1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hội chứng chuyển hóa và yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại huyện gio linh, tỉnh quảng trị năm 2016

142 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hội chứng chuyển hóa và yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp được quản lý tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2016
Tác giả Nguyễn Thế Hoàng
Người hướng dẫn PGS.TS Lã Ngọc Quang
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (18)
    • 1.1 Tổng quan về Tăng huyết áp (18)
      • 1.1.1 Các khái niệm (18)
      • 1.1.2 Chẩn đoán tăng huyết áp (18)
      • 1.1.3 Phân độ tăng huyết áp[35] (19)
      • 1.1.4 Phân tầng nguy cơ tim mạch dựa vào phân độ tăng huyết áp[35] (20)
    • 1.2 Tổng quan về Hội chứng chuyển hóa (21)
      • 1.2.1 Lịch sữ hình thành (21)
      • 1.2.2 Các định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán (22)
      • 1.2.3 Ý nghĩa các thành tố của hội chứng chuyển hóa (27)
      • 1.2.4 Dịch tễ học hội chứng chuyển hóa (29)
      • 1.2.5 Tình hình HCCH ở bệnh nhân THA (32)
      • 1.2.6 Các yếu tố nguy cơ HCCH (33)
    • 1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu (39)
    • 1.4 Khung lý thuyết (40)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (41)
    • 2.3 Thời gian, địa điểm (41)
    • 2.4 Cỡ mẫu (41)
    • 2.5 Phương pháp chọn mẫu (42)
    • 2.6 Phương pháp thu thập số liệu (43)
      • 2.6.1 Đo lường các chỉ số sinh hóa (43)
      • 2.6.2 Đo lường vòng eo (bụng) (43)
      • 2.6.3 Khảo sát hành vi nguy cơ (44)
      • 2.6.4 Sơ đồ thu thập thông tin (45)
    • 2.7 Biến số nghiên cứu (46)
    • 2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (48)
      • 2.8.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân THA vào nghiên cứu (48)
      • 2.8.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH (48)
      • 2.8.3 Một số khái niệm và tiêu chuẩn chẩn đoán khác (49)
    • 2.9 Phương pháp phân tích số liệu (50)
    • 2.10 Đạo đức nghiên cứu (50)
    • 2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số (51)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (41)
    • 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (0)
    • 3.2 Tiền sữ gia đình mắc các bệnh liên quan đến HCCH (56)
    • 3.3 Thời gian biết bị THA của ĐTNC (56)
    • 3.4 Đặc điểm các yếu tố hành vi nguy cơ của ĐTNC (57)
      • 3.4.1 Uống rượu, bia hiện tại của ĐTNC (0)
      • 3.4.2 Hút thuốc lá (57)
      • 3.4.3 Khẩu phần, thói quen ăn hằng ngày (58)
      • 3.4.4 Hoạt động thể lực (59)
    • 3.5 Đặc điểm các thành tố của HCCH (59)
      • 3.5.1 Vòng bụng (eo) (59)
      • 3.5.2 Triglycerid (61)
      • 3.5.3 HDL-C (63)
      • 3.5.4 Đường huyết lúc đói (65)
    • 3.6 Thực trạng HCCH (theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 2004) (67)
      • 3.6.1 Tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân THA (67)
      • 3.6.2 Trung bình một số chỉ số đặc điểm mẫu và tình hình mắc HCCH (69)
      • 3.6.3 Các dạng phối hợp các thành tố trong HCCH (71)
    • 3.7 Các yếu tố liên quan đến thành tố cấu thành của HCCH (72)
      • 3.7.1 Các yếu tố liên quan đến tăng vòng bụng (eo) (72)
      • 3.7.2 Các yếu tố liên quan đến tăng Triglyceride (73)
      • 3.7.3 Các yếu tố liên quan đến giảm HDL-C (74)
      • 3.7.4 Các yếu tố liên quan đến tăng đường huyết lúc đói (75)
    • 3.8 Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ mắc HCCH (76)
      • 3.8.1 Mối liên quan giữa tỷ lệ mắc HCCH và các yếu tố nhân khẩu (76)
      • 3.8.2 Mối liên quan giữa tỷ lệ mắc HCCH và yếu tố hành vi (79)
      • 3.8.3 Mô hình hồi quy logistics giải thích tình hình mắc HCCH ở bệnh nhân THA 66 Chương 4: BÀN LUẬN (80)
    • 4.1 Đặc điểm về giới, tuổi của ĐTNC (84)
    • 4.2 Đặc điểm các thành tố của HCCH (85)
    • 4.3 Thực trạng HCCH trong nghiên cứu (90)
    • 4.4 Các yếu tố liên quan đến HCCH (97)
  • KẾT LUẬN (104)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (107)
  • PHỤ LỤC (118)

Nội dung

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tiền sữ gia đình mắc các bệnh liên quan đến HCCH

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ có người nhà mắc các bệnh liên quan HCCH

Nghiên cứu chỉ ra rằng hơn 56% bệnh nhân tăng huyết áp (THA) không có người thân cùng huyết thống mắc các bệnh liên quan đến THA Đáng chú ý, 19,7% bệnh nhân không nhận thức được tình trạng của mình, trong khi gần 24,3% bệnh nhân THA có người thân mắc các bệnh liên quan đến THA và hội chứng chuyển hóa (HCCH).

Thời gian biết bị THA của ĐTNC

Bảng 3.5: Thời gian biết mắc bệnh THA chung và theo giới

Nam Nữ Chung n (%) n (%) Tần số (n) Tỷ lệ (%) Dưới 2 năm 30 (55,6) 24 (44,4) 54 18

Từ 2 năm đến dưới 5 năm 63 (52,9) 56 (47,1) 119 39,7

Trong nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp (THA) nhận thức về tình trạng của mình từ 5 năm trở lên chiếm 42,3%, trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân biết mình bị THA từ 2 đến dưới 5 năm là 39,7% Đáng chú ý, chỉ có 18% bệnh nhân nhận thức về tình trạng THA của mình dưới 2 năm.

Đặc điểm các yếu tố hành vi nguy cơ của ĐTNC

3.4.1 Uống rƣợu, bia hiện tại của ĐTNC

Bảng 3.6: Tình trạng uống rƣợu, bia

Không uống 126 (68,1) 59 (31,9) 185 (61,7) Uống trong mức cho phép 19 (26,4) 53 (73,6) 72 (24)

Tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp (THA) không sử dụng rượu bia trong nhóm điều trị nội trú chiếm 61,7%, trong khi chỉ có 14,3% bệnh nhân uống nhiều Đặc biệt, 68,1% bệnh nhân nữ không uống rượu bia, trong khi 95,3% bệnh nhân nam trong nhóm này lại tiêu thụ rượu bia nhiều.

Bảng 3.7: Phân loại tình trạng hút thuốc lá

Tình trạng hút thuốc lá (n = 300)

Không hút thuốc 114 (58,8) 80 (41,2) 194 (64,7) Đã bỏ thuốc 8 (40) 12 (60) 20 (6,7)

Chỉ có 0,7% bệnh nhân tăng huyết áp (THA) hút thuốc lá thường xuyên, và tất cả đều là nam giới Trong số 28% bệnh nhân hút thuốc không thường xuyên, có đến 70,2% là nam Đáng chú ý, trong 64,7% bệnh nhân không hút thuốc, tỷ lệ nữ chiếm ưu thế với 58,8%.

3.4.3 Khẩu phần, thói quen ăn hằng ngày

Bảng 3.8: Khẩu phần, thói quen ăn hằng ngày Loại khẩu phần, thói quen ăn

(n = 300) Tần số (n) Tỷ lệ (%) Ăn rau, củ quả Đủ 25 8,4

Tỷ lệ bệnh nhân thiếu và ít ăn rau củ quả chiếm đến 91,6%, trong đó 64,3% ăn thiếu và 27,3% ăn ít Chỉ có 8,4% bệnh nhân tăng huyết áp (THA) đáp ứng đủ lượng rau củ quả theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Thói quen ăn mặn: Bệnh nhân có thói quen ăn mặn chiếm tỷ lệ 55,7% và không ăn mặn chiếm 44,3%

Theo nghiên cứu, 81,7% bệnh nhân tăng huyết áp (THA) có thói quen ăn dầu, mỡ hợp lý, trong khi chỉ có 18,3% có thói quen ăn không hợp lý.

Bảng 3.9: Mức hoạt động thể lực chung và theo giới Mức hoạt động thể lực

Trong nghiên cứu về bệnh nhân tăng huyết áp (THA), 38,7% có mức hoạt động thể lực mạnh Tỷ lệ hoạt động thể lực từ thấp đến cao tăng dần ở nhóm nam, trong khi giảm dần ở nhóm nữ Đặc biệt, 84,3% đối tượng nghiên cứu có hoạt động thể lực, trong khi 15,7% hầu như không có hoạt động nào đáng kể trong ngày.

Đặc điểm các thành tố của HCCH

Bảng 3.10: Trung bình vòng bụng theo tuổi, giới tính

Trung bình vòng bụng (eo) (cm)

Nam Nữ Chung n TB SD n TB SD n Mean SD

Vòng eo trung bình chung của ĐTNC là 81,87 (cm), nhóm ĐTNC độ tuổi từ

Nhóm tuổi 60 – 69 có vòng eo trung bình cao nhất, đạt 83,3 cm, so với các nhóm tuổi khác Tuy nhiên, sự khác biệt về vòng eo trung bình giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Nhóm nam có trung bình vòng eo cao hơn nhóm nữ (82,76 cm và 81,87 cm)

Theo từng giới và nhóm tuổi, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về trung bình vòng eo giữa các nhóm tuổi ở bệnh nhân nam (p > 0,05) Tuy nhiên, ở nhóm nữ, sự khác biệt này lại có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Bảng 3.11: Tỷ lệ béo bụng (90/80) theo giới và nhóm tuổi

Béo bụng (Tăng vòng eo)

Tỷ lệ tăng vòng eo chung trong ĐTNC đạt 37,7%, với nhóm tuổi 60 – 69 có tỷ lệ cao nhất là 42,2%, trong khi nhóm tuổi 40 – 49 có tỷ lệ thấp nhất là 31,6% Hai nhóm tuổi còn lại có tỷ lệ tương đương nhau, lần lượt là 35,7% và 35,8% Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Trong nhóm bệnh nhân nam, tỷ lệ tăng vòng eo cao nhất là 33,3% ở độ tuổi từ 40 đến 49, trong khi thấp nhất là 17% ở nhóm tuổi từ 70 trở lên Sự khác biệt về tỷ lệ tăng vòng eo giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Trong nhóm bệnh nhân nữ, tỷ lệ tăng vòng eo cao nhất là ở độ tuổi 60 - 69, chiếm 72,5%, trong khi nhóm 40 - 49 tuổi có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 30% Sự khác biệt này giữa các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.12: Trung bình Triglyceride (mmol/L) theo tuổi và giới

Nam Nữ Chung n TB SD n TB SD n Mean SD

Trung bình Triglyceride của bệnh nhân ĐTNC là 1,84 mmol/l, trong đó nhóm tuổi từ 50 - 59 có mức Triglyceride cao nhất với 2,19 mmol/l, trong khi nhóm tuổi từ 70 trở lên có mức thấp nhất là 1,63 mmol/l Sự khác biệt về mức Triglyceride giữa các nhóm tuổi này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

Trung bình Triglyceride trong nhóm bệnh nhân nam là 1,90 mmol/l cao hơn trong nhóm nữ (1,77 mmol/l);

Theo từng giới và nhóm tuổi, bệnh nhân nam trong độ tuổi 50 – 59 có mức Triglyceride trung bình cao nhất là 2,11 mmol/l, trong khi nhóm từ 70 tuổi trở lên có mức thấp nhất là 1,70 mmol/l, và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Đối với bệnh nhân nữ, nhóm tuổi 50 – 59 cũng ghi nhận mức Triglyceride trung bình cao nhất là 2,28 mmol/l, trong khi nhóm từ 70 tuổi có mức thấp nhất là 1,57 mmol/l; tuy nhiên, sự khác biệt này lại có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.13: Tỷ lệ tăng Triglycerid theo giới và tuổi của ĐTNC

Tỷ lệ tăng Triglyceride trong ĐTNC đạt 49,3%, với nhóm tuổi 50 – 59 có tỷ lệ cao nhất là 64,2%, trong khi nhóm tuổi từ 70 trở lên có tỷ lệ thấp nhất là 38,1% Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Trong nghiên cứu về tỷ lệ tăng Triglyceride, bệnh nhân nam trong độ tuổi 50 - 59 có tỷ lệ cao nhất (62,1%), trong khi nhóm từ 70 tuổi trở lên có tỷ lệ thấp nhất (39,6%) Tuy nhiên, không có đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt giữa các nhóm tuổi với p > 0,05 Đối với bệnh nhân nữ, tỷ lệ tăng Triglyceride cũng cao nhất ở nhóm tuổi 50 - 59 (66,7%) và thấp nhất ở nhóm từ 70 tuổi trở lên (37%) Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi ở bệnh nhân nữ cũng không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Bảng 3.14: Trung bình HDL-C (mmol/L) theo tuổi và giới

Nam Nữ Chung n TB SD n TB SD n Mean SD

Trung bình HDL-C của bệnh nhân ĐTNC là 1,09 mmol/l, với mức thấp nhất ở nhóm tuổi 50 – 59 (1,02 mmol/l) và cao nhất ở nhóm từ 70 tuổi trở lên cùng nhóm 40 – 49 tuổi (1,12 mmol/l) Tuy nhiên, sự khác biệt về trung bình HDL-C giữa các nhóm tuổi không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Trung bình HDL-C của nhóm nữ (1,09 mmol/l) cao hơn nhóm nam (1,06 mmol/l), tuy vậy không đủ bằng chứng để kết luận sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p > 0,05

Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi ở cả nhóm nam và nữ đều không có ý nghĩa thống kê, p > 0,05 HUPH

Bảng 3.15: Tỷ lệ giảm HDL-C theo giới, tuổi của ĐTNC

Tỷ lệ giảm HDL-C trong ĐTNC là 69,3%, với tất cả các nhóm tuổi đều có tỷ lệ giảm trên 50% Nhóm tuổi 50 – 59 có tỷ lệ cao nhất là 79,2%, trong khi nhóm 60 – 69 có tỷ lệ thấp nhất là 65,7% Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi (p > 0,05) Ở bệnh nhân nam, tỷ lệ giảm HDL-C cao nhất là 75,9% ở nhóm 50 – 59 tuổi và thấp nhất là 54,8% ở nhóm 60 – 69 tuổi, cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Đối với bệnh nhân nữ, tỷ lệ cao nhất là 90% ở nhóm 40 – 49 tuổi và thấp nhất là 75,3% ở nhóm từ 70 tuổi trở lên, với sự khác biệt giữa các nhóm tuổi cũng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.16: Trung bình đường huyết (mmol/L) theo tuổi và giới

Nhóm tuổi Đường huyết lúc đói (mmol/L)

Nam Nữ Chung n TB SD n TB SD n Mean SD

Trung bình đường huyết lúc đói của người mắc ĐTNC là 4,88 mmol/l, với nhóm tuổi từ 70 trở lên có mức đường huyết cao nhất (5,01 mmol/l) và nhóm 40 – 49 tuổi có mức thấp nhất (4,10 mmol/l), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Đặc biệt, đường huyết lúc đói trung bình ở nữ (5,07 mmol/l) cao hơn so với nam (4,69 mmol/l).

Theo giới và nhóm tuổi, bệnh nhân nam có mức đường huyết lúc đói cao nhất ở nhóm tuổi 60 – 69 (4,89 mmol/l) và thấp nhất ở nhóm 40 – 49 (4,29 mmol/l), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,218 > 0,05) Đối với bệnh nhân nữ, mức đường huyết cao nhất ghi nhận ở nhóm tuổi từ 70 trở lên (5,25 mmol/l) và thấp nhất ở nhóm 40 – 49 (3,94 mmol/l), tuy nhiên, sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.17: Tỷ lệ tăng đường huyết lúc đói theo giới và tuổi

Tăng đường huyết lúc đói (mmol/L)

Tỷ lệ tăng đường huyết lúc đói trong bệnh nhân đái tháo đường không kiểm soát (ĐTNC) là 21%, với nhóm tuổi 40 – 49 có tỷ lệ thấp nhất là 5,3% Nhóm 50 – 59 tuổi có tỷ lệ 22,6%, chỉ cao hơn một chút so với nhóm 60 – 69 tuổi (21,6%) và nhóm từ 70 tuổi trở lên (22,2%) Không có đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi (p > 0,05) Đối với bệnh nhân nam, tỷ lệ tăng đường huyết lúc đói cao nhất là ở nhóm 60 – 69 tuổi (24,2%), trong khi nhóm 40 – 49 tuổi không ghi nhận trường hợp nào tăng đường huyết lúc đói Sự khác biệt về tỷ lệ tăng đường huyết giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê (p).

Tỷ lệ bệnh nhân nữ cao nhất ở nhóm tuổi 50 - 59 với 33,3%, trong khi thấp nhất ở nhóm 40 - 49 với 10% Sự khác biệt giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Thực trạng HCCH (theo tiêu chuẩn NCEP ATP III 2004)

3.6.1 Tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân THA

Bảng 3.18: Tỷ lệ mắc HCCH chung và theo giới

Hội chứng chuyển hóa p, χ 2 , OR

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ mắc HCCH trong nghiên cứu

Tỷ lệ mắc HCCH chung trong ĐTNC là 62%, nhóm nam (51,6%) thấp hơn nhóm nữ (72,8%) với tỷ suất chênh OR = 2,5 (1,52 – 4,06) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

Trong số 186 bệnh nhân THA mắc HCCH thì nam giới chiếm 42,5% và nữ giới là 57,5%

Mắc HCCH Không mắc HCCH Nam

Biểu đồ 3.5: Phân bố tỷ lệ mắc HCCH trong các nhóm tuổi

Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở người trưởng thành (ĐTNC) vượt quá 50% ở tất cả các nhóm tuổi Đặc biệt, nhóm tuổi từ 50 đến 59 tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất, đạt 75,5%, trong khi nhóm từ 70 tuổi trở lên có tỷ lệ thấp nhất là 53,2%.

Bảng 3.19: Phân bố tỷ lệ mắc HCCH và thời gian biết THA

Thời gian biết THA (n = 300) Hội chứng chuyển hóa Cộng n (%)

Từ 2 năm đến dưới 5 năm 71 (59,7) 48 (40,3) 119 (39,7)

Có 42,3% bệnh nhân biết mình bị THA từ 5 năm trở lên, 39,7% từ 2 đến dưới

Bệnh nhân THA trong nhóm biết mình bị THA từ 5 năm trở lên có tỷ lệ mắc

Tỷ lệ mắc HCCH cao nhất đạt 61,6%, trong khi tỷ lệ thấp nhất trong nhóm dưới 2 năm là 57,4% Sự khác biệt giữa các nhóm thời gian biết THA không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Không mắc HCCH Mắc HCCH

3.6.2 Trung bình một số chỉ số đặc điểm mẫu và tình hình mắc HCCH Bảng 3.20: Trung bình một số chỉ số đặc điểm mẫu và tình trạng HCCH Chỉ số

Số năm biết THA Có 4,9 ± 3,6 p > 0,05

Thu nhập hộ GĐ Có 4.431.351 ± 3.538.678 p < 0,05 Không 3.297.699 ± 3.057.874

Lượng rau quả ăn hằng ngày

Số lượng rượu bia/tháng Có 10,3 ± 9,8 p > 0,05

Tuổi trung bình của của ĐTNC mắc HCCH là 65,7 ± 11,2 tuổi thấp hơn đối tượng không mắc HCCH là 68,8 ± 10,4 tuổi; Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p

Số năm biết THA trung bình của ĐTNC mắc HCCH là 4,9 ± 3,6 tuổi, đối tượng không mắc HCCH là 4,7 ± 4,1 năm; Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê p > 0,05

Thu nhập trung bình hộ gia đình ở nhóm mắc HCCH là 4.431.351 ± 3.538.678 (đồng) cao hơn nhóm không mắc HCCH với 3.297.699 ± 3.057.874 (đồng) và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05

Người hút thuốc mắc hội chứng COPD có thời gian hút thuốc trung bình là 42,9 ± 14,4 năm, thấp hơn so với nhóm không mắc COPD là 44,8 ± 12,5 năm Tuy nhiên, sự khác biệt về số năm hút thuốc giữa hai nhóm này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Trung bình lượng rau quả ăn hằng ngày ở nhóm mắc HCCH cao hơn nhóm không mắc HCCH và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05

Số lượng rượu bia trung bình hàng tháng ở nhóm mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) là 10,29 cốc, cao hơn so với nhóm không mắc HCCH với 9,00 cốc Tuy nhiên, không có đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.21: Trung bình các thành tố và tình trạng mắc HCCH

Trung bình vòng bụng của bệnh nhân THA mắc HCCH là 84,12 ± 9,59 (cm) cao hơn bệnh nhân không mắc HCCH là 78,18 ± 8,31 (cm); Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p < 0,001

Trong nhóm mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH), mức đường huyết lúc đói trung bình là 5,14 ± 2,26 mmol/l, triglyceride trung bình là 2,15 ± 1,13 mmol/l, và HDL-C trung bình là 1,33 ± 0,76 mmol/l So với nhóm không mắc HCCH, cả mức đường huyết lúc đói và triglyceride đều cao hơn, trong khi HDL-C lại thấp hơn Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

3.6.3 Các dạng phối hợp các thành tố trong HCCH

Bảng 3.22: Tỷ lệ từng dạng phối hợp các thành tố trong HCCH

Thành tố cấu thành Tần số

THA  TG HDL-C 63 34 THA  TG  ĐH 4 2,2

THA Béo bụng  TG HDL-C 27 14,5

THA Béo bụng  TG  ĐH 3 1,6

THA Béo bụng HDL-C  ĐH 14 7,5

5 thành tố THA Béo bụng  TG HDL-C  ĐH 9 4,8

Trong số bệnh nhân tăng huyết áp (THA) mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH), dạng ba thành tố gồm THA, tăng triglycerid (TG) và giảm HDL-C chiếm tỷ lệ cao nhất với 34% Tiếp theo là dạng THA, béo bụng và giảm HDL-C với tỷ lệ 16,7% Dạng bốn thành tố gồm THA, béo bụng, tăng TG và tăng đường huyết (ĐH) có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 1,6%.

3.6.4 Sự phân bố theo số lƣợng các thành tố cấu thành HCCH

Bảng 3.23: Tỷ lệ sự phân bố theo số lƣợng các thành tố trong HCCH theo giới

Số lƣợng thành tố trong HCCH

Trong nghiên cứu về bệnh nhân tăng huyết áp (THA), tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) dạng 3 thành tố là cao nhất, đạt 66,7% Tiếp theo là dạng 4 thành tố với tỷ lệ 28,5%, trong khi dạng 5 thành tố chỉ chiếm 4,8%.

Tỷ lệ bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở nhóm nữ cao hơn so với nhóm nam, đặc biệt là ở nhóm mắc HCCH với 5 thành tố, trong đó tỷ lệ nữ chiếm 88,9% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p.

Các yếu tố liên quan đến thành tố cấu thành của HCCH

3.7.1 Các yếu tố liên quan đến tăng vòng bụng (eo)

Bảng 3.24: Mối liên quan giữa hành vi nguy cơ và tỷ lệ tăng vòng bụng (eo)

Có uống 115 (38,3) 38 33 77 67 OR = 0,7 (0,44 – 1,18); χ2 = 1,698; p > 0,05; Không uống 185 (61,7) 75 40,5 110 59,5

Có hút 88 (36,5) 34 32,1 72 67,9 OR = 0,7 (0,42 – 1,13); χ2 = 2,183; p > 0,05 Không hút 153 (63,5) 79 40,7 115 59,3

Có HĐTL 253 (84,3) 94 37,2 159 62,8 Ăn rau quả Ít 82 (27,2) 23 28 59 72 χ2 = 8,659; p < 0,05

Không hợp lý 55 (18,3) 12 21,8 43 78,2 OR = 0,4 (0,2 – 0,79); χ2 = 7,205; p < 0,05 Ăn hợp lý 245 (81,7) 101 41,2 144 58,8

Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ tăng vòng bụng với thói quen uống rượu bia, hút thuốc lá và mức độ hoạt động thể lực của ĐTNC.

Có một mối liên hệ thống kê quan trọng giữa tỷ lệ tăng vòng bụng và thói quen ăn mặn, ăn dầu mỡ cũng như ăn rau quả (p < 0,05).

3.7.2 Các yếu tố liên quan đến tăng Triglyceride

Bảng 3.25: Mối liên quan giữa yếu tố hành vi và tỷ lệ tăng Triglycerid

Có uống 115 (38,3) 70 60,9 15 39,1 OR = 2,1 (1,33 – 3,43); χ2 = 9,929; p < 0,05 Không uống 185 (61,7) 78 42,2 107 57,8

Có hút 88 (36,5) 52 49,1 54 50,9 OR = 1,0 (0,61 – 1,58); χ2 = 0,005; p > 0,05 Không hút 153 (63,5) 96 49,5 98 50,5

Có HĐTL 253 (84,3) 130 51,4 123 48,6 Ăn rau quả Ít 82 (27,2) 31 37,8 51 62,2 χ2 = 9,527; p < 0,05

Có 167 (55,7) 86 51,5 81 48,5 OR = 1,2 (0,77 – 1,92); χ2 = 0,706; p > 0,05 Không 133 (44,3) 62 46,6 71 53,4 Ăn dầu mỡ

Không hợp lý 55 (18,3) 32 58,2 23 41,8 OR = 1,5 (0,86 – 2,80); χ2 = 2,110; p > 0,05 Ăn hợp lý 245 (81,7) 116 47,3 129 52,7

Tỷ lệ bệnh nhân tăng huyết áp (THA) có mức triglyceride cao trong nhóm tiêu thụ rượu bia gấp 2,1 lần so với nhóm không uống rượu bia, cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê (χ2 = 9,934; p < 0,05).

Tỷ lệ tăng Triglyceride trong nhóm ăn rau, quả thấp nhất so với nhóm ăn thiếu và ít rau quả, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thói quen hút thuốc lá, mức độ hoạt động thể lực, thói quen ăn mặn, ăn dầu mỡ và tỷ lệ tăng triglyceride của ĐTNC (p > 0,05).

3.7.3 Các yếu tố liên quan đến giảm HDL-C

Bảng 3.26: Mối liên quan giữa yếu tố hành vi và tỷ lệ giảm HDL-C

Có uống 115 (38,3) 71 61,7 44 38,3 OR = 0,6 (0,34 – 0,93); χ2 = 5,058; p < 0,05 Không uống 185 (61,7) 137 74,1 48 25,9

Có hút 88 (36,5) 69 65,1 37 34,9 OR = 0,7 (0,44 – 1,23); χ2 = 1,385; p > 0,05 Không hút 153 (63,5) 139 71,6 55 28,4

Có HĐTL 253 (84,3) 167 66 86 34 Ăn rau quả Ít 82 (27,2) 56 68,3 26 31,7 χ2 = 0,493;

Có 167 (55,7) 120 71,9 47 28,1 OR = 1,3 (0,8 - 2,14); χ2 = 1,128; p > 0,05 Không 133 (44,3) 88 66,2 45 33,8 Ăn dầu mỡ

Không hợp lý 55 (18,3) 31 56,4 24 43,6 OR = 0,5 (0,27 – 0,91); χ2 = 5,328; p < 0,05 Ăn hợp lý 245 (81,7) 177 72,2 68 27,8

Nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ giảm HDL-C với thói quen uống rượu bia, mức độ hoạt động thể lực và thói quen ăn dầu mỡ của đối tượng nghiên cứu (p < 0,05) Đặc biệt, nhóm bệnh nhân tăng huyết áp không có hoạt động thể lực có nguy cơ cao hơn trong việc giảm HDL-C.

C cao gấp 3,5 lần so với nhóm có hoạt động thể lực

Không có đủ bằng chứng để xác định mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ giảm HDL-C và thói quen hút thuốc, ăn mặn cũng như tiêu thụ rau quả (p > 0,05).

3.7.4 Các yếu tố liên quan đến tăng đường huyết lúc đói

Bảng 3.27: Mối liên quan giữa yếu tố hành vi và tỷ lệ tăng đường huyết lúc đói

Tăng đường huyết lúc đói

Có uống 115 (38,3) 28 24,3 87 75,7 OR = 1,4 (0,79 – 2,42); χ2 = 1,260; p > 0,05 Không uống 185 (61,7) 35 18,9 150 81,1

Có hút 88 (36,5) 23 21,7 83 78,3 OR = 1,1 (0,60 – 1,90); χ2 = 0,048; p > 0,05 Không hút 153 (63,5) 40 20,6 154 79,4

HUPH Ăn rau quả Ít 82 (27,2) 14 17,1 68 82,9 χ2 = 2,592; p > 0,05

Có 167 (55,7) 30 18 137 82 OR = 0,7 (0,38 – 1,16); χ2 = 2,093; p > 0,05 Không 133 (44,3) 33 24,8 100 75,2 Ăn dầu mỡ

Không hợp lý 55 (18,3) 10 18,2 45 81,8 OR = 0,8 (0,38 – 1,70); χ2 = 0,322; p > 0,05 Ăn hợp lý 245 (81,7) 53 21,6 192 78,4

Không tìm thấy mối liên quan giữa tỷ lệ tăng đường huyết lúc đói với yếu tố hành vi nguy cơ của ĐTNC (p > 0,05).

Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ mắc HCCH

3.8.1 Mối liên quan giữa tỷ lệ mắc HCCH và các yếu tố nhân khẩu

Bảng 3.28: Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu và tỷ lệ mắc HCCH

Nhóm tương đối tỉnh tại

Trung bình 84 (28) 55 65,5 29 34,5 0,6 0,33- 1,06 > 0,05 Trung bình khá 59 (19,7) 40 67,8 19 32,2 0,5 0,28 - 1,03 > 0,05 Khá trở lên 38 (12,7) 28 73,7 10 26,3 0,4 0,18 - 0,90 < 0,05 Phân vùng

Chưa từng lập gia đình, ly dị, ly thân

HUPH đình hoặc sống chung

Tiền sử gia đình mắc các bệnh liên quan

 Giới: Bệnh nhân nữ có tỷ lệ mắc HCCH (72,8%) cao hơn bệnh nhân nam

(51,6%) với OR = 2,5 (1,55 – 4,06) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p < 0,01

Bệnh nhân tăng huyết áp (THA) dưới 59 tuổi có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) cao hơn so với bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Khi so sánh tỷ lệ mắc HCCH ở các nhóm tuổi so với nhóm nền 40 - 49 thì tỷ suất chênh OR cả 3 nhóm đều không có ý nghĩa thống kê p > 0,05

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê giữa tỷ lệ mắc HCCH và các nhóm nghề nghiệp khác nhau với p < 0,05 Cụ thể, tỷ lệ mắc HCCH trong nhóm nghề nghiệp có tính chất tỉnh tại (nhóm nền) thấp hơn 0,4 lần so với nhóm nghề nghiệp có tính chất tương đối tỉnh tại, với ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở đối tượng nghiên cứu (p > 0,05) Tuy nhiên, tỷ lệ mắc HCCH trong nhóm bệnh nhân tăng huyết áp (THA) không biết chữ cao gấp 2,1 lần so với nhóm có trình độ học vấn tiểu học, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

 Thu nhập: Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ mắc

Tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm thu nhập thấp nhỏ hơn 0,4 so với nhóm thu nhập cao, với giá trị thống kê là χ2 = 7,619 và p > 0,05.

HUPH lần so với nhóm thu nhập khá trở lên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), còn các nhóm khác sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

 Phân vùng địa lý: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ mắc

HCCH có mối liên hệ với phân vùng địa lý của ĐTNC, với p < 0,01 So với nhóm ở vùng biển (làm nền), tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân THA tại đồng bằng cao gấp 2,8 lần, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Tuy nhiên, các nhóm khác không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.

Tình trạng hôn nhân không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ mắc hội chứng chấn thương tâm lý (HCCH) ở đối tượng nghiên cứu, với giá trị p > 0,05 Các nhóm tình trạng hôn nhân như chưa từng lập gia đình, ly dị và ly thân cũng không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ mắc HCCH, với p > 0,05.

Tiền sử gia đình có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở bệnh nhân tăng huyết áp (THA) Cụ thể, bệnh nhân có người nhà mắc các bệnh liên quan đến THA có tỷ lệ mắc HCCH cao nhất, lên tới 74%, so với các nhóm khác Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê có ý nghĩa giữa tỷ lệ mắc HCCH và tiền sử gia đình mắc các bệnh liên quan đến THA (p < 0,05) Đặc biệt, tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm có người nhà mắc các bệnh này cao gấp 2 lần so với nhóm không có, với tỷ suất chênh OR = 2 (1,10 – 3,63), p < 0,05.

3.8.2 Mối liên quan giữa tỷ lệ mắc HCCH và yếu tố hành vi

Bảng 3.29: Mối liên quan giữa yếu tố hành vi và tỷ lệ mắc HCCH

Có HĐTL 253 (84,3) 155 61,3 98 38,7 Ăn rau quả Ít 82 (27,2) 40 48,8 42 51,2 - - -

Không có mối liên hệ thống kê đáng kể giữa tỷ lệ mắc bệnh HCCH và các yếu tố như thói quen uống rượu bia, hút thuốc lá, mức độ hoạt động thể lực, cũng như thói quen ăn mặn và ăn dầu mỡ của ĐTNC (p > 0,05).

Có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ mắc HCCH và mức độ ăn rau củ quả của ĐTNC (χ2 = 0,673; p < 0,05)

Nhóm ĐTNC tiêu thụ ít rau, củ quả có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) thấp hơn 0,4 lần so với nhóm ăn đủ rau củ quả (p < 0,05) Đồng thời, nhóm ăn ít rau, củ quả cũng có tỷ lệ mắc HCCH thấp hơn 0,5 lần so với nhóm thiếu rau, củ quả, nhưng không đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

3.8.3 Mô hình hồi quy logistics giải thích tình hình mắc HCCH ở bệnh nhân THA

Biến đầu ra (biến phụ thuộc) là mắc HCCH: có và không

Mô hình nghiên cứu sử dụng 13 biến độc lập, bao gồm giới tính (2 nhóm), nhóm tuổi (4 nhóm), nhóm nghề nghiệp (3 nhóm), trình độ học vấn (4 nhóm), phân vùng địa lý (4 nhóm) và phân nhóm thu nhập, được xác định thông qua phương pháp backward stepwise.

(4 nhóm), phân nhóm tình trạng hôn nhân (3 nhóm), phân nhóm thói quen hút thuốc

(2 nhóm), uống rượu bia (2 nhóm), phân nhóm lượng rau quả (3 nhóm), phân nhóm

HUPH ăn mặn (2 nhóm), phân nhóm thói quen ăn chất béo (2 nhóm), phân nhóm mức độ hoạt động thể lực (2 nhóm) Mô hình giải thích có dạng như sau:

Bảng 3.30: Mô hình hồi quy logistics mối tương quan giữa tình trạng mắc

HCCH và các yếu tố liên quan

Trung bình -0,408 0,334 0,7 0,34 1,28 > 0,05 Trung bình khá -0,474 0,389 0,6 0,29 1,33 > 0,05 Khá trở lên -0,516 0,485 0,6 0,23 1,54 > 0,05

Chưa lập gia đình, li dị, ly thân (*) - - 1 - - > 0,05

Lập gia đình, sống chung

Không hút thuốc -0,343 0,289 0,7 0,40 1,25 > 0,05 Ăn rau quả Ăn ít (*) - - 1 - - < 0,05 Ăn thiếu -0,765 0,539 0,5 0,16 1,34 > 0,05 Ăn đủ -0,761 0,312 0,5 0,25 0,86 < 0,05 Ăn chất béo Ăn không hợp lý

(*) - - 1 - - > 0,05 Ăn hợp lý -0,167 0,362 0,8 0,42 1,72 > 0,05 Ăn mặn Ăn mặn (*) - - 1 - - > 0,05

 Có mắc HCCH=1/Không mắc HCCH = 2

 Giả định không có tính khuynh hướng của OR trong các nhóm của biến độc lập;

 (*): Nhóm nền (nhóm so sánh);

 Hosmer and Lemeshow Test: χ2 = 15,138; df = 8; p > 0,05

Mô hình hồi quy logistics cho thấy rằng giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn và mức độ tiêu thụ rau quả có mối liên hệ với tình trạng mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) với giá trị p < 0,05 Tuy nhiên, yếu tố phân vùng địa lý không được đưa vào mô hình cuối cùng.

Tỷ lệ mắc hội chứng chấn thương (HCCH) ở nam giới thấp hơn 0,3 lần so với nữ giới Đặc biệt, nhóm bệnh nhân không biết chữ có tỷ lệ mắc HCCH cao gấp 3,7 lần so với nhóm có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên.

Bệnh nhân tiêu thụ ít rau củ quả hàng ngày theo khuyến cáo của WHO có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa thấp hơn 0,5 lần so với những bệnh nhân ăn đủ lượng rau củ quả.

Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa tình trạng hút thuốc, uống rượu bia và tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) không có ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy logistic đa biến Tuy nhiên, bệnh nhân hút thuốc có tỷ lệ mắc HCCH thấp hơn so với những người không hút thuốc, trong khi bệnh nhân uống rượu bia có tỷ lệ mắc HCCH cao gấp 1,6 lần so với nhóm không uống Bệnh nhân có nghề nghiệp tỉnh tại có tỷ lệ mắc HCCH cao gấp 1,4 lần so với nhóm có tính chất nghề nghiệp hoạt động Ngoài ra, nhóm không hoạt động thể lực có tỷ lệ mắc HCCH cao gấp 1,3 lần so với nhóm có hoạt động thể lực hàng ngày.

Nghiên cứu trên 300 bệnh nhân tăng huyết áp (THA) tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị đã cho thấy một số kết luận quan trọng về tình hình quản lý bệnh nhân trong cộng đồng.

Đặc điểm về giới, tuổi của ĐTNC

Tỷ lệ nam và nữ trong nghiên cứu của chúng tôi là 51% nam giới và 49% nữ giới, với tỷ lệ nam/nữ là 1,04, tương tự như nghiên cứu của Trần Thừa Nguyên và Trần Hữu Dàng (1,03) và nghiên cứu của Charles U Osuji và Emeka G Omejua (1,02) Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Hứa Thị Ngân và Văn Hữu Tài (1,35) Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là 66,72 ± 11,03 tuổi, tương đương với nghiên cứu của Đào Duy An (66 ± 8,1 tuổi) và Võ Thị Hà Hoa (65,2 ± 10,2 tuổi) Tuổi trung bình của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Hứa Thị Ngân (61,2 ± 8,1 tuổi) và Yuko Ohta (64 ± 11 tuổi), cũng như nghiên cứu của Panita Limpawattana (58,5 ± 10,16 tuổi).

HUPH cứu của Charles U.Osuji và Emeka G.Omejua tại Đông Nam Nigeria có độ tuổi trung bình 58,2 ± 12,5 tuổi [87]

Tuổi trung bình của bệnh nhân nữ trong nghiên cứu của chúng tôi là là 67,96 ±

Nghiên cứu cho thấy rằng ở độ tuổi 11, nhóm nam có tuổi trung bình là 65,52 ± 10,9, trong khi nhóm nữ là 65 ± 10 tuổi, cao hơn nhóm nam 63 ± 12 tuổi theo nghiên cứu của Yuko Ohta tại Nhật Bản Tương tự, nghiên cứu của Charles U Osuji và Emeka G Omejua tại Đông Nam Nigeria cũng chỉ ra rằng nam giới có tuổi trung bình cao hơn nữ giới, với 59,4 ± 13,5 tuổi so với 57,6 ± 11,2 tuổi.

Trong nghiên cứu với 300 bệnh nhân tăng huyết áp (THA), nhóm tuổi từ 70 trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất với 126 người, tương đương 42% Nhóm tuổi từ 60 – 69 chiếm 34%, trong khi nhóm từ 50 – 59 chiếm 17,7% và nhóm từ 40 – 49 chỉ chiếm 6,3% Tỷ lệ ĐTNC tăng dần theo nhóm tuổi, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Điều này phù hợp với hiểu biết về THA, khi tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng tăng Tại huyện Gio Linh, người cao tuổi thường quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe tim mạch, dẫn đến tỷ lệ phát hiện THA cao hơn trong các đợt khám sàng lọc Nghiên cứu của Hứa Thị Ngân và Văn Hữu Tài cho thấy nhóm tuổi 60 – 69 chiếm 41,7%, trong khi nhóm dưới 50 tuổi chỉ chiếm 8,3% Tương tự, nghiên cứu của Trần Thừa Nguyên và Trần Hữu Dàng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba, Quảng Bình cũng cho thấy nhóm tuổi 60 – 69 chiếm 37,7%, tiếp theo là nhóm từ 70 tuổi trở lên với 35,1%.

Đặc điểm các thành tố của HCCH

Vòng bụng trung bình của đối tượng nghiên cứu là 81,87 ± 9,56 cm, trong đó nhóm nam có vòng bụng trung bình là 82,76 ± 9,51 cm, thấp hơn nhóm nữ với 80,94 ± 9,56 cm (p < 0,05) Kết quả cho thấy vòng bụng trung bình của bệnh nhân tăng huyết áp trong nghiên cứu này nhỏ hơn so với nghiên cứu của Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng tại bệnh viện đa khoa Phú Thọ, với giá trị 82,9 ± 7,7 cm.

Nghiên cứu của Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng cho thấy chiều cao trung bình của nhóm nam là 84,5 ± 8,3 cm, cao hơn nhóm nữ với chiều cao trung bình 81,3 ± 6,9 cm, với p < 0,001 Tương tự, nghiên cứu của Panita Limpawattana và cộng sự tại Thái Lan (2008) cũng ghi nhận nhóm nam có chiều cao trung bình 94,8 ± 0,8 cm, vượt trội hơn nhóm nữ với chiều cao trung bình 92,9 ± 5,6 cm.

Vòng eo trung bình ở nhóm mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) cao hơn so với nhóm không mắc HCCH, với giá trị lần lượt là 84,124 ± 9,5966 cm và 78,182 ± 8,306 cm (p < 0,05) So với nghiên cứu của Trần Thừa Nguyên và Trần Hữu Dàng, vòng bụng trung bình trong nhóm mắc HCCH là 79,69 ± 9,78 cm và nhóm không mắc HCCH là 73,6 ± 11,6 cm, cho thấy vòng bụng trung bình trong nhóm mắc HCCH ở nghiên cứu này cao hơn Tuy nhiên, so với kết quả nghiên cứu của Panita Limpawattana và cộng sự, vòng bụng trung bình trong nhóm mắc HCCH là 95,62 ± 7,67 cm và nhóm không mắc HCCH là 91,98 ± 8,84 cm, thì lại thấp hơn.

Tỷ lệ tăng vòng bụng ở ĐTNC là 37,7%, trong đó nam là 21,6% và nữ là 54,4% (p < 0,05) So với các nghiên cứu trước, tỷ lệ này thấp hơn nhiều, cụ thể là 51,9% trong nghiên cứu của Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng, với nam là 33,9% và nữ là 66,1% (p < 0,001) Ngoài ra, tỷ lệ tăng vòng bụng trong nghiên cứu này cũng thấp hơn so với 53,6% của Trần Văn Huy và Huỳnh Viết Khang, 45,8% của Hứa Thị Ngân và Văn Hữu Tài, và 51,7% trong nghiên cứu của Shasha Yu và cộng sự tại Trung Quốc (2013).

Tỷ lệ này cao hơn kết quả nghiên cứu của Võ Thị Hà Hoa và cộng sự là 32%[16]

Trung bình Triglyceride chung của ĐTNC là 1,8 ± 1,09 (mmol/l), với nhóm nam có mức 1,9 ± 1,11 (mmol/l) cao hơn nhóm nữ là 1,77 ± 1,06 (mmol/l) Mức Triglyceride cao nhất được ghi nhận trong nhóm tuổi từ 50 – 59 So với nghiên cứu của Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng, trung bình Triglyceride chung của ĐTNC ở cả nam và nữ cũng cho thấy sự tương đồng.

Nghiên cứu của HUPH cho thấy mức trung bình Triglyceride là 2,18 ± 1,06 (mmol/l), thấp hơn so với kết quả của Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng (2,16 ± 1,13 cho nam và 2,19 ± 0,98 cho nữ) [41] Mức trung bình này cũng thấp hơn so với nghiên cứu của Võ Thị Hà Hoa (2,56 ± 1,30) [16] và Trần Thừa Nguyên cùng Trần Hữu Dàng (2,27 ± 1,67) [9] Tuy nhiên, kết quả này lại cao hơn so với nghiên cứu của Charles U.Osuji và Emeka G.Omejua trên bệnh nhân THA ở Đông Nam Nigeria (1,23 ± 0,32) [87].

Trung bình Triglyceride trong nhóm mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) là 2,153 ± 1,135 (mmol/l), cao hơn so với nhóm không mắc HCCH là 1,326 ± 0,764 (mmol/l) với p < 0,001 Nghiên cứu của Trần Thừa Nguyên và Trần Hữu Dàng cho thấy kết quả cao hơn, với Trung bình Triglyceride trong nhóm mắc HCCH là 2,87 ± 2,12 (mmol/l) và nhóm không mắc HCCH là 1,42 ± 0,91 (mmol/l), với p < 0,01.

Tỷ lệ tăng Triglyceride (≥ 1,7 mmol/l) ở ĐTNC là 49,3%, với nhóm nam đạt 51,6% và nhóm nữ là 46,9% So với các nghiên cứu trước, tỷ lệ này thấp hơn Hứa Thị Ngân và Văn Hữu Tài (56,7%), Trần Văn Huy và Huỳnh Viết Khang (69,1%), và Võ Thị Hà Hoa cùng cộng sự (82,3%) Tuy nhiên, tỷ lệ này lại cao hơn so với nghiên cứu của Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng (36,4%), trong đó nhóm nam là 35,5% và nữ là 37,4%.

Nghiên cứu của Panita Limpawattana và cộng sự tại Thái Lan cho thấy tỷ lệ là 24%, trong khi nghiên cứu của Charles U Osuji và Emeka G Omejua tại Đông Nam Nigeria ghi nhận tỷ lệ 8,8%, với nhóm nam cao hơn nhóm nữ (11,9% so với 5,6%).

Tỷ lệ tăng Triglyceride trong nghiên cứu của Yu và cộng sự tại Trung Quốc là 39,6% [105], tương đương với kết quả của Giray Kabakci và cộng sự với tỷ lệ 48,6% [62] Nghiên cứu của Barrios tại Tây Ban Nha ghi nhận tỷ lệ 49,8%, trong đó nhóm nam đạt 56,7% cao hơn nhóm nữ 43,4% [97] Tại Kuwait, nghiên cứu của Sorkhou và cộng sự cho thấy tỷ lệ 44,8%, với nhóm nam là 45,7% thấp hơn nhóm nữ 43,8% [58].

Trung bình HDL-C chung của ĐTNC là 1,09 ± 0,42 (mmol/l), trong nhóm nam là 1,06 ± 0,42 (mmol/l), nhóm nữ là 1,11 ± 0,43 (mmol/l); Khác với trung bình

Trong nhóm tuổi 50 – 59, mức triglyceride cao nhất đi kèm với mức HDL-C trung bình thấp nhất, đạt 1,02 ± 0,34 (mmol/l) Cụ thể, ở nam giới trong độ tuổi này, HDL-C trung bình là 0,95 ± 0,29 (mmol/l), trong khi ở nữ giới, mức thấp nhất được ghi nhận là 1,03 ± 0,37 (mmol/l) ở nhóm tuổi 60 – 69 So với các nghiên cứu khác về bệnh nhân tăng huyết áp, HDL-C trung bình trong nghiên cứu này thấp hơn đáng kể, cụ thể là 1,22 ± 0,37 (mmol/l) của Võ Thị Hà Hoa và cộng sự, 1,2 ± 0,31 (mmol/l) của Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng, 1,17 ± 0,44 (mmol/l) của Trần Thừa Nguyên và Trần Hữu Dàng, và 1,25 ± 0,27 (mmol/l) của Charles U Osuji và Emeka G Omejua.

Nghiên cứu cho thấy trung bình HDL-C ở nam giới thấp hơn nữ giới, phù hợp với quy luật chung và lý thuyết về HDL-C, như kết quả của Charles U Osuji và Emeka G Omejua với nhóm nam là 1,20 ± 0,26 (mmol/l) và nhóm nữ là 1,3 ± 0,27 (mmol/l) Tuy nhiên, kết quả của Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng lại cho thấy HDL-C trung bình ở nam giới là 1,23 ± 0,31 (mmol/l), cao hơn so với nữ giới là 1,18 ± 0,30 (mmol/l).

Trung bình HDL-C ở nhóm mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) là 0,957 ± 0,314 (mmol/l), thấp hơn so với nhóm không mắc HCCH với giá trị 1,294 ± 0,493 (mmol/l) Kết quả này cũng cho thấy mức HDL-C trong nhóm mắc HCCH thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thừa Nguyên và Trần Hữu Dàng, nơi ghi nhận giá trị là 1,1 ± 0,47 (mmol/l) [9].

Tỷ lệ giảm HDL-C ở ĐTNC là 69,3%, với nam giới là 59,5% và nữ giới là 79,6% (p < 0,001) Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây, như Hứa Thị Ngân và Văn Hữu Tài (16,7%), Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng (17,6%), Barrios tại Tây Ban Nha (29,5%), Charles U Osuji và Emeka G Omejua ở Đông Nam Nigeria (38,8%), và Giray Kabakci ở Thổ Nhĩ Kỳ (45%).

Nghiên cứu của HUPH và cộng sự tại Trung Quốc cho thấy tỷ lệ giảm HDL-C là 29,3% [105] Trong khi đó, nghiên cứu của Panita Limpawattana và cộng sự tại Thái Lan chỉ ghi nhận tỷ lệ giảm HDL-C ở bệnh nhân THA là 6% [77] Tuy nhiên, tỷ lệ giảm HDL-C trong nghiên cứu này lại tương đương với kết quả của Trần Văn Huy và Huỳnh Viết Khang là 71,1% [18], Võ Thị Hà Hoa và cộng sự là 67,4% [16], và Sorkhou cùng cộng sự tại Kuwait là 63,2% [58].

Thực trạng HCCH trong nghiên cứu

4.3.1 Tỷ lệ mắc HCCH chung và theo giới

Nghiên cứu trên 300 bệnh nhân tăng huyết áp tại huyện Gio Linh, Quảng Trị cho thấy 62% đối tượng mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) theo tiêu chuẩn NCEP ATPIII-2004 hiệu chỉnh 2005 Trong đó, tỷ lệ mắc ở nam giới là 51,6%, thấp hơn so với nữ giới là 72,8% (p < 0,001).

Khi so sánh tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) chung và theo giới ở bệnh nhân tăng huyết áp (THA) dựa trên các nghiên cứu có tiêu chuẩn chẩn đoán tương đồng, cụ thể là vòng eo hiệu chỉnh theo từng vùng quốc gia và chủng tộc theo tiêu chí của IDF, kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt.

Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở bệnh nhân tăng huyết áp (THA) cao hơn so với nghiên cứu của Trần Quang Bình năm 2011 tại tỉnh Hà Nam, với tỷ lệ chung là 44,2%, trong đó nam giới chiếm 34,9% và nữ giới là 51,7% (p < 0,001) Ngoài ra, nghiên cứu của Trần Văn Huy và Huỳnh Viết Khang năm 2004 tại Nha Trang – Khánh Hòa cũng ghi nhận tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân THA trong cộng đồng.

Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) tại HUPH là 47,5%, trong đó tỷ lệ ở nam giới (33%) thấp hơn so với nữ giới (67%) với p < 0,001 Nghiên cứu của Lê Quốc Tuấn và Trịnh Xuân Tráng trên 341 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát tại bệnh viện đa khoa khu vực Phú Thọ năm 2012 cho thấy tỷ lệ mắc HCCH là 49,9%, với nam giới (34,7%) cũng thấp hơn nữ giới (56,7%) và p < 0,001.

Nghiên cứu của Võ Thị Hà Hoa và cộng sự trên 372 bệnh nhân nữ bị tăng huyết áp (THA) trên 45 tuổi tại bệnh viện C Đà Nẵng trong giai đoạn 2008 - 2010 cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) là 48,7% Tương tự, nghiên cứu của Shasha Yu và cộng sự ở người trưởng thành mắc THA tại Trung Quốc trong giai đoạn 2012 - 2013 ghi nhận tỷ lệ mắc HCCH là 43,1%, trong đó tỷ lệ ở nam giới là 29,2% và ở nữ giới là 56,4%.

Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ thành công thấp hơn so với nghiên cứu của Hứa Thị Ngân và Văn Hữu Tài, với tỷ lệ 66,7% ở bệnh nhân THA nguyên phát điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội, Bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lắc.

So sánh tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) chung và theo giới dựa trên tiêu chuẩn NCEP ATPIII-2004, nhưng chưa điều chỉnh tiêu chuẩn chẩn đoán tăng đường huyết lúc đói (≥ 6,1 mmol/l), cho thấy những kết quả đáng chú ý.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở bệnh nhân tăng huyết áp (THA) cao hơn so với các nghiên cứu trước đây Cụ thể, nghiên cứu của Trần Thừa Nguyên và Trần Hữu Dàng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba (2013 - 2014) ghi nhận tỷ lệ mắc HCCH chung là 58,77%, với nam giới là 56,9% và nữ giới là 60,7% (p > 0,05) Nghiên cứu của Trần Hữu Dàng tại Huế cho thấy tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân THA là 42,48% Tại Tây Ban Nha, nghiên cứu của Barrios cho tỷ lệ mắc HCCH là 52%, với nam giới 41,4% và nữ giới 59,6% (p < 0,001) Tại Đông Nam Nigeria, Charles U Osuji và Emeka G Omejua ghi nhận tỷ lệ 31,2%, với nam 15,1% và nữ 47,6% (p < 0,05) Nghiên cứu của Sorkhou tại Kuwait cho kết quả 34%, với nam 28,7% và nữ 39,7% (p < 0,05), trong khi Panita Limpawattana tại Thái Lan cho tỷ lệ 33% Đặc biệt, nghiên cứu của Yuko Ohta tại Nhật Bản cũng cho thấy tỷ lệ mắc HCCH thấp hơn so với các nghiên cứu khác.

HUPH chúng tôi là 27%, nhưng tỷ lệ mắc trong nhóm nam (39%) cao hơn nữ (18%) p < 0,01 [104]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc HCCH chung là 65%, thấp hơn so với nghiên cứu của Kabakci và cộng sự tại 20 bệnh viện trường đại học Thổ Nhĩ Kỳ, trong đó tỷ lệ mắc ở nam giới là 53,4% và ở nữ giới là 71,8% với p < 0,001.

So sánh với các nghiên cứu trên các đối tƣợng khác nhau cùng tiêu chuẩn chẩn đoán NCEP ATPIII-2004 trong nước và quốc tế thì thấy:

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) cao hơn so với các nghiên cứu trước đây, cụ thể là 17,2% người dân từ 20 tuổi trở lên mắc HCCH tại tỉnh Long An theo nghiên cứu của Võ Thị Dễ và Lê Thanh Liêm (2010) [11] Ngoài ra, nghiên cứu của Huỳnh Văn Minh và cộng sự tại Thừa Thiên Huế (2008) ghi nhận tỷ lệ 12% [24] Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thủy và cộng sự cũng đã chỉ ra tỷ lệ mắc HCCH ở cán bộ công chức, viên chức tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

Theo nghiên cứu năm 2012, tỷ lệ mắc hội chứng chấn thương tâm lý (HCCH) là 13,2% [38] Một nghiên cứu khác của Huỳnh Công Minh và cộng sự trên cán bộ viên chức tại phòng Bảo Vệ Sức Khỏe tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy tỷ lệ mắc HCCH cao hơn, đạt 20,72% [23].

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chấn thương đầu cao hơn ở người trung niên và cao tuổi Cụ thể, nghiên cứu của Hollman và cộng sự tại Thụy Điển cho thấy 15% người trung niên (45 – 69 tuổi) mắc hội chứng này Tại Bệnh viện Đa khoa Khu Vực Cai Lậy, Trần Văn Huyền và Trần Quang Khánh ghi nhận tỷ lệ mắc ở người cao tuổi là 42,25% Ngoài ra, nghiên cứu của Trần Thu Trang và Trương Phan Thu Loan cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chấn thương đầu ở người cao tuổi lên tới 65,5%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở bệnh nhân Đái tháo đường (ĐTĐ) thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Thanh Đức, Nguyễn Văn Trí và Nguyễn Đức Công, trong đó 88,4% bệnh nhân ĐTĐ typ 2 tại bệnh viện đa khoa Vĩnh Long (2008 - 2009) mắc HCCH Nghiên cứu của Nguyễn Thành Công và Nguyễn Thy Khuê cũng đã khảo sát trên 608 bệnh nhân ĐTĐ típ.

2 tại Trung Tâm Chẩn Đoán Y Khoa thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả mắc

HCCH là 77,6% [7] Trần Hữu Dàng và cộng sự ở Huế thì tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân ĐTĐ typ2 là 81% [10]

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) chung thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng và Nguyễn Thị Ngọc Thảo, trong đó tỷ lệ mắc HCCH ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang là 69,1%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chèn ép cao hơn so với nghiên cứu của Cao Phi Phong và Nguyễn Thị Tiệp, với tỷ lệ 50,7% ở bệnh nhân nhồi máu não tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang Ngoài ra, nghiên cứu của Hồ Thượng Dũng và Dương Kim Loan trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tại Bệnh viện Thống Nhất cũng cho thấy những kết quả đáng chú ý.

TP Hồ Chí Minh với 56,5% mắc HCCH [13]

Các yếu tố liên quan đến HCCH

Ngoài yếu tố tuổi và giới tính, phân tích đơn biến mối liên quan giữa hội chứng chuyển hóa (HCCH) và các yếu tố nhân trắc, nhân khẩu học cũng như các hành vi nguy cơ của đái tháo đường không phụ thuộc insulin (ĐTNC) cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố này.

40 - 49 tuổi 50 - 59 tuổi 60 - 69 tuổi Từ 70 tuổi

4.4.1 Mối liên quan giữa HCCH và các yếu tố nhân khẩu của mẫu nghiên cứu

Lối sống ít vận động là yếu tố nguy cơ chính làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp (THA) Hoạt động thể lực không chỉ giúp giảm THA mà còn làm giảm mức HDL-C Điều này có thể được phản ánh qua nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu.

Tỷ lệ mắc HCCH trong nhóm nghề nghiệp tỉnh tại (56,2%) thấp hơn so với nhóm tương đối tỉnh tại (74,3%) và cao hơn không đáng kể so với nhóm hoạt động (55,6%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với χ2 = 9,717; p < 0,05 Phân tích logistics cho thấy nhóm nghề nghiệp tỉnh tại có nguy cơ mắc HCCH thấp hơn 0,4 lần so với nhóm tương đối tỉnh tại (p < 0,05) Điều này có thể do đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình cao (66,7 tuổi), chủ yếu là người cao tuổi với công việc ít hoạt động, trong khi xu hướng mắc HCCH ở đối tượng này giảm từ độ tuổi 60 trở lên, dẫn đến sự khác biệt so với các tác giả khác khi đánh giá với quần thể chung.

Tỷ lệ mắc hội chứng chấn thương não (HCCH) có sự khác biệt giữa các nhóm trình độ học vấn, với nhóm không biết chữ có tỷ lệ mắc cao nhất (71,9%) và nhóm có trình độ THPT thấp nhất (60,9%), nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (χ2 = 4,6; p > 0,05) Phân tích logistic cho thấy nhóm không biết chữ có nguy cơ mắc HCCH cao gấp 2,1 lần so với nhóm tiểu học (p < 0,05), mặc dù tỷ suất chênh OR > 1 cho thấy nguy cơ mắc HCCH trong nhóm không biết chữ so với các nhóm học vấn khác không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Nghiên cứu của Shasha Yu và cộng sự tại Trung Quốc chỉ ra rằng bệnh nhân tăng huyết áp có trình độ giáo dục phổ thông trở lên có nguy cơ mắc HCCH cao hơn Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng và Nguyễn Thị Ngọc Thảo tại Tiền Giang cũng cho thấy có sự liên quan giữa trình độ học vấn và HCCH ở bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp.

HUPH tương tự nghiên cứu của chúng tôi, người có học vấn càng thấp thì tỷ lệ mắc HCCH càng cao (p = 0,023) [15]

Tỷ lệ mắc HCCH trong nghiên cứu này có xu hướng tăng theo mức thu nhập hộ gia đình, với các mức thu nhập thấp (52,9%), trung bình (65,5%), trung bình khá (67,8%) và khá trở lên (73,7%), tuy nhiên sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (χ2 = 7,619; p = 0,058 > 0,05) Khi giả định không có tính khuynh hướng của mức thu nhập, nguy cơ mắc HCCH ở nhóm thu nhập thấp thấp hơn so với các nhóm thu nhập cao hơn, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh với nhóm bệnh nhân có thu nhập từ khá trở lên (p < 0,05; OR = 0,4 (0,2 - 0,9)) Nghiên cứu của Shasha Yu và cộng sự tại Trung Quốc cũng cho thấy nhóm thu nhập trung bình (5.000 – 20.000 Nhân dân tệ) có nguy cơ mắc HCCH cao.

Tỷ lệ mắc HCCH trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng địa lý, với tỷ lệ cao nhất ở khu vực miền núi (80%), tiếp theo là vùng biển (72,2%) và trung du (71,4%), trong khi đồng bằng chỉ đạt 48,2% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (χ2 = 21,233; p < 0,001) và có thể được giải thích bởi tỷ lệ tăng Triglyceride và giảm HDL-C ở bệnh nhân THA tại các vùng miền núi và biển Ngoài ra, thói quen ăn uống không lành mạnh, như tiêu thụ ít rau và sử dụng rượu bia, cũng phổ biến hơn ở hai vùng này Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung vào một huyện nghèo ở Việt Nam, nhưng nó cho thấy sự cần thiết phải có thêm các nghiên cứu rộng rãi hơn về tỷ lệ mắc HCCH trong bối cảnh kinh tế xã hội tương đồng.

2011 thì có kết quả người bị tăng huyết áp có tỷ lệ hội chứng chuyển hoá cao hơn ở nhóm sống ở thành thị (OR= 2,22, p=0,011) [3]

Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở những gia đình có người mắc bệnh liên quan đến tăng huyết áp (THA) lên tới 74%, cao hơn so với nhóm không có người thân mắc bệnh này.

Nghiên cứu cho thấy 58,9% bệnh nhân HUPH không có người nhà mắc các bệnh liên quan đến tăng huyết áp (THA) Có mối liên quan thống kê giữa tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) và tiền sử gia đình mắc các bệnh liên quan đến THA (p < 0,05) Nguy cơ mắc HCCH trong nhóm bệnh nhân THA có người nhà mắc bệnh cao hơn gấp 2 lần so với nhóm không có (p < 0,05) Nghiên cứu của Hui Cai và cộng sự chỉ ra rằng phụ nữ có tiền sử gia đình mắc cao huyết áp, tiểu đường và đột quỵ có nguy cơ mắc HCCH cao hơn 50% Tỷ lệ mắc HCCH cũng tăng theo số lượng bệnh trong tiền sử gia đình (p < 0,001) Nghiên cứu của Cao Phi Phong và Nguyễn Thị Tiệp tại Kiên Giang cũng xác nhận mối liên quan giữa tiền sử đái tháo đường, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu với HCCH.

4.4.2 Mối liên quan giữa HCCH và các hành vi nguy cơ

Thói quen ăn mặn có thể liên quan đến tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH), với tỷ lệ mắc ở nhóm ăn mặn là 64,7% so với 58,6% ở nhóm không ăn mặn, tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (OR = 1,29) Mặc dù kết quả không có ý nghĩa thống kê, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa ăn mặn với tăng huyết áp (THA) và bệnh tim mạch Nghiên cứu của Jeong-Hwa cho thấy việc giảm natri trong chế độ ăn hàng ngày có thể giúp giảm nguy cơ mắc HCCH Đáng lưu ý, việc đánh giá chế độ ăn uống hiện tại có thể không phản ánh chính xác nguyên nhân của HCCH, do bệnh nhân đã biết bị THA có thể điều chỉnh thói quen ăn uống của họ.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở nhóm thay đổi thói quen ăn mặn do tăng huyết áp (THA) cao hơn so với nhóm không thay đổi thói quen, với tỷ lệ Odds Ratio (OR) là 1,688 và p < 0,05.

Có thể suy luận rằng những người thay đổi thói quen ăn mặn là những người đã

HUPH đã từng tiêu thụ nhiều muối, nhưng hiện tại họ đã giảm lượng muối trong chế độ ăn uống nhờ vào việc nhận thức về THA Tuy nhiên, những hậu quả từ thói quen ăn mặn trước đây vẫn còn tồn tại.

Thói quen ăn dầu mỡ không hợp lý là yếu tố nguy cơ dẫn đến tăng huyết áp (THA) và béo phì Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân THA ăn dầu mỡ hợp lý mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) là 63,7%, cao hơn so với nhóm không ăn hợp lý (54,5%) Mặc dù có vẻ trái ngược với các nghiên cứu trước, nhưng khi xem xét mối liên quan giữa tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm thay đổi thói quen ăn dầu mỡ và nhóm không thay đổi, có đến 70% những người thay đổi thói quen mắc HCCH, trong khi tỷ lệ này ở nhóm không thay đổi là 56,8% với OR = 1,78, p < 0,05 Điều này cho thấy những người thay đổi thói quen ăn dầu mỡ thường là những người đã từng ăn không hợp lý và việc thay đổi chỉ diễn ra sau khi họ nhận thức được tình trạng THA của mình, do đó thói quen ăn dầu mỡ hiện tại chưa phản ánh đúng mối quan hệ nguyên nhân - hệ quả với tỷ lệ mắc HCCH.

Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở nhóm không hút thuốc lá cao hơn (66%) so với nhóm có hút thuốc (59,1%), nhưng không có mối liên quan thống kê có ý nghĩa giữa các nhóm hút thuốc (p > 0,05) Mặc dù vậy, thói quen hút thuốc lá đã được chứng minh là có liên quan chặt chẽ đến tăng huyết áp (THA) và HCCH Nghiên cứu của Shasha Yu và cộng sự tại Trung Quốc cho thấy nguy cơ mắc HCCH ở những người hiện đang hút thuốc cao gấp 1,36 lần so với nhóm chưa bao giờ hút thuốc (p < 0,001; 95%CI: 1,16 – 1,59) Ngoài ra, nghiên cứu của Yong-Woo Park và cộng sự (2006) chỉ ra rằng nguy cơ mắc HCCH ở những người hiện tại có hút thuốc cao gấp 1,5 lần (đối với nam giới) và 1,8 lần (đối với nữ giới) so với những người không hút thuốc.

Thói quen uống rượu, bia không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) giữa các nhóm mức độ uống, với kết quả (χ2 = 0,057; p > 0,05) Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa thói quen uống rượu, bia và nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp (THA) cũng như HCCH Nghiên cứu của Shasha Yu và cộng sự tại Trung Quốc cũng xác nhận nguy cơ mắc bệnh liên quan đến thói quen này.

Nghiên cứu cho thấy nhóm người mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) có thói quen uống rượu bia cao hơn 1,06 lần so với nhóm không uống, nhưng không đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú (2012) tại Nghệ An chỉ ra rằng 46,1% đối tượng thường xuyên uống rượu bia mắc HCCH Yokoyama H và cộng sự (2007) phát hiện trong số 2130 nam giới Nhật Bản từ 20-65 tuổi, tỷ lệ mắc HCCH là 15,7%, và ở nhóm uống hơn 20 gram ethanol/ngày, tỷ lệ này tăng lên 22% so với nhóm uống ở mức bình thường (13,9%) Đặc biệt, nếu có chu vi vòng bụng > 85 cm, việc uống rượu nhiều làm tăng đáng kể tỷ lệ mắc HCCH (39,2% so với 32,4%) với p < 0,05.

Thói quen hoạt động thể lực:

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy An (2005), "Tỷ lệ hội chứng chuyển hóa và các rối loạn liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp", Y học Việt Nam, tr. 19-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ hội chứng chuyển hóa và các rối loạn liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp
Tác giả: Đào Duy An
Nhà XB: Y học Việt Nam
Năm: 2005
3. Trần Quang Bình (2011), "Hội chứng chuyển hoá và yếu tố liên quan ở người tăng huyết áp tuổi trung niên tại Hà Nam, 2011", Tạp chí y học dự phòng. 4(177), tr. 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng chuyển hoá và yếu tố liên quan ở người tăng huyết áp tuổi trung niên tại Hà Nam, 2011
Tác giả: Trần Quang Bình
Nhà XB: Tạp chí y học dự phòng
Năm: 2011
4. Trần Quang Bình và Phạm Trần Phương (2014), "Hội chứng chuyển hoá ở bệnh nhân đái tháo đường Týp 2 phát hiện tại cộng đồng", Tạp chí y học dự phòng. 11(160), tr. 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng chuyển hoá ở bệnh nhân đái tháo đường Týp 2 phát hiện tại cộng đồng
Tác giả: Trần Quang Bình, Phạm Trần Phương
Nhà XB: Tạp chí y học dự phòng
Năm: 2014
6. Chính phủ (2015), Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cân đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, chủ biên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cân đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
7. Nguyễn Thành Công và Nguyễn Thy Khuê (2004), "Hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường tip 2", Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 10/2006(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường tip 2
Tác giả: Nguyễn Thành Công, Nguyễn Thy Khuê
Nhà XB: Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
8. Trần Hữu Dàng (2004), Hội chứng chuyển hóa và béo phì, Kỷ yếu Hội nghị Nội tiết-Đái tháo đường Miền Trung mở rộng lần IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng chuyển hóa và béo phì
Tác giả: Trần Hữu Dàng
Nhà XB: Kỷ yếu Hội nghị Nội tiết-Đái tháo đường Miền Trung mở rộng lần IV
Năm: 2004
9. Trần Hữu Dàng và các cộng sự. (2014), "Đánh giá hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện hữu nghị Việt Nam- Cu Ba Đồng Hới, Quảng Bình ", Tạp chí thông tin khoa học và công nghệ Quảng Bình(4), tr.34-37.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện hữu nghị Việt Nam- Cu Ba Đồng Hới, Quảng Bình
Tác giả: Trần Hữu Dàng, các cộng sự
Nhà XB: Tạp chí thông tin khoa học và công nghệ Quảng Bình
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w