Tại các bệnh viện, điều dưỡng viên khối lâm sàng là những người có thời gian tiếp xúc, trao đổi, chăm sóc bệnh nhân nhiều nhất nên thường xuyên phải chúng tôi tiến hành đề tài: “Tình trạ
Giới thiệu về stress
Trong cuộc sống hiện đại, stress ngày càng trở nên phổ biến, được xem là biểu hiện của những áp lực và khó chịu trong đời sống cá nhân Walter Cannon, bác sĩ chuyên khoa thần kinh nổi tiếng của Mỹ, là người đầu tiên định nghĩa khái niệm stress vào năm 1915, nhấn mạnh rằng stress phản ánh những áp lực mà con người phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày.
Stress hiện nay là một thuật ngữ phổ biến, với nhiều định nghĩa khác nhau từ các tác giả Theo R.S Lazarus (1966), stress xảy ra khi cá nhân cảm thấy không thể đối phó với yêu cầu cuộc sống hàng ngày Lazarus và S Folkman (1984) định nghĩa stress là kết quả của sự mất cân bằng giữa yêu cầu và nguồn lực S.Palmer (1999) cho rằng stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng ứng phó Định nghĩa đầy đủ nhất được đưa ra bởi Hans Selye vào năm 1976, mô tả stress như một tình trạng căng thẳng giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể Như vậy, stress bao gồm hai khía cạnh: tác nhân gây stress và phản ứng của cơ thể đối với stress.
1.1.2 Các mức độ của stress
Theo bác sĩ Đặng Phương Kiệt, stress được chia thành ba mức độ: mức độ nhẹ, nơi stress được cảm nhận như một thách thức và có thể kích thích tăng thành tích; mức độ vừa, gây ra sự phá vỡ trong hành vi và dẫn đến những hành động lặp đi lặp lại; và mức độ nặng, ngăn chặn hành vi và gây ra các phản ứng lệch lạc.
Nguyễn Thành Khải chia stress thành ba mức độ dựa trên cảm nhận của chủ thể Mức độ đầu tiên là rất căng thẳng, khi chủ thể cảm thấy tâm lý rất căng thẳng và khó chịu Mức độ thứ hai là căng thẳng, khi có sự căng thẳng cảm xúc, và nếu kéo dài sẽ chuyển sang mức độ rất căng thẳng Cuối cùng, mức độ thứ ba là ít căng thẳng, khi chủ thể cảm thấy bình thường hoặc chỉ có yếu tố căng thẳng nhẹ Tuy nhiên, việc phân chia này mang tính tương đối và không có tiêu chuẩn cụ thể để phân biệt rõ rệt giữa các mức độ.
Nguyễn Thị Hải phân chia mức độ stress thành ba loại: mức độ nhẹ, khi stress chỉ xuất hiện ở một khía cạnh, không kéo dài và có thể tự khắc phục; mức độ trung bình, khi stress biểu hiện ở hai hoặc nhiều khía cạnh, lặp lại trong thời gian dài và cần khắc phục trong một khoảng thời gian nhất định; và mức độ nặng, khi stress xuất hiện ở nhiều khía cạnh, kéo dài và cần thời gian rất dài để khắc phục.
Các dấu hiệu của stress bao gồm bất thường về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội, như kiệt sức, thay đổi thói quen ăn uống, đau đầu, khóc, mất ngủ và cảm giác bất an Người bị stress thường gặp các triệu chứng thể chất như tăng nhịp tim, huyết áp cao, mệt mỏi và ra mồ hôi Về mặt cảm xúc, họ có thể cảm thấy khó chịu, dễ cáu gắt, buồn bã và chán nản Hành vi có thể bao gồm lạm dụng chất kích thích, dễ gây hấn, mất tập trung và xa lánh mọi người Stress kéo dài có thể làm tổn hại hệ miễn dịch, giảm khả năng chống lại bệnh tật và tăng nguy cơ tử vong.
Một số ảnh hưởng sinh lý , đồng thời cũng là những biểu hiện cụ thể của stress đã được biết đến như [13]:
- Ảnh hưởng đến não: Stress thường xuyên khiến não trở nên kém linh hoạt, minh mẫn, thậm chí có nguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng
Stress có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ hô hấp, khi kích thích tuyến thượng thận giải phóng hormone adrenaline Sự gia tăng hormone này dẫn đến hơi thở gấp gáp, hổn hển và không sâu, khiến người bệnh phải rướn lên để thở Đặc biệt, những người đã mắc bệnh suyễn hoặc các bệnh lý hô hấp khác sẽ thấy tình trạng của mình trở nên tồi tệ hơn khi chịu áp lực.
Stress có ảnh hưởng tiêu cực đến tim, liên quan đến bệnh sơ vữa động mạch vành và rối loạn nhịp tim, như tim đập nhanh và mạnh Những căng thẳng về tinh thần hoặc tình cảm có thể dẫn đến quá trình thiếu máu cục bộ cơ tim một cách âm thầm.
Hệ bài tiết có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến tình trạng cơ thể ra mồ hôi nhiều hơn bình thường, chẳng hạn như mồ hôi tay, ngay cả khi nhiệt độ không cao hoặc không có hoạt động thể chất nặng.
Hormone adrenaline không chỉ làm hơi thở trở nên gấp gáp mà còn gây căng cứng và mệt mỏi cho cơ bắp, dẫn đến tình trạng đau nhức ở lưng, cổ, hàm và mặt Nghiên cứu cho thấy stress không chỉ khiến chúng ta lười vận động mà còn làm cho tư thế nằm, ngồi, đi, đứng trở nên không hợp lý, từ đó gia tăng mệt mỏi và gây ra các bệnh về cơ khớp.
Mất ngủ do stress kéo dài có thể gây mệt mỏi cho mắt, dẫn đến thâm quầng, sưng đỏ và thậm chí giảm thị lực, đồng thời làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về mắt nghiêm trọng Stress cũng khiến cơ thể phản ứng quá mức với các kích thích giác quan, như tai nhạy cảm với tiếng ồn và mắt nhạy cảm với ánh sáng.
Stress có tác động tiêu cực đến da, theo nghiên cứu của các nhà khoa học tại trường Đại học Freedom ở Berlin Cụ thể, stress kích thích hoạt động mạnh mẽ của các tuyến nhờn, dẫn đến tình trạng da kém mịn màng, lão hóa nhanh chóng và dễ nổi mụn Ngoài ra, stress còn có thể gây ra các bệnh da liễu nghiêm trọng như chàm bội nhiễm.
Stress có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ tiêu hóa, làm giảm lưu lượng máu đến các cơ, bao gồm cả dạ dày, dẫn đến các triệu chứng như khó tiêu, đầy hơi, buồn nôn, chướng bụng, tiêu chảy hoặc táo bón Ngoài ra, stress cũng gây ra những thay đổi trong thói quen ăn uống, khiến người bị stress có thể ăn không ngon miệng, ăn quá nhiều hoặc quá ít, dẫn đến tình trạng giảm cân đột ngột.
Khi tinh thần suy sụp và căng thẳng, hệ miễn dịch hoạt động kém hiệu quả, dẫn đến nguy cơ cao bị nổi mụn nhiệt ở các vùng như vòm miệng, nướu, lợi và lưỡi.
Stress là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng choáng váng, mệt mỏi và đau đầu kinh niên Nguy cơ gặp phải những triệu chứng này sẽ tăng cao nếu lưng và cổ bị tổn thương trong thời gian chịu áp lực.
Thực trạng stress trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Thực trạng stress trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 25% dân số gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết khoảng 20% người lao động toàn cầu đang phải đối mặt với stress trong công việc, và tỷ lệ này đang gia tăng Khảo sát của NIOSH năm 2007 cho thấy 40% người tham gia cho rằng công việc gây stress, và đây là nguyên nhân chính khiến họ phải nhập viện Kết quả khảo sát của Hiệp hội Tâm lý Mỹ năm 2011 cho thấy tỷ lệ mắc stress ở người Mỹ ngày càng tăng, với 80% người lao động cảm thấy căng thẳng trong công việc và gần một nửa trong số họ cần sự hỗ trợ.
Tại Trung Quốc, tỷ lệ căng thẳng trong công việc lên tới 86%, trong khi ở Úc, con số này thậm chí còn cao hơn, đạt 91%, với nhân viên vắng mặt trung bình 3,2 ngày mỗi năm do stress Căng thẳng tại nơi làm việc đã gây thiệt hại khoảng 14,2 tỷ đô la cho nền kinh tế Úc Ở Anh, vào năm 2007, ước tính có khoảng 442.000 người lao động cho biết họ đã từng trải qua tình trạng stress.
Nhiều nghiên cứu về stress đã được thực hiện trên toàn cầu, tập trung vào các đối tượng khác nhau Đặc biệt, một số nghiên cứu đã được tiến hành trên những người không phải là cán bộ y tế Trong đó, H Soori, M Rahimi và H Mohseni đã thực hiện nghiên cứu kéo dài 2 năm.
Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2004 và 2005 trên 608 lao động nam tại một nhà máy ở Cộng hòa Hồi giáo Iran cho thấy tỷ lệ stress nghề nghiệp là 21,3%, được đánh giá bằng chỉ số stress nghề nghiệp Belkic Tương tự, nghiên cứu của Selokar và các cộng sự (2011) tại thành phố Wardha, Ấn Độ, đã sử dụng bộ câu hỏi của David Fontana để đánh giá mức độ căng thẳng giữa các nhân viên cảnh sát và xác định một số yếu tố liên quan.
102 cảnh sát nhân viên trong thành phố Wardha Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ có dấu hiệu stress là 66,7% [35]
Nghiên cứu của Khalid S Al-Gelban (2006) cho thấy tỷ lệ bác sỹ mắc trầm cảm, lo âu và stress ở Aseer, Saudi Arabia lần lượt là 7,6%, 8,6% và 7,2% Trong khi đó, nghiên cứu của Yueh-Chi Tsai và Chieh-Hsing Liu (2010) tại Đài Loan phát hiện 64,4% nhân viên bệnh viện gặp phải stress Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah (2011) trên 110 điều dưỡng tại Kuala Lumpur cho thấy tỷ lệ stress là 23,6%, với mức độ nhẹ 13,6%, vừa 5,5%, nặng 0,9% và rất nặng 3,6%.
Bộ câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp của David Fontana, được áp dụng trong nghiên cứu trên 100 bác sĩ nội trú ở Ấn Độ, bao gồm 24 câu hỏi Nghiên cứu nhằm đánh giá và so sánh tình trạng stress giữa các bác sĩ thuộc khoa lâm sàng và cận lâm sàng Kết quả cho thấy 16% bác sĩ trong nhóm cận lâm sàng gặp phải stress, trong khi tỷ lệ này ở nhóm lâm sàng là 38%.
1.2.2 Thực trạng stress tại Việt Nam
Tại Việt Nam chưa có thống kê cả nước tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng stress đang ngày càng tăng cao
Nghiên cứu của tác giả Trịnh Hồng Lân và cộng sự (2010) đã tiến hành khảo sát 1009 công nhân may công nghiệp tại ba công ty ở Đồng Nai, Bình Dương và TP.Hồ Chí Minh, sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá tình trạng stress và các yếu tố liên quan Kết quả cho thấy có đến 71% công nhân gặp phải các biểu hiện stress nghề nghiệp ở nhiều mức độ khác nhau.
Nghiên cứu của Lê Thu Huyền và Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh (2010) đã tiến hành khảo sát 182 sinh viên y tế công cộng tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh để xác định tình trạng stress và các yếu tố liên quan Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên bị stress bệnh lý khá cao, đạt 24,2%, trong đó 2,8% sinh viên gặp phải tình trạng stress bệnh lý nặng.
Nghiên cứu của Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân và Trần Trúc Linh (2008) được thực hiện tại ba bệnh viện: Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện Đa khoa Châu Thành - Hậu Giang, nhằm đánh giá tình trạng stress nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát đồng thời tại ba địa điểm khác nhau, sử dụng bộ công cụ đánh giá stress nghề nghiệp của David Fontana (The Professional Life Stress Test) Tổng cộng có 378 nhân viên điều dưỡng từ ba bệnh viện tham gia, đại diện cho ba tuyến bệnh viện: tuyến trung ương, tuyến tỉnh-thành phố và tuyến huyện.
Nghiên cứu tại HUPH cho thấy tỉ lệ stress trong nhóm nghiên cứu đạt 45,2%, chủ yếu ở mức độ nhẹ và trung bình (42,8%), trong khi chỉ có 2,4% là stress nặng Tỉ lệ stress giữa các bệnh viện thuộc 3 tuyến có sự khác biệt, với tuyến trên có tỉ lệ cao hơn Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ ghi nhận tỉ lệ cao nhất là 53,1%, tiếp theo là Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ với 33,9%, và thấp nhất là Bệnh viện đa khoa Châu Thành - Hậu Giang với 32,5% Nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự (2008) tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cho thấy khoảng 27% nhân viên y tế có stress ở mức thường xuyên.
Nghiên cứu năm 2011 tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội cho thấy 36,9% cán bộ y tế (CBYT) khối lâm sàng có biểu hiện stress, 41,5% lo âu và 15,3% trầm cảm Năm 2013, Đậu Thị Tuyết đã thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh và Bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An, cho thấy tỷ lệ CBYT có biểu hiện stress tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh là 16,8%, thấp hơn so với 24,5% tại Bệnh viện đa khoa 115, trong khi tỷ lệ chung là 20,4%.
Một số yếu tố liên quan đến stress
1.3.1 Một số yếu tố liên quan đã đƣợc chứng minh là nguyên nhân gây ra stress theo y văn
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra stress nhưng thông thường bao gồm 4 nguyên nhân cơ bản sau [16]:
- Môi trường bên ngoài: Thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, giao thông, bụi và sự ô nhiễm
Căng thẳng từ xã hội và gia đình có thể xuất phát từ nhiều yếu tố như thời hạn công việc, vấn đề tài chính, áp lực công việc, và môi trường làm việc không thuận lợi Những thay đổi về thời gian làm việc và phong cách quản lý độc đoán cũng góp phần làm gia tăng mức độ căng thẳng trong cuộc sống hàng ngày.
HUPH đầu tư quá nhiều sức lực vào nhiệm vụ, nhưng hiệu quả đạt được không như mong đợi Điều này có thể do những mất mát về người thân, mâu thuẫn trong gia đình như ly hôn, tranh chấp, xích mích, hay bất hòa Ngoài ra, các mối quan hệ bạn bè không tốt, tình yêu tan vỡ hoặc bị phụ bạc cũng góp phần làm giảm hiệu suất công việc.
- Các vấn đề về thể chất: Thay đổi cơ thể, không đủ chất dinh dưỡng, ốm đau, bệnh tật…
Cách chúng ta suy nghĩ và phiên giải những sự kiện trong quá khứ hoặc tương lai có thể tạo ra nhiều căng thẳng, thường là từ những suy nghĩ tiêu cực Chẳng hạn, lo lắng về việc trượt đại học có thể khiến ta cảm thấy tương lai mờ mịt, hay sợ hãi việc không hoàn thành công việc dẫn đến khả năng bị sa thải.
Nghiên cứu của Khalid S Al-Gelban (2006) đã sử dụng thang đo DASS 42 để đánh giá tình trạng stress, lo âu và trầm cảm ở 304 bác sỹ tại vùng Aseer, Saudi Arabia Tác giả cũng đã khảo sát mối liên quan giữa các yếu tố như tuổi, giới tính, quốc tịch, tình trạng hôn nhân, bằng cấp và số năm kinh nghiệm với tình trạng tâm lý Kết quả cho thấy giới tính và trình độ chuyên môn là hai yếu tố có ý nghĩa thống kê liên quan đến stress, trong đó nữ giới có mức độ stress cao hơn nam giới.
Nghiên cứu của 3 tác giả Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh
Nghiên cứu năm 2008 được thực hiện tại ba địa điểm: Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện đa khoa Châu Thành – Hậu Giang, nhằm đánh giá tình trạng stress nghề nghiệp ở nhân viên điều dưỡng Kết quả cho thấy yếu tố thâm niên công tác có mối liên hệ thống kê đáng kể với tình trạng stress của nhân viên.
Nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự (2008) tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã đánh giá tình trạng stress và các yếu tố liên quan ở cán bộ y tế đang làm việc tại các cơ sở y tế trong khu vực Nghiên cứu này cũng mở rộng đến các yếu tố cá nhân như mối quan hệ với gia đình, bạn bè và hàng xóm.
HUPH hay tham gia các hoạt động thể lực, tuy nhiên chưa tìm thấy mối quan hệ giữa tình trạng stress và các yếu tố này [22]
Nghiên cứu của Trần Thị Thúy tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội và Đậu Thị Tuyết tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh và Bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An đã xem xét các yếu tố gia đình như số con, chăm sóc con nhỏ dưới 5 tuổi, chăm sóc người thân già yếu, thu nhập chính trong gia đình, nhà riêng ổn định và mối quan hệ trong gia đình để tìm hiểu mối liên quan với tình trạng stress Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng stress và các yếu tố này.
Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah (2011) đã sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá tình trạng stress của 110 điều dưỡng tại một bệnh viện ở Kuala Lumpur Nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố như tuổi, tình trạng hôn nhân, khoa phòng công tác, tình trạng tài chính và thời gian làm việc để tìm mối liên quan với stress Kết quả cho thấy yếu tố duy nhất có mối liên quan thống kê đáng kể với stress là khoa phòng công tác của điều dưỡng.
Nghiên cứu của 3 tác giả Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh
Nghiên cứu năm 2008 tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và Bệnh viện đa khoa Châu Thành – Hậu Giang đã đánh giá tình trạng stress nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng Kết quả cho thấy các yếu tố gây stress bao gồm thâm niên công tác, làm việc quá nhiều giờ (>8h/ngày), áp lực công việc cao, thiếu hứng thú, điều kiện làm việc thiếu thốn về máy móc và trang thiết bị, môi trường đông người và ồn ào, tiếp xúc với mầm bệnh, nguy cơ bị thương tích, phản ứng từ bệnh nhân và người nhà, thu nhập không thỏa đáng, cùng với ít cơ hội thăng tiến trong công việc.
Nghiên cứu của Trần Thị Thúy (2011) đã đánh giá mức độ stress ở cán bộ y tế khối lâm sàng tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội Đây là nghiên cứu duy nhất tại Việt Nam áp dụng thang đo DASS 21 để đo lường tình trạng stress.
Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy một số yếu tố có ý nghĩa thống kê làm tăng trạng thái stress ở đối tượng CBYT, bao gồm: số buổi trực từ 4 buổi trở lên, cảm nhận công việc ít hứng thú, thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại, và cảm nhận mối quan hệ không tốt với bệnh nhân.
Nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết năm 2013 đã chỉ ra tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm của cán bộ y tế tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh và Bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An Kết quả cho thấy, tại Bệnh viện đa khoa Thành phố Vinh, mức độ hứng thú trong công việc là yếu tố liên quan đến tình trạng stress, trong khi tại Bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An, nhiệt độ nơi làm việc và nguy cơ lây nhiễm bệnh tật là hai yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng này.
1.3.5 Yếu tố môi trường văn hóa, xã hội
Nhiều nghiên cứu, như của Trần Thị Thúy và Đậu Thị Tuyết, đã xem xét mối liên hệ giữa các yếu tố văn hóa và xã hội với tình trạng stress Các yếu tố được nghiên cứu bao gồm tình trạng kẹt xe, tai nạn giao thông, trộm cắp, cướp giật, và nếp sống văn hóa tại khu vực sinh sống Tuy nhiên, các nghiên cứu này không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng stress.
Giới thiệu về bộ công cụ DASS21 của Lovibond
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về stress trong các lĩnh vực khác nhau, với một số bộ công cụ hỗ trợ chẩn đoán như bộ câu hỏi đánh giá stress nghề nghiệp của David Fontana, chỉ số đánh giá stress nghề nghiệp của Belkic (OSI), và thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và DASS 21) Tại Việt Nam, nghiên cứu về stress còn hạn chế, chủ yếu dựa vào bộ câu hỏi của David Fontana và thang đánh giá của Lovibond.
Thang đánh giá stress, lo âu và trầm cảm của Lovibond (DASS 42 và DASS 21) đã được Viện sức khỏe tâm thần quốc gia dịch và xác nhận là công cụ sàng lọc hiệu quả tại Việt Nam Nghiên cứu này được thực hiện bởi Trần Đức Thạch, Trần Tuấn và Jane Fisher, tập trung vào phụ nữ nông thôn miền Bắc Việt Nam.
Vào năm 1995, Lovibond S.H và Lovibond P.F tại Đại học New South Wales, Australia, đã phát triển thang đánh giá stress, lo âu và trầm cảm mang tên DASS 42 Đến năm 1997, nhóm nghiên cứu này giới thiệu phiên bản rút gọn DASS 21, nhằm tạo sự tiện lợi hơn cho người dùng Các nghiên cứu đã xác nhận sự nhất quán giữa DASS 42 và DASS 21 DASS 21 bao gồm 21 tiểu mục, chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm có 7 tiểu mục để đo mức độ trầm cảm, lo âu và stress Điểm cho mỗi tiểu mục dao động từ 0 đến 3, tùy thuộc vào mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng Sau khi cộng tổng điểm của từng nhóm, kết quả sẽ được nhân với 2 để có được điểm số DASS.
21 và DASS 42 sẽ có thang điểm như nhau và sử dụng chung bảng đánh giá mức độ dưới đây:
Mức độ Trầm cảm Lo âu Stress
Khi so sánh điểm số với bảng tham chiếu, bạn sẽ xác định được mức độ stress, lo âu và trầm cảm của mình, bao gồm các mức: bình thường, nhẹ, vừa, nặng hoặc rất nặng.
Kết quả từ DASS 21 không phải là chẩn đoán xác định bệnh, mà chỉ là công cụ sàng lọc ban đầu cho những người có biểu hiện stress Điều này khuyến khích họ tìm kiếm sự giúp đỡ từ chuyên gia tâm lý và có chế độ điều trị, chăm sóc, nghỉ ngơi phù hợp Các biểu hiện thể chất và tâm lý trong thang đo chỉ phản ánh trong khoảng thời gian 1 tuần, do đó, kết quả chỉ có giá trị tại thời điểm đánh giá.
1.5 Sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Giao thông vận tải trung ương (GTVTTW), thuộc Cục Y tế Giao thông vận tải, Bộ Giao thông vận tải Bệnh viện, có nguồn gốc từ Bệnh viện đường sắt, được thành lập vào năm 1963 với mục tiêu chăm sóc sức khỏe, cấp cứu và điều trị cho nhân viên ngành đường sắt và hành khách Ban đầu, bệnh viện được xếp loại 3 với khoảng 80 giường bệnh tại Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội Sau hơn 50 năm phát triển, bệnh viện đã trở thành bệnh viện đa khoa loại 1 với quy mô 470 giường bệnh, 23 khoa phòng và 445 cán bộ nhân viên, trong đó có 103 bác sỹ và 196 điều dưỡng.
- Mổ nội soi: Bệnh viện đã đầu tư 02 hệ thống máy mổ nội soi hiện đại, đã thực hiện rất nhiều các kỹ thuật về nội soi
- Lọc máu thận nhân tạo: Bệnh viện có 1 Trung tâm lọc máu hiện đại bao gồm 24 máy thận nhân tạo đang hoạt động với công suất 72 ca/ngày
- Chẩn đoán hình ảnh: Bệnh viện có 01 náy CT scanner, 01 hệ thống máy chụp Xquang ký thuật số hoàn chỉnh, 01 máy siêu âm màu 3 chiều, 03 máy siêu âm,
01 máy chụp Xquang C- Arm, 03 máy Xquang
Ngoài ra, một số chuyên khoa khác cũng đang phát triển mạnh mẽ và có uy tín, bao gồm tán sỏi ngoài cơ thể, phẫu thuật thay thủy tinh thể bằng phương pháp PHACO, và phẫu thuật trĩ theo phương pháp Longo.
Vào năm 2010, Ban Giám đốc Bệnh viện đã triển khai 6 nhiệm vụ lớn, bao gồm cải cách hành chính, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh, đào tạo nghiên cứu khoa học, nâng cấp cơ sở vật chất và chăm lo đời sống cán bộ Đến năm 2011, Bệnh viện GTVTTW được vinh danh là một trong 31 bệnh viện có dịch vụ phục vụ người bệnh tốt nhất trên toàn quốc trong cuộc điều tra “Doanh nghiệp dịch vụ tốt nhất” tại 15 tỉnh, thành phố.
Bệnh viện GTVTTW đang nỗ lực vươn lên thành địa chỉ tin cậy cho bệnh nhân trong ngành Giao thông vận tải, phục vụ người dân thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận nhờ sự cố gắng của toàn thể nhân viên và ban lãnh đạo.
Stress ở điều dƣỡng viên khối lâm sàng
Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi; giới tính; tình trạng hôn nhân…
Tập thể dục, hút thuốc lá, uống rượu bia…
Suy nghĩ của bản thân
Tình trạng sức khỏe chung
Điều kiện gia đình: Số con;
Chăm sóc con nhỏ