1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012

82 539 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Tác giả Nguyễn Thị Hòa
Người hướng dẫn GS. TS. Trần Thị Kim Thu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Thống kê
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 787 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phục vụ phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thônnhư mây, tre, cát, đất sét…Với diện tích đất đai, tài nguyên cho phép huyệncó khả năng phát triển nông nghiệp đ

Trang 1

Trường đại học kinh tế quốc dân

Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Hòa

Giảng viên hướng dẫn : GS TS Trần Thị Kim Thu

Hà Nội, năm 2009

Trang 2

trường đại học kinh tế quốc dân

Trang 3

MỞ ĐẦU

Tam Nông là một huyện miền núi với diện tích tự nhiên 15596.92 ha,chiếm 4.43% diện tích của tỉnh Phú Thọ với dân số 82457 người (năm2008).Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính, trong đó có 19 xã và 1 thị trấn.Bao gồm các xã: Vực Trường; Hiền Quan; Hương Nha; Xuân Quang; ThanhUyên; Tam Cường; Văn Lương; Tứ Mỹ; Phương Thịnh; Hùng Đô; QuangHúc; Tề Lễ; Cổ Tiết; Hương Nộn; Dị Nậu; Thọ Văn; Dậu Dương; ThượngNông; Hồng Đà và thị trấn Hưng Hoá.Địa hình của huyện Tam Nông tươngđối phức tạp, thể hiện những nét đặc thù của vùng bán sơn địa.Đất đai có núi,đồi, ruộng, đồng, sông, ngòi, hồ, đầm.Dạng địa hình chính của huyện TamNông là dốc, bậc thang, lòng chảo hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuốngĐông Nam Tam Nông mang đặc điểm khí hậu của miền Bắc nước ta, là khíhậu nhiệt đới gió mùa, lượng bức xạ cao, có nền nhiệt độ cao, lượng mưa tậptrung chủ yếu vào mùa mưa.Trên địa bàn huyện có 3 dòng sông chảy qua là:sông Hồng, sông Đà, sông Bứa và một số lượng lớn các hồ, đầm bố trí hầu hết

ở các xã trong huyện nên nguồn tài nguyên nước của huyện rất dồi dào.Tổngdiện tích tự nhiên của huyện là 15.596,92ha.Trong đó: Diện tích đất nôngnghiệp là 11.315,24 ha, chiếm 72,55% tổng diện tích đất tự nhiên; đất phinông nghiệp là 3.888,40 ha, chiếm 24,93% tổng diện tích đất tự nhiên; đấtchưa sử dụng là 393,28 ha, chiếm 2,52% tổng diện tích đất tự nhiên.Do đặcđiểm vị trí là nơi tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng nên đất đai của huyệnTam Nông tương đối phong phú và đa dạng Theo kết quả báo cáo điều tra địachất trên địa bàn huyện Tam Nông đã thống kê được 9 mỏ khoáng sản vàđiểm quặng có: than bùn, mica, caolin, fenpats, đá vôi xây dựng.Đây cũng làmột lợi thế của huyện.Bên cạnh đó, tài nguyên rừng của huyện Tam Nônghiện nay đang được phục hồi và ngày càng phát triển.Không chỉ dừng lại ở đótài nguyên du lịch gắn với di tích lịch sử văn hóa cũng là một điểm cần quantâm Tam Nông là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng và có bề dày lịch sử

Trang 4

văn hoá lâu đời.Hiện nay, trên địa bàn huyện còn bảo tồn lưu giữ nhiều di sảnvăn hoá có giá trị bao gồm cả di sản văn hoá vật thể và phi vật thể.Tam Nôngvốn là vùng đất giàu truyền thống văn hoá dân gian phong phú với nhiều hoạtđộng lễ hội, truyện cười Văn Lang nổi tiếng, là cái nôi của dân ca hát ghẹoNam Cường, ngoài ra còn có dân ca hát trống quân, hát ví, hát chèo, hát xoan,

ở Hương Nộn, Hương Nha…Tam Nông được chọn là một trong những địaphương nằm trong tua du lịch về cội nguồn với lễ hội Phết Hiền Quan.Nhữngtiềm năng văn hoá lịch sử và danh lam thắng cảnh nói trên đã tạo cho TamNông có điều kiện phát triển theo hướng mở trên tất cả các lĩnh vực văn hoá –

xã hội truyền thống, tạo cho Tam Nông có khả năng phát triển du lịch sinhthái, tín ngưỡng, lịch sử trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợpvới xu thế phát triển để kêu gọi đầu tư trong tương lai

Với những điều kiện về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cùng vớinhững điều kiện về xã hội nền kinh tế của huyện Tam Nông kể từ sau khiđược tái lập, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng; sự chỉ đạo điềuhành của các cấp chính quyền; sự phối kết hợp chặt chẽ của Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể nhân dân cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp, các tổchức kinh tế và toàn thể nhân dân, nền kinh tế - xã hội của huyện có bướcphát triển khá, trên tất cả các ngành và lĩnh vực.Cơ cấu kinh tế của huyệncũng từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực, đời sống nhân dân đượcnâng cao, kinh tế - xã hội ổn định

Sự cần thiết của đề tài:Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống

nhân dân, ổn định chính trị - xã hôi, bảo vệ môi trường luôn là vấn đề hàngđầu và là mục đích cuối cùng của phát triển.Những năm qua kinh tế củahuyện đã từng bước phát triển và được biết đến với nhiều lĩnh vực sản xuấtnhư:thủy sản, chăn nuôi bò thịt, phát triển vùng nguyên liệu giấy, sản xuất đồgỗ…Bên cạnh đó Tam Nông cũng được biết đến là mảnh đất có sản phẩmnhựa sơn truyền thống và sản phẩm tầm gửi cây gạo với nhiều tác dụng chữa

Trang 5

phục vụ phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thônnhư mây, tre, cát, đất sét…Với diện tích đất đai, tài nguyên cho phép huyện

có khả năng phát triển nông nghiệp đa dạng, phong phú, có khả năng chuyểndịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi.Mặtkhác, xuất phát từ tiềm năng đất đai và tài nguyên, cùng hệ thống giao thôngthuận lợi huyện Tam Nông có nhiều lợi thế phát triển sản xuất công nghiệp vàthương mại.Tuy nhiên những tiềm năng này chưa được khai thác một cách cóhiệu quả do còn thiếu những giải pháp cụ thể, thiếu nguồn lực trong quá trìnhthực hiện.Trong quá trình phát triển còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa phát huytriệt để lợi thế, đặc trưng của vùng, làm cho kinh tế phát triển chưa mạnh,phát triển chưa thực sự tương xứng với tiềm năng, cơ cấu kinh tế chuyển dịchchậm, chưa ổn định.Trong khi đó, phát triển công nghiệp theo hướng hìnhthành các khu công nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nôngthôn gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế là xu thế tất yếu, là biện pháp tíchcực để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thúcđẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đồng thời khaithác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, giải quyết việc làm cho ngườidân, giảm sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, góp phần

phát triển bền vững.Những phân tích trên cho thấy đề tài : “Phân tích thống

kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012” là thực sự cần thiết.Thông qua việc

phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể thấy được những mặtđược cần phát huy và những mặt yếu cần khắc phục, từ những phân tích cóthể thấy được những ngành nghề, lĩnh vực lợi thế, những bước chuyển dịchđúng hướng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cần đẩy mạnh, và qua nhữngđánh giá tồn tại, hạn chế trong quá trình chuyển dịch, từ đó có thể đưa ranhững biện pháp, những kiến nghị đúng đắn để tiếp tục chuyển dịch cơ cấukinh tế, giúp cho kinh tế - xã hội của huyện ngày càng phát triển

Trang 6

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài: Phạm vi nghiên cứu:

Trong phạm vi ranh giới hành chính của huyện Tam Nông; nghiên cứu từnăm 2001 và định hướng đến năm 2012; trên tất cả các ngành lĩnh vực kinh tế

của huyện.Đối tượng nghiên cứu:Kinh tế của huyện Tam Nông giai đoạn

2001 – 2008

Phương pháp nghiên cứu:Thu thập tài liệu theo dõi hiện trạng phát

triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, tham khảo ý kiến của cáccán bộ phòng thống kê huyện.Các số liệu được tổng hợp với sự trợ giúp củaphần mềm Excel và phân tổ thống kê theo các ngành kinh tế, cây trồng, congia súc và dịch vụ.Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích thống

kê thông qua các chỉ tiêu phân tích như: số tương đối, số tuyệt đối, tốc độbình quân và tốc độ phát triển để phân tích sự tăng, giảm về giá trị sản xuất và

tỷ trọng của các ngành kinh tế.Có sử dụng các chỉ tiêu phân tích, đánh giáchuyển dịch cơ cấu kinh tế là giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất;sốlượng, cơ cấu lao động, các gia súc, gia cầm…

Kết cấu của đề tài:Ngoài phần mở đầu và phần kết luận đề tài gồm có

3 chương như sau:

-Chương 1:Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế của huyện Tam Nôngtỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 – 2008

-Chương 2: Phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyệnTam Nông tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001 – 2008

-Chương 3: Phương hướng, một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh

tế của huyện Tam Nông định hướng đến năm 2012 và một số kiến nghị

Và cũng qua chuyên đề này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến côgiáo - GS.TS Trần Thị Kim Thu - Trưởng khoa và đồng thời là giảng viênkhoa Thống kê trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân đã trực tiếp hướng dẫn emhoàn thành chuyên đề này

Trang 7

CHƯƠNG I ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN TAM NÔNG - PHÚ THỌ

GIAI ĐOẠN 2001-2008

Ngay sau khi huyện Tam Nông được tái lập; dưới sự lãnh đạo, chỉ đạocủa các cấp uỷ Đảng; sự chỉ đạo điều hành của các cấp chính quyền; sự phốikết hợp chặt chẽ của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cùng với sự

nỗ lực của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và toàn thể nhân dân, nềnkinh tế - xã hội của huyện có bước phát triển khá, được thể hiện ở các mặtsau:

1.1 Thực trạng phát triển kinh tế huyện Tam Nông

1.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Trong thời gian qua, nhất là 5 năm trở lại đây kinh tế Tam Nông có sựtăng trưởng khá, tốc độ ổn định ở mức cao.Tổng giá trị sản xuất (theo giá cốđịnh 1994) năm 2008 đạt 453.65 tỷ đồng, tăng 9.50% so với năm 2007, tăng288.49 tỷ đồng so với năm 2001.Trong đó:Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp

và thuỷ sản là 166.25 tỷ đồng, tăng 4.94% so với năm 2007, tăng 70.59 triệuđồng so với năm 2001; giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng là 134.5 tỷđồng, tăng 11.15% so với năm 2007, tăng 105.14 triệu đồng so với năm 2001;giá trị sản xuất các ngành dịch vụ - thương mại là 152.9 tỷ đồng, tăng 13.39%

so với năm 2007, tăng 112.75 triệu đồng so với năm 2001

Tổng giá trị sản xuất năm 2008 (theo giá hiện hành) là: 719.65 tỷ đồngtăng 507.42 triệu đồng so với năm 2001.Giá trị sản xuất thực tế bình quân đầungười đạt 8.99 triệu đồng/người/năm.Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn

2001 – 2008 đạt 15.53%.Đây là kết quả rất đáng khích lệ và cao hơn nhiều sovới mục tiêu đặt ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai

Trang 8

đoạn 2000 – 2005 đã được thông qua là 7%/năm.Đóng góp cho sự tăngtrưởng giai đoạn 2001 – 2008 vừa qua là sự phát triển vượt bậc trên tất cả cáclĩnh vực.Trong đó, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2008 củangành công nghiệp – xây dựng là 24.29%, ngành dịch vụ là 21.05%, ngànhnông nghiệp là 8.24%.

Nhờ tăng trưởng kinh tế cao (tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn2001-2008 đạt 15.53%) nên thu nhập bình quân đầu người tăng từ 2.67 triệuđồng/người/năm 2001 lên 5.93 triệu đồng/người/năm năm 2005, năm 2008đạt 8.99 triệu đồng/người/năm (theo giá thực tế).Như vậy giá trị sản xuất củahuyện tăng hàng năm, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng, dịch

vụ tăng nhanh, thể hiện nhịp độ phát triển kinh tế của huyện đã có sự chuyểnbiến rõ rệt từ nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu chuyển dần sang sản xuấtcông nghiệp, dịch vụ

Bảng 1.1 Quy mô và tốc độ tăng giá trị sản xuất của huyện Tam Nông

giai đoạn 2001 - 2008

Đơn vị tính:Giá trị sản xuất: tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

tốc độ tăng bình quân giai đoạn(%) I.Giá trị sản

xây dựng 29.36 43.52 46.1 53.5 61.27 98.58 121.01 134.5 24.293.Dịch vụ-thương

mại 40.15 49.38 81.2 82.4 101.9 113.12 134.85 152.9 21.05II.Giá trị sản xuất

theo giá thực tế 212.23 273.42 359.01 434.74 483.56 573.78 636.1 719.65 19.06III.Thu nhập bình

Trang 9

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực.Chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo ngành và theo lĩnh vực kinh tế có nhiều tiến bộ, đang từngbước thúc đẩy nền kinh tế phát triển năm sau cao hơn năm trước.Tỷ trọngngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ - thương mại tăng lên, tỷtrọng ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm dần nhưng giá trị sản xuấttăng khá theo xu hướng rất tích cực, tiến bộ

1.1.3 Thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực

Từ năm 2001 đến nay, nền kinh tế tiếp tục ổn định và phát triển đồngđều ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, đó là: Sản xuất nông lâm nghiệp tiếp tụcphát triển theo hướng hàng hoá, từng bước được nâng cao chất lượng, giá trị

và hiệu quả; sản xuất nông nghiệp duy trì được tốc độ tăng trưởng; năng lựcsản xuất của nhiều ngành, nhiều sản phẩm tăng cao, với sự tham gia tích cựccủa khu vực kinh tế tư nhân.Các ngành dịch vụ tiếp tục có chuyển biến, quy

mô thị trường tiếp tục được mở rộng.Các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá,thể thao có nhiều chuyển biến và đạt kết quả tích cực, đời sống nhân dân đượcnâng lên

Về cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷtrọng công nghiệp – xây dựng, từ 17,78% năm 2001 lên 29.65% năm 2008,dịch vụ tăng từ 24.31% năm 2001 lên 33.70% năm 2008.Giảm dần tỷ trọngngành nông nghiệp từ 57.92% năm 2001 xuống còn 36.65% năm 2008

Nông nghiệp – nông thôn có sự chuyển dịch cơ cấu các loại hình, cácthành phần kinh tế.Trong nông nghiệp – nông thôn bên cạnh kinh tế hộ là chủyếu, kinh tế tập thẻ về cơ bản đã chuyển đổi từ hợp tác xã kiểu cũ sang hợptác xã kiểu mới, các trang trại (chủ yếu là trang trại gia đình) đang pháttriển.Tính đến cuối năm 2008 có 57 trang trại (theo tiêu chí mới) tăng lên 34

Trang 10

trang trại so với năm 2000, tổng doanh thu từ kinh tế trang trại năm 2008 tăng6,9 lần so với 2001 và chiếm 2,06% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.Sựphát triển của kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng góp phần đa dạng hoá,chuyên môn hoá và tập trung hoá trong sản xuất nông nghiệp.

Nhìn chung hiện nay kinh tế của huyện về cơ bản vẫn là kinh tế thuầnnông, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy chưa đạt mức theo yêu cầu nhưng

đã có dấu hiệu chuyển đổi tích cực

1.1.3.1 Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản

* Chuyển dịch cơ cấu lĩnh vực trồng trọt

Giai đoạn 2001-2008 vấn đề an ninh lương thực đã được giải quyết, xuthế phát triển ngành trồng trọt đã bắt đầu xuất hiện những nhân tố ban đầu củasản xuất hàng hoá, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp (như:nguyên liệu giấy, nhựa, sơn), cho chế biến lương thực - thực phẩm như chếbiến bún, bánh,đậu phụ…và các nông sản khác đáp ứng tiêu dùng nội địa.Giátrị sản xuất ngành trồng trọt năm 2008 đạt 93.09 tỷ đồng.Cơ cấu giá trị sảnxuất ngành trồng trọt có sự thay đổi

Về sản xuất lương thực (so với năm 2001):Diện tích đất sản xuất lươngthực chỉ tăng 3.13%, diện tích tăng chủ yếu là do tăng vụ (năm 2001 là 6420.2ha; năm 2008 là 6621.3 ha), nhưng năng suất tăng khá nên sản lượng tăngkhoảng 49%.Những diện tích trồng lúa bấp bênh do úng ngập được chuyểnsang nuôi trồng thuỷ sản, diện tích cao hạn đã từng bước được chuyển sangtrồng đậu tương, lạc, rau, trồng cỏ chăn nuôi.Đã tích cực triển khai đưa nhanhgiống mới có năng suất cao vào các xã có điều kiện thực hiện tốt như VựcTrường, Thượng Nông, Tam Cường, Tứ Mỹ…nên đã đưa năng suất lúa từ37.01 tạ/ha năm 2001 lên 44 tạ/ha năm 2007

Trang 11

Về cây công nghiệp chủ lực:Cây công nghiệp dài ngày như cây sơnnăm 2008 so với năm 2001 tăng 3.01 lần, sản lượng nhựa sơn tăng 2.6 lần(tăng bình quân mỗi năm 23%), giá trị tăng 3,3 lần (tăng bình quân mỗi năm23%), đặc biệt là gíai đoạn 2001-2006 mỗi năm tăng bình quân 34.87% giátrị.Cây công nghiệp ngắn ngày chủ yếu là lạc, đậu tương diện tích trồng tươngđối ổn định trên 900 ha, tuy nhiên do có sự đầu tư thâm canh và áp dụng cáctiến bộ kĩ thuật nên sản lượng năm 2008 so với năm 2001`tăng 1.67 lần, giátrị sản lượng tăng 4.2 lần.

Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, nângcao thu nhập trên đơn vị diện tích Đối với sản xuất lúa đã chuyển dịch mạnh

cơ cấu các trà lúa: ở vụ đông xuân, cơ bản xoá bỏ được trà chiêm, trà xuânchính vụ, giảm trà xuân sớm, tăng trà xuân muộn toàn huyện để hạn chế bấtlợi của thời tiết, đến nay trà xuân muộn toàn huyện chiếm trên 74% diện tích;

vụ mùa tăng trà mùa sớm và mùa trung để mở rộng cây vụ đông.Vụ đông quacác năm mở rộng, phát triển và được coi là vụ sản xuất chính, diện tích cây vụđông từ 1401.5 ha năm 2001 lên 1590.1 ha năm 2008, góp phần nâng cao thunhập trên đơn vị diện tích.Sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệpbước đầu được khởi động và đã xuất hiện nhiều mô hình đạt hiệu quả cao(theo số liệu điều tra năm 2007 huyện đã xây dựng 43 mô hình, trong đó có

33 mô hình đạt tiêu chí thu nhập cao)

* Chuyển dịch cơ cấu ngành chăn nuôi

Chăn nuôi lợn và bò phát triển, chiếm tới trên 53% giá trị sản xuấtngành chăn nuôi Đặc biệt là những năm sau 2001 tập trung đầu tư phát triểnchăn nuôi lợn theo hướng nạc phục vụ tiêu dung nội địa, chăn nuôi bò thịt đãđược tập trung chuyển hướng phát triển đàn bò theo hướng đàn bò thịt (laiZebu, lai sind), chăn nuôi gia cầm đã được phát triển theo hướng giảm dần số

hộ, tập trung mở rộng qui mô chăn nuôi trang trại gắn liền với thực hiện triệt

Trang 12

để công tác vệ sinh phòng dịch, xây dựng vùng chăn nuôi an toàn, đó làhướng đi tích cực để đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành chăn nuôi.

Năm 2007 tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 48.95 tỷ đồng (giá

cố định năm 1994).Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, lĩnh vực chăn nuôichiếm tỷ trọng 38,2%, mục tiêu quy hoạch năm 2007 là 35%.Trong đó: Chănnuôi gia súc chiếm tỷ trọng 59% toàn ngành chăn nuôi, chăn nuôi gia cầmchiếm 16% và sản phẩm chăn nuôi khác chiếm 14%.Năm 2008, giá trị sảnxuất ngành chăn nuôi đạt 50.826 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), gấp 1.027lần so với năm 2007

Về chuyển đổi cơ cấu giống: Tỷ lệ lợn ngoại và lợn lai hướng nạc tăng

từ 7% tổng đàn (năm 2001) lên 16% tổng đàn (năm 2008); đàn lợn nái ngoại

đã tăng lên đạt 15,3% tổng đàn (năm 2008); tỷ lệ đàn bò lai sind đến năm

2008 đã đạt 19.2%

* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế lâm nghiệp

Giá trị sản xuất lâm nghiệp (giá cố định 1994) năm 2008 đạt 7.359 tỷđồng, tăng bình quân 10.24%/năm (giai đoạn 2001-2008).Cơ cấu phát triểnlâm nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng phát triển vốn rừng gắn liền với bảo

vệ môi trường sinh thái và đẩy mạnh khai thác tiềm năng thế mạnh trồng rừngnguyên liệu giấy cung cấp cho công nghiệp chế biến giấy

Trang 13

83,663% (năm 2001) lên 92.42% (năm 2008), tỷ trọng khai thác tự nhiêngiảm từ 13,64%(năm 2001) xuống 7.58% (năm 2008)

Trên địa bàn huyện đã có 30 trang trại nuôi trồng thuỷ sản chiếm 51%tổng số trang trại trên địa bàn, là động lực thúc đẩy sản xuất thuỷ sản pháttriển, trong đó khoảng 21 trang trang trại có doanh thu trên 50 triệuđồng/năm

1.1.3.2 Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

*Thực trạng phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Giai đoạn 2001-2008 sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp pháttriển khá, tốc độ tăng trưởng đã đạt 29.64%.Giá trị sản xuất ngành côngnghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2008 đạt 56 tỷ đồng.Công nghiệp quốcdoanh và công nghiệp ngoài quốc doanh đã có những đóng góp quan trọng vềgiá trị sản xuất và tăng trưởng kinh tế, góp phần làm thay đổi, chuyển dịch cơcấu kinh tế, cơ cấu lao động trên địa bàn huyện theo hướng công nghiệp hoá,

nghiệp Cổ Tiết, bước đầu đã thu hút được những dự án vào đầu tư xâydựng.Công tác đào tạo đội ngũ quản lý và nguồn nhân lực được quan tâm

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp thấp hơn mức tăngtrưởng bình quân chung của tỉnh, chưa đạt mục tiêu Nghị quyết Đại Hội Đảng

bô huyện lần thứ XXVII đề ra, tốc độ tăng trưởng chưa thạt sự đảm bảo ổnđịnh và bền vững., hiệu quả sản xuất thấp, giá trị gia tăng công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp chưa cao, tiến độ thu hút đầu tư chậm, cơ sở hạ tầng côngnghiệp thiếu và chưa đồng bộ, chưa khai thác được lợi thế về địa kinh tế củahuyện

* Ngành xây dựng

Trang 14

Trong những năm gần đây, do điều kiện phát triển kinh tế, thu nhập vàmức sống của người dân được nâng lên là cơ sở thúc đẩy nhu cầu xây dựngngày càng cao.Số lượng các doanh nghiệp, đội xây dựng trên địa bàn huyệntăng mạnh, thu hút 1.547 lao động năm 2008.Tốc độ tăng trưởng giá trị sảnxuất ngành xây dựng giai đoạn 2001 - 2008 là 21.35%/năm.Giá trị sản xuấtngành xây dựng năm 2008 đạt 78.5 tỷ đồng.Cũng nhờ sự phát triển vượt bậcnày giúp cho tỷ trọng ngành xây dựng trong giá trị sản xuất trên địa bànhuyện ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của huyện, góp phần giải quyếtviệc làm cho người lao động địa phương, tăng thu nhập cho người dân và gópphần ngày càng lớn trong phát triển kinh tế của huyện.

1.1.3.3 Các ngành dịch vụ

Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển với tốc độ tăng 21.05%/năm giaiđoạn 2001 - 2008, cơ bản đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất và đời sốngnhân dân.Về thương mại, giá trị tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêudùng xã hội năm 2001 đạt 61.07 tỷ đồng, năm 2008 tăng lên đạt trên 142 tỷđồng.Về dịch vụ tổng hợp:dịch vụ vận tải hàng hoá và hành khách có mứctăng trưởng bình quân 23.75%/năm, riêng hàng hoá tăng 55.03%/năm;Dịch

vụ bưu chính viễn thông phát triển tương đối nhanh, đến 2008 đã có 11 máyđiện thoại/100 dân, so với năm 2001 tăng 9.1 lần, việc thông tin liên lạc trong

và ngoài huyện nhanh chóng thuận lợi, việc xây dựng hệ thống mạng lướithông tin nội bộ được chú trọng, tích cực góp phần thực hiện công tác cảicách hành chính trong các cơ quan đơn vị; Dịch vụ tài chính, ngân hàng pháttriển đã góp phần thúc đẩy sản xuất – kinh doanh phát triển.Mặc dù nhữngnăm gần đây thực hiện chính sách miễn giảm thuế nhưng thu ngân sách vẫntăng năm sau cao hơn năm trước.Ngân hàng tín dụng đã bám sát chươngtrình, dự án phát triển kinh tế xã hội, mở rộng diện cho vay hộ vốn tạo điều

Trang 15

kiện cho nhân dân, doanh nghiệp có nhu cầu vốn được vay vốn để đầu tư pháttriển.

Trang 16

1.1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

1.1.4.1 Theo hướng sản xuất nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp

Chuyển dịch cơ cấu sản xuất gắn với phát triển công nghiệp nông thôn

có tác dụng phục vụ đắc lực cho nông nghiệp phát triển, ngược lại nôngnghiệp phát triển sẽ cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, tạo ra sự phâncông mới về lao động, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, xóa đói giảmnghèo cho khu vực nông thôn.Từ nhận thức đó và thực tế nhiều huyện cũngnhư Tam Nông phát triển công nghiệp nông thôn trước hết tập trung vào sảnxuất nguyên liệu phục vụ sản xuất, công nghiệp và khai thác nguồn nguyênliệu tại chỗ để phát triển ngành ngề nông thôn.Phát triển công nghiệp nôngthôn Tam Nông đã đạt được một số kết quả bước đầu; nhất là sản xuất nhựasơn

Sản xuất nguyên liệu giấy:Trên địa bàn huyện từ lâu đã hình thànhvùng sản xuất nguyên liệu phục vụ cho nhà máy giấy Bãi Bằng, với diện tích

2431 ha (năm 2008), sản lượng khai thác bình quân 40-50 mét khối gỗnguyên liệu trên 1 ha, chủ yếu là bạch đàn, keo, tre, bương

Sản xuất nhựa sơn:Cây sơn là cây trồng truyền thống – đặc thù địa lýcủa huyện với diện tích hiện có là 445 ha, trong đó 306 ha đang cho khai thác,sản lượng nhựa cung cấp cho nhu cầu nội tiêu và xuất khẩu bình quân 110tấn/năm.Hiện nay huyện cũng đã xây dựng được một cơ sở sản xuất sản phẩmtranh sơn mài, đây là nhân tố mới trong việc gắn sản xuất với chế biến

1.1.4.2 Theo hướng sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn

Năm 2008 giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp(theo giá cố định 1994) đạt 56 tỷ đồng, tăng 46.9 tỷ đồng so với năm 2001,tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001 – 2008 bình quân đạt 29.64%/năm

Trang 17

Đến nay đã có 3548 cơ sở sản xuất (gồm: 34 hợp tác xã, 4 công ty cổphần, 7 công ty trách nhiệm hữu hạn, 1 doanh nghiệp tư nhân, 3506 cơ sở quy

mô hộ) thu hút 5276 lao động, tăng 1910 cơ sở và 2880 lao động so với năm2001

Sản phẩm gồm 6 loại sản phẩm thuộc nhóm ngành nghề chính là: Chếbiến nông sản, thực phẩm; Khai thác chế biến khoáng sản; Sản xuất vật liệuxây dựng; Chế biến lâm sản và các ngành nghề dịch vụ khác

Phát triển công nghiệp nông thôn đã thu hút được phần lớn nguyên liệutại chỗ để chế biến làm tăng giá trị kinh tế của sản phẩm, đồng thời tạo ra sựthay đổi về phân công lại lao động xã hội.Thực tế cho thấy lao động phục vụsản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm, lao động cho công nghiệp tăng vàbình quân thu nhập của lao động khu vực nông thôn cũng tăng lên đáng kể

Sự phát triển ngành nghề nông thôn có bước phát triển tích cực, tăngvới tốc độ khá, sản phẩm đa dạng hơn, mẫu mã đẹp hơn, máy móc thiết bịđược đầu tư, cải tiến, chất lượng giá trị sản phẩm được nâng lên, nhiều làngnghề được duy trì phát triển.Đến cuối năm 2004, Ủy ban nhân dân tỉnh đãcông nhận và cấp bằng cho 01 làng nghề mộc Minh Đức – Thanh Uyên.Đồngthời, công tác hỗ trợ làng nghề tiếp tục được triển khai, đến hết năm 2007 đã

có 5 dự án được tỉnh phê duyệt hỗ trợ kinh phí, hỗ trợ nhân cấy thêm làngnghề mới, phát triển nâng cao làng nghề đã có

1.1.4.3 Chuyển dịch theo hướng nâng cao giá tri thu nhập trên 01 đơn vị diện tích đất sản xuất

Giá trị sản xuất nông nghiêp, thủy sản trên đơn vị diện tích đất nôngnghiệp theo giá cố định 1994 đạt 15,7 triệu đồng/ha năm 2007 theo giá thực

tế đạt 29,3 triệu đồng/ha năm 2007

Trang 18

Giá trị sản xuất trồng trọt (bao gồm tất cả các cây trồng trên địa bàn)trên đơn vị diện tích đất canh tác (diện tích đất trồng cây hàng năm) theo giá

cố định 1994 đạt 21,6 triệu đồng/ha năm 2007 theo giá thực tế đạt 29,7 triệuđồng/ha năm 2007

1.2 Quan hệ sản xuất tiếp tục được củng cố và phát triển

Các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước được tạo điều kiện thuận lợi đểphát triển.Kinh tế tập thể đang tiếp tục đổi mới, kinh tế tư nhân được khuyếnkhích phát triển.Các hợp tác xã sau khi chuyển đổi theo luật đã bước đầu sảnxuất kinh doanh có hiệu quả, hiện nay trên địa bàn huyện có 34 hợp tác xãhoạt động trên các lĩnh vực nông nghiệp, điện dân dụng, vận tải, thương mại,tiểu thủ công nghiệp

1.3 Khoa học công nghệ

Công tác nghiên cứu khoa học,ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật, công nghệmới vào sản xuất tiếp tục được đẩy mạnh và tăng cường trên tất cả các lĩnhvực:Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và đã thu được nhiều kết quả quan trọng

Chuyển giao khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, đưagiống năng suất – chất lượng cao vào sản xuất đi đôi với tiến bộ kĩ thuật canhtác được xác định là khâu đột phá thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển sản xuấtnông nghiệp.Từ sau tái lập huyện nhất là giai đoạn 2001 đến nay công táckhuyến nông chuyển giao đưa tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất được chú trọng,năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi tăng nhanh và đạt được kết quả đángkhích lệ, tạo bước chuyển biến tích cực thúc đẩy kinh tế - xã hội pháttriển.Nhiều kết quả nghiên cứu được ứng dụng nhanh vào sản xuất và đờisống đã phát huy hiệu quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh

tế nông nghiệp - nông thôn, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm

Trang 19

như:Tiến bộ trồng lạc phủ nilon, gieo mạ xuân muộn có che phủ nilon, nghiêncứu phục hồi phát triển cây sơn nhựa và ứng dụng giống cây con lai mới tiến

bộ kĩ thuật trong sản xuất

1.4 Đánh giá thành tựu đạt được, một số tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân tồn tại

Giai đoạn 2001 – 2008 bộ mặt kinh tế - xã hội huyện Tam Nông đã có

sự thay đổi, kinh tế phát triển góp phần phát triển xã hội.Bên cạnh nhữngthành tựu đạt được vẫn còn tồn tại những điểm yếu cần khắc phục, được đúcrút như sau:

-Thành tựu đạt được: Đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng tronglãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế, chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo, điềuhành, tranh thủ mọi cơ hội, khai thác các nguồn lực đầu tư phát triển.An ninhlương thực được đảm bảo, cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng tích cực,kinh tế giữ được tốc độ phát triển khá

-Một số tồn tại cần khắc phục:Tốc độ phát triển ngành công nghiệp vàtốc độ đô thị hóa chậm, sản phẩm hàng hóa đơn điệu, chất lượng hiệu quảđem lại chưa cao.Những mặt hàng chủ lực chưa có khối lượng lớn, tỷ lệ nông,lâm sản qua chế biến thấp, thị trường, lượng hàng hóa tiêu thụ không ổn định,sức cạnh tranh thấp.Chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành kinh tế chậm, đặc biệt

là kinh tế nông thôn.Việc khai thác tiềm năng, lợi thế, thế mạnh vào phát triểnkinh tế chưa đáp ứng được với yêu cầu.Các lĩnh vực du lịch, dịch vụ, vận tảihàng hóa phát triển còn yếu

-Nguyên nhân tồn tại:Tư tưởng trông chờ, ỷ nại, tự mãn với những kếtquả đạt được còn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, nhân dân.Trình độ nănglực cán bộ quản lý ở một số địa phương còn yếu, thiếu năng động và tâmhuyết với công việc.Tam Nông là huyện miền núi có điểm xuất phát thấp, kết

Trang 20

cấu hạ tầng còn thiếu, chất lượng chưa đảm bảo, chưa đáp ứng được yêucầu.Thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp, thiên tai, dịch bệnh thường xuyênxảy ra, nhiều tình huống vượt quá khả năng chủ động ứng phó.Cơ chế chínhsách chưa đồng bộ, còn chồng chéo

Qua việc đánh giá các thành tựu đạt được và những mặt yếu kémhuyện Tam Nông cần phải khắc phục, sửa đổi và tiếp tục phấn đấu để pháttriển kinh tế - xã hội, đưa huyện thoát khỏi huyện nghèo

Trang 21

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH THỐNG KÊ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ

GIAI ĐOẠN 2001 -2008

2.1 Giới thiệu phân ngành kinh tế quốc dân và đặc điểm phân ngành kinh tế ở huyện Tam Nông

2.1.1 Giới thiệu về phân ngành kinh tế quốc dân

Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam năm 2007 gồm 5 cấp.Ngành cấp

1 có 21 ngành; ngành cấp 2 có 88 ngành; ngành cấp 3 có 242 ngành; ngànhcấp 4 có 437 ngành; ngành cấp 5 có 642 ngành.Các ngành cấp 1 là:

-Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản

-Khai khoáng

-Công nghiệp chế biến chế tạo

-Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoàkhông khí

-Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

-Xây dựng

-Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơkhác

-Vận tải kho bãi

-Dịch vụ lưu trú và ăn uống

-Thông tin và truyền thông

-Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

-Hoạt động kinh doanh bất động sản

-Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ

-Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ

Trang 22

-Hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý nhànước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc

-Giáo dục và đào tạo

-Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội

-Nghệ thuật, vui chơi và giải trí

-Hoạt động dịch vụ khác

-Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình sản xuất sảnphẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình

-Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế

2.1.2 Đặc điểm phân ngành kinh tế của huyện Tam Nông

Về cơ bản phân ngành kinh tế của huyện vẫn dựa theo phân ngành kinh

tế quốc dân, nhưng do đặc điểm kinh tế của huyện có những điểm riêng nênviệc phân chia kinh tế vẫn chia thành 3 nhóm ngành lớn, đó là: Nông, lâmnghiệp và thủy sản;Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng;Thươngmại – dịch vụ để việc đánh giá, tổng hợp số liệu được thuận tiện, dễ dàng hơn

2.2 Phân tích thống kê tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Tam Nông giai đoạn 2001 – 2008

2.2.1 Phân tích thống kê tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của huyện giai đoạn 2001 – 2008

Với những số liệu đã có ở bảng 1.1 ta có thể lập được bảng số liệu biểuhiện giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế của huyệngiai đoạn 2001 – 2008 như sau:

Trang 23

Bảng 2.1 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Tam Nông

cố định năm 1994)

Trang 24

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Tam Nông giai đoạn 2001

Qua kết quả bảng 2.1 và biểu đồ 2.2 trên ta có thể nhận thấy nền kinh tếcủa huyện những năm qua đã có sự chuyển dịch đáng kể và chuyển dịch đúnghướng.Giá trị sản xuất tăng bình quân 15.54%/năm.Giá trị sản xuất ngànhnông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng lên từ 95.66 tỷ đồng năm 2001 lên 166.25

tỷ đồng năm 2008 nhưng tỷ trọng lại giảm đáng kể, từ 57.92% năm 2001xuống còn 36.65% năm 2008.Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp - xây dựng tăng từ 29.36 tỷ đồng năm 2001 lên 134.5 tỷ đồngnăm 2008, và tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựngcũng tăng dần, từ 17.78% năm 2001 lên 29.65% năm 2008.Giá trị sản xuấtngành thương mại - dịch vụ tăng lên, từ 40.15 tỷ đồng năm 2001 lên 152.9 tỷđồng năm 2008, và tỷ trọng các ngành thương mại – dịch vụ cũng tăng dần, từ24.30% năm 2001 lên 33.70% năm 2008

Cùng với sự chuyển dịch kinh tế, cơ cấu lao động cũng chuyển dịchtheo hướng tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa huyện.Sự chuyển dịch đó được biểu hiện ở bảng sau:

Trang 25

Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình phân công và sử dụng lao động của huyện

Tam Nông qua các năm

nghiệp- xây dựng 5.60 6.40 7.70 8.00 8.80 10.10 9.80 10.50Dịch vụ - thương mại 7.50 7.60 10.40 8.30 9.20 9.50 11.00 11.70

Nguồn:Niên giám thống kê huyện Tam Nông

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy lao động trong ngành nông, lâmnghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng giảm dần Tỷ trọng laođộng trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 86.9% năm 2001xuống còn 77.80% năm 2008.Tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp lớn,

tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng

và dịch vụ - thương mại rất thấp chứng tỏ kinh tế của huyện vẫn chủ yếu làsản xuất nông nghiệp, tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp - xây dựng tăng từ 5.6% năm 2001 lên 10.50% năm 2008 do một

số ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng mới phát triển nhưsản xuất gạch, may công nghiệp, nghề mộc đã thu hút được nhiều lao động ở

bộ phận nông nghiệp sang bộ phận này.Tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụtăng từ 7.5% năm 2001 lên 11.70% năm 2008, các chợ được quy hoạch, nềnkinh tế tăng trưởng, mức sống của người dân tăng nên ngành dịch vụ cũngphát triển và thu hút được nhiều lao động.Như vậy cơ cấu lao động của huyệncũng đang có bước chuyển dịch tuy còn chậm nhưng đã đi đúng hướng, đây

Trang 26

cũng là dấu hiệu tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa huyện.

Nhìn chung nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuấtcủa huyện vì đây là ngành chủ yếu, đặc thù của kinh tế nước ta.Và vì TamNông là một huyện miền núi nên nông nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng, cácngành công nghiệp mới bắt đầu phát triển.Các cụm, khu công nghiệp mới đivào hoạt động nên tốc độ phát triển còn chậm.Các ngành dịch vụ cũng mớiđược chú trọng và đầu tư phát triển.Dù cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậmnhưng nhìn chung đã chuyển dịch đúng hướng giảm tỷ trọng các ngành nông,lâm nghiệp, thủy sản và tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp - xây dựng, dịch vụ.Nhưng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện cònchưa ổn định, thiếu tính bền vững.(Do đặc điểm riêng biệt về kinh tế củahuyện nên trong đề tài em chỉ đi vào phân tích những ngành có số liệu đượctổng hợp đầy đủ, rõ ràng, có sự chuyển dịch cơ cấu đáng kể)

2.2.2 Phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

2.2.2.1.Phân tích chung

Trong những năm vừa qua sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản củahuyện có những bước phát triển khá toàn diện, hiệu quả, đã đảm bảo an ninhlương thực, thực phẩm ngoài ra còn sản xuất hàng hóa cung cấp cho thịtrường trong nước và xuất khẩu.Nhiều mô hình sản xuất mới trong nôngnghiệp cho năng suất cao, hiệu quả cao đã được đưa vào áp dụng và nhânrộng.Nông nghiệp ngày càng phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, cơ cấukinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch mạnh, từ độc canh cây lúa sang pháttriển đa dạng hóa các sản phẩm, việc chuyển đổi diện tích trồng trọt kém hiệu

Trang 27

quả sang nuôi trồng thủy sản đang được tích cực chuyển khai, trồng cỏ pháttriển chăn nuôi đã đem lai hiệu quả kinh tế cho sản xuất.Chuyển dịch cơ cấukinh tế nội bộ ngành nông nghiệp từ năm 2001 trở lại đây diễn ra nhanh theohướng tăng mạnh tỷ trọng giá trị sản xuất ngành thủy sản, chăn nuôi, lâmnghiệp và giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt.Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệpđược thể hiện qua bảng số liệu dưới đây:

Bảng 2.4 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và

thủy sản huyện Tam Nông giai đoạn 2001-2008

Đơn vị tính:Số tuyệt đối:Tỷ đồng, tỷ trọng:%

Số thứ

tự

Chỉ tiêu Năm

Tổng giá trị sản xuất(giá

cố định năm 1994)

Trong đó Nông

nghiệp Lâm nghiệp Thuỷ sản

Trang 28

Dựa vào số liệu trên ta có thể biểu diễn cơ cấu của ngành nông, lâmnghiệp và thuỷ sản của huyện giai đoạn 2001 - 2008 qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.5 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

huyện Tam Nông giai đoạn 2001 - 2008

Qua các số liệu ở bảng 2.4 và biểu đồ 2.5 ta thấy ngành nông, lâmnghiệp và thuỷ sản của huyện giai đoạn 2001 – 2008 phát triển khá, tốc độtăng trưởng bình quân giai đoạn đạt 8.22%/năm.Đóng góp cho tốc độ tăngtrưởng chung của ngành phải kể đến tốc độ tăng trưởng bình quân của ngànhthủy sản đạt 13.28%/năm và ngành lâm nghiệp đạt 10.24%/năm.Về cơ cấucủa ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng thấy rõ sự chuyển dịch.Giá trịsản xuất ngành nông nghiệp tăng từ 86.53 tỷ đồng năm 2001 lên 145.966 tỷ

Trang 29

đồng năm 2008 nhưng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành lại giảm từ 90.46% năm

2001 xuống còn 87.80% năm 2008.Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp, thuỷsản tăng lên, ngành lâm nghiệp tăng từ 3.72 tỷ đồng năm 2001 lên 7.359 tỷđồng năm 2008, ngành thuỷ sản tăng từ 5.4 tỷ đồng năm 2001 lên 12.926 tỷđồng năm 2008 và tỷ trọng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp, thủy sản cũngđồng thời tăng lên, ngành lâm nghiệp tăng từ 3.89% năm 2001 lên 4.43% năm

2008, ngành thủy sản tăng từ 5.65% năm 2001 lên 7.77% năm 2008(Bảng2.4)

Nguyên nhân chính là do huyện đã chú trọng chỉ đạo mở rộng pháttriển chăn nuôi bò thịt, chăn nuôi lợn, gà;phát triển cây sơn, phát triển thủysản là những chương trình nông nghiệp trọng điểm

Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng lên, tỷ trọngtrong tổng giá trị sản xuất giảm nhưng diện tích đất nông nghiệp của huyện từnăm 2001 đến năm 2008 đã tăng 2001.99 ha.Tình hình sử dụng đất của huyệngiai đoạn 2001 – 2008 được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.6 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Tam Nông giai

Trang 30

3 Đất nuôi trồng thủy sản 139.38 576.54 437.16

4 Đất nông nghiệp khác 0.73 0.73 0

(Nguồn: Phòng Thống kê Huyện Tam Nông)

Diện tích đất nông nghiệp tăng lên kéo theo diện tích đất sản xuất nôngnghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản cũng tăng lên.Giá trị sản xuấtcác ngành đều tăng, tỷ trọng ngành lâm nghiệp, thuỷ sản tăng nhưng tỷ trọngngành nông nghiệp lại giảm.Điều đó cho thấy ngành nông, lâm nghiệp vàthuỷ sản của huyện đang dần dần có bước chuyển dịch tích cực, tăng tỷ trọngnhững ngành có tiềm năng và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp

Tam Nông là huyện miền núi nên lâm nghiệp cũng là lợi thế, tỷ trọngngành lâm nghiệp tăng dần từ 3.88% năm 2001 lên 4.43% năm 2008, tốc độtăng nhìn chung còn chậm.Ngành nuôi trồng thủy sản hiện đang có hiệu quảkinh tế cao, nhiều hộ nông dân đã mạnh dạn bỏ vốn và đất ruộng ra để làm ao,

hồ nuôi cá, chuyển đổi ruộng cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản(như các xã Phương Thịnh, Hùng Đô, Tứ Mỹ đã có nhiều mô hình nuôi cá đạtnăng suất cao).Giá trị sản phẩm trồng trọt, nuôi trồng thủy sản trên một đơn vịdiện tích hai năm gần đây đã tăng lên đáng kể.Giá trị sản phẩm trồng trọt,thủy sản trên một ha qua hai năm 2007-2008 tăng 1.34 lần từ 29.3 triệu đồng/

ha lên 39.3 triệu đồng /ha.Như vậy ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản củahuyện đã có sự chuyển dịch khá nhanh, tuy một số ngành còn chậm nhưngđều đã đi đúng hướng, tích cực

2.2.2.2 Phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp

*Cơ cấu chung của ngành nông nghiệp

Trang 31

Với những số liệu tổng hợp được về sự phát triển ngành nông nghiệpcủa huyện giai đoạn 2001 – 2008 ta có bảng số liệu tổng hợp về giá trị sảnxuất và cơ cấu ngành nông nghiệp như sau:

Bảng 2.7 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp

huyện Tam Nông giai đoạn 2001 – 2008

Đơn vị tính:Số tuyệt đối:tỷ đồng và tỷ trọng: %

Số thứ

tự Chỉ tiêu

Năm

Tổng giá trị sản xuất(giá cố định năm 1994)

Trong đó

Trồng trọt Chăn nuôi

Dịch vụ trong nông nghiệp

Trang 32

Dựa vào tỷ trọng các ngành tính được ở bảng trên ta có thể biểu diễn cơcấu ngành nông nghiệp bằng biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.8 Cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Tam Nông giai đoạn

bộ ngành nông nghiệp tăng lên từ 29.63% năm 2001 lên 34.82% năm2008.Giá trị sản xuất dịch vụ trong nông nghiệp tăng từ 1.45 tỷ đồng năm

2001 lên 2.05 tỷ đồng năm 2008 nhưng tỷ trọng dịch vụ trong nông nghiệp

Trang 33

trong nội bộ ngành cũng giảm xuống từ 1.676% năm 2001 xuống còn 1.404%năm 2008.Nhưng nhìn chung sự tăng giảm không đều đặn, còn bấp bênh.

*Chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt

Giai đoạn 2001-2008 vấn đề an ninh lương thực đã được giải quyết, xuthế phát triển ngành trồng trọt đã bắt đầu xuất hiện những nhân tố ban đầu củasản xuất hàng hóa, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp(như:nguyên liệu giấy, nhựa sơn), cho chế biến lương thực - thực phẩm nhưchế biến bún bánh, đậu phụ…và các nông sản khác đáp ứng tiêu dùng nộiđịa.Đánh giá một cách tổng quát ngành trồng trọt của huyện trong những nămqua có xu hướng giảm dần về tỷ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất ngànhnông nghiệp.Đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm đều tăng lên, cây hàng nămtăng 279.77 ha,từ 4686.5 ha năm 2001 lên 4966.27 ha năm 2008, cây lâu nămtăng 614.15 ha, từ 1553.08 ha năm 2001 lên 2167.23 ha năm 2008.Đất lâmnghiệp cũng tăng 670.91 ha, tăng từ 2933.56 ha năm 2001 lên 3604.47 hanăm 2008.Điều này thể hiện chiều hướng tốt trong sự chuyển dịch cơ cấu câytrồng của huyện

Trong những năm qua cơ cấu giá trị sản xuất của ngành trồng trọt có sựthay đổi.Năm 2001 giá trị sản xuất ngành trồng trọt (giá cố định năm 1994) là59.44 tỷ đồng , năm 2008 giá trị sản xuất trồng trọt tăng lên 93.09 tỷđồng.Nhưng tỷ trọng ngành trồng trọt trong nội bộ ngành nông nghiệp lạigiảm xuống, từ 68.69% năm 2001 giảm xuống còn 63.78% năm 2008(Bảng2.7).Nguyên nhân là do huyện đã có những thay đổi trong sản xuất nôngnghiệp chủ yếu về sản xuất cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quảkhông có biến động đáng kể

- Về sản xuất cây lương thực:Diện tích đất sản xuất lương thực tăng

5.22% trong khi mặt bằng đất canh tác giảm 146 ha, diện tích tăng chủ yếu là

Trang 34

do tăng vụ.Những diện tích trồng lúa bấp bênh do úng ngập được chuyển sangnuôi trồng thủy sản, diện tích cao hạn đã từng bước được chuyển sang trồngđậu tương, trồng lạc, trồng rau và trồng cỏ chăn nuôi.Huyện đã tích cực triểnkhai đưa nhanh giống mới có năng suất cao vào các xã có điều kiện thực hiệntốt như Vực Trường, Thượng Nông, Tam Cường, Tứ Mỹ…nên đã đưa năngsuất lúa từ 37.01 tạ/ha năm 2001 lên 44.0 tạ/ha năm 2007.Lương thực bìnhquân đầu người từ 321 kg năm 2001 lên 355 kg vào năm 2007, so với năm

2001 đã tăng 34.0 kg và gấp 1.1 lần.Diện tích gieo trồng cây lương thực cóhạt trong giai đoạn 2001 – 2008 tương đối ổn định, mặt bằng canh tác giảm

do chuyển mục đích sử dụng đất cho các nhu cầu phát triển công nghiệp, xâydựng cơ sở hạ tầng được bù lại bằng diện tích tăng vụ, sản lượng lương thựctăng từ 16339.6 tấn năm 2001 lên 22758.2 tấn năm 2005 và năm 2008 là27022.9 tấn(tăng bình quân 0.95%/năm).Nhờ vậy giá trị sản xuất ngành nôngnghiệp giai đoạn 2001 – 2008 tăng lên

+ Đối với sản xuất lúa:Cơ cấu các trà lúa, giống lúa có chuyển biếnmạnh mẽ, việc áp dụng các tiến bộ kĩ thuật mới vào sản xuất, thâm canh cónhiều tiến bộ, đặc biệt là ứng dụng công nghệ làm mạ xuân có che phủnilon.Kỹ thuật thâm canh của người nông dân đã có tiến bộ.Ở vụ Đông xuân,

cơ bản xóa bỏ được trà chiêm, trà xuân chính vụ, giảm trà xuân sớm, tăng tràxuân muộn để hạn chế tác động xấu của thời tiết, đến nay trà xuân muộn toànhuyện chiếm trên 56% diện tích.Vụ mùa tăng trà mùa sớm lên 55% tổng diệntích để mở rộng diện tích cây vụ đông, còn lại cấy trà mùa trung, trà mùamuộn cơ bản được xóa bỏ.Vụ đông chú trọng chỉ đạo mở rộng qua các năm,đến nay đã là vụ sản xuất chính, diện tích cây vụ đông từ 1401.5 ha năm 2001lên 1590.1 ha năm 2008, góp phần nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích.Sựchuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp đã xuất hiện nhiều mô hình

Trang 35

dựng được 43 mô hình, trong đó có 33 mô hình đạt tiêu chí thu nhập cao).Tỷ

lệ lúa lai hiện nay đạt 27.1% mặc dù trợ giá giống lúa lai chỉ còn lại 13 khuđặc biệt khó khăn.Diện tích gieo trồng lúa chiếm trên 70% tổng diện tích gieotrồng cây lương thực có hạt toàn huyện, giai đoạn 2005 – 2007 có xu hướnggiảm dần từ 4661.5 ha năm 2005 xuống còn 4437.9 ha năm 2007.Năng suấtlúa qua các năm đạt tốc độ tăng khá, bình quân giai đoạn 2001 – 2007 tăng4.27%/năm, năng suất đạt 44 tạ/ha năm 2007.Về sản lượng lúa, giai đoạn

2001 – 2008 tăng bình quân 3.57%/năm, đạt 20905 tấn năm 2008.Cây lúa làcây lương thực chính, việc chuyển đổi cơ cấu giống và các trà lúa,và áp dụngtiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất đã góp phần nâng cao năng suất,chấtlượng của cây lúa và nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích và góp phần vàoviệc chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng tích cực

+ Cây ngô là cây lương thực sau lúa, trong những năm gần đây diệntích ngô có xu hướng tăng (tăng bình quân 4.46%/năm giai đoạn 2001 –2008), đến năm 2008 diện tích ngô đạt 1621.7 ha.Đồng thời cho việc áp dụngcác tiến bộ khoa học kĩ thuật, cùng với việc đưa nhanh vào sản xuất các giốngngô lai có tiềm năng năng suất cao nên năng suất ngô tăng nhanh từ 29.9 tạ/hanăm 2001 lên 47.1 tạ/ha năm 2008 (bình quân tăng 9.51%/năm) đưa sảnlượng ngô toàn huyện từ 3575.3 tấn năm 2001 lên 8167.8 tấn năm 2008 (bìnhquân tăng 12.53%/năm), trong đó ngô vụ đông chiếm khoảng 75.6% diệntích

Chương trình lương thực thực hiện đã đạt được những kết quả đáng kểnhưng vần còn tồn tại một số những han chế.Việc đầu tư thâm canh khôngđều, chưa đáp ứng yêu cầu kĩ thuật vì vậy chưa phát huy hết ưu thế của giốnglúa lai, ngô lai (nhất là lúa lai), đặc biệt là việc cải tạo đất vẫn còn hạn chế,nhiều hộ nông dân còn mang nặng tư tưởng bóc màu đất, lượng phân bón chocây trồng ít, bón không cân đối, chưa đúng quy trình kĩ thuật gây lãng phí và

Trang 36

làm giảm hiệu quả sử dụng phân bón.Cơ cấu mùa vụ chuyển biến chưa triệt

để, chưa vững chắc.Vụ Đông xuân tình trạng gieo mạ xuân muộn không chephủ nilon, gieo trước khung lịch khá phổ biến hoặc dung lúa ngắng ngày, thấpcây cấy cho vùng trũng khi nhiệt độ dưới 15 độ C ở nhiều địa phương tại một

số xã vẫn còn xảy ra

- Về cây công nghiệp chủ lực:Cây công nghiệp dài ngày như cây sơn,

diện tích trồng sơn năm 2008 đạt 467 ha, tăng 339.9 ha so với năm 2001, sảnlượng nhựa sơn tăng 2.6 lần (tăng bình quân mỗi năm 23%),giá trị tăng 3.3lần (tăng bình quân mỗi năm 23%) đặc biệt là giai đoạn 2001 – 2006 mỗi nămtăng bình quân 34.87% giá trị.Cây công nghiệp ngắn ngày chủ yếu là lạc vàđậu tương diện tích trồng tương đối ổn định trên 900 ha, tuy nhiên do có sựđầu tư thâm canh và áp dụng các tiến bộ kĩ thuật nên sản lượng năm 2008 sovới năm 2001 tăng 1.67 lần, giá trị sản lượng tăng 4.2 lần

Qua phân tích trên ta thấy cơ cấu sản xuất nông nghiệp của huyệnchuyển dịch theo hướng tích cực, nâng cao thu nhập trên một đơn vị diệntích.Đối với sản xuất lúa đã chuyển dịch mạnh cơ cấu các trà lúa:Ở vụ Đôngxuân, cơ bản xóa bỏ được trà chiêm, trà xuân chính vụ, giảm trà xuân sớm,tăng trà xuân muộn để hạn chế bất lợi của thời tiết, đến nay trà xuân muộntoàn huyện chiếm trên 74% diện tích; vụ mùa tăng trà mùa sớm và mùa trung

để mở rộng cây vụ đông.Vụ đông qua các năm mở rộng , phát triển và đượccoi là sản xuất chính, diện tích cây vụ đông từ 1401.5 ha năm 2001 lên 1590.1

ha năm 2008, góp phần nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích.Sự chuyểndịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp bước đầu được khởi động và đã xuấthiện nhiều mô hình đạt hiệu quả cao(theo số liệu điều tra năm 2007 huyện đãxây dựng được 43 mô hình, trong đó có 33 mô hình đạt tiêu chí thu nhập cao)

*Chuyển dịch cơ cấu ngành chăn nuôi

Trang 37

Đi đôi với trồng trọt, chăn nuôi là một ngành quan trọng trong nôngnghiệp của huyện miền núi như Tam Nông.Những năm gần đây ngành chănnuôi cũng đã có những chuyển biến rõ rệt, phát triển khá nhanh.Giá trị sảnxuất ngành chăn nuôi (giá cố định năm 1994) giai đoạn 2001- 2008 tăng 1.98lần từ 25.64 tỷ đồng năm 2001 lên 50.826 tỷ đồng năm 2008 Tỷ trọng ngànhchăn nuôi trong nội bộ ngành nông nghiệp tăng lên từ 29.63% năm 2001 lên34.82% năm 2008(Bảng 2.7).Chăn nuôi lợn và bò phát triển, chiếm tới trên53% giá trị sản xuất ngành chăn nuôi.Đặc biệt là những năm sau 2000 tậptrung đầu tư phát triển chăn nuôi lợn theo hướng lợn hướng nạc phục vụ tiêudùng nội địa, chăn nuôi bò thịt đã được tập trung chuyển hướng phát triển đàn

bò theo hướng đàn bò thịt(lai Zebu, lai sind), chăn nuôi gia cầm đã được pháttriển theo hướng giảm dần số hộ, tập trung mở rộng quy mô trang trại gắn vớithực hiện triệt để công tác vệ sinh phòng dịch, xây dựng vùng chăn nuôi antoàn, đó là hướng đi tích cực để đẩy nhanh tốc độ ngành chăn nuôi.Năm 2008tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 50.826 tỷ đồng (giá cố định năm1994), trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chăn nuôi chiếm tỷ trọng34.82%.Năm 2007, chăn nuôi chiếm tỷ trọng 35.34%, trong đó:chăn nuôi giasúc chiếm tỷ trọng 59% toàn ngành chăn nuôi, chăn nuôi gia cầm chiếm 16%

và sản phẩm chăn nuôi khác chiếm 14%.Số lượng các gia súc, gia cầm vàchăn nuôi khác của huyện đều tăng, nhưng tăng rất chậm.Do mấy năm trở lạiđây dịch cúm gia cầm, bệnh lở mồm long móng ở bò, lợn hoành hành, cộngvới thời tiết không thuận lợi rét đậm rét hại nên chăn nuôi kém phát triển.Sốtrâu, bò hiện có năm 2008 là 19502 con (trong đó trâu chiếm 14.74%, bòchiếm 85.26%), giảm 1424 con so với năm 2007, tổng đàn bò năm 2008 la

16410 con tăng 1.95 lần so với năm 2001 nhưng lại giảm so với năm 2007,đàn trâu giảm do áp dụng tiến bộ kĩ thuật, cơ giới hóa nông nghiệp, đưa máymóc vào sản xuất nên số lượng đại gia súc giảm.Ngày 29-12-2006 Ủy ban

Trang 38

nhân dân huyện đã ban hành quyết định số 948/QĐ-UB về phê duyệt dự ánphát triển chăn nuôi bò thịt giai đoạn 2006 – 2010.Mục tiêu phấn đấu đến

2010 đàn bò thịt đạt 20000 con, trong đó bò nái nền lai sind đạt 8000 con,chiếm 40% tổng đàn.Sau hơn một năm thực hiện, chương trình chăn nuôi bòthịt đạt những kết quả sau:Đã hình thành vùng chăn nuôi bò thịt ở 14/20 xã,thị trấn, vùng trọng điểm là Vực Trường, Hiền Quan, Hương Nha, Cổ Tiết,Hương Nộn có số lượng bò đực lai sind là 13 con;930 bò cái lai sind đã đượcthẩm định, bấm số tai đư vào quả lý lý lịch.Đến ngày 1-4-2007 tổng đàn bòcủa huyện đã đạt 17675 con, trong đó bò cái lai sind là 2989 con.Số lượngtrâu bò giảm không phải là một dấu hiệu xấu mà nó cho thấy sự chuyển dịchkinh tế của huyện, đã đi theo hướng tích cực đó là cơ giới hóa nông nghiệp –nông thôn.Tổng đàn lợn có tăng nhưng tăng ít, năm 2007 là 28062 con, năm

2008 là 28091 con, tỷ trọng lợn nái giảm nhẹ 0.02% và tỷ trọng lợn nuôi lấythịt tăng lên 0.02%.Số lượng gia cầm năm 2008 giảm 12400 con so với năm

2007, số lượng tổng đàn biến động không lơn nhưng có xu hướng giảm số hộnuôi và tăng quy mô chăn nuôi trong mỗi hộ

Về chuyển đổi cơ cấu giống, tỷ lệ lợn ngoại và lợn hướng nạc đạt 16%tổng đàn (năm 2008), đàn lợn nái ngoại chiếm 15.3% tổng đàn lợn nái (năm2008), tỷ lệ đàn bò lai sind đến năm 2008 đạt 19.2% tăng 3.2 lần so với năm2001

So với ngành trồng trọt cơ cấu sản xuất trong chăn nuôi thay đổi chậmhơn và không rõ rệt lắm.Chủ yếu là sự thay đổi trong chăn nuôi bò và lợn, xuhướng tăng số lượng và chất lượng đàn bò thit, lợn thịt để đáp ứng nhu cấutiêu dùng của huyện và các vùng lân cận

*Dịch vụ trong nông nghiệp:

Nhìn vào bảng 2.7 ta có thể thấy giá trị sản xuất dịch vụ trong nôngnghiệp giai đoạn 2001 – 2008 đã tăng lên 0.6 tỷ đồng, từ 1.45 tỷ đồng năm

Trang 39

2001 lên 2.05 tỷ đồng năm 2008, tốc độ phát triển bình quân là105.07%/năm.Nhưng tỷ trọng dịch vụ trong nông nghiệp trong cơ cấu giá trịsản xuất ngành nông nghiệp lại giảm xuống từ 1.676% năm 2001 xuống còn1.404% năm 2008.Tam Nông là huyện miền núi, kinh tế còn khó khăn và dođặc thù địa hình đồi núi nên những dịch vụ như làm đất, cày bừa bằng máymóc gần như không áp dụng được, mấy năm trở lại đây, dịch vụ máy vò lúacũng đã phát triển nhưng chưa đáng kể.Những dịch vụ thủy lợi, phòng trừ sâubệnh, bảo vệ thực vật cũng được chú trọng.Và người dân đã biết tự phòng sâubệnh cho cây trồng, súc vật thông qua những lớp tập huấn của trạm khuyếnnông huyện.Nhìn chung giá trị dịch vụ trong nông nghiệp của huyện tăng lênnhưng tăng chậm do vậy cần có biện pháp nghiên cứu, ứng dụng máy mócthực hiện cơ giới hóa nông nghiệp để dịch vụ phát triển hơn.

2.2.2.3 Phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành lâm nghiệp huyện Tam Nông giai đoạn 2001 – 2008

Giai đoạn 2001 – 2008 giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp (giá cố địnhnăm 1994) của huyện đã tăng lên 3.639 tỷ đồng, tăng từ 3.72 tỷ đồng năm

2001 lên 7.359 tỷ đồng năm 2008 (Bảng 2.4), tốc độ phát triển bình quân là

110.24%/năm.Tỷ trọng ngành lâm nghiệp trong ngành nông, lâm nghiệp và

thủy sản cũng tăng lên, từ 3.889% năm 2001 lên 4.426% năm 2008 (Bảng

2.4).Cơ cấu phát triển lâm nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng phát triển

vốn rừng gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và đẩy mạnh khai thác tiềmnăng thế mạnh trồng rừng nguyên liệu giấy cung cấp cho công nghiệp chếbiến giấy.Trồng rừng tập trung mới hàng năm tăng từ 154 ha năm 2000 lên251.5 ha năm 2007, trồng rừng phân tán bình quân 60000-:-80000 cây/năm,nâng cao tỷ lệ che phủ rừng từ 21% năm 2001 lên 24% năm 2007.Rừng trồng

Trang 40

được chăm sóc, bảo vệ và khai thác theo kế hoạch do vậy phát triển lâmnghiệp đạt kết quả khá.

Diện tích rừng hiện có năm 2008 của huyện là 2822 ha.Chủ yếu làtrồng cây bạch đàn để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng.Bêncạnh đó là các cây keo lai, keo lá chàm và cây lấy gỗ có giá trị khác.Việc bảo

vệ rừng ngày càng tốt hơn, không có các vụ cháy lớn xảy ra, các vụ vi phạmlâm luật như mua bán, vận chuyển lâm sản, khai thác rừng, đốt nương làm rẫytrái phép giảm từ 22 vụ năm 200 còn 11 vụ năm 2007.Ngành lâm nghiệp đangphát triển theo hướng tăng dần tỷ trọng trong ngành nông, lâm nghiệp và thủysản, phát huy được ưu thế của huyện miền núi.Nhưng đánh giá một cách triệt

để thì ngành lâm nghiệp không có chuyển biến gì lớn và chiếm tỷ trọng nhỏtrong tổng giá trị sản xuất của giai đoạn 2001 – 2008

2.2.2.4 Phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thủy sản

Những năm gần đây phát triển thủy sản có bước tăng trưởng khá.Giátrị sản xuất ngành thủy sản (giá cố định năm 1994) giai đoạn 2001 – 2008tăng 2.39 lần, tăng từ 5.4 tỷ đồng năm 2001 lên 12.926 tỷ đồng năm 2008,tăng bình quân 13.28%/năm.Cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản trong nội bộngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giai đoạn 2001 – 2008 cũng tăng lên, từ5.65% năm 2001 lên 7.77% năm 2008.Tình hình sản xuất ngành thuỷ sảnđược biểu thị qua bảng số liệu sau đây:

Bảng 2.9 Hiện trạng phát triển thuỷ sản huyện Tam Nông giai đoạn

2001 – 2008

Chỉ tiêu Đơn vị tính 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

1.Giá trị sản xuất

thủy sản đồngTỷ

Ngày đăng: 30/05/2014, 15:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Quy mô và tốc độ tăng giá trị sản xuất của huyện Tam Nông - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 1.1. Quy mô và tốc độ tăng giá trị sản xuất của huyện Tam Nông (Trang 8)
Bảng 2.1. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Tam Nông - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.1. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Tam Nông (Trang 23)
Bảng 2.3. Tổng hợp tình hình phân công và sử dụng lao động của huyện - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.3. Tổng hợp tình hình phân công và sử dụng lao động của huyện (Trang 25)
Bảng 2.4. Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.4. Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và (Trang 27)
Bảng 2.6.   Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Tam Nông giai - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.6. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Tam Nông giai (Trang 29)
Bảng 2.7. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất  ngành nông nghiệp - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.7. Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (Trang 31)
Bảng 2.9. Hiện trạng phát triển thuỷ sản huyện Tam Nông giai đoạn - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.9. Hiện trạng phát triển thuỷ sản huyện Tam Nông giai đoạn (Trang 40)
Bảng 2.10. Quy mô giá trị sản xuất ngành công nghiệp – tiểu thủ công - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.10. Quy mô giá trị sản xuất ngành công nghiệp – tiểu thủ công (Trang 42)
Bảng 2.11. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp – tiểu thủ công - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.11. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp – tiểu thủ công (Trang 44)
Bảng 2.12. Quy mô và tốc độ tăng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.12. Quy mô và tốc độ tăng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu (Trang 46)
Bảng 2.13. Quy mô giá trị sản xuất các ngành dịch vụ - thương mại của - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.13. Quy mô giá trị sản xuất các ngành dịch vụ - thương mại của (Trang 50)
Bảng 2.14. Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành dịch vụ - thương mại huyện - phân tích thống kê chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện tam nông tỉnh phú thọ giai đoạn 2001 – 2008 và định hướng đến năm 2012
Bảng 2.14. Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành dịch vụ - thương mại huyện (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w