuân thủ quy định về hỗ trợ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong BV, tạo điều kiện cho mẹ và bé được da kề da, bú sớm và bú mẹ hoàn toàn trong thời gian ở viện, sau quá trình giám sát liên tục, khách quan bởi cơ quan chuyên môn, và sản phụ/người nhà Sáng kiến “Bệnh viện Thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc” được triển khai bởi Bộ Y tế, Sở Y tế các tỉnh với

sự hỗ trợ của Alive & Thrive và Cơ quan Viện trợ Ireland Khi triển khai sáng kiến

“BV Thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc” thu được kết quả 100% khách hàng của BV đã được tư vấn, hướng dẫn thực hành nuôi con bằng sữa mẹ từ sớm, bé được

da kề da ngay sau sinh và được bú mẹ hoàn toàn trước khi xuất viện Báo cáo hoạt

HUPH

Trang 33

động bệnh viện trong quý 3/2020, tỷ lệ da kề da đủ 90 phút ở BV với sinh thường đạt 92% và sinh mổ đạt 76% Tỷ lệ bú sớm sau sinh ở cả sinh thường và sinh mổ lần lượt đạt 92% và 88%(49)

Vấn đề Giám sát việc quảng cáo, tiếp thị sữa trong bệnh viện được quy định tại Nghị định 100/NĐ-CP của Chính phủ quy định về kinh doanh, sử dụng sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, bình bú và vú ngậm nhân tạo cho thấy, hiện tỷ lệ bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở nước ta rất thấp, chỉ đạt 19,6%, vi phạm quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ hiện vẫn rất phổ biến (50) Bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc không cho phép quảng cáo, tiếp thị sữa tại bệnh viện

1.7 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương là bệnh viện chuyên khoa sản nhi tọa lạc tại địa chỉ số 18 Đại lộ Bình Dương, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, Việt Nam Hàng ngày, có khoảng 80-100 lượt thai phụ đến khám thai tại Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc Năm 2019, trung bình mỗi ngày BV có khoảng 10 đến 15 ca sinh ngả âm đạo và sinh mổ Tỷ lệ mổ lấy thai năm 2018 là 56%-63% Nhằm hưởng ứng việc nâng cao tỷ lệ NCBSM, tại Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc có các chương trình như sau:

Bệnh viện tổ chức lớp tư vấn NCBSM cho các sản phụ và người thân tại phòng thông tắc tia của lầu 5 (khoa hậu sản - hậu phẫu) với 2 chuyên đề “Hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ - Các vấn đề thường gặp khi NCBSM”, và “Hướng dẫn tắm bé và chăm sóc rốn” Trung bình mỗi tuần có 2 lớp, số người tham gia một lớp vào khoảng

20 đến 30 người, bao gồm cả thai phụ và thân nhân Thai phụ có thể tiếp cận được dịch

vụ này thông qua trang Web của bệnh viện hoặc qua các thư mời từ nhân viên điều dưỡng được gửi vào mỗi sáng đi thăm khoa phòng

Treo các áp phích tuyên truyền về sữa mẹ và 10 điều kiện NCBSM tại vị trí dễ nhìn thấy tại 2 lầu hậu sản

Hằng năm bệnh viện thường xuyên mở lớp NCBSM cho nhân viên y tế để đảm bảo >90% nhân viên bệnh viện được tham gia và có chứng nhận

Phát tờ rơi về hướng dẫn NCBSM ở những bệnh nhân khám thai hoặc tại các khoa hậu sản

Khoa Dưỡng Nhi có phòng “Bú Mẹ” để các bà mẹ có thể đến cho con bú khi bé

bị cách ly nằm tại dưỡng nhi

HUPH

Trang 34

Không quảng cáo hay bán các loại sữa cho trẻ dưới 6 tháng tuổi trong bệnh viện trừ Nhà Thuốc theo qui định

Trong thời gian nằm viện, nếu bệnh nhân bị cương sữa hoặc tắc sữa, có dịch vụ massage thông tia hút sữa tại phòng thông tắc tia

HUPH

Trang 35

1.8 Khung lý thuyết nghiên cứu

Yếu tố gia đình

- Sự chăm sóc, hỗ trợ của người

chồng trong thai kỳ và sinh con

- Sự hỗ trợ của gia đình trong thai

- Thời điểm bú cữ đầu tiên

- Loại sữa cho bú cữ đầu tiên

- Cho trẻ bú đúng cách

- Tần suất cho trẻ bú mẹ

HUPH

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các bà mẹ sinh con tại Khoa Sản - Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc

Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng

- Sản phụ sinh thường hoặc sinh mổ và đang nằm viện tại khoa Sản - Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc

- Sản phụ sinh con ra còn sống

Tiêu chuẩn loại trừ

- Mẹ mắc bệnh không thể cho con bú như: HIV, lao giai đoạn lây, tình trạng nhiễm độc

- Bà mẹ phải tách con vì nghi ngờ bệnh lý

- Bà mẹ bị trầm cảm, rối loạn tâm thần

- Các bà mẹ không có khả năng nghe, đọc, viết tiếng Việt

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 06/2022 đến tháng 11/2022

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Sản - Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang Kết hợp cấu phần định lượng song song cấu phần định tính

Trang 37

- p=0,46 là tỷ lệ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh ước tính theo nghiên cứu của Lâm Kim Hường tại bệnh viện Phụ sản Cần Thơ (34)

- Z là hệ số tin cậy tính theo α: lấy α=0.05 thì Z(1-α/2) = 1,96

2.3.2 Chọn mẫu định tính

Thực hiện phỏng vấn sâu từng đối tượng được lựa chọn vào nghiên cứu định tính bao gồm: 01 Lãnh đạo bệnh viện; 01 lãnh đạo khoa Sản; 04 Bác sỹ, 04 Hộ sinh trực tiếp tham gia vào công tác đỡ sinh và chịu trách nhiệm chăm sóc bà mẹ ngay sau sinh

để tham gia vào quá trình phỏng vấn sâu

Thảo luận nhóm 08 bà mẹ sinh con tại Khoa Sản – Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

Thực hiện kết hợp các biện pháp thu thập số liệu sau đây:

- Ghi nhận thông tin từ hồ sơ bệnh án (HSBA) kết hợp phỏng vấn đối với một số đặc điểm của người mẹ

- Quan sát và ghi nhận theo bảng kiểm về cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh và cho con bú sữa mẹ trong thời gian nằm viện

- Phỏng vấn trực tiếp một số lý do chủ quan dẫn đến không cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh và bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện

Công cụ thu thập số liệu

a) Đối tượng nghiên cứu định lượng:

HUPH

Trang 38

Bà mẹ NCBSM đủ điều kiện tuyển chọn

Không

Sử dụng Phiếu thu thập số liệu xây dựng sẵn (phụ lục 3), gồm các phần:

- Thu thập thông tin về đặc điểm dân số xã hội, đặc điểm tiền sử sản phụ khoa của sản phụ (ghi nhận HSBA đối với các đặc điểm tuổi mẹ, nơi cư trú, đặc điểm tiền thai, phương pháp sinh hoặc phỏng vấn trực tiếp đối với các đặc điểm về trình độ học vấn, nghề nghiệp trước sinh)

- Bảng kiểm về cho con bú sữa mẹ trong thời gian đầu sau sinh và trong thời gian nằm viện sau sinh (phụ lục 4)

Quy trình nghiên cứu

Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu

Nhập liệu, phân tích, xử

lý số liệu

Phòng Hậu sản

Phòng Hậu phẫu

Phòng sinh

Không đồng ý tham gia

Đồng ý tham gia

Trang 39

Bước 1: Lựa chọn đối tượng đủ điều kiện đưa vào nghiên cứu từ phòng sinh, phòng

hậu sản và phòng hậu phẫu

Bước 2: Gặp trực tiếp đối tượng, giải thích mục đích và mời đối tượng tham gia vào

trả lời phỏng vấn nghiên cứu, đối tượng có thể từ chối tham gia nghiên cứu nếu không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

Bước 3: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng tại Khoa, Phòng, sử dụng phiếu phỏng vấn sẵn

có, ghi lại kết quả phỏng vấn Phiếu phỏng vấn được học viên kiểm tra lại các thông tin cuối ngày

Bước 4: Lựa chọn nhân viên y tế tham gia vào phỏng vấn sâu và phỏng vấn sâu về

thực trạng cho con bú sớm sau sinh của các bà mẹ tại bệnh viện

Bước 5: Nhập liệu, phân tích, xử lý số liệu

Bước 6: Viết báo cáo, luận văn

b) Đối tượng nghiên cứu định tính

Bác sĩ chuyên khoa, điều dưỡng, hộ sinh khoa Sản hỗ trợ sản phụ trước, trong và sau sinh

- Phỏng vấn sâu các đối tượng là người thân của sản phụ (chồng, mẹ đẻ, mẹ chồng…) ghi nhận các lý do, yếu tố rào cản trước, trong và sau sinh đến việc cho con

bú sữa mẹ sớm sau sinh và cho con bú sữa mẹ hoàn toàn (phỏng vấn trực tiếp)

Tiến hành thu thập số liệu

Giai đoạn chuẩn bị:

- Thành lập nhóm nghiên cứu: gồm 6 người bao gồm học viên, 4 điều dưỡng của bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc và một nhân viên xử lý số liệu

- Học viên xin ý kiến chấp thuận và cho phép thực hiện đề tài nghiên cứu với Ban Lãnh đạo Bệnh viện

- Tổ chức tập huấn cho các thành viên nhóm nghiên cứu trong vòng 01 ngày trước khi tiến hành khảo sát, thực hiện khảo sát thử 10 người

- Chuẩn bị các phương tiện cần thiết để ghi nhận các số liệu

Kỹ thuật thu thập số liệu

- Xin chấp thuận tham gia nghiên cứu: Ngay khi sản phụ được đưa vào phòng chờ sinh (chưa sinh), điều tra viên tiếp cận, gửi phiếu thông tin hoặc trực tiếp đọc thông tin

HUPH

Trang 40

về nghiên cứu cho sản phụ để xin giấy đồng thuận tham gia nghiên cứu của họ Điều tra viên giải đáp tất cả những thắc mắc liên quan đến nghiên cứu cho sản phụ Sản phụ đồng ý tham gia nghiên cứu được cung cấp một phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu,

họ đọc kỹ các thông tin và ký vào phiếu này

- Thu thập thông tin về cho con bú sớm sau sinh: 01 điều dưỡng phòng sinh ghi nhận theo bảng kiểm về thực hành da kề da sau sinh, cho con bú mẹ sớm sau sinh khi trẻ chào đời cho đến khi cả mẹ và con rời khòi phòng sinh và chuyển tới theo dõi tại phòng hậu sản/hậu phẫu Đối với trường hợp đặc biệt khi trẻ hoặc mẹ có vấn đề sau khi sinh cần can thiệp đặc biệt phải tách riêng mẹ và con Quá trình theo dõi kết thúc

và loại trừ đối tượng ra khỏi nghiên cứu

- Thu thập thông tin về cho con bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh:

+ Điều tra viên (3 điều dưỡng phòng hậu sản) hằng ngày ghi nhận việc nuôi con bằng sữa mẹ (qua quan sát trực tiếp) và ghi nhận các thông tin về cho con bú theo 2 bảng kiểm: bảng kiểm theo dõi cho con bú mẹ hoàn toàn và bảng kiểm cho con bú đúng cách ở mỗi cữ bú Việc theo dõi này được thực hiện liên tục cả ngày và đêm (điều tra viên thay nhau theo dõi)

+ Trong trường hợp những ngày nằm viện sau sinh, sản phụ hoặc trẻ phát sinh vấn đề cần can thiệp đặc biệt phải tách mẹ và con, quá trình theo dõi dừng lại và loại trừ đối tượng ra khỏi nghiên cứu

- Thu thập thông tin về đặc điểm của sản phụ, các yếu tố ảnh hưởng đến cho con

bú sau sinh: thực hiện phỏng vấn sản phụ tại thời điểm sản phụ chuẩn bị xuất viện, trong khoảng 10-15 phút

2.4 Biến số nghiên cứu

2.4.1 Biến số nghiên cứu định lượng

Biến số nghiên cứu định lượng gồm 2 phần:

Phần I Một số đặc điểm người mẹ: tuổi, nơi cư trú, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiền thai, số lần khám thai, tham gia lớp học tiền sản…

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm