Đề tài “Thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng” được thực hiện gồm 2 mục tiêu cụ th
Trang 1TRẦN CAO ĐẠT
THỰC HÀNH TIÊM AN TOÀN CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2020
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
HÀ NỘI – 2020 HUPH
Trang 2TRẦN CAO ĐẠT
THỰC HÀNH TIÊM AN TOÀN CỦA ĐIỀU DƯỠNG
TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG VIỆN Y
DƯỢC HỌC DÂN TỘC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐỖ THỊ HÀ
HÀ NỘI – 2020 HUPH
Trang 3ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
HBV Virus viêm gan B
HVC Virus viêm gan C
KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn
NCV Nghiên cứu viên
NVYT Nhân viên y tế
PVS Phỏng vấn sâu
TAT Tiêm an toàn
TH TAT Thực hành tiêm an toàn
TKAT Tiêm không an toàn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
TÓM TẮT LUẬN VĂN vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 5
1.2 Nguyên tắc của tiêm an toàn 5
1.3 Tác hại của tiêm không an toàn 7
1.4 Thực trạng tiêm an toàn trên thế giới và tại Việt Nam 9
1.4.1 Thế giới 9
1.4.2 Việt Nam 10
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm an toàn 13
1.5.1 Yếu tố cá nhân 13
1.5.2 Yếu tố tổ chức, quản lý 14
1.6 Các tiêu chí đánh giá tiêm an toàn 16
1.7 Giới thiệu Viện Y dược học dân tộc TP HCM 18
1.8 Khung lý thuyết 19
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 21
2.1.1 Nghiên cứu định lượng 21
2.1.2 Nghiên cứu định tính 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 21
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4 Cỡ mẫu 22
HUPH
Trang 52.4.1 Nghiên cứu định lượng 22
2.4.2 Nghiên cứu định tính 23
2.5 Phương pháp chọn mẫu 24
2.5.1 Nghiên cứu định lượng 24
2.5.2 Nghiên cứu định tính 24
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 24
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 24
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.7 Các biến số trong nghiên cứu 27
2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng 27
2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính 27
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 27
2.9 Phân tích số liệu 30
2.9.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng 30
2.9.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính 31
2.10 Đạo đức nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Thực hành tiêm an toàn của đối tượng nghiên cứu 34
3.2.1 Phân bố tỷ lệ mũi tiêm đạt an toàn 34
3.2.1.1 Phân bố theo đối tượng nghiên cứu 34
3.2.1.2 Phân bố theo khoa 35
3.2.1.3 Phân bố theo loại tiêm 35
3.2.1.4 Phân bố theo từng giai đoạn của quy trình 36
3.2.2 Chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm 37
3.2.3 Tỷ lệ tuân thủ thao tác trước tiêm 38
3.2.4 Tỷ lệ tuân thủ thao tác trong tiêm 39
3.2.5 Tỷ lệ tuân thủ các thao tác sau tiêm 40
3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm an toàn 40
HUPH
Trang 63.3.1 Yếu tố cá nhân điều dưỡng 40
3.3.2 Yếu tố tổ chức/quản lý 42
3.3.2.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 42
3.3.2.2 Nhân lực (số lượng, chất lượng) 44
3.3.2.3 Thông tin (cập nhật, đào tạo về TAT) 45
3.3.2.4 Quản lý, điều hành (văn bản quy định, theo dõi, giám sát thực hiện TAT) 46
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 49
4.1 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu 49
4.2 Thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng lâm sàng 50
4.2.1 Phân bố theo loại tiêm 51
4.2.2 Phân bố theo các giai đoạn của quy trình tiêm 52
4.3 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm an toàn 56
4.3.1 Yếu tố cá nhân điều dưỡng 56
4.3.2 Yếu tố tổ chức/quản lý 60
4.3.2.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 60
4.3.2.2 Nhân lực (số lượng, chất lượng) 61
4.3.2.3 Thông tin (cập nhật, đào tạo về TAT) 63
4.3.2.4 Quản lý, điều hành (văn bản quy định, theo dõi, giám sát thực hiện TAT) 64
KẾT LUẬN 67
KHUYẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO ix
PHỤ LỤC 1 BẢNG BIẾN SỐ ĐỊNH LƯỢNG xiii
PHỤ LỤC 2 QUAN SÁT THỰC HÀNH TIÊM xxv
PHỤ LỤC 3 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU xxvii
PHỤ LỤC 4 HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM xxix
PHỤ LỤC 5 THÔNG TIN DÀNH CHO NGƯỜI THAM GIA NGHIÊN CỨU xxxi
PHỤ LỤC 6 PHIẾU CHẤP THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU xxxiv
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (N=55) 32
Bảng 3 2 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo khoa làm việc (N=55) 33
Bảng 3 3 Phân bố tỷ lệ đạt mũi tiêm an toàn theo đối tượng nghiên cứu (N=55) 34
Bảng 3 4 Phân bố tỷ lệ đạt mũi tiêm an toàn theo Khoa (N=495) 35
Bảng 3 5 Tỷ lệ đạt thực hành trong chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm 37
Bảng 3 6 Tỷ lệ đạt tuân thủ thao tác trước tiêm 38
Bảng 3 7 Tỷ lệ đạt tuân thủ thao tác trong tiêm 39
Bảng 3 8 Tỷ lệ đạt tuân thủ các thao tác sau tiêm 40
HUPH
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1 Tỷ lệ mũi tiêm an toàn chung và phân theo loại tiêm 35Biểu đồ 3 2 Tỷ lệ thực hiện tiêm an toàn đạt, phân theo từng giai đoạn 36
HUPH
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tiêm là một thủ thuật phổ biến và có vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực
phòng bệnh và chữa bệnh Thực hành tiêm an toàn (TAT) đã được Bộ Y tế hướng
dẫn cụ thể vào năm 2012 nhằm mục đích nâng cao chất lượng thực hành tiêm
Đề tài “Thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng” được thực hiện gồm 2 mục tiêu cụ thể sau: (1) Mô tả thực hành TAT
của điều dưỡng lâm sàng tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020; (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành TAT của điều dưỡng lâm sàng tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
Thiết kế nghiên cứu được sử dụng là mô tả cắt ngang, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6-11/2020 với sự tham gia của toàn bộ 55 điều dưỡng có tham gia thực hành lâm sàng tại Viện
Số mũi tiêm quan sát tổng cộng là 495 mũi với 275 mũi tiêm bắp (5 mũi/điều dưỡng)
và 220 mũi tiêm tĩnh mạch (4 mũi/điều dưỡng) Bên cạnh đó, có 3 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo và 2 cuộc thảo luận nhóm của điều dưỡng được thực hiện Kết quả cho thấy có 54,3% mũi tiêm đạt TAT trong đó tiêm bắp an toàn là 56,4% số mũi và tiêm tĩnh mạch an toàn là 51,8% số mũi Trong từng giai đoạn của quy trình tiêm, sự tuân thủ của các điều dưỡng đạt tỷ lệ từ 66,4% đến 100% Một số yếu tố liên quan được ghi nhận là có ảnh hưởng theo hướng tích cực đến thực hành TAT bao gồm yếu tố cá nhân là trình độ chuyên môn (Điều dưỡng có trình độ chuyên môn đại học, cao đẳng thực hành TAT tốt hơn) và yếu tố quản lý là Sự đầy đủ của cơ sở vật chất, trang thiết bị; Sự tập huấn thường xuyên để bổ sung, cập nhật các kiến thức một cách liên tục;
Sự quản lý, điều hành kiểm tra, giám sát chặt chẽ là những yếu tố có ảnh hưởng tích cực Còn yếu tố thiếu nhân sự ở các khoa mới/ khu mới thành lập là yếu tố cản trở thực hành TAT
Từ những kết quả trên, một số đề xuất, kiến nghị được đưa ra bao gồm: Điều dưỡng tăng cường tham gia các buổi tập huấn; Công tác kiểm tra, giám sát cần tập trung vào những thao tác thường được bỏ qua theo từng bước của quy trình; Viện tiếp tục triển khai các hoạt động tập huấn và bổ sung các đợt tập huấn riêng về TAT chứ
HUPH
Trang 10không lồng ghép; Cân nhắc thêm vấn đề bổ sung điều dưỡng cho các khoa; Nâng điểm cắt đánh giá đạt TAT hiện đang được dùng ở Viện từ 20/23 lên 23/23 tiêu chí; Cần phải có cơ chế thưởng – phạt thích hợp
HUPH
Trang 11và không gây chất thải nguy hại cho người khác (1, 2)
Mỗi năm, trên toàn thế giới có 16 tỷ mũi tiêm được thực hiện, trong đó 90% - 95% mũi tiêm nhằm mục đích điều trị, còn lại 5% - 10% mũi tiêm dành cho dự phòng bao gồm tiêm chủng và các loại khác (1), (3) Theo WHO, có tới 50% các mũi tiêm
ở các nước đang phát triển là không an toàn (4-6) Tiêm không an toàn (TKAT) có thể gây lây nhiễm nhiều loại tác nhân gây bệnh khác nhau như virus, vi khuẩn, nấm,
ký sinh trùng (7) TKAT cũng có thể gây các biến chứng khác như áp xe và phản ứng nhiễm độc Đặc biệt, TKAT là nguy cơ lây truyền tác nhân gây bệnh đường máu như virus viêm gan B, C và virus HIV làm nguy hại đến cuộc sống và đe dọa tính mạng của con người (8), (2), (9) Chính vì vậy, WHO đã đưa ra tuyên bố chung về hệ thống TAT với mục đích “Nâng cao nhận thức về nguy cơ của tiêm và thực hành tiêm an toàn” Theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC), có trên 80% tổn thương
do kim tiêm có thể ngăn ngừa bằng cách sử dụng dụng cụ TAT, và có trên 90% tổn thương có thể ngăn chặn được nếu kết hợp dụng cụ TAT với giáo dục, đào tạo và kiểm soát thực hiện (1)
Tại Việt Nam, vấn đề TAT luôn nhận được sự quan tâm của Bộ Y tế (BYT)
Từ năm 2000, Hội Điều dưỡng Việt Nam đã phát động phong trào “Tiêm an toàn”
trong toàn quốc Đồng thời, trong TT07/2011/TT-BYT năm 2011 của Bộ Y tế cũng bao gồm các nội dung liên quan đến TAT trong công tác chăm sóc người bệnh (10) Thực hành TAT đã được hướng dẫn cụ thể thông qua quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của BYT “Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” (8, 11) Công tác TAT đang là vấn đề được đặt lên hàng đầu để đảm bảo an toàn người bệnh bởi ảnh hưởng sâu rộng của nó đến nhiều nhóm đối tượng Tuy nhiên, trên thực tế tỷ lệ TAT lại rất thấp Theo đánh giá về TAT tại 8 tỉnh
HUPH
Trang 12do Vụ Điều trị, BYT thực hiện năm 2008, khoảng 80% số mũi tiêm không đạt đủ các tiêu chuẩn của TAT (4)
Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) là bệnh viện (BV) hạng 1, đơn vị phụ trách đầu ngành khám bệnh, chữa bệnh bằng y, dược cổ truyền của 19 tỉnh, thành miền Nam.Viện có hơn 400 nhân viên, trong đó có 124 nhân viên là điều dưỡng, hiện tại có 55 điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh, 16 điều dưỡng làm công tác quản lý và còn lại làm ở các vị trí khác (12) Với sự nỗ lực không ngừng, Viện đã tạo được niềm tin và yêu mến của người dân đến khám và điều trị bệnh, Viện đã đạt được 4,36/5 điểm quản lý chất lượng BV tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế nhất là tay nghề chuyên môn của đội ngũ điều dưỡng Trong
đó, điều đáng lo ngại là chỉ số chất lượng điều dưỡng về TAT đạt được 88% (có thể
là do y sĩ Y học cổ truyền chuyển đổi sang điều dưỡng nên chưa tiếp xúc nhiều với
kỹ thuật điều dưỡng hoặc có thể có do công tác tổ chức, giám sát và quản lý điều dưỡng về lĩnh này còn chưa thật sự hiệu quả) cho thấy trong quá trình thực hiện công tác chăm sóc người bệnh vẫn còn những mũi tiêm không an toàn (12) Để phương châm “Hướng đến người bệnh, lấy người bệnh làm trung tâm” của Viện đi vào thực chất và đạt được những kết quả tối ưu nhất thì tất cả các dịch vụ y tế của Viện đều phải đạt chuẩn, trong đó có các dịch vụ chăm sóc điều dưỡng, và việc tuân thủ TAT của điều dưỡng cần phải được quan tâm
Một số câu hỏi đặt ra là thực trạng TAT của điều dưỡng đang công tác tại Viện như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thực trạng TAT của điều dưỡng? Chúng tôi nhận thấy việc đánh giá thực trạng TAT của điều dưỡng là cần thiết để từ
đó nhận thấy được những mặt hạn chế và đưa ra giải pháp khắc phục nhằm duy trì và nâng cao chất lượng chăm sóc của BV đặc biệt trong thời kì các BV công lập đang chuẩn bị bước sang cơ chế y tế tự chủ tài chính Với mong muốn đó, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài "Thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng" Kết quả nghiên cứu có vai trò định hướng được công tác đào tạo, tập
huấn, quản lý, giám sát và các chính sách giúp cho đội ngũ điều dưỡng tại Viện để
HUPH
Trang 13đảm bảo các quy trình kỹ thuật tiêm trên người bệnh đạt được mũi TAT trong những năm tiếp theo
HUPH
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng lâm sàng tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng lâm sàng tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
HUPH
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Tiêm: Tiêm là một trong các biện pháp để đưa thuốc, chất dinh dưỡng vào cơ thể
nhằm mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh Trong điều trị tiêm có vai trò rất quan trọng đặc biệt trong trường hợp người bệnh cấp cứu, người bệnh nặng Trong lĩnh vực phòng bệnh, tiêm chủng đã tác động mạnh vào việc giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ
tử vong đối với 6 bệnh truyền nhiễm có thể phòng bằng vắc-xin ở trẻ em Có nhiều loại đường tiêm và được phân loại theo vị trí tiêm Tiêm thuốc được thực hiện qua các đường như: Tiêm bắp, tiêm dưới da, tiêm truyền tĩnh mạch, tiêm trong da (8, 13)
Tiêm bắp: Đưa mũi tiêm vào phần thân của cơ bắp với góc kim từ 600 - 900 so với mặt da (không ngập hết phần thân kim tiêm) thường chọn các vị trí sau (1):
- Cánh tay: 1/3 trên mặt trước ngoài cánh tay;
- Vùng đùi: 1/3 giữa mặt trước ngoài đùi;
- Vùng mông: 1/4 trên ngoài mông hoặc 1/3 trên ngoài của đường nối từ gai
chậu trước trên với mỏm xương cụt
Tiêm tĩnh mạch: Là kỹ thuật dùng kim đưa thuốc dịch vào tĩnh mạch với góc
tiêm 30o so với mặt da Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ, mềm mại, không di động, da vùng tiêm nguyên vẹn (1)
Tiêm an toàn: Theo WHO, TAT là một quy trình tiêm không gây nguy hại cho
người nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm, không tạo chất thải nguy hại cho người khác và cộng đồng (1, 6)
Tiêm không an toàn (TKAT): TKAT là mũi tiêm không đảm bảo quy trình TAT,
các chất thải, vật sắc nhọn sau khi tiêm không phân loại và cô lập ngay theo quy chế
xử lý chất thải của Bộ Y tế (6, 13)
1.2 Nguyên tắc của tiêm an toàn
TAT đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thực hành công tác chăm sóc người bệnh nói chung và công tác của người điều dưỡng nói riêng Để thao tác TAT được đảm bảo, người thực hiện mũi tiêm cần tuân thủ những nguyên tắc sau:
HUPH
Trang 16* Không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm:
- Thực hiện 5 đúng: Bao gồm đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng
thời điểm, đúng đường tiêm; thực hiện khi chuẩn bị phương tiện, thuốc tiêm và trước khi tiêm (8, 14)
+ Đảm bảo đúng kỹ thuật vô khuẩn trong tiêm truyền
+ Luôn hỏi người bệnh về tiền sử dùng thuốc để tránh tương tác thuốc
+ Sử dụng thuốc tiêm một liều Nếu phải sử dụng thuốc tiêm nhiều liều, cần sử dụng kim lấy thuốc vô khuẩn và không lưu kim lấy thuốc trên lọ thuốc + Không pha trộn 2 hoặc nhiều loại thuốc vào một loại bơm kim tiêm, không dùng một kim tiêm để lấy nhiều loại thuốc
+ Loại bỏ kim tiêm đã đụng chạm vào bất kỳ bề mặt nào không vô khuẩn
* Không gây nguy hại cho người thực hiện mũi tiêm (8):
- Nguy cơ bị phơi nhiễm do máu hoặc do kim tiêm/vật sắc nhọn đâm:
+ Mang găng khi có nguy cơ tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của người bệnh + Dùng gạc bọc vào đầu ống thuốc trước khi bẻ để tránh vỡ rơi vào ống thuốc, rơi ra sàn nhà, bắn vào người, đâm vào tay
+ Không dùng tay đập nắp kim
HUPH
Trang 17+ Bỏ bơm kim tiêm vào hộp kháng thủng ngay sau tiêm, không tháo rời kim tiêm ra khỏi bơm tiêm sau khi tiêm
+ Không để vật sắc nhọn đầy quá ¾ hộp kháng thủng
+ Khi bị phơi nhiễm do vật sắc nhọn, cần xử lý, khai báo ngay
- Nguy cơ đổ lỗi trách nhiệm cho người tiêm:
+ Thông báo, giải thích rõ cho người nhà hoặc người bệnh trước khi tiêm + Kiểm tra chắc chắn y lệnh ghi trong bệnh án (trừ trường hợp cấp cứu)
+ Đánh giá tình trạng người bệnh trước, trong và sau khi tiêm
+ Pha thuốc trước sự chứng kiến của người nhà người bệnh
+ Giữ lại lọ thuốc có ghi tên người bệnh đến hết ngày tiêm để làm vật chứng + Ghi phiếu chăm sóc
* Không gây nguy hại cho cộng đồng (8)
1.3 Tác hại của tiêm không an toàn
TKAT gây ra các tác động mang tính toàn cầu bao gồm sức khỏe, kinh tế, gánh nặng tâm lý, xã hội và các lĩnh vực khác ở nhiều cấp độ (cá nhân, gia đình, cộng đồng, quốc gia) (16)
* Đối với người bệnh
Những nguy cơ về mặt sức khỏe do tiêm không an toàn là nguy cơ bị áp xe tại vị trí tiêm, chứng liệt thần kinh, phản ứng dị ứng, sốc phản vệ, và đặc biệt là nguy cơ truyền các vi rút qua đường máu cho cả người bệnh, nhân viên y tế (NVYT) và cộng đồng (16), (17)
Theo ước tính của WHO (2005), hàng năm, tiêm không an toàn gây nên 1,3 triệu
ca chết sớm; 26 triệu năm sống bị mất đi Uớc tính trên toàn cầu có khoảng 21 triệu
ca nhiễm mới viêm gan B chiếm 32%, 2 triệu ca nhiễm mới viêm gan C chiếm 40%
HUPH
Trang 18và 260.000 ca nhiễm mới HIV chiếm 5% so với tổng số ca nhiễm mới của từng loại
vi rút đó Tại các nước phát triển, tiêm không an toàn gây nên khoảng 1/3 những trường hợp nhiễm mới HBV và là nguyên nhân chủ yếu của những trường hợp nhiễm HCV, gây nên khoảng 2 triệu trường hợp nhiễm mới mỗi năm, chiếm trên 40% những trường hợp nhiễm HCV (16) Đồng thời, WHO (2004) ước tính tiêm không an toàn gây nên khoảng 250 nghìn trường hợp nhiễm HIV mới mỗi năm, chiếm khoảng 5% các trường hợp nhiễm HIV mới (9)
* Đối với NVYT
Mũi tiêm không an toàn có thể dẫn đến những hậu quả khó lường mà chủ yếu là các bệnh lây qua đường máu như viêm gan B; HIV Một mắt xích quan trọng của quá trình lây bệnh từ người bệnh sang NVYT qua đường máu là các tai nạn do vật sắc nhọn Theo WHO, đối tượng bị tai nạn nghề nghiệp do kim đâm vào tay chiếm
tỷ lệ cao nhất là điều dưỡng (44 – 72 %) (16)
Các tác nhân gây bệnh đường máu cũng góp phần gây bệnh ở NVYT rất cao Ước tính 44% ca nhiễm HIV và 39% ca nhiễm HBV và HCV là do tổn thương nghề nghiệp Trong số các NVYT không được điều trị dự phòng sau phơi nhiễm, nguy cơ nhiễm khuẩn sau khi bị tổn thương do kim tiêm là 23% - 62% đối với HBV và 0-7% đối với HCV (18), nhiễm khuẩn chéo sang NVYT khác và sang người bệnh có thể từ tay của NVYT, thuốc, thiết bị và dụng cụ y tế hoặc bề mặt môi trường Do đó các kỹ thuật và quy trình TAT góp phần bảo đảm an toàn cho người bệnh cũng như NYYT Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh năm 2009 cho thấy: điều dưỡng có tần suất phơi nhiễm cao nhất (79,6/1000 người/4 tháng, trong đó tổn thương xuyên da là 66,7/1000 người/4 tháng); NVYT thường xuyên thực hiện các công việc tiêm, truyền có tần suất phơi nhiễm cao nhất và 100% các trường hợp là tổn thương xuyên da (43,3/1000 người/4 tháng) (19)
Tại Hoa Kỳ, theo An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp (OSHA) mỗi năm có 600.000 đến 1.000.000 chấn thương do vật sắt nhọn, khoảng 2% trong số này có khả năng phơi nhiễm với HIV Tại Anh, theo nghiên cứu của của Mehta năm 2004, trong vòng
1 năm, tỷ lệ NVYT bị kim đâm là 4 - 5% trong đó điều dưỡng bị kim đâm thì 23% điều dưỡng bị nhiễm viêm gan B (20)
HUPH
Trang 19Theo Cục Y tế dự phòng - Môi trường (2008), những nguy hại cho cộng đồng thường xảy ra khi những dụng cụ sau tiêm không được xử lý an toàn, hoặc khi thiêu đốt không an toàn có thể gây ra những nguy hại cho môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng (22)
1.4 Thực trạng tiêm an toàn trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1 Thế giới
Trên thế giới, có rất nhiều các nghiên cứu về TAT của NVYT trên tất cả các lĩnh vực điều trị với các quy mô khác nhau Vào năm 2012, kết quả nghiên cứu của Vincent E Omorogbe trên 122 điều dưỡng tại BV thành phố Benin Nigeria cho thấy
tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức và thực hành tốt về TAT là 31,1%; có 13,1% điều dưỡng
có kiến thức và thực hành rất tốt về TAT (23) Tuy nhiên trên một nửa đối tượng được khảo sát có có kiến thức và thực hành kém về TAT (chiếm 55,7%) (23)
Theo nghiên cứu của WHO, tại các nước đang phát triển có 50% số mũi tiêm không đạt tiêu chuẩn mũi TAT, 40-70% mũi tiêm là sử dụng bơm kim tiêm dùng lại
mà không được tiệt khuẩn, trong đó ở Tây Thái Bình Dương chiếm đến 30% (1)
Năm 2013, tác giả Onyemocho Audu và cộng sự nghiên cứu về kiến thức và thực hành tiêm an toàn của NVYT cho kết quả: 54,3% NVYT có điểm kiến thức tốt
về TAT; 16,7% và 29% NVYT có điểm kiến thức trung bình và kém về TAT; 50,4% NVYT có thực hành TAT mức độ trung bình (24)
Năm 2014, tác giả Elhoseeny T.A và Mourad J.K đã đánh giá sự an toàn của thực hành tiêm của 45 cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Alexandria, kết quả cho
HUPH
Trang 20thấy có 13,3% cơ sở thiếu dung dịch rửa tay chứa cồn để làm sạch tay Chỉ có 56,9% NVYT tuân thủ rửa tay trước khi tiêm; 48,6% NVYT đeo găng tay mới khi thực hành tiêm Chỉ 38% NVYT đã được đào tạo về an toàn tiêm trong 2 năm qua và 62,5% đã hoàn thành ba liều vắc-xin viêm gan B Chỉ có 42,2% nhân viên thực hành mang đúng găng tay khi xử lý chất thải y tế (18)
Năm 2017, một nghiên cứu quan sát một cách bí mật thực hành TAT của 384 điều dưỡng từ 9 BV khác nhau tại Jordan cho thấy với 835 mẫu bảng kiểm được tiến hành thì có 73,9% điều dưỡng không rửa tay khi thực hiện tiêm; 64,5% điều dưỡng không đeo găng tay Những điều dưỡng mới thực hành tiêm có tỷ lệ rửa tay rất thấp chỉ có 18,9% Tiêm dưới da có tỷ lệ rửa tay sau tiêm thấp nhất chiếm 26,7% so với các đường tiêm khác (25)
1.4.2 Việt Nam
Từ năm 2001 đến nay Hội Điều dưỡng Việt Nam đã phát động phong trào TAT trong toàn quốc Xây dựng chiến lược gồm 3 nội dung (4, 13):
- Thay đổi nhận thức, hành vi của NVYT và người bệnh
- Phương tiện đầy đủ và phù hợp
- Quản lý rác thải đúng qui định và an toàn
Trong thời gian qua đã có rất nhiều nghiên cứu đánh giá về thực trạng TAT tại các cơ sở y tế Việt Nam đã được tiến hành như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thái Bình, BV Nhi TW, Đa khoa Nam Định, …
Năm 2012, nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thúy Nhàn về kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng viên về TAT tại BV Đa khoa tỉnh Thái Bình cho kết quả: có 80,1% điều dưỡng viên hiểu đúng về khái niệm TAT; nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TKAT được đa số điều dưỡng viên đưa ra bao gồm ý thức và tuân thủ quy trình tiêm của NVYT (97,3%) Không có bất kỳ điều dưỡng viên nào thực hành đủ 15 tiêu chuẩn TAT, 61,2% điều dưỡng viên thực hành tiêm ở mức khá, 32,8% ở mức trung bình và 5,1% ở mức kém Độ tuổi, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, hiểu biết về khái niệm TAT và nơi làm việc là những yếu tố có mối liên quan đến thực hành tiêm của điều dưỡng viên nghiên cứu (26)
HUPH
Trang 21Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Mỹ Hằng về “Thực trạng và các yếu tố liên quan đến TAT của điều dưỡng tại BV Đa khoa Đồng Tháp 06 tháng đầu năm 2014”, kết quả cho thấy ĐD có kiến thức tốt về TAT chiếm 91,5% Tỷ lệ thực hành chung về TAT là 17,5% ĐD thực hiện theo từng tiêu chuẩn, lưu ý tiêu chuẩn rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi chuẩn bị thuốc đạt 38,5%; Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước khi đâm kim qua da đạt 68,5%; Mang găng khi tiêm đạt 9%; Không dùng hai tay đậy nắp kim đạt 66,5%; Cô lập ngay bơm kim tiêm đã nhiễm khuẩn trong hộp an toàn đạt 75% (27)
Năm 2015, tác giả Đỗ Mộng Thùy Linh đã thực hiện đánh giá kiến thức, thực hành về TAT của điều dưỡng khoa lâm sàng tại BV Đa khoa Trà Vinh Kết quả cho thấy kiến thức chung về TAT đạt tỷ lệ 79,2% nhưng thực hành đạt chỉ có 20,1% (28) Tương tự một nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hoàn Sinh năm 2017 cũng cho thấy
tỷ lệ điều dưỡng, nữ hộ sinh tại Trung tâm y tế Huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước có kiến thức đạt về TAT là 78,6% và chỉ có 33,9% đạt thực hành TAT (29)
Năm 2016, tác giả Dương Trọng Tấn đã tiến hành đánh giá thực trạng TAT của sinh viên năm thứ 2 Trường Cao đẳng y tế Thái Nguyên và các yếu tố ảnh hưởng Kết quả cho thấy có đến 99,3% sinh viên thực hành TAT đạt về chuẩn bị tiêm, nhưng chỉ có 77,9% sinh viên đạt thực hành TAT chung, và có 36,0% sinh viên thực hành TAT đạt ở khoa Ngoại (30)
Một nghiên cứu về kiến thức, thực hành của NVYT về TAT tại trạm y tế xã/ phường thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam năm 2016 của tác giả Chu Thị Hồng Huế cho kết quả: Không có bất kỳ điều dưỡng viên nào thực hành đủ 15 tiêu chuẩn TAT Có 51,1% NVYT hiểu đúng về khái niệm TAT Có 100% NVYT biết ít nhất một trong bốn nguy cơ có thể xảy ra khi tiêm không an toàn Chỉ có 20,5% NVYT cho rằng cần
sử dụng khẩu trang trong khi tiêm hoặc khi tiếp xúc với máu/ dịch tiết Có 15,9% NVYT đã từng bị vật sắc nhọn đâm vào tay trong thời gian 1 năm trước thời điểm điều tra Tuy vậy, chỉ có 31,8% NVYT biết đúng và đầy đủ về quy trình xử lý vết thương khi bị vật sắc nhọn đâm vào tay Tỷ lệ rất cao 88,2% NVYT mang găng, rửa tay/ sát khuẩn tay nhanh trước khi đưa kim qua da (47,9%) và đặc biệt là rửa tay/ sát khuẩn tay nhanh trước khi chuẩn bị thuốc (64,6%) Có 92,4% NVYT cho bơm kim
HUPH
Trang 22tiêm đã sử dụng vào hộp an toàn Vẫn còn 58,3% NVYT sau khi thực hiện mũi tiêm dùng hai tay đậy nắp kim tiêm và 14,6% không dùng xe tiêm/ khay tiêm mà cầm BKT
có thuốc sang buồng tiêm cho người bệnh (2)
Năm 2017, một khảo sát được thực hiện trên tổng số 146 điều dưỡng tại 08 khoa lâm sàng và quan sát trực tiếp 292 mũi tiêm do điều dưỡng viên thực hiện tại
BV nhi Trung ương, đánh giá chung về thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn Kết quả ghi nhận chỉ có 39,0% điều dưỡng viên có thực hành đạt Về các bước tiến hành, kỹ thuật tiêm thuốc đạt từ 32,2% - 93,8% trong đó các bước: Căng da theo đúng quy định: kim tiêm chếch 30° so với mặt và đảm bảo mũi vát của kim đã nằm trong lòng ven; Bơm thuốc chậm: vừa bơm vừa quan sát sắc mặt của người bệnh; Hướng dẫn người bệnh những điều cần thiết, để người bệnh trở lại tư thế thích hợp đạt trên 90% Thực hành sát khuẩn tay nhanh hoặc mang găng tay đúng qui định của điều dưỡng chiếm tỷ lệ thấp nhất 32,2% Về xử lý chất thải sau tiêm, 82,2% điều dưỡng thực hành đạt về phân loại rác thải sau tiêm đúng quy định, 72,6% điều dưỡng thực hiện rửa tay/ sát khuẩn tay nhanh ngay sau khi kết thúc quy trình tiêm Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, tham gia tập huấn tại
BV với thực hành TAT của điều dưỡng viên (p < 0,05) (31)
Năm 2019, tác giả Phạm Thị Luận đã tiến hành đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành TAT của điều dưỡng viên tại BV Đa khoa huyện Vũ Thư Kết quả cho thấy trong số các điều dưỡng được điều tra có đến 96,0% có kiến thức về TAT nhưng chỉ
có 21,4% điều dưỡng viên thực hành đạt cả 4 kỹ thuật tiêm (32) Có 61,4% điều dưỡng thực hành tiêm bắp đạt và 52,9% điều dưỡng thực hành tiêm tĩnh mạch đạt (32)
Qua các nghiên cứu về TAT cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành về TAT của cán bộ y tế nói chung và của điều dưỡng nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều cán bộ y tế còn thiếu và chưa được cập nhật thông tin về TAT liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn, một số cán bộ y tế chưa tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật và các thao tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong thực hành tiêm, trong thu gom, xử lý và quản
lý chất thải sắc nhọn
HUPH
Trang 231.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm an toàn
1.5.1 Yếu tố cá nhân
Về giới tính và độ tuổi, các yếu tố này được kết luận có liên quan đến việc đảm bảo TAT Cụ thể, năm 2015, nghiên cứu mô tả cắt ngang của Huỳnh Thị Mỹ Thanh và cộng sự nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình tiêm trên 280 người trực tiếp thực hiện mũi tiêm ở 16 khoa lâm sàng tại BV An Giang Công cụ đánh giá là các bảng kiểm thực hành kỹ thuật tiêm Kết quả cho thấy điểm trung bình cao ở giới nữ (7,7± 1,2), nhóm tuổi từ 26 đến 35 (7,8 ± 1,1), ở khoa Nhi (8,9 ± 0,7) Nhóm thực hiện quy trình tiêm truyền tĩnh mạch có điểm trung bình thấp nhất (6,6 ± 0,9) Từ đó, nhóm tác giả kết luận rằng giới tính, tuổi, đơn vị công tác, và đường tiêm
là những yếu tố có liên quan đến việc đảm bảo TAT (33) Cũng năm 2015, trong nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Thị Liên đánh giá kiến thức, thực hành về TAT
và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại 4 khoa lâm sàng hệ Nhi BV Sản – Nhi Hưng Yên năm 2015 cũng chỉ ra rằng tuổi, giới tính của đối tượng nghiên cứu là yếu
tố có liên quan với thực hành của điều dưỡng (34) Tương tự, kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Thanh Thủy (2016) và nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Hoa (2017) ghi nhận giới tính và tuổi có ảnh hưởng đến thực hành TAT của điều dưỡng (35, 36) Thêm vào đó, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác của điều dưỡng cũng được quan tâm tìm hiểu như một yếu tố có ảnh hưởng đến thực hành TAT Cụ thể, kết quả trên được thể hiện qua khảo sát về TAT của điều dưỡng, nữ hộ sinh tại BV Tiền Giang (2008) cũng chỉ ra có sự liên quan giữa thâm niên công tác với các nội dung TAT: thâm niên công tác càng lâu (> 5 năm) thì việc thực hiện rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm, không lưu kim sau khi rút thuốc trong lọ, quan sát người bệnh khi tiêm, tư thế người bệnh sau khi tiêm càng tốt Thâm niên < 5 năm thì việc giao tiếp khi tiêm, thực hiện kỹ thuật sát khuẩn hoàn chỉnh hơn (37) Kết luận này cũng trùng với mối liên quan tìm thấy qua nghiên cứu tại BV Đa khoa Hà Đông năm 2012 của tác giả Phan Văn Tường và Trần Thị Minh Phượng (38) Nghiên cứu
về kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng viên về TAT tại BV Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2012 của tác giả Lê Thị Thúy Nhàn ghi nhận kết quả có 80,1% điều dưỡng viên hiểu đúng về khái niệm TAT; nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TKAT được
HUPH
Trang 24đa số điều dưỡng viên đưa ra bao gồm ý thức và tuân thủ quy trình tiêm của NVYT (97,3%); không có bất kỳ điều dưỡng viên nào thực hành đủ 15 tiêu chuẩn TAT, 61,2% điều dưỡng viên thực hành tiêm ở mức khá; 32,8% ở mức trung bình và 5,1%
ở mức kém Độ tuổi, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, hiểu biết về khái niệm TAT và nơi làm việc là những yếu tố có mối liên quan đến thực hành tiêm của điều dưỡng (26) Năm 2015, tác giả Quách Văn Phương thực hiện đánh giá kiến thức, thực hành về TAT và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng BV Đa khoa U Minh, Cà Mau (39) Kết quả cho thấy mối liên quan giữa trình độ chuyên môn cũng như thâm niên công tác, kiến thức về TAT và thực hành TAT có ý nghĩa thống kê (39)
Khoa đang làm việc cũng được cho là có mối liên quan đến thực hành tiêm của các điều dưỡng Năm 2012, kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thúy Nhàn về kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng viên về TAT tại BV Đa khoa tỉnh Thái Bình ghi nhận kết quả trên (26) Điều tương tự được thể hiện vào năm 2015 trong nghiên cứu mô tả cắt ngang của Huỳnh Thị Mỹ Thanh và cộng sự nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình tiêm ở 16 khoa lâm sàng tại BV An Giang (33)
Yếu tố thiếu và chưa được cập nhật thông tin về TAT ảnh hưởng đến thực hành TAT cũng được đề cập trong nghiên cứu của tác giả Đào Thành (2005) trên phạm vi toàn quốc và tác giả Đoàn Hoàng Yến tiến hành tại Viện Tim Hà Nội (2011) (40, 41)
Cuối cùng, một số yếu tố khác cũng được ghi nhận là có liên quan đến thực hành TAT của điều dưỡng như là thời điểm thực hiện mũi tiêm, đường tiêm, thứ tự thực hiện mũi tiêm (38) Nguyên nhân dẫn đến thực hành TAT chưa tốt cũng được đưa ra là do điều dưỡng chưa tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật và các thao tác KSNK trong thực hành tiêm, trong thu gom, xử lý và quản lý chất thải y tế sắc nhọn (41)
1.5.2 Yếu tố tổ chức, quản lý
Cơ sở vật chất, trang thiết bị là yếu tố quan trọng được xem xét khi nhắc đến khía cạnh tổ chức và quản lý Đây cũng là một trong những yếu tố được cho là có ảnh hưởng tới thực hành TAT Tại Nigeria, năm 2002, S Kolade Ermst đã tìm ra lý do tỷ
lệ thực hành TAT không cao là do cung cấp trang thiết bị dụng cụ không đầy đủ (theo
HUPH
Trang 25ý kiến của 27% ĐTNC) (5) Kết luận này cũng được nhấn mạnh trong nghiên cứu tại
BV Nam Đông (2010) của Phan Thị Thanh Thủy, Võ Phi Long khi hỏi về các yếu tố ảnh hưởng đến TAT: 100% ĐTNC trả lời do phương tiện TAT không phù hợp với yêu cầu sử dụng; 21,53% cho là do phân loại, thu gom, xử lý chất thải không an toàn; 16,32% nhấn mạnh là do quá tải công việc và 14,93% cho là do thiếu nhân lực, một
tỷ lệ nhỏ nhận định tiêm không an toàn là do lạm dụng thuốc tiêm (2,43%) (42)
Vấn đề nhân sự cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu cần giải quyết của các nhà quản lý Trong thực hành TAT, kết quả nghiên cứu tại BV Nam Đông năm
2010 của Phan Thị Thanh Thủy, Võ Phi Long đã chỉ ra tình trạng quá tải công việc (ý kiến của 16,32% ĐTNC) và 14,93% ĐTNC cho rằng thiếu nhân lực ảnh hưởng rất lớn đến thực hiện TAT (42)
Bên cạnh đó, công tác đào tạo, cập nhật thông tin, kiến thức là một trong những vấn đề quan trọng của tổ chức, quản lý Nghiên cứu của S Kolade Ermst (2002) tại Nigeria ghi nhận những lý do tỷ lệ thực hành TAT trong đó 17,7% đối tượng cho rằng do thiếu hiểu biết Do đó 33,7% đối tượng đề nghị được đào tạo lại và được cung cấp thêm các trang thiết bị để xử lý dụng cụ đúng cách Có thể nói đào tạo về thực hành được khuyến khích để đảm bảo thực hiện TAT (5) Donal và cộng sự (2010) cũng cùng quan điểm khi kết luận rằng các nhân viên phải có kiến thức, đào tạo và thiết bị để thực hiện các thủ thuật tiêm tuyền một cách an toàn (43) Kết luận này càng được khẳng định qua nghiên cứu của Phan Thị Thanh Thủy, Võ Phi Long tại
BV Nam Đông (2010) khi 42,01% điều dưỡng được hỏi trả lời thiếu thông tin là yếu
tố ảnh hưởng lớn đến TAT (42) Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Lê Thị Kim Oanh tại BV Bắc Thăng Long về thực trạng tuân thủ quy trình TAT của điều dưỡng (2012) Cấu phần định tính tiến hành thông qua phỏng vấn sâu (PVS) 9 đối tượng gồm cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý khoa, phòng và ĐDT, ĐDV về thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật tiêm, các yếu tố ảnh hưởng; thảo luận nhóm nhằm xác định các vấn đề, tình huống không an toàn khi tiêm, đề xuất các giải pháp để thực hiện TAT Trong các cuộc TLN, điều dưỡng đưa ra ý kiến cần tăng cường kiến thức cho điều dưỡng về khái niệm thế nào là mũi TAT, nhận thức được các nguy cơ của tiêm, việc đào tạo, tập huấn phải được làm thường xuyên, để duy trì thì phải kiểm tra,
HUPH
Trang 26giám sát liên tục (44) Tác giả Quách Văn Phương (năm 2015) thực hiện nghiên cứu đánh giá kiến thức, thực hành về TAT và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng
BV Đa khoa U Minh, Cà Mau và kết quả cho thấy mối liên quan giữa trình độ chuyên môn cũng như thâm niên công tác, kiến thức về TAT và thực hành TAT có ý nghĩa thống kê (39) Tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu nghiên cứu về thực trạng tuân thủ quy trình tiêm tĩnh mạch an toàn và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại BV Nhi Trung ương năm 2018 và cho thấy rằng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính và số lần tham gia tập huấn tại bệnh việc với thực hành TAT của điều dưỡng viên (31)
Thêm vào đó, S Kolade Ermst (2002) đã nhấn mạnh một trong những lý do khiến tỷ lệ thực hành TAT thấp là do thiếu kiểm tra, giám sát (5) Kết quả cũng cùng quan điểm với Donal khi kết luận rằng các nhà quản lý y tế tại các cơ sở y tế phải có
ý thức thực hành TAT và đảm bảo rằng các nhân viên thực hiện tốt TAT (43) Để thực hiện được điều này thì công tác kiểm tra, giám sát đôn đốc thực hiện của các nhà quản lý hết sức quan trọng Ngoài ra, trong dự án can thiệp tại huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2008 – 2009, Hội Điều dưỡng Việt Nam cũng đã đưa ra các chỉ số: (1) Có báo cáo tai nạn rủi ro và (2) Có hệ thống theo dõi rủi ro do vật sắc nhọn để tiến hành can thiệp Kết quả thu được tỷ lệ TAT tăng lên và các chỉ số trên cũng được thực hiện (45)
Những kết quả trên cho thấy công tác tổ chức và quản lý về TAT tại BV rất quan trọng, có tác động tích cực đến việc tăng mức độ tuân thủ các bước của TAT lên thông qua các hoạt động như đào tạo liên tục, kiểm tra, giám sát thực hiện TAT (44) Để thay đổi hành vi cần phải cung cấp kiến thức, thông tin và phát triển kỹ năng
Vì vậy thực hiện đào tạo, huấn luyện và đặc biệt là kiểm tra, giám sát có tác dụng rất lớn để nâng cao trách nhiệm cá nhân trong chăm sóc người bệnh và tạo ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình kỹ thuật tiêm của các điều dưỡng (46)
1.6 Các tiêu chí đánh giá tiêm an toàn
Năm 2010, WHO đã đưa ra những chiến lược về sử dụng an toàn và phù hợp của tiêm trên toàn thế giới bao gồm 4 mục tiêu: (1) xây dựng chính sách, kế hoạch
HUPH
Trang 27quốc gia về sử dụng an toàn và phù hợp của thuốc tiêm, (2) đảm bảo chất lượng và
an toàn các thiết bị bơm, (3) tạo điều kiện tiếp cận tiêm truyền một cách công bằng
và (4) đạt được sự phù hợp, hợp lý, sử dụng chi phí hiệu quả trong tiêm truyền (47) Đồng thời, năm 2007, Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho TAT, bao gồm 8 yếu tố sau: Không sử dụng chung bơm kim tiêm; Không sử dụng chung kim lấy thuốc, Không dùng bơm kim tiêm đã qua sử dụng để lấy thuốc; Không sử dụng thuốc đơn liều cho nhiều hơn một người bệnh; ưu tiên dùng thuốc đa liều cho một người bệnh duy nhất; Không sử dụng túi hoặc chai dung dịch truyền tĩnh mạch cho nhiều người bệnh; Thực hiện KSNK đúng quy định khi chuẩn bị và quản lý thuốc tiêm; Mang khẩu trang phẫu thuật phù hợp khi tiêm thuốc (48) 8 yếu tố trên cũng tương tự những nguyên tắc BYT đưa ra trong Hướng dẫn TAT để hạn chế nguy hại cho người nhận mũi tiêm (8)
Tại Việt Nam, vấn đề TAT luôn nhận được sự quan tâm của Bộ Y tế (BYT)
Từ năm 2000, Hội Điều dưỡng Việt Nam đã phát động phong trào “Tiêm an toàn”
trong toàn quốc Đồng thời, trong Thông tư 07/2011/TT-BYT năm 2011 của Bộ Y tế cũng bao gồm các nội dung liên quan đến TAT trong công tác chăm sóc người bệnh (10) Thực hành TAT đã được hướng dẫn cụ thể thông qua quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của BYT “Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” (8, 11) Theo đó, hướng dẫn TAT của Bộ Y tế nêu rõ quy trình tiêm có 23 tiêu chí gồm: Phần chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm gồm 5 tiêu chí; Phần thực hiện thao tác trước tiêm gồm 9 tiêu chí; Phần thực hiện thao tác trong trong tiêm gồm 4 tiêu chí và Phần thực hiện thao tác sau tiêm gồm 5 tiêu chí (8) Mỗi mũi TAT đạt là khi thực hiện đúng và đầy đủ 23 tiêu chí (8) Với yêu cầu phải đạt điểm tuyệt đối 100% các tiêu chí, có thể thấy được công tác TAT đang là vấn đề rất được chú trọng vì sự an toàn của người bệnh
Những năm gần đây, các tiêu chuẩn TAT được sử dụng trong các nghiên cứu
có sự thay đổi, gắn liền với những tiêu chuẩn mới về TAT theo Hướng dẫn TAT của BYT năm 2012 Nghiên cứu của Trần Minh Phượng, Phan Văn Tường đánh giá TAT theo 23 tiêu chuẩn Bảng kiểm đánh giá mũi TAT dùng trong nghiên cứu dựa trên quy trình TAT của BYT có tham khảo bảng kiểm đánh giá mũi TAT của WHO (38)
HUPH
Trang 28Bộ tiêu chuẩn đánh giá thực hành TAT được nhóm thành 5 nhóm tiêu chuẩn chính: (1) Chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm; (2) Đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn; (3)
Kỹ thuật tiêm; (4) Giao tiếp tương tác với người bệnh và tiêu chuẩn; (5) Phòng tránh nguy cơ lây nhiễm cho người tiêm và cộng đồng Tỷ lệ mũi tiêm thực hành đúng 23 tiêu chuẩn TAT là 22,2%
Còn theo Hà Thị Kim Phượng khi nghiên cứu về kiến thức, thực hành TAT của điều dưỡng tại 3 BV thuộc Sở Y tế Hà Nội năm 2014, TAT được đánh giá theo
21 tiêu chuẩn, cũng được nhóm thành 5 nhóm chính: (1) Thực hành chuẩn bị người bệnh, ĐDV; (2) Thực hành chuẩn bị dụng cụ tiêm; (3) Thực hành chuẩn bị thuốc tiêm; (4) Thực hành kỹ thuật tiêm thuốc và (5) Thực hành xử lý chất thải sau tiêm
Tỷ lệ điều dưỡng thực hành TAT đạt là 32,1% và có sự khác biệt giữa 3 BV được quan sát, cao nhất là BV Đống Đa (47,4%), BV Đức Giang đạt 44,0%, trong khi BV Thạch Thất không có ĐDV nào được đánh giá thực hành đạt TAT (49)
Nhìn chung, tỷ lệ thực hành TAT đạt có chiều hướng tăng, tuy nhiên tỷ lệ này nhìn chung vẫn chưa cao và thiếu đồng đều giữa các khu vực quan sát Các tiêu chuẩn đánh giá mới đều theo sát với quy trình tiêm, truyền và cập nhật theo Hướng dẫn TAT của BYT, nhất là thực hành KSNK trong TAT Mỗi cách đánh giá đều có điểm mạnh
và bản chất không khác nhau nhiều, tuy nhiên, để thuận lợi cho việc đánh giá theo quy trình tiêm, truyền, nghiên cứu của chúng tôi đánh giá thực hành TAT theo 23 tiêu chuẩn được nhóm thành 3 nhóm chính: (1) Chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm (5 tiêu chuẩn); (2) Đảm bảo quy trình tiêm (13 tiêu chuẩn); (3) Đảm bảo nguyên tắc sau tiêm (5 tiêu chuẩn) Bảng kiểm 23 tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu để quan sát điều dưỡng thực hiện quy trình tiêm tại Viện là bảng kiểm TAT của Bộ Y tế theo quyết định số 3671/QĐ – BYT về việc hướng dẫn TAT trong các cơ sở khám chữa bệnh, ban hành kèm theo quyết định
1.7 Giới thiệu Viện Y dược học dân tộc TP HCM
Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh là đơn vị Viện nghiên cứu có giường bệnh, là đơn vị đầu ngành phía Nam về khám chữa bệnh Đồng thời, là BV hạng I được phân công phụ trách chỉ đạo tuyến công tác khám, chữa bệnh bằng y học cổ
HUPH
Trang 29truyền kết hợp y học hiện đại tại 24 tỉnh, thành phía Nam trong đó có TP Hồ Chí Minh Cơ cấu tổ chức Viện hiện nay bao gồm 10 phòng chức năng, 13 khoa chuyên môn, 01 Trung tâm và các hội đồng và đơn vị chuyên môn trực thuộc Viện theo luật định: Hội đồng Khoa học công nghệ, Hội đồng Thuốc và Điều trị, Hội đồng Quản lý chất lượng, Hội đồng ĐD, Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn, Tổ bảo hiểm y tế, Tổ Truyền thông - GDSK, Đội Cấp cứu ngoại viện và phòng chống dịch, thảm họa (12)
Về hoạt động ĐD trong năm 2019 có nhiều chuyển biến tích cực Đội ngũ ĐD Viện đã không ngừng nỗ lực trau dồi chuyên môn, theo học các lớp nâng cao trình
độ đặc biệt là sự đồng tâm nỗ lực phấn đấu không ngừng của cả hệ thống ĐD trong việc CS sức khỏe NB toàn diện Công tác cập nhật tài liệu chuyên môn: Tài liệu Quy trình kỹ thuật ĐD trong CS NB, tài liệu Hướng dẫn tư vấn CS và GDSK cho NB theo
mô hình bệnh tật năm 2018, tài liệu Quy trình CS NB, tài liệu Áp dụng 5S trong sắp xếp dụng cụ trên xe tiêm, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật xoa bóp bằng đá nóng Tham mưu xây dựng nâng được điểm quản lí chất lượng trong phần C6 về hoạt động ĐD
và CS NB
1.8 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa vào Hướng dẫn TAT trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Ban hành kèm theo Quyết định Số 3671/QĐ - BYT ngày 27/09/2012 của Bộ Y tế) (8) và khung hệ thống y tế của WHO (50) Trong khung lý thuyết này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích 4 trong 6 yếu tố được đề cập trong khung
hệ thống y tế của WHO vì các nghiên cứu được tổng hợp trong tổng quan tài liệu
Trang 30Yếu tố cá nhân người điều
dưỡng:
- Tuổi
- Giới tính
- Trình độ chuyên môn
- Thâm niên công tác
- Khoa đang công tác
- Quản lý, điều hành (kiểm
tra, giám sát TAT)
Thực hành tiêm an toàn của
điều dưỡng
- Chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm
- Đảm bảo quy trình tiêm
- Đảm bảo nguyên tắc sau tiêm
HUPH
Trang 31CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)
2.1.1 Nghiên cứu định lượng
Điều dưỡng lâm sàng và các mũi tiêm do điều dưỡng thực hiện tại các khoa lâm sàng Viện Y dược học dân tộc TP HCM
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Điều dưỡng lâm sàng tại các khoa lâm sàng nội trú, có thâm niên công tác trên 6 tháng có mặt tại thời điểm nghiên cứu
- Các mũi tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch do điều dưỡng lâm sàng thực hiện
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các mũi tiêm tĩnh mạch trên người bệnh đã lưu kim luồn do điều dưỡng chăm sóc tại các khoa lâm sàng thực hiện
2.1.2 Nghiên cứu định tính
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Đối với lãnh đạo:
+ Là lãnh đạo Viện và lãnh đạo các Khoa/Phòng;
+ Có thâm niên công tác ở vị trí hiện tại trên 6 tháng
- Đối với điều dưỡng:
+ Là những điều dưỡng lâm sàng tại các khoa lâm sàng nội trú được chọn; + Có thâm niên công tác trên 6 tháng;
+ Có mặt tại thời điểm nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ: Vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu do đi công tác hoặc nghỉ
theo phép/nghỉ thai sản
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2020
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại các khoa lâm sàng nội trú Viện Y dược học dân tộc TP HCM (số 273-275, đường Nguyễn Văn Trỗi, Phường 10, quận Phú Nhuận, TP HCM)
HUPH
Trang 322.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính (kết hợp có trình tự vì định lượng tiến hành trước, định tính tiến hành sau) Thực hiện nghiên cứu định lượng trước để mô tả tỷ lệ các mũi tiêm được thực hiện đúng quy trình TAT Tiến hành nghiên cứu định tính sau khi có kết quả sơ bộ của nghiên cứu định lượng để tìm hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng về mặt
quản lý đến TAT
2.4 Cỡ mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
Toàn bộ điều dưỡng tại Viện đang tham gia chăm sóc người bệnh tại các khoa lâm sàng gồm có 55 điều dưỡng viên
4 Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc 6
7 Khoa Nội Tim mạch và thần kinh 11
- n: Số mũi tiêm cần quan sát
- z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95%, z = 1,96
HUPH
Trang 33- p: Ước lượng tỷ lệ mũi TAT
Nghiên cứu tập trung vào tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch nên chúng tôi lấy hai giá trị p1 (tham khảo cho mũi tiêm bắp) và p2 (tham khảo cho mũi tiêm tĩnh mạch)
để đưa vào công thức tính cỡ mẫu
+ p1: Do không tham khảo được nghiên cứu nào cho tỷ lệ tiêm bắp an toàn nên học viên chọn giá trị p1 của tiêm bắp an toàn là 0,5 để có cỡ mẫu lớn nhất;
+ p2: Tham khảo nghiên cứu của tác giả La Thanh Chí Hiếu (2019) (51) có
tỷ lệ mũi tiêm tĩnh mạch an toàn là 67,1% Lấy giá trị p2=0,67
- e: sai số cho phép, chọn ngưỡng 6% (e = 0,06)
Thay vào công thức có: n1 = 240 và n2 = 213 Vậy số mũi tiêm cần cho tiêm bắp là 240 và tiêm tĩnh mạch là 213 Dự phòng sai sót khi thu thập số liệu là 10%, số mũi tiêm tối thiểu cần quan sát tiêm bắp là 264 và tiêm tĩnh mạch là 234
Tổng số điều dưỡng lâm sàng tại các khoa lâm sàng nội trú là 55 người Mỗi điều dưỡng cần được quan sát mũi tiêm bắp là 264/55, tương đương 5 mũi tiêm/1 điều dưỡng Tương tự mỗi điều dưỡng cần được quan sát mũi tiêm tĩnh mạch là
234/55, tương đương 4 mũi tiêm/1 điều dưỡng Như vậy, cỡ mẫu của nghiên cứu lần
lượt sẽ là n1 (số mũi tiêm bắp) = 275 và n2 (số mũi tiêm tĩnh mạch) = 220 (loại trừ mũi tiêm tĩnh mạch có lưu kim luồn)
2.4.2 Nghiên cứu định tính
- Phỏng vấn sâu (PVS): 03 cuộc với 1 lãnh đạo Viện và 2 lãnh đạo Khoa, Phòng
- Thảo luận nhóm (TLN): 02 cuộc
+ Nhóm điều dưỡng đạt nhiều mũi TAT nhất trên tổng số 9 mũi tiêm (6 thành viên) thảo luận về TAT
+ Nhóm điều dưỡng đạt ít mũi TAT nhất trên tổng số 9 mũi tiêm (6 thành viên) thảo luận về TKAT
HUPH
Trang 342.5 Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Nghiên cứu định lượng
Chọn mẫu toàn bộ, chọn tất cả điều dưỡng đang trực tiếp chăm sóc NB tại các khoa gồm 55 điều dưỡng theo danh sách được cung cấp đạt tiêu chuẩn nghiên cứu thu thập số liệu từ tháng 08/2020 - 09/2020 Mỗi ngày điều dưỡng tại khoa khoa lâm sàng thực hiện tối thiểu 2 mũi tiêm bắp và 2 mũi tiêm tĩnh mạch trên người bệnh Mỗi mũi tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch trung bình mất 30 phút/mũi tiêm, một cộng tác viên thực tế quan sát được khoảng 6 mũi tiêm/ngày (tương đương 3 giờ/ngày) Với 55 điều dưỡng thực hiện mỗi người 9 mũi tiêm, nghiên cứu đã quan sát tổng cộng 495 mũi tiêm Để đảm bảo đúng thời gian thu thập số liệu, nghiên cứu viên (NCV) chính đã mời 4 cộng tác viên (các cử nhân điều dưỡng tại khoa khám bệnh Đa khoa và phòng chức năng đã được tập huấn) thực hiện quan sát thực hành TAT Do đó, thời gian quan sát thực hành TAT của 55 điều dưỡng là 21 ngày (83/4)
Đối với các mũi tiêm để quan sát là chọn mẫu thuận tiện Theo danh sách do điều dưỡng trưởng tại các khoa lập và cung cấp, NCV chọn thời điểm quan sát mũi tiêm vào giờ hành chính NCV quan sát mỗi điều dưỡng thực hiện 5 mũi tiêm bắp và
4 mũi tiêm tĩnh mạch vào giờ hành chính
2.5.2 Nghiên cứu định tính
Chọn chủ đích các ĐTNC để mời tham gia PVS và TLN theo các nội dung đã chuẩn bị sẵn
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
* Công cụ thu thập thông tin định lượng:
Bảng kiểm được sử dụng trong nghiên cứu để quan sát điều dưỡng thực hiện quy trình tiêm tại Viện là bảng kiểm TAT của Bộ Y tế theo Quyết định số 3671/QĐ – BYT về việc hướng dẫn TAT trong các cơ sở khám chữa bệnh, ban hành kèm theo quyết định
Mũi TAT trong nghiên cứu: Là mũi tiêm đạt đủ và đúng 23 tiêu chí trong bảng kiểm đánh giá thực hành TAT
HUPH
Trang 35* Công cụ thu thập thông tin định tính:
Các hướng dẫn PVS bán cấu trúc lãnh đạo (Phụ lục 3) và TLN (Phụ lục 4) nhằm phát hiện những yếu tố ảnh hưởng về mặt quản lý có ảnh hưởng đến TAT của điều dưỡng, những thuận lợi, khó khăn và đề xuất yêu cầu để có biện pháp khắc phục, nâng cao tỷ lệ TAT
Các hướng dẫn PVS, TLN được xây dựng dựa trên chủ đề nghiên cứu
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
* Thu thập số liệu định lượng
Chọn toàn bộ mẫu và thực hiện đánh giá bằng bảng kiểm TAT từ tháng 8/2020 – 9/2020, vào Thứ Hai đến Thứ Sáu trong giờ hành chính hàng tuần thỏa mãn tiêu chí lựa chọn đến khi nào đủ số lượng như dự tính cỡ mẫu thì dừng lại
* Quy trình thu thập số liệu
Trước khi tiến hành thu thập số liệu, các cộng tác viên (các cử nhân điều dưỡng tại khoa khám bệnh đa khoa và phòng chức năng) đã được tập huấn về nội dung và phương pháp thu thập số liệu, cộng tác viên được hướng dẫn để hiểu rõ về cách thức quan sát quy trình TAT theo bảng kiểm, các bước trong TAT, cách chấm điểm các bước, vị trí quan sát, cách điền thông tin vào bảng kiểm quan sát, giải thích các thắc mắc liên quan đến phiếu điều tra và tiến hành thu thập số liệu thử trong thời gian 1 ngày Sau đó, tiến hành thu thập số liệu chính thức trong thời gian 2 tháng Công tác giám sát thu thập số liệu được tiến hành đồng thời do NCV thực hiện
Quan sát thực hành quy trình tiêm bằng bảng kiểm các tiêu chí về TAT Các cộng tác viên dựa vào danh sách điều dưỡng được phân công công tác tiêm thuốc đến tại phòng bệnh hoặc phòng chăm sóc để quan sát Thời điểm quan sát thực hành tiêm giờ hành chính, thực hiện quan sát 04 mũi tiêm trong giờ hành chính (02 tiêm bắp,
02 tiêm tĩnh mạch)/ 1 điều dưỡng, sử dụng phụ lục 2 để đánh giá thực hành
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp quan sát không tham gia: cộng tác viên đứng ở vị trí phù hợp, dễ quan sát và không gây ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình tiêm của ĐTNC ĐTNC không được biết mình được quan sát cũng như ai quan sát mình ĐTNC đồng ý tham gia nghiên cứu được cung cấp thông tin là được quan
HUPH
Trang 36sát tiêm trong khoảng thời gian từ 8-9/2020 Vào thời điểm nghiên cứu này, Viện
đang triển khai nội dung kiểm tra giám sát điều dưỡng, kiểm tra thực hiện 12 chỉ số
chất lượng điều dưỡng,… nên ĐTNC không biết lúc nào mình đang được quan sát
thực hiện bảng kiểm TAT, đảm bảo tính khách quan của nghiên cứu
Mỗi một điều dưỡng được quan sát thực hành quy trình tiêm có 01 mã số
nghiên cứu Mã số này tương ứng với khoa và số thứ tự của điều dưỡng tại khoa theo
vần ABC
Danh sách điều dưỡng thực hiện quy trình tiêm do điều dưỡng trưởng tại các
khoa lập: bao gồm họ tên, thời gian thực hiện quy trình tiêm (theo lịch phân chia công
việc của Khoa) Sau đó gửi danh sách và thời gian quan sát đến NCV (học viên) vào
mỗi đầu tuần
* Thu thập số liệu định tính
Sau khi tiến hành nghiên cứu định lượng, NCV xử lý sơ bộ kết quả và có sự
điều chỉnh nội dung hướng dẫn PVS và TLN dựa trên kết quả nghiên cứu bước đầu
của nghiên cứu định lượng
Phiếu hướng dẫn PVS được dùng để thu thập thông tin từ 3 lãnh đạo gồm: 1
lãnh đạo Viện và 2 lãnh đạo Khoa/Phòng Thời lượng cho mỗi cuộc PVS là 45-90
phút NCV trực tiếp phỏng vấn thực hiện ghi âm khi được cho phép, thực hiện gỡ
băng, có biên bản phỏng vấn kèm theo
Đồng thời thực hiện 2 cuộc TLN để lấy thông tin từ 2 nhóm điều dưỡng về các
yếu tố ảnh hưởng đến mũi TAT và mũi tiêm không an toàn Thời lượng mỗi cuộc
TLN khoảng 60 - 90 phút, tiến hành TLN thực hiện các nội dung theo bảng hướng
dẫn phụ lục 4 để phỏng vấn, NCV trực tiếp phỏng vấn, thực hiện ghi âm khi được
cho phép, thực hiện gỡ băng, có biên bản phỏng vấn kèm theo
Địa điểm: Tại khoa phòng làm việc của lãnh đạo Viện và trưởng phòng đối
với PVS và phòng giao ban của khoa đối với 2 nhóm TLN
Sau khi đã PVS và TLN, dữ liệu được ghi chép và ghi âm được tổng hợp lại
theo từng nhóm chủ đề và được dẫn chứng vào phần kết quả và bàn luận
HUPH
Trang 372.7 Các biến số trong nghiên cứu
2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng
Biến số về thực hành tiêm gồm: 23 tiêu chuẩn TAT theo hướng dẫn TAT trong các cơ sở khám chữa bệnh, ban hành kèm theo quyết định số 3671/QĐ – BYT ngày
27 tháng 09 năm 2012 của Bộ Y tế (8) Các biến số này được thu thập bằng cách quan sát thực hành tiêm của điều dưỡng thông qua bảng kiểm được xây dựng trước
Các nhóm biến số chính bao gồm:
- Thông tin chung: 7 biến số
- Các thao tác chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm: 5 biến số
- Các thao tác thực hiện quy trình tiêm: 13 biến số (thao tác trước tiêm và thao tác trong tiêm)
- Các thao tác sau tiêm: 5 biến số
Chi tiết bảng biến số xem tại Phụ lục 1 (trang xii)
2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị
- Nhân lực (số lượng, chất lượng)
- Thông tin (cập nhật, đào tạo về TAT)
- Quản lý, điều hành (văn bản quy định TAT, theo dõi, giám sát thực hiện TAT)
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá
Thu thập số liệu về thực hành TAT chúng tôi quan sát thực hành tại Viện bằng phụ lục 2 Cách tính điểm cho phần thực hành: Tính điểm từng tiêu chí đối với phần thực hành, mỗi tiêu chí thực hành đúng cho 1 điểm và dựa vào tiêu chí hướng dẫn TAT trong các cơ sở khám chữa bệnh, Ban hành kèm theo quyết định số 3671/QĐ – BYT (8) Tính điểm cho phần thực hành chung về TAT phải thực hiện đạt 23 tiêu chí trong 1 quy trình tiêm Nếu có 1 tiêu chí thực hành sai hoặc không thực hiện thì xem như không đạt về thực hành TAT chung
Phân loại thực hành theo từng nhóm: mỗi tiêu chí 1 điểm nhưng nếu thực hiện sai 1 tiêu chí hoặc bỏ qua không thực hiện 1 tiêu chí thì cũng không đạt trong phần thực hành đó, gồm các phần sau:
HUPH
Trang 38- Phần chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm gồm 5 tiêu chí là 5 điểm
- Phần thực hiện thao tác trước tiêm gồm 9 tiêu chí là 9 điểm
- Phần thực hiện thao tác trong trong tiêm: 4 tiêu chí là 4 điểm
- Phần thực hiện thao tác sau tiêm gồm 5 tiêu chí là 5 điểm
Mũi TAT đạt là khi thực hiện đúng và đầy đủ 23 tiêu chí
Chuẩn bị phương tiện và dụng cụ tiêm: 5 tiêu chuẩn
Bơm kim tiêm vô khuẩn: Quan sát có bơm, bơm kim còn hạn sử dụng, còn nguyên vẹn bao gói và phù hợp với loại tiêm, điều dưỡng tiêm kiểm tra tình trạng của bơm tiêm trước khi thực hiện tiêm
Xe tiêm và trang thiết bị, dụng cụ kèm theo: xe tiêm có đầy đủ: khay chữ nhật, khăn vô khuẩn, kìm Kocher, ống cắm kìm, bông, gạc, hộp đựng bông cồn, thuốc theo
y lệnh, khay hạt đậu (túi nylon); sổ thuốc (phiếu thuốc), găng tay, dây Garo, gối kê tay (Tiêm TM)
Hộp chống sốc: Hộp chống sốc đầy đủ cơ số (còn hạn sử dụng) đi kèm theo Dung dịch sát khuẩn tay nhanh: Quan sát xe tiêm có dung dịch dùng để sát khuẩn tay nhanh ở vị trí thuận tiện (đặt ở tầng 1 trên cùng của xe tiêm)
Hộp đựng vật sắc nhọn: Xe tiêm có hộp đựng vật sắc nhọn, có 2 sọt rác trên
xe gồm sọt rác lâm sàng và sọt rác sinh hoạt (ở tầng dưới)
Đảm bảo quy trình tiêm: 13 tiêu chuẩn
Rửa tay, sát khuẩn tay nhanh trước tiêm: điều dưỡng có thực hiện sát khuẩn tay trước tiêm cho người bệnh
Thực hiện 5 đúng - Nhận định - Giải thích: thực hiện kiểm tra 5 đúng: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng đường tiêm, đúng thời gian; có nhận định người bệnh và giải thích cho người bệnh biết việc điều dưỡng chuẩn bị thực hiện tiêm
Điều dưỡng kiểm tra thuốc: thực hiện kiểm tra thuốc, sát khuẩn ống thuốc, dùng gạc vô khuẩn bẻ ống thuốc
Chuẩn bị rút thuốc: điều dưỡng lựa chọn bơm tiêm thích hợp theo dung tích thuốc, xé vỏ bao bơm tiêm và thay kim lấy thuốc (nếu có)
HUPH
Trang 39Lấy thuốc: Pha thuốc và hút thuốc vào bơm tiêm (nếu có)
Thay kim tiêm: Thay kim tiêm, đẩy không khí ra khỏi bơm tiêm, đặt vào khay
Vô trùng vị trí tiêm: Sát khuẩn vị trí tiêm đúng qui định trước khi tiêm bằng dung dịch sát khuẩn (Cồn 70 độ, cồn Iot 1 %), sát khuẩn vùng tiêm từ trong ra ngoài (ít nhất 2 lần hoặc cho đến khi sạch)
Cầm bơm tiêm, đuổi khí: điều dưỡng thực hiện cầm bơm tiêm, đuổi khí trước khi tiến hành tiêm cho người bệnh
Thực hiện đúng thao tác tiêm: Một tay căng da nơi tiêm, một tay cầm bơm tiêm đâm kim tiêm, thỏa mãn: (1) tiêm bắp là 60 – 90 độ; tiêm tĩnh mạch: đâm kim chếch 30 độ so với mặt da và đẩy kim vào tĩnh mạch (2) Độ sâu thích hợp: Không cắm ngập thân kim tiêm; (3) Rút nhẹ nòng bơm kiểm tra máu
Bơm thuốc: Thực hiện 2 nhanh 1 chậm: (1) tiêm dưới da, tiêm bắp là 1ml/10 giây, (2) tiêm tĩnh mạch: bơm từ từ và theo dõi vị trí tiêm xem có phồng lên không
Rút kim: Một tay điều dưỡng kéo chệch da nơi tiêm, rút kim nhanh Sau đó cho bơm kim tiêm vào hộp an toàn
Phòng chảy máu: Sát khuẩn lại vùng tiêm, dùng bông gòn khô đè lên vùng đã tiêm để đề phòng chảy máu
Đảm bảo nguyên tắc sau tiêm
Hỗ trợ người bệnh: Hướng dẫn người bệnh những điều cần thiết, giúp BN trở lại tư thế thích hợp, thuận tiện
Thu dọn dụng cụ: thu dọn dụng cụ, sát khuẩn tay nhanh sau khi kết thúc tiêm Ghi chép: ghi chép hồ sơ chăm sóc điều dưỡng và sổ thực hiện y lệnh
Đậy vào tháo nắp kim tiêm: Không dùng tay đậy và tháo lắp kim, dùng kìm Kocher đậy lại nắp kim tiêm
HUPH
Trang 40Xử lý chất thải: Cô lập bơm tiêm và kim tiêm ngay sau khi tiêm vào hộp đựng vật sắc nhọn và hộp đựng bơm tiêm sau tiêm
Sự sẵn có của tài liệu TAT: Được xác định khi tại khoa lâm sàng đã có các tài liệu hướng dẫn quy trình TAT theo quy định của Bộ Y tế
Cơ sở vật chất, trang thiết bị: dùng để đảm bảo thực hiện TAT
2.9 Phân tích số liệu
2.9.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng
Số liệu định lượng sau khi làm sạch được nhập vào máy tính với phần mềm Epi Data 3.1 và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0
Thống kê mô tả: Mô tả bằng tần số và tỉ lệ phần trăm đối với các biến số định lượng Cụ thể là:
- Đặc điểm chung của ĐTNC: giới, nhóm tuổi, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, số lần tham gia tập huấn trong năm, khoa đang công tác
- Mũi tiêm đạt an toàn: phân theo loại tiêm và phân theo từng giai đoạn của quy trình
Thống kê phân tích:
- Sử dụng hồi qui logistic đơn biến để xác định mối liên quan giữa các đặc điểm chung của ĐTNC với tỷ lệ đạt thực hành TAT
- Ngưỡng 0,05 được dùng để xác định có ý nghĩa thống kê
- Lượng hóa độ lớn của mối liên quan bằng Odds Ratio (OR) kèm với khoảng