QUAN TÀI LIỆU
Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm về nước uống đóng chai
Nước đóng chai là sản phẩm dùng để uống trực tiếp, có thể chứa khoáng chất và carbon dioxyd tự nhiên hoặc được bổ sung, nhưng không phải là nước khoáng thiên nhiên Sản phẩm này không chứa đường, chất tạo ngọt, chất tạo hương hay bất kỳ chất phụ gia nào khác.
Theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 6-1: 2010/BYT, nước uống đóng chai không phân biệt thể tích “chai” hay “bình”, bao gồm các loại thể tích như 330ml, 500ml, 1 lít, 5 lít, và 20 lít Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào sản phẩm có thể tích 20 lít, được gọi là nước uống đóng bình.
1.1.2 Khái niệm vi sinh vật
Là những sinh vật nhỏ bé chỉ có thể quan sát bằng kính hiển vi bao gồm: Vi khuẩn, động vật nguyên sinh và nấm [18].
Giới hạn vi sinh vật chỉ danh ô nhiễm trong nước uống đóng bình
1.2.1 Các vi khuẩn chỉ danh ô nhiễm trong nước uống đóng bình (20 lít) Để đánh giá một nguồn nước bị ô nhiễm vi sinh vật, ta sử dụng một số loại vi khuẩn thường gặp và dễ phát triển trong môi trường tự nhiên Tùy thuộc vào số lượng của vi khuẩn nhiều hay ít, ta có thể đánh giá nguồn nước bị ô nhiễm vi sinh vật nặng hay nhẹ, những vi khuẩn này gồm có:Escherichia coli( E.coli) hoặc
Coliform chịu nhiệt; Coliform tổng số; Streptococci feacal; Pseudomonas aeuginosa và Clostridium[18]
1.2.1.1 Vi khuẩn Escherichia coli( E.coli) hoặc Coliform chịu nhiệt
E coli là một loại trực khuẩn gram âm, có kích thước từ 2-3 µm, có khả năng di động và có thể sống trong môi trường hiếu khí hoặc kỵ khí Nhiệt độ phát triển tối ưu của chúng là từ 37 đến 44 độ C, thường cư trú trong đường ruột của động vật và con người Loại vi khuẩn này có khả năng tiết ra độc tố, dẫn đến ngộ độc khi thấm vào máu, và có thể gây ra các bệnh viêm nhiễm tại các cơ quan tiết niệu, sinh dục, viêm màng bụng, suy thận cấp, và viêm màng.
HUPH não Triệu chứng bệnh là: Tiêu chảy, sốt cao, mệt mỏi, chân tay co quắp E Colilà vi khuẩn chỉ danh thực phẩm bị nhiễm phân động vật [2]
Trực khuẩn Coliforms là vi khuẩn gram âm, có kích thước từ 0,3-1,5 µm chiều rộng và 1-10 µm chiều dài, không sinh bào tử Chúng có thể di động, hiếu khí hoặc kỵ khí, và phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 37°C Coliforms thường xuất hiện trong đất, nước, thực phẩm và đường ruột của động vật Một số chủng Coliforms là tác nhân gây bệnh cơ hội, có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng dưới da, nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm tủy xương và nhiễm trùng mắt Triệu chứng bệnh bao gồm đau bụng, nôn, tiêu chảy và sốt cao Coliforms được coi là chỉ thị ô nhiễm trong chế biến, bảo quản và vận chuyển thực phẩm; sự hiện diện của chúng cho thấy khả năng xuất hiện vi sinh vật gây bệnh trong thực phẩm.
Streptococci feacal là loại liên cầu khuẩn gram dương, có hình cầu hoặc oval, thường xếp thành đôi hoặc chuỗi, không di động và có khả năng tạo vỏ nhầy Chúng phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 45°C và có thể gây nhiễm trùng trong cộng đồng cũng như bệnh viện, đặc biệt là nhiễm khuẩn đường tiết niệu và vết thương Triệu chứng của bệnh bao gồm sốt cao, đau họng, đau đầu, sưng amidan, có thể kèm theo đốm trắng hoặc vệt mủ, buồn nôn, nôn và sưng hạch bạch huyết ở cổ Streptococci feacal cũng được coi là vi khuẩn chỉ thị cho mức độ an toàn của thực phẩm.
1.2.1.4 Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeuginosa hay P.aeuginosa)
Trực khuẩn gram âm Pseudomonas aeruginosa là vi khuẩn hiếu khí, có hình dạng thẳng hoặc hơi cong, với kích thước từ 0,5-1 x 1,5-5 µm Nhiệt độ phát triển tối ưu của chúng là 37°C, thường sống trong môi trường đất, nước, và trên bề mặt động thực vật ở những nơi ẩm ướt, nghèo dinh dưỡng Vi khuẩn này có khả năng gây nhiễm trùng ở nhiều cơ quan như phổi, tim, hệ tiết niệu, não, và màng não, có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết Nếu nhiễm trùng trở nên nghiêm trọng, nó có thể gây ra tử vong.
P.aeruginosa thường xảy ra ở những bệnh nhân có thời gian nằm viện dài ngày và cơ thể có hệ thống miễn dịch yếu Điều đáng ngại là vi khuẩn này kháng với nhiều loại kháng sinh Triệu chứng bệnh: Sốt, ớn lạnh, khó thở, tím tái, ho có đàm.P aeuginosalà vi khuẩn chỉ danh sự ô nhiễm chéo trong quá trình chế biến [28]
1.2.1.5 Bào tử vi khuẩn kỵ khí khử sulfit(Clostridium)
Clostridium là vi khuẩn gram dương, hình que, kỵ khí, sinh bào tử, chủ yếu sống trong đất, nước, trên gia súc và thủy sinh Vi khuẩn này sản sinh độc tố gây ngộ độc thịt (Botulism) khi con người tiêu thụ thịt nhiễm khuẩn Triệu chứng ngộ độc bao gồm buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy, và có thể dẫn đến rối loạn thần kinh như choáng váng, rối loạn thị giác, đau ngực, khó thở, và tê liệt, có thể gây tử vong Clostridium thường chỉ ra sự ô nhiễm từ phân người, phân súc vật lâu ngày hoặc thực phẩm không được bảo quản đúng cách và chế biến không đủ nhiệt độ.
1.2.2 Giới hạn vi sinh vật trong nước uống đóng bình
Vi sinh vật trong nước uống đóng chai phải tuân thủ giới hạn theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 6-1:2010/BYT, quy định về nước khoáng thiên nhiên và nước uống đóng chai Quy chuẩn này được ban hành kèm theo Thông tư số 34/TT-BYT ngày 02/6/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Bảng 1.1 Giới hạn vi sinh vật trong nước uống đóng bình (20 lít)
TT Chỉ tiêu Phương pháp thử Giới hạn Đơn vị tính
1 Coliform tổng số TCVN 6187-1:2009 (ISO
3 Clostridium TCVN 6191-1 : 1996 0 Vi khuẩn/50ml
4 S faecalis ISO 7899-2 : 2000 0 Vi khuẩn/250ml
5 P aeruginosa ISO 16266 : 2006 0 Vi khuẩn/250ml
Quy trình sản xuất nước uống đóng bình (20 lít)
Theo Cục An toàn thực phẩm, tất cả các cơ sở sản xuất nước uống đóng bình, bất kể quy mô lớn hay nhỏ, đều phải tuân thủ quy trình sản xuất nghiêm ngặt, bao gồm nhiều công đoạn khác nhau.
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH SẢN XUẤT NƯỚC UỐNG ĐÓNG BÌNH
Thiết bị lọc đa năng
Thiết bị khử màu, khử mùi, cặn
Thiết bị tia cực tím
Nước thành phẩm Đóng bình
Quy định về điều kiện chung an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất
Điều kiện an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất được quy định bởi Thông tư 15/2012/TT-BYT ngày 12/9/2012 và Thông tư 16/2012/TT-BYT ngày 22/10/2012 của Bộ Y tế Các văn bản này nêu rõ các điều kiện chung nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm, cũng như các dụng cụ, vật liệu bao gói và chứa đựng thực phẩm.
1.4.1.1 Địa điểm, môi trường a Có đủ diện tích để bố trí các khu vực của dây chuyền sản xuất thực phẩm và thuận tiện cho việc vận chuyển thực phẩm b Khu vực sản xuất không bị ngập nước, đọng nước c Không bị ảnh hưởng bởi động vật, côn trùng, vi sinh vật gây hại d Không bị ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm từ các khu vực ô nhiễm bụi, hoá chất độc hại và các nguồn gây ô nhiễm khác
Thiết kế và bố trí nhà xưởng cần đảm bảo diện tích phù hợp với quy trình sản xuất Quy trình sản xuất thực phẩm phải tuân theo nguyên tắc một chiều, từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng Các khu vực như kho nguyên liệu, kho thành phẩm, khu sản xuất, sơ chế, chế biến, đóng gói, vệ sinh, thay đồ bảo hộ và các khu vực phụ trợ phải được thiết kế tách biệt Nguyên liệu, thành phẩm, vật liệu bao gói và phế thải cần được phân luồng riêng Đường nội bộ phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh, trong khi cống rãnh thoát nước thải cần được che kín và vệ sinh thường xuyên Nơi tập kết và xử lý chất thải phải nằm ngoài khu vực sản xuất thực phẩm.
Kết cấu nhà xưởng cần phải vững chắc, phù hợp với quy trình sản xuất thực phẩm Vật liệu tiếp xúc với thực phẩm phải tạo ra bề mặt nhẵn, không thấm nước, không thôi nhiễm độc hại, và dễ vệ sinh Trần nhà cần phẳng, sáng màu, không dột, không rạn nứt và dễ làm sạch Nền nhà phải phẳng, nhẵn, chịu tải trọng, không trơn trượt, thoát nước tốt và dễ vệ sinh Cửa ra vào và cửa sổ nên được làm từ vật liệu chắc chắn, nhẵn, kín và thuận tiện cho việc vệ sinh, đồng thời ngăn chặn côn trùng xâm nhập Cầu thang và các kệ cần được làm từ vật liệu bền, không trơn và dễ làm sạch, được bố trí hợp lý.
Hệ thống cung cấp nước cần đảm bảo đủ nước cho sản xuất thực phẩm, đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về chất lượng nước ăn uống số 01:2009/BYT Đồng thời, hệ thống cũng phải cung cấp đủ nước cho việc vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ và cơ sở, phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về chất lượng nước sinh hoạt số 02:2009/BYT Ngoài ra, các nguồn nước phải được kiểm tra chất lượng ít nhất 6 tháng một lần.
Hệ thống xử lý chất thải và rác thải cần có đầy đủ dụng cụ thu gom được làm từ vật liệu bền, kín và có nắp đậy, với khả năng khóa khi cần thiết Dụng cụ chứa chất thải nguy hiểm phải được thiết kế đặc biệt và dễ phân biệt để tránh ô nhiễm Hệ thống xử lý chất thải phải được vận hành thường xuyên và đảm bảo xử lý đạt tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Nhà vệ sinh phải được bố trí riêng biệt với khu vực sản xuất thực phẩm, không mở thông vào khu vực sản xuất và tối thiểu có 01 nhà vệ sinh cho 25 người Hệ thống thông gió cần được thiết kế hợp lý, đảm bảo không khí không thổi từ nhà vệ sinh sang khu vực sản xuất, cùng với hệ thống thoát nước dễ dàng loại bỏ chất thải và đảm bảo vệ sinh Cần có bảng chỉ dẫn “Rửa tay sau khi đi vệ sinh” ở vị trí dễ nhìn tại khu vực nhà vệ sinh Ngoài ra, cần có phòng thay trang phục bảo hộ lao động trước và sau khi làm việc.
Sản phẩm phải đảm bảo không bị biến dạng hay hỏng hóc, đồng thời phải chắc chắn và an toàn Ngoài ra, cần tránh nhiễm các chất độc hại, không ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn thực phẩm, cũng như không bị ô nhiễm bởi các tác nhân có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng theo quy định.
1.4.2 Điều kiện trang thiết bị, dụng cụ
Để đảm bảo vệ sinh trong khu vực sản xuất thực phẩm, cần trang bị đầy đủ các thiết bị rửa tay và khử trùng, bao gồm ủng, giày và dép Nơi rửa tay phải có nước sạch, nước sát trùng, và cung cấp khăn hoặc giấy lau tay dùng một lần hoặc máy sấy khô tay Mỗi phân xưởng sản xuất thực phẩm cần có ít nhất một bồn rửa tay cho 50 công nhân.
Thiết bị phòng chống côn trùng và động vật gây hại cần được chế tạo từ vật liệu không gỉ, dễ tháo rời để thuận tiện cho việc vệ sinh Thiết kế của thiết bị phải đảm bảo hiệu quả trong việc ngăn chặn côn trùng và động vật gây hại Đặc biệt, không nên sử dụng thuốc hay động vật để tiêu diệt chuột, côn trùng và động vật gây hại trong khu vực sản xuất thực phẩm.
1.4.2.3 Thiết bị, dụng cụ giám sát chất lượng
HUPH có đầy đủ thiết bị và dụng cụ giám sát chất lượng sản phẩm, đảm bảo đánh giá chính xác các chỉ tiêu chất lượng và an toàn thực phẩm Các thiết bị này được bảo dưỡng và kiểm định định kỳ để duy trì độ chính xác theo quy định.
Thiết bị, dụng cụ bao gói, bảo quản, vận chuyển
Đảm bảo an toàn và chất lượng thực phẩm là điều cần thiết, tránh nhiễm độc hại và ô nhiễm từ các tác nhân ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
1.4.3 Yêu cầu đối với người trực tiếp sản xuất thực phẩm [4]
Chủ cơ sở và người sản xuất thực phẩm cần có Giấy xác nhận tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm, đảm bảo sức khỏe và trang bị bảo hộ theo quy định.
1.5 Quy chuẩn kỹ thuật về nước sản xuất và sản phẩm nước uống đóng bình
Nước dùng để sản xuất nước uống đóng bình cần tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng theo QCVN 01:2009/BYT, được quy định trong Thông tư số 04/2009/TT-BYT ngày 17/6/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Sản phẩm nước uống đóng bình phải tuân thủ các chỉ tiêu vi sinh vật theo QCVN 6-1:2010/BYT, quy định về nước khoáng thiên nhiên và nước uống đóng chai Quy chuẩn này được ban hành kèm theo Thông tư số 34/TT-BYT ngày 02/6/2010.
Bộ trưởng Bộ Y tế [6], (tham khảo tại mục 1.2.2.)
1.6 Các thủ tục hành chính đối với cơ sở sản xuất nước uống đóng bình
Các thủ tục hành chính đối với cơ sở sản xuất nước uống đóng bình
Cơ sở sản xuất thực phẩm phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo Thông tư số 26/2012/TT-BYT của Bộ Y tế, ban hành ngày 30/11/2012 Giấy chứng nhận này áp dụng cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, cũng như dụng cụ và vật liệu bao gói thực phẩm.
Sản phẩm nước uống đóng bình cần có giấy xác nhận phù hợp với quy định an toàn thực phẩm, theo Thông tư số 19/2012/TT-BYT ngày 09/11/2012 của Bộ Y tế, hướng dẫn công bố hợp quy và công khai phù hợp quy định an toàn thực phẩm.
Một số nghiên cứu về ô nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng bình 12 1.8 Khung lý thuyết
1.7.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Gangil và cộng sự (2013) tại Ấn Độ cho thấy 50% mẫu nghiên cứu bị nhiễm vi sinh vật, trong đó 45% nhiễm do Coliforms, 20% do E.coli và 5% do Staphylococi.
Nghiên cứu của Cơ quan kiểm soát An toàn thực phẩm Ireland năm 2007 cho thấy 7,2% mẫu nghiên cứu bị nhiễm vi sinh vật Trong số đó, 1% mẫu nhiễm Escherichia coli, 0,8% nhiễm Pseudomonas aeruginosa, và 6,3% nhiễm các loại vi sinh vật khác.
Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (2012) tại Bangladesh năm 2012 có kết quả nhƣ sau: Có 86% mẫu nghiên cứu nhiễm coliforms, 63% nhiễm E coli và 50% nhiễm P aeruginosa[23]
1.7.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Kiều Lộc Thịnh năm 2012 về chất lượng nước uống đóng chai tại Kiên Giang cho thấy 42% mẫu nước không đạt chất lượng, với 40% bị ô nhiễm vi sinh vật và 22% không đạt chỉ tiêu hóa học Tỷ lệ cơ sở không đạt về vị trí, kết cấu là 27%, thiết bị, dụng cụ 9%, thoát nước 45%, nhà vệ sinh 49%, bảo quản 9%, và điều kiện sản xuất 59% Đặc biệt, không có mối liên quan giữa điều kiện vệ sinh cơ sở và tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ sản phẩm nước uống đóng chai không đạt tiêu chuẩn vẫn còn cao, với ô nhiễm vi sinh vật vượt trội so với ô nhiễm hóa học, cho thấy tình trạng an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất còn nhiều vấn đề cần khắc phục.
Nghiên cứu của Đặng Ngọc Chánh và cộng sự đã khảo sát chất lượng 150 mẫu sản phẩm nước uống đóng chai tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2006.
Theo báo cáo HUPH, trong số 150 mẫu nước đóng chai được kiểm nghiệm, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn cho phép, ngoại trừ chỉ tiêu pH đạt mức khá thấp với 75% Đối với sản phẩm từ nguồn nước giếng, chỉ tiêu pH chỉ đạt 55,41%, và có 2,7% mẫu vượt giới hạn cho phép về nitrit Về chỉ tiêu vi sinh, 71,05% mẫu nước máy đạt tiêu chuẩn về Coliform tổng số, trong khi 82,21% mẫu đạt tiêu chuẩn về Pseudomonas aeruginosa; sản phẩm từ nước giếng có chỉ tiêu vi sinh chưa được đề cập rõ ràng.
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ tiêu Coliform tổng số đạt 64,74% và E.coli đạt 91,89%, cho thấy tỷ lệ mẫu nước uống đóng chai đạt yêu cầu còn thấp Cụ thể, chỉ có 68% mẫu đạt về Coliform tổng số, 84,67% mẫu đạt về Pseudomonas aeruginosa, 93,33% mẫu đạt về E.coli và 98,67% mẫu đạt về Clostridium khử sunfit Trong tổng số 150 mẫu khảo sát, chỉ có 63 mẫu đạt yêu cầu chất lượng, chiếm 42%, trong khi 87 mẫu không đạt tiêu chuẩn, chiếm 58%.
Nghiên cứu của Hứa Thủy Ngân năm 2014 tại tỉnh Sóc Trăng cho thấy tỷ lệ nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai là 32,9% Các yếu tố liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất cũng được xem xét trong nghiên cứu này.
Pseudomonas aeruginosa chiếm tỷ lệ cao nhất với 30%, trong khi nhiễm Coliforms chỉ chiếm 11,4% Các vi khuẩn như E coli, Clostridium và Streptococci fecal không được phát hiện Về điều kiện cơ sở, 64,1% cơ sở đạt yêu cầu về vị trí kết cấu nhà xưởng, 80% đạt yêu cầu về trang thiết bị và dụng cụ sản xuất, và 66,9% đạt yêu cầu về hệ thống thoát nước Những cơ sở đạt tiêu chuẩn về điều kiện cơ sở sản xuất có tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng cao hơn so với những cơ sở không đạt yêu cầu.
Nghiên cứu của Đặng Xuân Bình và cộng sự năm 2010 tại thành phố Thái Nguyên cho thấy 75% mẫu nước uống đóng chai không đạt tiêu chuẩn về Coliforms, 69,2% không đạt về E coli, và 13% không đạt về P aeruginosa Đặc biệt, 68,9% mẫu nước bị nhiễm hai loại vi khuẩn.
HUPH khuẩn Coliform và E.coli, có 3,7% mẫu nhiễm hai loại vi khuẩn Coliform và P.aeruginosa
Nghiên cứu của Cao Thị Thanh Thúy năm 2015 tại tỉnh Bến Tre cho thấy tỷ lệ nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai là 40,9%.
Pseudomnas aeruginosa 36,3%, nhiễm Coliform tổng số 18,1% và E.coli 3%[22]
Nghiên cứu của Nguyễn Duy Long, Võ Thị Kiều Oanh tại tỉnh Khánh Hòa năm 2011-2012: Nhiễm doColiform tổng số 81,1%, nhiễm do Pseudomnas aeruginosalà 66%[17]
Nghiên cứu của Trần Thị Ánh Hồng tại Bình Định năm 2011: Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật ở nước uống đóng chai là là 36%, nhiễm do P aeruginosachiếm 98%[16]
Thực trạng ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm nước uống đóng chai và đóng bình đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng Cần thiết phải có những giải pháp can thiệp hiệu quả để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm này.
1.8 Khung lý thuyết Ô nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai và điều kiện an toàn thực phẩm của cơ sở sản xuất Điều kiện an toàn thực phẩm người sản xuất Điều kiện an toàn thực phẩm trang thiết bị, dụng cụ Điều kiện an toàn thực phẩm bình tái sử dụng Điều kiện an toàn thực phẩm nhà xưởng cơ sở sản xuất
Thông tin về địa bàn nghiên cứu
1.9.1.Vị trí địa lý Đồng Tháp (Đất Sen Hồng) là một tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở đầu nguồn sông Tiền, phía Đông giáp với tỉnh Long An, Tây giáp với tỉnh An Giang,phía Nam giáp thành phố CầnThơ,phía Bắc giáp tỉnh Preyveng – Campuchia Tổng diện tích tự nhiên 3.238 km 2 (có 2/3 diện tích tự nhiên thuộc khu vực Đồng Tháp Mười), với 09 huyện, 01 thị xã, 02 thành phố, thủ phủ Đất Sen Hồng đặt tại thành phố Cao Lãnh
1.9.2.Hoạt động sản xuất nước uống đóng bình
Theo thống kê hiện tỉnh có 116 cơ sở sản xuất nước uống đóng bình đa phần các cơ sở này sản xuất ở quy mô kinh tế hộ gia đình [13]
Sản phẩm chính là nước uống đóng bình 20 lít, với sản lượng hàng chục ngàn bình mỗi ngày Nước uống này được tiêu thụ chủ yếu trong nội tỉnh và các tỉnh lân cận.
Với sự gia tăng đáng kể về số lượng cơ sở sản xuất và sản phẩm nước uống đóng bình 20 lít được cung cấp hàng ngày, chất lượng an toàn thực phẩm của sản phẩm này trở thành một vấn đề cần được chú trọng.
TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Cơ sở sản xuất nước uống đóng bình tại tỉnh Đồng Tháp cung cấp sản phẩm nước uống đóng bình với thể tích 20 lít cho mỗi đơn vị sản phẩm.
2.1.2.1 Đối với cơ sở sản xuất
Là những cơ sở đang hoạt động có địa chỉ thuộc địa bàn tỉnh Đồng Tháp 2.1.2.2 Đối với sản phẩm
Mẫu sản phẩm cần phải là nước uống đóng bình với thể tích 20 lít cho mỗi đơn vị, đã được bao gói hoàn chỉnh và đại diện cho lô hàng Sản phẩm này phải đảm bảo tính khách quan và được lấy từ cơ sở sản xuất trong tỉnh.
2.1.3.1 Đối với cơ sở sản xuất
Những cơ sở đã ngƣng hoạt động hoặc đang bị đình chỉ hoạt động
Các sản phẩm có bình chứa bị biến dạng hoặc hỏng hóc, nước bên trong có vật thể lạ, và những sản phẩm được bày bán tại các cơ sở kinh doanh hoặc hộ gia đình cần được kiểm tra và xử lý kịp thời.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Tại tỉnh Đồng Tháp, từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 6 năm 2016.
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lƣợng.
Cỡ mẫu nghiên cứu
2.4.1 Đối với cơ sở sản xuất
Công thức tính cỡ mẫu: n: Cỡ mẫu nghiên cứu
: Là hệ số tin cậy, với độ tin cậy là 95%, do đó = 1,96
HUPH p là ước lượng tỷ lệ cơ sở không đạt quy định về an toàn thực phẩm, với tỷ lệ này theo các nghiên cứu trước đây là dưới 50% Dựa trên nghiên cứu của Sốc Trăng năm 2014, chọn p = 0,329 Sai số cho phép trong nghiên cứu được xác định là d = 0,09.
Qua tính toán kết quả n = 104, cộng 10% mẫu dự phòng Tổng số mẫu dự kiến là 114 cơ sở sản xuất
2.4.2 Đối với sản phẩm nước uống đóng bình
Công thức tính cỡ mẫu: n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Hệ số tin cậy được xác định với độ tin cậy 95%, tương ứng với giá trị 1,96 Tỷ lệ sản phẩm ô nhiễm vi sinh vật, theo các nghiên cứu trước đây, được ước lượng là dưới 50%, vì vậy chọn p = 0,329 Sai số cho phép trong nghiên cứu được xác định là d = 0,09.
Qua tính toán kết quả n = 104, cộng 10% mẫu dự phòng Tổng số mẫu dự kiến là 114 sản phẩm nước uống đóng bình
Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu dự kiến điều tra 114 cơ sở sản xuất và 114 sản phẩm nước uống đóng bình Số lượng này gần bằng với tổng số cơ sở sản xuất hiện đang hoạt động tại tỉnh Đồng Tháp, cụ thể là 116 cơ sở Do đó, phương pháp chọn mẫu được áp dụng là toàn bộ 116 cơ sở sản xuất và 116 sản phẩm nước uống đóng bình mà các cơ sở này sản xuất, với mỗi cơ sở lấy 01 mẫu sản phẩm có thể tích 20 lít để phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật.
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Đối với cơ sở sản xuất
Dựa trên danh sách của Chi cục An toàn Vệ sinh thực phẩm tỉnh Đồng Tháp, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát trực tiếp tại từng cơ sở để thực hiện nghiên cứu.
HUPH huyện vùng xa tiến hành nghiên cứu trước, những huyện gần nghiên cứu sau, thứ tự các cơ sở chọn dễ thực hiện nghiên cứu
2.5.2 Đối với sản phẩm nước uống đóng bình
Mẫu sản phẩm 20 lít đã được bao gói thành phẩm, sản xuất trước hoặc trong ngày điều tra, đại diện cho lô hàng và đảm bảo tính khách quan Kỹ thuật lấy mẫu tuân thủ Thông tư 14/2011/TT-BYT ngày 01/04/2011 của Bộ Y tế, hướng dẫn về việc lấy mẫu thực phẩm phục vụ thanh tra, kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Phương pháp thu thập số liệu
Bao gồm các phương pháp quan sát, xem hồ sơ và đánh giá cảm quan cụ thể cho từng nội dung nhƣ sau:
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
2.6.1.1 Xác định tỷ lệ ô nhiễm vi sinh trong sản phẩm
Mẫu sản phẩm 20 lít đã được bao gói thành phẩm, sản xuất trước hoặc trong ngày điều tra, đại diện cho lô hàng và đảm bảo tính khách quan Kỹ thuật lấy mẫu tuân thủ Thông tư 14/2011/TT-BYT ngày 01/04/2011 của Bộ Y tế, hướng dẫn về lấy mẫu thực phẩm phục vụ thanh tra, kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tại kho chứa thành phẩm, sản phẩm được xếp theo hình chữ nhật hoặc vuông, chọn 05 sản phẩm từ các góc và giao điểm của hai đường chéo để đảm bảo mẫu hàng hóa Quá trình này tiếp tục cho đến khi số lượng mẫu giảm xuống còn 09 sản phẩm, sau đó chia thành 03 cụm, mỗi cụm 03 sản phẩm Một cụm được chọn ngẫu nhiên để kiểm nghiệm, trong đó cơ sở lưu lại 01 đơn vị sản phẩm, nhóm nghiên cứu lấy 02 đơn vị sản phẩm và chuyển về Trung tâm.
Kỹ thuật thí nghiệm và Ứng dụng Khoa học Công nghệ tỉnh Đồng Tháp, số 03, đường 26/3, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (01đễ kiểm nghiệm,
Các điều tra viên của Chi cục An toàn Vệ sinh thực phẩm Đồng Tháp, được cấp chứng chỉ lấy mẫu thực phẩm bởi Viện Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ cụ thể: một điều tra viên phụ trách lấy mẫu, một điều tra viên ghi chép, và một điều tra viên đảm nhận việc bảo quản và chuyển mẫu ra xe.
Kinh phí xét nghiệm là 60.900.000đ, được Chi cục An toàn Vệ sinh thực phẩm tỉnh Đồng Tháp hỗ trợ Điều tra viên thực hiện việc lấy mẫu sản phẩm, bảo quản mẫu theo yêu cầu của nhà sản xuất và chuyển đến phòng thử nghiệm của Trung tâm Kỹ thuật thí nghiệm và Ứng dụng Khoa học Công nghệ tỉnh Đồng Tháp, đảm bảo tuân thủ quy định lấy mẫu của Bộ Y tế.
Kết quả kiểm nghiệm vi sinh vật được thực hiện theo QCVN 6-1:2010/BYT, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho nước khoáng thiên nhiên và nước uống đóng chai, được ban hành kèm theo Thông tư số 34/TT-BYT ngày 02/6/2010 của Bộ Y tế nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh Đồng thời, điều kiện an toàn thực phẩm của cơ sở sản xuất cũng cần được mô tả rõ ràng để đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Dùng bảng kiểm quan sát, xem hồ sơ và đánh giá cảm quan về điều kiện an toàn thực phẩm của điều tra viên
2.6.1.3 Xác định mối liên quan về điều kiện an toàn thực phẩm của cơ sở sản xuất với tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật
Gồm các công cụ nêu trên và kiểm định thống kê để xác định mối liên quan 2.6.2 Cách thức tiến hành
Các điều tra viên tiến hành đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm tại cơ sở, bao gồm việc lấy mẫu sản phẩm, bảo quản và vận chuyển mẫu đến phòng kiểm nghiệm (thuê kiểm nghiệm) Họ cũng thực hiện tổng hợp và phân tích các số liệu điều tra.
Các biến số trong nghiên cứu
Nghiên cứu này bao gồm 06 bảng biến số, trong đó có: tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm, thông tin chung của cơ sở sản xuất, điều kiện nhà xưởng, điều kiện trang thiết bị và dụng cụ, cùng với điều kiện an toàn thực phẩm liên quan đến con người.
HUPH trong sản xuất; biến số về điều kiện an toàn thực phẩm bình tái sử dụng (xem chi tiết tại phụ lục 2)
TT Chỉ tiêu Phương pháp thử Giới hạn Đơn vị tính
1 Coliform tổng số TCVN 6187-1:2009 (ISO
3 Clostridium TCVN 6191-1 : 1996 0 Vi khuẩn/50ml
4 S faecalis ISO 7899-2 : 2000 0 Vi khuẩn/250ml
5 P aeruginosa ISO 16266 : 2006 0 Vi khuẩn/250ml
2.8.1.1 Ô nhiễm vi sinh vật chung
Nếu cả 5 chỉ tiêu từng loại vi khuẩn đều đạt: Mẫu đạt tiêu chuẩn
Nếu 1 (hoặc nhiều hơn) trong 5 chỉ tiêu không đạt: Mẫu không đạt
2.8.1.2 Ô nhiễm từng loại vi sinh vật
Không có vi khuẩn trong sản phẩm: Kết luận đạt chỉ tiêu vi khuẩn đó
Nếu có vi khuẩn trong sản phẩm: Kết luận không đạt chỉ tiêu vi khuẩn đó 2.8.2 Mô tả điều kiện chung an toàn thực phẩm cơ sở
2.8.2.1 Về điều kiện cơ sở (gồm 7 tiêu chí tại bảng 2 3)
Nếu tất cả 7 tiêu chí đều đạt: Đạt
Nếu 1 trong 7 tiêu chí không đạt: Không đạt
2.8.2.2.Về điều kiện đối với trang thiết bị, dụng cụ (gồm 6 tiêu chí tại bảng 2 4)
Nếu tất cả 6 tiêu chí đều đạt: Đạt
Nếu 1 trong 6 tiêu chí không đạt: Không đạt
2.8.2.3.Điều kiện về con người trong sản xuất (gồm 4 tiêu chí tại bảng 2.5) Nếu tất cả 4 tiêu chí đều đạt: Đạt
Nếu 1 trong 4 tiêu chí không đạt: Không đạt
2.8.2.4.Điều kiện an toàn thực phẩm nơi rửa bình tái sử dụng (4 tiêu chí bảng 2.6)
Nếu tất cả 4 tiêu chí đều đạt: Đạt
Nếu 1 trong 4 tiêu chí không đạt: Không đạt
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu đƣợc nhập bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích bằng phần mềm Portable IBM SPSS Statistics version19
Sử dụng kiểm định thống kê để đánh giá mối liên hệ giữa các yếu tố điều kiện tại cơ sở và tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng chai.
Vấn đề y đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu làm gián đoạn thời gian sản xuất, chậm trễ tronggiao hàng của cơ sở Vì sức khỏe của người tiêu dùng nghiên cứu này là ưu việc
Nghiên cứu đã được Chi cục An toàn Vệ sinh thực phẩm tỉnh Đồng Tháp phê duyệt, và kết quả sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho các bên liên quan, đồng thời làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.
Tất cả các chủ cơ sở sản xuất sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích, nội dung và ý nghĩa của nghiên cứu Họ có quyền từ chối tham gia, và mọi thông tin của các cơ sở sản xuất tham gia sẽ được bảo mật hoàn toàn.
Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức nghiên cứu y sinh học của trường Đại học Y tế Công cộng thông qua.
Hạn chế,sai số của nghiên cứu và biện pháp khắc phục
Mẫu kiểm nghiệm được lấy từ sản phẩm nước trong bình 20 lít, không sử dụng mẫu từ các chai có thể tích khác như 330ml, 500ml hay 1 lít Điều này dẫn đến việc không thể xác định tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật cho từng thể tích sản phẩm.
Không nghiên cứu trên dây chuyền công nghệ sản xuất,không xét nghiệm nước nguyên liệu nên không so sánh được chất lượng của từng dây chuyền sản xuất
2.10.2 Sai số trong nghiên cứu
Sai số do thiết kế bảng kiểm thiếu biến số
Bảo quản mẫu sản phẩm không đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất sẽ có nguy cơ làm kết quả kiểm nghiệm không chính xác
Việc đánh giá an toàn thực phẩm tại cơ sở sản xuất thông qua phương pháp quan sát và cảm quan có thể dẫn đến những sai sót chủ quan từ phía điều tra viên.
Tiến hành thử nghiệm bảng kiểm để khắc phục những thiếu sót
Để đảm bảo chất lượng, cần bảo quản mẫu sản phẩm theo đúng quy định và yêu cầu của nhà sản xuất trước khi chuyển đến phòng thí nghiệm Đồng thời, các điều tra viên đã được tập huấn kỹ năng điều tra một cách bài bản.
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Đồng Tháp với 116 cơ sở sản xuất nước uống đóng bình Tất cả 116 phiếu điều tra và mẫu nước uống đóng bình được thu thập đều được bảo quản an toàn, không bị thất lạc hay hỏng hóc trong quá trình phân tích Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày dưới đây.
Ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm nước uống đóng bình (n = 116)
Bảng 3.1 Ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm
Chỉ tiêu nghiên cứu Định tính ô nhiễm Định lƣợng ô nhiễm
Tần số Tỷ lệ (%) Số lƣợng vi khuẩn Tối thiểu –
Bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit 0 0 0/50ml Ô nhiễm vi sinh vật chung 27 23,3 187 ± 274,8 13-1.100
Trong số 116 sản phẩm nước uống đóng bình được kiểm nghiệm, có 27 sản phẩm nhiễm vi sinh vật, chiếm tỷ lệ 23,3% Tỷ lệ nhiễm Pseudomonas aeruginosa là 14,6%, nhiễm Coliform tổng số là 6,9%, và nhiễm Streptococci fecal là 1,7%.
Không có sản phẩm nào bị nhiễmE coli hoặc Bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit
Trong các sản phẩm nhiễm vi sinh vật, nồng độ Coliform tổng số trung bình là 381 vi khuẩn/250ml, với mức thấp nhất là 13 vi khuẩn/250ml và cao nhất là 1.100 vi khuẩn/250ml Đối với S feacal, nồng độ trung bình ghi nhận là 75 vi khuẩn/250ml.
Sản phẩm HUPH chứa vi khuẩn với nồng độ dao động từ 50 đến 100 vi khuẩn/250ml, trong khi nhiễm P aeruginosa có nồng độ trung bình là 109 vi khuẩn/250ml, với mức thấp nhất là 22 vi khuẩn/250ml và cao nhất là 180 vi khuẩn/250ml.
Bảng 3.2 Ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm theo nước nguyên liệu
Nước nguyên liệu n Ô nhiễm Không ô nhiễm
Tần suất Tỉ lệ (%) Tần suất Tỷlệ
Trong 90 sản phẩm được sản xuất từ nguồn nước máy, có 19 sản phẩm nhiễm vi sinh vật, chiếm tỷ lệ 21,1%;
Trong 11 sản phẩm được sản xuất từ nước giếng khoan, có 02 sản phẩm nhiễm vi sinh vật, chiếm tỷ lệ 18,2%;
Trong 15 sản phẩm được sản xuất từ nước sông, có 06 sản phẩm nhiễm vi sinh vật, chiếm tỷ lệ 40%
Bảng 3.3.Ô nhiễm Coliform tổng số trong sản phẩm phẩm theo nước nguyên liệu Nước nguyên liệu n Tần suất ô nhiễm Tỷ lệ (%)
Trong 90 sản phẩm được sản xuất từ nguồn nước máy, có 6 sản phẩm nhiễm
Trong 11 sản phẩm được sản xuất từ nguồn nước giếng khoan, không có sản phẩm nhiễm Coliformtổng số;
Trong 15 sản phẩm được sản xuất từ nguồn nước sông, có 2 sản phẩm nhiễm
Coliformtổng số, chiếm tỷ lệ 13,3%
Bảng 3.4 Ô nhiễm E.colitrong sản phẩm theo nước nguyên liệu
Nước nguyên liệu n Tần suất ô nhiễm Tỷ lệ (%)
Trong 116 sản phẩm được kiểm nghiệm (90 từ nguồn nước máy, 11 từ nước giếng khoan, 15 từ nước sông) không có sản phẩm nào bị nhiễm E.coli
Bảng 3.5 Ô nhiễm bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit trong sản phẩm theo nước nguyên liệu
Nước nguyên liệu n Tần suất ô nhiễm Tỷ lệ (%)
Trong số 116 sản phẩm được kiểm nghiệm, bao gồm 90 mẫu từ nguồn nước máy, 11 mẫu từ nước giếng khoan và 15 mẫu từ nước sông, không có sản phẩm nào phát hiện nhiễm bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit.
Bảng 3.6 Ô nhiễm Streptococcus feacal trong sản phẩm theo nước nguyên liệu Nước nguyên liệu n Tần suấ ô nhiễm Tỷ lệ (%)
Trong 90 sản phẩmđược sản xuất từ nguồn nướcmáy, có 1 mẫu nhiễm
Streptococci feacal, chiếm tỷ lệ 1,1%;
Trong11 sản phẩmđược sản xuất từ nguồn nước giếng,có1 mẫu nhiễm
Streptococcus feacal,chiếm tỷ lệ 9,1%;
Trong 15 sản phẩm được sản xuất từ nguồn nước sông, không có mẫu nào bị nhiễm Streptococus feacal
Bảng 3.7 Ô nhiễm P aeruginosa trong sản phẩm theo nước nguyên liệu
Nước nguyên liệu n Tần suất ô nhiễm Tỷ lệ (%)
Trong 90 sản phẩmđược sản xuất từ nguồn nước máy, có 12 sản phẩm nhiễm
Pseudomonas aeruginosa,chiếm tỷ lệ 13,3%;
Trong 11 sản phẩm được sản xuất từ nguồn nước giếng, có 1 sản phẩm nhiễm Pseudomonas aeruginosa,chiếm tỷ lệ 9,1%;
Trong 15 sản phẩm được sản xuất từ nguồn nước sông, có 4 sản phẩm nhiễm
Pseudomonas aeruginosa,chiếm tỷ lệ 26,7%
Biểu đồ 1: Tỷ lệ t ng ch tiêu vi sinh vật trong các m u bị ô nhiễm
Trong 27 sản phẩm ô nhiễm vi sinh (Bảng 3.1), nhiễm doPseudomonas aeruginosa là 17, chiếm tỷ lệ 63%, nhiễm doColiform tổng số là 8, chiếm tỷ lệ 30%, nhiễm doStreptococci feacallà 2, chiếm tỷ lệ 7%, không có sản phẩm nào bị nhiễm
E coli hoặc Bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit
Bảng 3.8 Ô nhiễm t ng loại vi sinhtrong sản phẩm nước theo nước nguyên liệu
Trong 19 sản phẩm được sản xuất từ nguồn nước máy bị nhiễm vi sinh vật,có
Twelve products were found to be contaminated with Pseudomonas aeruginosa, accounting for 63.15% of the total Additionally, six products showed contamination with total Coliform, representing 31.58% One product was contaminated with Streptococci fecalis, which constitutes 5.27% Notably, there were no products contaminated with E coli or anaerobic sulfate-reducing bacteria spores.
Trong 2 sản phẩm có nguồn nước sản xuất là nước giếng khoan bị nhiễm vi sinh vật, có 1 sản phẩm bị nhiễm Pseudomonas aeruginosa và 1 sản phẩm bị nhiễm
Coliform tổng số, không có sản phẩm nào bị nhiễm E coli hoặc Bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit hoặc Streptococci aeruginosa;
Trong 6 sản phẩm có nước nguồn sản xuất là nước sông bị nhiễm vi sinh vật, có 4 sản phẩm bị nhiễm Pseudomonas aeruginosa, chiếm tỷ lệ 66,67%, có 2 sản phẩm bị nhiễm Coliform tổng số, chiếm tỷ lệ 33,33%, không có mẫu nào bị nhiễm
E coli hoặc Bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit hoặc Streptococci feacal
Điều kiện an toàn thực phẩm của cơ sở sản xuất
Bảng 3.9 Điều kiện an toàn thực phẩm nhà xưởng của cơ sở sản xuất (n 6)
TT Chỉ tiêu nghiên cứu Đạt Không đạt
2 Thiết kế, bố trí nhà xưởng 114 98,3 2 1,7
4 Hệ thống cung cấp nước 114 98,3 2 1,7
5 Hệ thống xử lý chất thải, rác thải 116 100 0 0
6 Nhà vệ sinh, phòng thay đồ bảo hộ lao động 112 96,6 4 3,4
8 Đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm nhà xưởng của cơ sở sản xuất
Trong số 116 cơ sở được khảo sát, có 10 cơ sở không đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm trong nhà xưởng, chiếm 8,6% Các vấn đề không đạt bao gồm kết cấu nhà xưởng, phòng thay bảo hộ lao động, thiết kế và bố trí nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước, cũng như địa điểm và môi trường.
Bảng 3.10 Điều kiện an toàn thực phẩm đối với trang thiết bị, dụng cụ (n6)
TT Chỉ tiêu nghiên cứu Đạt Không đạt
1 Phương tiện rửa và khử trùng tay 114 98,3 2 1,7
2 Thiết bị phòng chống côn trùng, động vật gây hại 115 99,1 1 0,9
3 Thiết bị, dụng cụ giám sát chất lƣợng 116 100 0 0
4 Thiết bị, dụng cụ, bao gói, bảo quản, vận chuyển 116 100 0 0
5 Đánh giá về điều kiện an toàn thực phẩm đối với trang thiết bị, dụng cụ 115 99,1 1 0,9
Trong số 116 cơ sở được khảo sát, chỉ có 1 cơ sở không đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm về trang thiết bị và dụng cụ, chiếm tỷ lệ 0,9% Cơ sở này không đạt ở hai nội dung quan trọng: phương tiện rửa và khử trùng tay, cũng như thiết bị phòng chống côn trùng và động vật gây hại.
Bảng 3.11 Đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất (n6)
TT Chỉ tiêu nghiên cứu Đạt Không đạt
1 Sổ khám sức khoẻ cho người sản xuất 115 99,1 1 0,9
2 Giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm 109 94,0 7 6,0
3 Thực hành của người sản xuất 95 81,9 21 18,1
4 Đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất 95 81,9 21 18,1
Trong số 116 cơ sở được khảo sát, có 21 cơ sở không đạt tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, chiếm 18,1% Tất cả 21 cơ sở này đều không đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm.
HUPH đã chỉ ra rằng có 7 cơ sở sản xuất không có giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm và 1 cơ sở không thực hiện khám sức khỏe cho người sản xuất.
Bảng 3.12 Điều kiện an toàn thực phẩm bình tái sử dụng (n6)
TT Chỉ tiêu nghiên cứu Đạt Không đạt
1 Địa điểm, kết cấu, môi trường xung quanh 110 94,8 6 5,2
4 Nơi phơi bình sau khi rửa 99 85,3 17 14,7
5 Đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm rửa bình tái sử dụng 88 75,9 28 24,1
Trong số 116 cơ sở được khảo sát, có 28 cơ sở không đạt yêu cầu về điều kiện rửa bình tái sử dụng, chiếm 24,1% Các vấn đề không đạt bao gồm quy trình rửa bình, nơi phơi bình sau khi rửa, địa điểm và kết cấu môi trường xung quanh, cũng như hóa chất sử dụng trong quá trình rửa bình.
Bảng 3.13 trình bày đánh giá chung về điều kiện an toàn thực phẩm của cơ sở với tần suất đạt 76 và tỷ lệ 65,5%.
Trong số 116 cơ sở được khảo sát, có 40 cơ sở không đạt yêu cầu về điều kiện an toàn thực phẩm, chiếm 34,5% Trong đó, tỷ lệ không đạt về điều kiện nơi rửa bình tái sử dụng là 24,1%.
“không đạt” về điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất chiếm tỷ lệ 18,1%;
“không đạt” về điều kiện an toàn thực phẩn cơ sở chiếm tỷ lệ 8,6%; “không đạt” về điều kiện trang thiết bị, dụng cụ chiếm tỷ lệ 0,9%.
Một số yếu tố liên quan đến ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm
Bảng 3.14 thể hiện mối liên quan giữa điều kiện an toàn thực phẩm trong nhà xưởng của cơ sở sản xuất và mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm Điều kiện an toàn thực phẩm tại cơ sở sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm vi sinh vật, từ đó đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm Tổng
Tại những cơ sở “không đạt” điều kiện an toàn thực phẩm nhà xưởng cơ sở sản xuất, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm là 70%
Tại những cơ sở sản xuất “đạt” điều kiện an toàn thực phẩm nhà xưởng của cơ sở, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm là 18,9%
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt thống kê rõ rệt về tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong nước thành phẩm giữa các cơ sở sản xuất đạt và không đạt điều kiện an toàn thực phẩm Cụ thể, nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm tại các cơ sở "không đạt" cao gấp 10 lần so với các cơ sở "đạt", với giá trị p = 0,001.
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa điều kiện an toàn thực phẩm của trang thiết bị, dụng cụ sản xuất với ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm
Chưa có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa điều kiện an toàn thực phẩm của trang thiết bị và dụng cụ sản xuất với ô nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng bình thành phẩm.
Bảng 3.16 thể hiện mối liên quan giữa điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất và tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm Điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm vi sinh vật, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm Tổng
(tần số, %) Nhiễm (tần số, %) Không (tần số, %)
Tại những cơ sở “không đạt”điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm là 81%
Tại những cơ sở “đạt” điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm là 10,5%
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt thống kê rõ rệt về tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong nước thành phẩm giữa các cơ sở đạt và không đạt điều kiện an toàn thực phẩm Cụ thể, tại các cơ sở "không đạt" điều kiện an toàn, nguy cơ sản phẩm bị nhiễm vi sinh vật cao gấp 36,1 lần so với các cơ sở "đạt", với giá trị p = 0,001.
Bảng 3.17 trình bày mối liên quan giữa điều kiện an toàn thực phẩm của bình tái sử dụng và tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm Việc đảm bảo các điều kiện an toàn thực phẩm cho bình tái sử dụng là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật.
Nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm Tổng
(tần số, %) Nhiễm (tần số, %) Không (tần số, %)
Tại những cơ sở “không đạt” điều kiện an toàn thực phẩm bình tái sử dụng, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm là 64,3%
Tại những cơ sở “đạt” điều kiện an toàn thực phẩm bình tái sử dụng, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm là 10,2%
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt thống kê rõ rệt về tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong nước thành phẩm giữa các cơ sở đạt và không đạt điều kiện an toàn thực phẩm đối với bình tái sử dụng Cụ thể, nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật ở các cơ sở "không đạt" cao gấp 15,8 lần so với các cơ sở "đạt", với giá trị p < 0,001.
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa điều kiện an toàn thực phẩm chung với tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm Điều kiện an toàn thực phẩm chung
Nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm Tổng
(tần số, %) Nhiễm (tần số, %) Không (tần số, %)
Tại những cơ sở “không đạt” điều kiện an toàn thực phẩm chung, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm là 60%
Tại những cơ sở “đạt” điều kiện an toàn thực phẩm chung, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm là 3,9%;
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt thống kê về tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong nước thành phẩm giữa các cơ sở đạt và không đạt điều kiện an toàn thực phẩm Cụ thể, tại các cơ sở "không đạt", nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật cao gấp 36,5 lần so với các cơ sở "đạt", với giá trị p = 0,001.
BÀN LUẬN
Thực trạng ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm nước uống đóng bình
Tại tỉnh Đồng Tháp, thành phố Cao Lãnh và huyện Cao Lãnh là hai địa phương có số lượng cơ sở sản xuất nước uống đóng chai nhiều nhất Nguyên nhân là do thành phố Cao Lãnh là trung tâm hành chính, có dân cư đông đúc và khu công nghiệp phát triển, trong khi huyện Cao Lãnh có địa giới hành chính rộng, mật độ dân cư cao và nhiều đơn vị hành chính cấp xã.
Trong 116 cơ sở sản xuất nước đóng chai được nghiên cứu, 90 cơ sở sử dụng nước máy, chiếm 77,58%, nhờ vào tính dễ tiếp cận và chi phí đầu tư thấp 11 cơ sở, tương đương 9,48%, sử dụng nước giếng khoan để chủ động nguồn nước sản xuất, mặc dù chi phí khoan giếng cao khoảng 120.000.000 đồng mỗi giếng Ngoài ra, 15 cơ sở, chiếm 12,94%, sử dụng nước sông do vị trí gần kề, giúp giảm chi phí sản xuất, nhưng cần đầu tư ban đầu cho bồn hoặc hồ chứa khoảng 40.000.000 đồng.
Trong 15 sản phẩm được sản xuất từ nước sông, có 06 sản phẩm nhiễm vi sinh, chiếm tỷ lệ 40%; trong 90 sản phẩm được sản xuất từ nguồn nước máy, có 19 sản phẩm nhiễm vi sinh, chiếm tỷ lệ 21,1%; trong 11 sản phẩm đƣợc sản xuất từ nước giếng khoan, có 02 sản phẩm nhiễm vi sinh, chiếm tỷ lệ 18,2%
Sử dụng nước sông trong sản xuất có nguy cơ nhiễm vi sinh vật cao hơn so với nước máy và nước giếng khoan Nguyên nhân có thể là do ô nhiễm nặng từ nguồn nước sông hoặc quy trình xử lý thô chưa đảm bảo chất lượng.
Qua khảo sát 116 mẫu sản phẩm nước uống đóng bình (20 lít) từ 116 cơ sở sản xuất tại tỉnh Đồng Tháp, có 27 mẫu bị nhiễm vi sinh vật, chiếm tỷ lệ đáng kể.
Tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm nghiên cứu là 23,3%, thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây Nguyên nhân gây ô nhiễm vi sinh vật bao gồm điều kiện an toàn thực phẩm tại cơ sở sản xuất, điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất, và điều kiện an toàn thực phẩm của bình tái sử dụng Cụ thể, nghiên cứu của Kiều Lộc Thịnh tại Kiên Giang năm 2012 cho thấy tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật là 40%, trong khi nghiên cứu của Hứa Thủy Ngân tại Sóc Trăng năm 2014 ghi nhận tỷ lệ 32,9%.
Tại Hồ Chí Minh năm 2006, tỷ lệ mẫu sản phẩm nhiễm vi sinh vật đạt 38,66%, trong khi nghiên cứu của Gangil và cộng sự tại Ấn Độ năm 2013 cho thấy tỷ lệ này lên tới 50% Đặc biệt, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật tại Đồng Tháp cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Cơ quan kiểm soát An toàn thực phẩm Ireland năm 2007, chỉ ghi nhận 7,2% mẫu nhiễm vi sinh vật Tình trạng ô nhiễm vi sinh vật trong nước uống đóng bình (20 lít) tại Đồng Tháp đang tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng, đặc biệt khi có 27 cơ sở sản xuất không đạt tiêu chuẩn, mỗi ngày cung cấp hàng ngàn sản phẩm.
4.1.1 Ô nhiễm từng loại vi sinh vật
Tỷ lệ sản phẩm nhiễm Pseudomonas aeruginosa đạt 63%, cao hơn so với nghiên cứu của Hứa Thủy Ngân tại Sóc Trăng năm 2014 (30%) và thấp hơn so với nghiên cứu của Ahmed và cộng sự tại Bangladesh năm 2012 (50%) Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa có khả năng gây ra nhiều loại nhiễm khuẩn nghiêm trọng như nhiễm khuẩn phổi, tim, tiết niệu, não, màng não và nhiễm trùng huyết, có thể dẫn đến tử vong nếu nhiễm trùng nặng Do đó, nguy cơ ngộ độc thực phẩm từ sản phẩm nhiễm P aeruginosa là rất cao, đây là một vấn đề sức khỏe cần được chú ý.
Tỷ lệsản phẩm nhiễm do Coliform tổng số là 30%, cao hơn nghiên cứu của
Năm 2014, Hứa Thủy Ngân tại tỉnh Sóc Trăng ghi nhận tỷ lệ nhiễm Coliforms tổng số là 11,4%, thấp hơn so với nghiên cứu của Ahmed và cộng sự tại Bangladesh năm 2012 với 86% mẫu nhiễm Coliform tổng số có mặt trong đất, nước, thực phẩm, nước thải, cũng như trong đường ruột của động vật và con người Một số chủng Coliforms có thể gây bệnh cơ hội và dẫn đến nhiễm khuẩn.
HUPH có thể gây ra nhiều loại nhiễm trùng như nhiễm trùng đường hô hấp, dưới da và mô mềm, đường tiết niệu, viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm tủy xương và nhiễm trùng mắt Các triệu chứng bệnh thường gặp bao gồm đau bụng, nôn, tiêu chảy và sốt cao Coliforms là vi sinh vật chỉ thị cho mức độ ô nhiễm trong quá trình chế biến, bảo quản và vận chuyển thực phẩm, và sự hiện diện của chúng có thể chỉ ra nguy cơ xuất hiện vi sinh vật gây bệnh trong thực phẩm.
Tỷ lệ mẫu sản phẩm nhiễm Streptococci feacal đạt 7%, cao hơn so với nghiên cứu của Hứa Thủy Ngân tại tỉnh Sóc Trăng năm 2014, trong đó không phát hiện Streptococci feacal trong mẫu nghiên cứu Ngoài ra, tỷ lệ này cũng cao hơn so với nghiên cứu của Gangil và cộng sự tại Ấn Độ năm 2013, khi chỉ có 5% mẫu nghiên cứu bị nhiễm.
Staphylococci và Streptococci fecal là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu và vết thương Triệu chứng của bệnh bao gồm sốt cao, đau họng, đau đầu, sưng amidan, có thể xuất hiện đốm trắng hoặc vệt mủ, cùng với buồn nôn, nôn và sưng hạch bạch huyết ở cổ.
Streptococci feacallà vi khuẩn chỉ thị về mức độ mất an toàn của thực phẩm [2]
Trong nghiên cứu, không có mẫu nào nhiễm E.coli hoặc bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit, điều này phù hợp với nghiên cứu của Hứa Thủy Ngân tại tỉnh Sóc Trăng năm 2014, khi các vi khuẩn này không hiện diện Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Gangil và cộng sự tại Ấn Độ năm 2013, trong đó có 20% mẫu nhiễm Escherichia coli E coli sống trong đường ruột động vật và người, tiết ra độc tố gây ngộ độc, viêm nhiễm tại các cơ quan tiết niệu, sinh dục, và có thể dẫn đến triệu chứng như tiêu chảy, sốt cao, và mệt mỏi Bào tử vi khuẩn kị khí khử sulfit (Clostridium) cũng gây độc tố, dẫn đến ngộ độc thịt với triệu chứng như buồn nôn, đau bụng, và có thể gây tử vong Clostridium là vi khuẩn chỉ danh sự ô nhiễm phân người và động vật, hoặc thực phẩm không được bảo quản đúng cách Trong nghiên cứu này, Clostridium và Escherichia coli không có mặt.
HUPH trong các sản phẩm nghiên cứu, tuy nhiên vì những khả năng gây bệnh nhƣ trên, chúng ta cần phải lưu ý đến những loại vi sinh vật này
4.1.2 Nồng độ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm nước uống đóng bình bị ô nhiễm
Sản phẩm nước uống đóng bình hiện đang bị nhiễm Coliform tổng số với nồng độ trung bình là 381 vi khuẩn/250ml, trong đó nồng độ thấp nhất ghi nhận là 13 vi khuẩn/250ml và cao nhất là 1.100 vi khuẩn/250ml Kết quả này vượt xa so với nghiên cứu của Đặng Xuân Bình và cộng sự, trong đó chỉ tiêu vi khuẩn nhiễm trong nước uống đóng chai tại thành phố Thái Nguyên năm 2010 cho thấy nồng độ Coliform tổng số thấp nhất là 3 vi khuẩn/250ml và cao nhất là 460 vi khuẩn/250ml.
Sản phẩm nước uống đóng bình bị nhiễm Streptococci feacal với nồng độ trung bình 75 vi khuẩn/250ml, dao động từ 50 đến 100 vi khuẩn/250ml Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Xuân Bình và cộng sự năm 2010, trong đó không phát hiện Streptococci feacal trong nước uống đóng chai tại thành phố Thái Nguyên.
Sản phẩmnước uống đóng bìnhbị nhiễm do P aeruginosa có nồng độ trung bình là 109 vi khuẩn/250ml sản phẩm,thấp nhất là 22 vi khuẩn/250ml, cao nhất là
Thực trạng điều kiện chung về an toàn thực phẩm tại cơ sở sản xuất
Trong số 116 cơ sở được khảo sát, có 40 cơ sở không đạt yêu cầu về điều kiện an toàn thực phẩm, chiếm tỷ lệ 34,5% Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Hứa Thủy Ngân tại tỉnh Sóc Trăng năm 2014, khi tỷ lệ cơ sở không đạt là 61,4% Ngoài ra, tỷ lệ này cũng thấp hơn so với nghiên cứu của Kiều Lộc Thịnh tại Kiên Giang.
Năm 2012, tỷ lệ cơ sở sản xuất không đạt yêu cầu về an toàn thực phẩm là 59% Nguyên nhân có thể do điều kiện kinh tế, kiến thức và thái độ của chủ cơ sở tại Đồng Tháp khác biệt so với các địa phương khác Đặc biệt, 34,5% cơ sở không đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, điều này làm tăng nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm.
4.2.1 Điều kiện an toàn thực phẩm nhà xưởng của cơ sở sản xuất
Trong nghiên cứu, tỷ lệ không đạt về điều kiện an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất là 8,6%, với các tỷ lệ không đạt cụ thể như sau: địa điểm và môi trường 0,9%, thiết kế nhà xưởng 1,7%, kết cấu nhà xưởng 4,3%, hệ thống cấp nước 1,7%, và nhà vệ sinh cùng phòng thay đồ bảo hộ lao động 3,4% Những tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Hứa Thủy Ngân tại tỉnh Sóc Trăng năm 2014 Điều kiện an toàn thực phẩm tại nhà xưởng là yếu tố quan trọng trong quy trình sản xuất nước uống đóng chai, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.
4.2.2 Điều kiện an toàn thực phẩm đối với trang thiết bị, dụng cụ
Tỷ lệ cơ sở không đạt về điều kiện trang thiết bị, dụng cụ là 0,9%, thấp hơn so với 20% của nghiên cứu Hứa Thủy Ngân tại tỉnh Sóc Trăng năm 2014 Các trang thiết bị bị gỉ sét, khó vệ sinh và khử trùng có thể gây ô nhiễm sản phẩm Thiếu phương tiện khử trùng tay có thể dẫn đến việc tay của người chế biến nhiễm bẩn vào sản phẩm Cần có thiết bị phòng chống côn trùng và động vật gây hại để ngăn chặn ô nhiễm trong khu sản xuất, như bẫy chuột và đèn thu hút côn trùng Không nên sử dụng thuốc diệt chuột và côn trùng trong khu vực sản xuất thực phẩm do nguy cơ nhiễm chéo Thiết bị giám sát chất lượng là cần thiết để kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng và xử lý sự cố kịp thời Chỉ sử dụng hóa chất tẩy rửa, sát trùng theo quy định của Bộ Y tế, được đựng trong bao bì dễ nhận biết và không để trong khu vực sản xuất thực phẩm.
Trong nghiên cứu, tỷ lệ cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm cho trang thiết bị và dụng cụ là 99,1% Hầu hết các cơ sở sản xuất đều chú trọng đầu tư vào hệ thống xử lý nước và phòng chiết rót, dẫn đến tỷ lệ cao trong hạng mục này.
4.2.3 Điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất
Người trực tiếp sản xuất thực phẩm cần có giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm, giấy khám sức khỏe và thực hành đúng quy định về an toàn thực phẩm Họ không được mắc các bệnh như lao tiến triển chưa được điều trị, tả, lỵ, thương hàn, viêm gan vi rút A, E, và các bệnh nhiễm trùng khác Ngoài ra, họ phải mặc trang phục bảo hộ, đội mũ, đeo găng tay chuyên dụng và khẩu trang, đồng thời thực hiện các biện pháp vệ sinh như giữ móng tay ngắn, sạch sẽ và không đeo nhẫn hay đồng hồ Theo nghiên cứu, tỷ lệ cơ sở không đạt yêu cầu an toàn thực phẩm cho người sản xuất là 18,1%, trong đó không đạt khám sức khỏe chiếm 0,9%, không đạt giấy xác nhận kiến thức là 6%, và không đạt thực hành sản xuất cũng là 18,1% Kết quả này không tương đồng với nghiên cứu của Cao Thị Thanh Thúy tại Bến Tre.
Năm 2015, tỷ lệ an toàn thực phẩm của người sản xuất chỉ đạt 24,2%, 6,1%, 3,6%, và 22,7% Điều này cho thấy điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm Do đó, cần có biện pháp can thiệp để nâng cao ý thức và thực hành đúng quy định an toàn thực phẩm cho những người trực tiếp sản xuất Việc không tuân thủ quy định an toàn thực phẩm sẽ làm tăng nguy cơ ô nhiễm chéo vi sinh vật trong sản phẩm nước uống đóng chai Vì vậy, các chủ cơ sở sản xuất cần chú trọng hơn đến việc thực hiện đúng quy định an toàn thực phẩm trong quá trình chiết rót nước.
4.2.4 Điều kiện an toàn thực phẩm bình tái sử dụng
Nơi rửa bình tái sử dụng phải thiết kế theo nguyên tắc một chiều, bảo đảm tách biệt, tránh ô nhiễm chéo giữa các công đoạn hoặc khu vực khác
Bình sau khi đƣợc rửa xong phải đƣợc úp ngƣợc xuống để tránh bụi, vật lạ rơi vào
Chỉ sử dụng hóa chất tẩy rửa và sát trùng theo quy định của Bộ Y tế, đảm bảo chúng được đựng trong bao bì dễ nhận biết và có hướng dẫn sử dụng Hóa chất không được để trong khu vực sản xuất thực phẩm Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cơ sở không đạt điều kiện an toàn thực phẩm đối với bình tái sử dụng là 24,1%, cao hơn so với nghiên cứu tại Bến.
Trong năm 2015, tỷ lệ không đạt tiêu chí an toàn thực phẩm là 9,1% Các vấn đề chính bao gồm: quy trình rửa bình không đạt 14,7%, tỷ lệ không đạt nội dung phơi bình sau khi rửa cũng là 14,7%, và tỷ lệ không đạt về địa điểm, kết cấu, môi trường xung quanh là 5,2% Đặc biệt, tỷ lệ không đạt về nội dung sử dụng hóa chất rửa bình là 1,7% Mặc dù chưa có nghiên cứu nào trước đây đề cập đến vấn đề này, nhưng tỷ lệ cao cho thấy sự thiếu quan tâm của người sản xuất đối với việc rửa bình tái sử dụng theo quy định an toàn thực phẩm Cần thay đổi tư tưởng này, vì nếu không đảm bảo an toàn cho bình tái sử dụng, sẽ dẫn đến nguy cơ nhiễm vi sinh vật cho nước bên trong.
Các quy định về điều kiện an toàn thực phẩm đều quan trọng và cần thiết, giúp các chủ cơ sở nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của từng hạng mục Điều này sẽ thúc đẩy họ đầu tư đúng mức, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm nước uống đóng chai.
4.3 Mối liên quan giữa điều kiện chung về an toàn thực phẩm của cơ sở sản xuất với ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm nước uống đóng bình (20 lít)
4.3.1 Mối liên quan giữa điều kiện an toàn thực phẩm nhà xưởng của cơ sở sản xuất với tỷ lệ nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm nước uống đóng bình
Các cơ sở sản xuất không đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm có nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm cao gấp 10 lần so với những cơ sở đạt tiêu chuẩn Nghiên cứu tại Bến Tre năm 2015 cũng cho thấy điều kiện an toàn thực phẩm ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm Nếu cơ sở sản xuất không đảm bảo an toàn, như không cách xa nguồn ô nhiễm và nguồn nước không an toàn, sẽ dẫn đến nhiễm chéo vi sinh vật trong quá trình chiết rót nước, gây ô nhiễm sản phẩm.
4.3.2 Mối liên quan về điều kiện an toàn thực phẩm của trang thiết bị, dụng cụ sản xuất với ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm nước uống đóng bình
Nghiên cứu chưa xác định được mối liên hệ thống kê giữa điều kiện an toàn thực phẩm của trang thiết bị và dụng cụ với ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm tại các cơ sở sản xuất Mặc dù điều kiện an toàn thực phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, nhưng kết quả nghiên cứu không cho thấy sự liên quan rõ ràng giữa các yếu tố này.
4.3.3 Mối liên quan về điều kiện an toàn thực phẩm của người sản xuất với tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật trong sản phẩm nước uống đóng bình
Điểm mạnh của nghiên cứu
Trong nghiên cứu có sử dụng kết quả kiểm nghiệm để đánh giá tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật nên nghiên cứu có tính khoa học cao;
Nghiên cứu nhận được sự hỗ trợ từ cơ quan quản lý an toàn thực phẩm và cộng đồng địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động.
Điều tra viên là công chức thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm, do đó, họ thường ít mắc sai sót trong quá trình thu thập số liệu.
Tính mới và tính giá trị của nghiên cứu
Trong nghiên cứu, hạng mục đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm của bình tái sử dụng chưa có tài liệu tham khảo nào được thực hiện.
Nghiên cứu được tiến hành trên toàn bộ các cơ sở sản xuất tại tỉnh Đồng Tháp, cung cấp kết quả đáng tin cậy cho các bên liên quan.
Tính ứng dụng của nghiên cứu
Nghiên cứu về nước uống đóng bình, sản phẩm thiết yếu hàng ngày, đang thu hút sự quan tâm từ chính quyền và các ngành liên quan Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp trong việc đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó bảo vệ sức khỏe cộng đồng.