TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Các nghiên cứu ở ngoài nước
Nhiều quốc gia trên thế giới đã phát động phong trào kiến tạo không gian xanh, nhận thức rõ lợi ích của mảng xanh và trân trọng thiên nhiên Trào lưu đưa thiên nhiên vào không gian sống ngày càng phổ biến tại các thành phố như Copenhagen, Reykjavik, Malmo, Vancouver, Ecuador, Sydney, Colombia, Curitiba và London Tại Pháp, từ thời vua Henry IV, các con đường quốc lộ đã được thiết kế với hàng cây rợp bóng mát Sau khi ông bị ám sát, Hoàng hậu Marie De Medici đã cho xây dựng con đường đầu tiên ở Paris có hàng cây hai bên Điều này đã tạo nên xu hướng trồng cây xanh, góp phần phát triển cây xanh đường phố tại Paris Đến thời Napoleon III, các hàng cây xanh đã được trồng quy mô lớn, hình thành nên vẻ đẹp lộng lẫy của Thủ đô Paris ngày nay.
Tại Australia, Sydney và Melbourne đã triển khai hình thức xanh hóa mái nhà tại các trung tâm thương mại để thu hút du khách và cải thiện môi trường sống cho cư dân Chính quyền thành phố khuyến khích người dân trồng cây trên mái nhà và biến tường công sở thành những bức tường xanh Hình thức trồng cây trên mái nhà rất đa dạng, từ các hộp xốp trồng cây nhỏ đến khu vườn rộng 2.600m² trên nóc tòa nhà MCentral ở phố Harris, Pyrmont, Sydney.
Hơn 30 năm trước, thành phố Portland thuộc bang Oregon, Mỹ, đã dẫn đầu quy hoạch xanh bằng cách phá bỏ một tuyến đường cao tốc sáu làn và phát triển một công viên bờ sông tại đó Hiện tại ở Portland có khoảng hơn 36.000 ha không gian xanh; 119km đường đi bộ, đi xe đạp; hơn 25 triệu ha rừng và trang trại Ít ai biết rằng, trước đây Portland từng là thành phố nằm thứ hai trong danh sách “Những thành phố gây ô nhiễm nhiều nhất thế giới”
Tại Singapore, mỗi con phố được trồng một loại cây có chiều cao được kiểm soát và cắt tỉa hợp lý, tạo nên không gian xanh mát Các loại cây thân gỗ, dây leo, cây bụi và hoa được bố trí khéo léo tại các công viên, công trình công cộng và khu bảo tồn thiên nhiên Đặc biệt, những hàng cây me Tây lâu năm dọc các đại lộ chính không chỉ tạo bóng mát rộng đến 30 mét mà còn có lá xanh tươi vào ban ngày và khép lại vào ban đêm, tỏa hương thơm Thiết kế cây xanh tại đây thông minh, tận dụng đặc điểm của cây để cung cấp bóng mát ban ngày và không che khuất ánh sáng công cộng vào ban đêm.
Curitiba, Brazil, là một ví dụ điển hình về việc sử dụng ưu đãi thuế để phát triển các dự án môi trường và sinh thái Hồ và công viên tại đây không chỉ để thưởng thức mà còn giúp giải quyết vấn đề lũ lụt Thành phố có hơn 30 công viên và diện tích cây xanh trung bình đã tăng từ 1m²/người lên 52m²/người trong 30 năm qua, với dự báo tiếp tục tăng Cựu thị trưởng Jamie Lerner đã truyền cảm hứng cho cộng đồng tham gia vào kế hoạch xanh hóa thành phố, cùng nhau trồng 1,5 triệu cây xanh dọc theo các tuyến đường cao tốc Đặc biệt, thuế tài sản được miễn hoàn toàn cho những chủ đất duy trì từ 70% đến 100% rừng bản địa.
Thành phố Milan, một trong những đô thị phát triển hàng đầu châu Âu, đã trải qua sự chuyển mình mạnh mẽ sau Cách mạng công nghiệp vào đầu thế kỷ 19 Sự phát triển này đã dẫn đến sự hình thành nhiều khu công nghiệp xung quanh thành phố, nhưng cũng gây ra tình trạng thiếu không gian xanh, khiến chính quyền địa phương phải lo ngại.
Năm 1995, chính quyền thành phố Milan đã phê duyệt quy hoạch đô thị, trong đó tập trung vào việc phát triển hệ thống công viên cây xanh Dự án bao gồm 9 công viên lớn ở trung tâm thành phố, kết hợp với các quảng trường và vườn hoa, tạo thành một mạng lưới xanh liên kết qua các đại lộ cây xanh Quy hoạch hợp lý này giúp người dân di chuyển trên các tuyến đường dành cho người đi bộ và xe đạp luôn được tận hưởng không gian xanh mát.
Milan không chỉ nổi bật với không gian xanh trong nội đô mà còn được bao quanh bởi vành đai xanh, bao gồm hệ thống rừng và công viên rộng lớn Các công viên này được kết nối với nhau thông qua dự án Green Ray, tạo nên một mạng lưới xanh trong cấu trúc đô thị Tám trục đường xanh, mỗi trục phục vụ cho một khu vực đô thị, bắt đầu từ trung tâm thành phố và mở rộng ra ngoại ô, kết hợp hài hòa với vành đai xanh xung quanh Nhờ vào những nỗ lực tích cực trong việc phủ xanh thành phố, mật độ cây xanh công cộng ở Milan đã đáp ứng nhu cầu của cư dân và góp phần giữ cho không khí trong lành.
Singapore là một trong những quốc gia hàng đầu châu Á về thiết kế không gian xanh đô thị, với nhiều tòa nhà chọc trời nhưng không gây cảm giác ngột ngạt nhờ mật độ cây xanh cao Trước đây, thành phố thiếu nhà ở và điều kiện vệ sinh kém, nhưng từ thập niên 1980, Singapore đã chú trọng phát triển thành phố xanh – sạch – đẹp, dẫn đến sự hình thành các khu đô thị chất lượng cao.
Dựa trên nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và quy hoạch kiến trúc, chính phủ Singapore đã xác định các loài cây quan trọng như lim, lọng ô, muồng tím, angsana và xà cừ để trồng trên đường phố Trong khi tỷ lệ phủ xanh thường giảm khi kinh tế và dân số tăng, Singapore lại ngược lại; từ thập niên 1990, tỷ lệ phủ xanh không ngừng được nâng cao Chính phủ đã chọn tuần đầu tiên của tháng 11 là Ngày Trồng cây toàn quốc, một sự kiện được người dân coi là ngày hội với nhiều hoạt động vui chơi và ca hát bên cạnh việc trồng cây.
Theo quy định, các công trình lớn phải có không gian cho cây xanh để được cấp phép xây dựng Do đó, các tòa nhà cao tầng được thiết kế với khu vực cho cây xanh phát triển, trong đó phần mái và sảnh thường là nơi trồng cây.
Tất cả các khoảng trống trên đường phố Singapore được sử dụng hiệu quả để trồng cây xanh, bao gồm dải phân cách, đảo giao thông và các dải đất ven sông, tạo nên một không gian xanh mát và hài hòa.
Hơn nữa, cây xanh ở nước này được bảo vệ nghiêm ngặt Ai xâm hại cây có thể bị phạt đánh roi hoặc vào tù
Đảo quốc này hiện đang dẫn đầu thế giới về số lượng cây xanh trong các khu đô thị, với 30% diện tích các khu đô thị lớn được bao phủ bởi cây xanh.
Singapore đang thực hiện kế hoạch “xanh hóa” rất bài bản, phấn đấu để có số công trình xanh đạt 80% vào năm 2030.[7]
Các nghiên cứu ở trong nước
Quy hoạch cây xanh, đặc biệt là cây bóng mát, đóng vai trò quan trọng trong quy hoạch đô thị toàn cầu.
Tại hội thảo ngày 25/3 ở Hà Nội, Cục Hạ tầng kỹ thuật cho biết tỷ lệ cây xanh bình quân trên mỗi người dân tại các đô thị Việt Nam chỉ đạt từ 2 đến 3m², trong khi tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc là 10m² và các thành phố hiện đại trên thế giới yêu cầu từ 20 đến 25m² Điều này cho thấy diện tích cây xanh đô thị của Việt Nam chỉ bằng 1/5 đến 1/10 so với mức trung bình toàn cầu.
Nhiều đô thị lớn hiện nay có tỷ lệ cây xanh thấp do thiếu quy hoạch hợp lý và chưa chú trọng phát triển không gian xanh Việc trồng cây không đúng cách và lựa chọn cây không phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng dẫn đến tình trạng cây thiếu sức sống và dễ bị bật gốc.
Một số tỉnh, thành phố như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Thái Nguyên và Tây Ninh đã tiến hành quy hoạch cây xanh Nhiều đô thị đang đầu tư vào việc chỉnh trang và trồng mới cây xanh trên các tuyến phố, tạo nên những hàng cây đẹp đặc trưng ở Nha Trang, Vũng Tàu, Tây Ninh và Hải Phòng Quy hoạch cây xanh đô thị được tích hợp trong quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết của các đô thị, với yêu cầu các khu đô thị mới phải dành từ 30 đến 40% quỹ đất cho cây xanh và mặt nước, nhằm đảm bảo yếu tố cảnh quan môi trường và phát triển bền vững.
Năm 2016, bài báo của Nguyễn Thị Yến và Đặng Văn Hà đã chỉ ra rằng thành phố Thái Bình hiện có 42 loài cây bóng mát với hơn 10.000 cây thuộc 25 họ thực vật, trong đó 84% là cây thường xanh và 16% là cây rụng lá Các loài cây phổ biến nhất trên các tuyến phố bao gồm Bàng, Sấu, Sữa, Bằng lăng và Phượng Tuy nhiên, trong số 42 loài, có tới 24 loài không phù hợp để trồng trên đường phố Dựa trên thực trạng, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 18 loài cây trồng, trong đó Lộc vừng là loài đặc sắc, với 11 loài chủ đạo và 6 loài bổ sung, đồng thời đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây xanh đường phố cho thành phố Thái Bình.
Năm 2017, Nguyễn Thị Hoàn và các cộng sự đã nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Nghiên cứu đã thống kê 6.994 cây thuộc 20 loài và 11 họ thực vật trên 152 tuyến giao thông chính, trong đó Bằng lăng (1.178 cây, 16,54%), Xà cừ (1.106 cây, 15,53%) và Sấu (857 cây, 12,04%) là những loài phổ biến nhất Phân loại theo đặc điểm cảnh quan, có 7 loài cây rụng lá (38,9%), 5 loài thường xanh (27,8%) và 3 loài có hoa đẹp (23,8%) Ngoài ra, 7 loài cây không thích hợp trồng đường phố (11,36%) và 120 cây cổ thụ cần bảo tồn thuộc 6 loài (1,68%) Dựa trên kết quả điều tra và phỏng vấn, nhóm nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững cây xanh đường phố khu vực quận Hoàn Kiếm.
Theo Tiến sỹ, Kiến trúc sư Lê Thị Bích Thuận, quy định về diện tích cây xanh tại các khu đô thị Việt Nam hiện chỉ đạt mức tối thiểu và chưa rõ ràng trong việc tiếp cận hệ thống không gian trống Không gian xanh chỉ được xem là một phần trong tổng thể không gian đô thị.
Cây xanh trong đô thị cần được tổ chức thành nhiều cấu trúc như hành lang bảo vệ sông suối, công viên, và vườn hoa Khoảng cách giữa các khu vườn cây xanh nên là 200m với diện tích tối thiểu 0,1ha để làm mát không khí và tạo điều kiện thông gió Đối với đô thị nhỏ và trung bình, cần phát triển không gian thảm thực vật như vườn ươm cây và rừng tự nhiên Để phát triển cây xanh bền vững, cần quy hoạch đồng bộ từ thiết kế chi tiết cho từng tuyến phố đến việc quản lý và chăm sóc cây đúng kỹ thuật.
Việc trồng cây xanh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra giá trị đô thị bền vững Quy hoạch đô thị cần ưu tiên yếu tố “xanh” để phát triển không gian sống Không gian xanh không chỉ bao gồm cây xanh đường phố và công viên, mà còn cần có cái nhìn toàn diện với các hành lang xanh, vành đai xanh, khu sinh thái, khu sản xuất nông nghiệp chất lượng cao, vùng trồng hoa, vùng bảo tồn cây xanh và trục cảnh quan.
Tại hội thảo, các nhà khoa học đã đưa ra ý kiến về cây xanh, nhằm kiến nghị Bộ Xây dựng, TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh về công tác trồng và bảo vệ cây xanh Những ý kiến này sẽ được tổng hợp để đề xuất với Quốc hội xây dựng Luật Quản lý cây xanh đô thị, tạo cơ sở pháp lý cho các vấn đề liên quan đến cây xanh tại các đô thị Việt Nam.
Những nghiên cứu cây xanh đô thị tại thành phố Tuyên Quang
Trước năm 2010, cây xanh tại thành phố Tuyên Quang chủ yếu do người dân tự trồng để đáp ứng nhu cầu bóng mát, nhưng không đồng nhất về chủng loại như cây bàng, hoa sữa, cây phượng và xà cừ, dẫn đến việc không còn phù hợp với đô thị hiện đại Trong quá trình chỉnh trang đô thị, việc nâng cấp và mở rộng hệ thống lòng đường, vỉa hè đã làm cho một số vị trí cây xanh trước đây trở nên không thích hợp Để khắc phục tình trạng này, thành phố đã xây dựng nhiều phương án quy hoạch nhằm thay thế những cây xanh không còn phù hợp với sự phát triển đô thị hiện nay.
Để nâng cao chất lượng đô thị và tạo môi trường sống tốt cho người dân, việc nghiên cứu cải tạo và chọn loài cây bóng mát phù hợp với kiến trúc hiện đại và bản sắc văn hóa của Tuyên Quang là rất cần thiết Tuy nhiên, cây xanh hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu về cảnh quan và tốc độ đô thị hóa của thành phố.
Nhiều tuyến phố cũ hiện nay có cây xanh chủ yếu do người dân tự trồng, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều loại cây không phù hợp với môi trường đô thị Việc trồng cây không theo quy hoạch đã tạo ra sự lộn xộn và ảnh hưởng tiêu cực đến mỹ quan đô thị.
Quy hoạch và phát triển hệ thống cây xanh đô thị, đặc biệt là cây xanh đường phố, là nhiệm vụ quan trọng hiện nay Cần nghiên cứu và chọn lựa các loài cây trồng phù hợp với đặc điểm môi trường, đồng thời tạo nên nét đặc sắc riêng cho thành phố Tuyên Quang.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1.Mục tiêu tổng quát Đề xuất được tập đoàn cây bóng mát và một số giải pháp về cây bóng mát trồng trên các tuyến phố và khuôn viên phù hợp với mục tiêu của quy hoạch chung thành phố Tuyên Quang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Đánh giá hiện trạng hệ thống cây bóng mát và hình thức tổ chức trồng cây bóng mát tại thành phố Tuyên Quang, đồng thời phân tích ưu điểm và nhược điểm của các loài cây bóng mát đã được trồng.
- Tuyển chọn tập đoàn cây bóng mát cho thành phố Tuyên Quang
- Đề xuất giải pháp phát triển cây bóng mát cho một số tuyến phố và khuôn viên trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
2.2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào các loại cây bóng mát tại thành phố và những loài cây được chọn lọc phù hợp với đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng của tỉnh Tuyên Quang.
Nội dung nghiên cứu tập trung vào việc xác định các loại cây bóng mát phù hợp với quy hoạch chung của thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, với mục tiêu đến năm 2020 và tầm nhìn mở rộng đến năm 2030.
+ Phạm vi về không gian: 10 tuyến đường phố chính, 04 khuôn viên và
02 không gian công cộng thuộc thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Hiện trạng hệ thống cây bóng mát và hình thức tổ chức trồng cây bóng mát trên địa bàn thành phố Tuyên Quang;
Tuyển chọn cây bóng mát cho thành phố Tuyên Quang cần phù hợp với Quy hoạch chung đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Bài viết đề xuất các giải pháp phát triển cây bóng mát cho một số tuyến phố và khuôn viên trong thành phố Tuyên Quang.
Để điều tra đánh giá hiện trạng hệ thống cây bóng mát tại thành phố Tuyên Quang, tôi đã áp dụng phương pháp kế thừa từ các tài liệu, bản đồ quy hoạch và thiết kế hệ thống giao thông Ngoài ra, tôi cũng tham khảo các quyết định, thông tư và công trình nghiên cứu liên quan đến cây xanh đô thị, cùng với danh lục thực vật từ một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên trong khu vực tỉnh Tuyên Quang để tổng hợp thông tin.
Tôi sẽ thực hiện điều tra thực tế về các hình thức tổ chức trồng cây bóng mát, bao gồm cây trồng đường phố và cây trong các khuôn viên, công sở Đối với hệ thống cây bóng mát tại thành phố Tuyên Quang, tôi sẽ tiến hành khảo sát thành phần loài, số lượng và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây bóng mát.
Dt, D1.3…) bằng sào kết hợp với thước dây, kẹp kính Tình hình sinh trưởng của cây được quan sát và đánh giá bằng mắt thường
Hình thức tổ chức trồng cây trên các tuyến phố hoặc khuôn viên được đánh giá qua việc quan sát bằng mắt thường Khoảng cách giữa các cây, giữa cây và công trình kiến trúc, cũng như khoảng cách giữa cây và lòng đường được đo đạc chính xác bằng thước dây.
Kết quả được tổng hợp theo các mẫu biểu dưới đây:
Phiếu điều tra hiện trạng cây xanh hiện có trong vườn hoa và một số tuyến phố chính trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
Lô Đường Quang Trung Đường Phan Thiết Đường Trần Hƣng Đạo Đường 17/8 Đường Nguyễn Trãi Đường
Bảng điều tra hiện trạng cây xanh hiện có một số khuôn viên sở, các ban ngành trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
STT Loại cây Tỉnh ủy UBND tỉnh
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ
Bệnh viện Đa khoa TQ Tổng
Nghiên cứu nhằm tuyển chọn các loại cây bóng mát phù hợp cho thành phố Tuyên Quang, đảm bảo tuân thủ Quy hoạch chung của thành phố đến năm 2020 và định hướng phát triển đến năm 2030.
Nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Tuyên Quang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 tập trung vào quy hoạch phân khu chức năng và các chỉ tiêu về cây xanh đô thị.
Dựa trên số liệu điều tra hiện trạng, bài viết đánh giá khách quan về tình hình cây xanh tại thành phố Tuyên Quang Để cải thiện thành phần loài cây trồng bóng mát, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và tham khảo tài liệu từ các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên gần khu vực tỉnh, đặc biệt là khu bảo tồn thiên nhiên rừng đặc dụng Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.
Việc thu thập và bổ sung thông tin về tình hình đất đai và thổ nhưỡng trong khu vực nghiên cứu là yếu tố quan trọng giúp lựa chọn loài cây trồng phù hợp.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tham khảo ý kiến các chuyên gia và các đơn vị quản lý, đồng thời khảo sát ý kiến người dân về vai trò của cây xanh đường phố, sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ và duy trì hệ thống cây xanh Những thông tin này sẽ là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại thành phố Tuyên Quang.
Các số liệu điều tra được tổng hợp, phân tích bằng phần mềm exel
(3) Đề xuất giải pháp phát triển cây bóng mát cho một số tuyến phố và khuôn viên trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
Nghiên cứu hiện trạng cây xanh tại thành phố Tuyên Quang đã đưa ra các đề xuất lựa chọn loài cây phù hợp, nhằm phát triển cây bóng mát Các giải pháp thiết kế cây xanh được đề xuất cho một số tuyến phố và khuôn viên trong thành phố, góp phần nâng cao chất lượng môi trường đô thị.
Các đề xuất được trình bày bằng các bản vẽ và phương án thiết kế được thực hiện bằng các phần mềm: photoshop, autocad…
(4) Phương pháp xác định tên loài và tra cứu loài cây
Dựa trên kết quả danh sách các loài thu thập được trong quá trình điều tra thực trạng, chúng tôi đã tiến hành xác định tên khoa học cho các loài Các tài liệu chính được sử dụng để tra cứu tên khoa học bao gồm: "Cây cỏ Việt Nam" (3 tập) của Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), "Từ điển thực vật thông dụng" (2 tập) của Võ Văn Chi (2003), và "Cây cỏ có ích ở Việt Nam - Tập 1" của Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999).
Nội dung nghiên cứu
Hiện trạng hệ thống cây bóng mát và hình thức tổ chức trồng cây bóng mát trên địa bàn thành phố Tuyên Quang;
Tuyển chọn cây bóng mát cho thành phố Tuyên Quang cần phù hợp với Quy hoạch chung đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Bài viết đề xuất các giải pháp phát triển cây bóng mát cho một số tuyến phố và khuôn viên trong thành phố Tuyên Quang.
Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá hiện trạng hệ thống cây bóng mát tại thành phố Tuyên Quang, tôi đã áp dụng phương pháp kế thừa từ các tài liệu, bản đồ quy hoạch và thiết kế hệ thống giao thông Ngoài ra, tôi cũng tham khảo các quyết định, thông tư và công trình nghiên cứu liên quan đến cây xanh đô thị, cùng với danh mục thực vật từ một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên trong khu vực tỉnh Tuyên Quang để tổng hợp thông tin.
Tôi sẽ thực hiện điều tra thực tế về các hình thức tổ chức trồng cây bóng mát, bao gồm cây trồng đường phố và cây trong các khuôn viên, công sở Đối với hệ thống cây bóng mát tại thành phố Tuyên Quang, tôi sẽ khảo sát thành phần loài, số lượng và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây bóng mát.
Dt, D1.3…) bằng sào kết hợp với thước dây, kẹp kính Tình hình sinh trưởng của cây được quan sát và đánh giá bằng mắt thường
Hình thức tổ chức trồng cây trên các tuyến phố hoặc khuôn viên được đánh giá qua việc quan sát bằng mắt thường Khoảng cách giữa các cây, giữa cây và công trình kiến trúc, cũng như giữa cây và lòng đường được đo đạc chính xác bằng thước dây.
Kết quả được tổng hợp theo các mẫu biểu dưới đây:
Phiếu điều tra hiện trạng cây xanh hiện có trong vườn hoa và một số tuyến phố chính trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
Lô Đường Quang Trung Đường Phan Thiết Đường Trần Hƣng Đạo Đường 17/8 Đường Nguyễn Trãi Đường
Bảng điều tra hiện trạng cây xanh hiện có một số khuôn viên sở, các ban ngành trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
STT Loại cây Tỉnh ủy UBND tỉnh
Sở Kế hoạch và Đầu tƣ
Bệnh viện Đa khoa TQ Tổng
Nghiên cứu nhằm tuyển chọn các loại cây bóng mát phù hợp cho thành phố Tuyên Quang, đảm bảo tuân thủ Quy hoạch chung của thành phố đến năm 2020 và định hướng phát triển đến năm 2030.
Nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Tuyên Quang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 tập trung vào quy hoạch phân khu chức năng và các chỉ tiêu về cây xanh đô thị.
Dựa trên số liệu điều tra hiện trạng, bài viết đánh giá khách quan về tình hình cây xanh tại thành phố Tuyên Quang Để cải thiện và bổ sung các loài cây trồng bóng mát, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và tham khảo tài liệu từ các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên lân cận, đặc biệt là khu bảo tồn thiên nhiên rừng đặc dụng Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.
Việc thu thập và bổ sung thông tin về tình hình đất đai và thổ nhưỡng trong khu vực nghiên cứu là yếu tố quan trọng giúp lựa chọn loài cây trồng phù hợp.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tham khảo ý kiến các chuyên gia và các đơn vị quản lý, đồng thời khảo sát ý kiến người dân về vai trò của cây xanh đường phố, sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ và duy trì hệ thống cây xanh Những thông tin này sẽ là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp phát triển hệ thống cây bóng mát tại thành phố Tuyên Quang.
Các số liệu điều tra được tổng hợp, phân tích bằng phần mềm exel
(3) Đề xuất giải pháp phát triển cây bóng mát cho một số tuyến phố và khuôn viên trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
Nghiên cứu hiện trạng cây xanh tại thành phố Tuyên Quang đã đề xuất lựa chọn các loài cây phù hợp, đồng thời đưa ra giải pháp phát triển cây bóng mát thông qua thiết kế cây xanh cho một số tuyến phố và khuôn viên trong thành phố.
Các đề xuất được trình bày bằng các bản vẽ và phương án thiết kế được thực hiện bằng các phần mềm: photoshop, autocad…
(4) Phương pháp xác định tên loài và tra cứu loài cây
Dựa trên kết quả danh sách các loài thu thập được trong quá trình điều tra thực trạng, chúng tôi đã tiến hành xác định tên khoa học cho các loài Các tài liệu chính được sử dụng để tra cứu tên khoa học bao gồm: "Cây cỏ Việt Nam" (3 tập) của Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), "Từ điển thực vật thông dụng" (2 tập) của Võ Văn Chi (2003), và "Cây cỏ có ích ở Việt Nam - Tập 1" của Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999).
Danh sách các loài cây cảnh quan cần phải bao gồm bảng thành phần với đầy đủ thông tin cần thiết để phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học.
Do đó, cần phải có một danh sách các loài được sắp xếp theo thứ tự alphabet, có tên Việt Nam, tên khoa học.
ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
Các điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Tuyên Quang đến năm 2020, định hướng phát triển đến năm 2030 trên cơ sở quy mô Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Tuyên Quang đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 28/7/2007, tổng diện tích lập điều chỉnh quy hoạch khoảng 14.907 ha (trong đó: 11.921 ha diện tích đất thành phố hiện tại, có điều chỉnh mở rộng sang một số xã lân cận thuộc huyện Yên Sơn tiếp giáp với thành phố)
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí TP Tuyên Quang
(Nguồn: Điều chỉnh QH thành phố Tuyên Quang)
Khu vực thành phố có địa hình phức tạp với nội thị tương đối bằng phẳng, xen lẫn gò đồi thấp, ao hồ và ruộng trũng, có độ cao trung bình từ 23m đến 27m Các đồi thấp trong khu vực này có độ cao trung bình từ 30m đến 40m Khu ngoại thị bao gồm các khu dân cư và đồng ruộng, với những dãy đồi thấp và một số núi cao rải rác.
- Địa hình gò đồi chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng, chiếm tỷ lệ khoảng 10÷12%: có điều kiện để phát triển xây dựng và canh tác
- Địa hình Đồng bằng ven sông suối: chiếm tỷ lệ khoảng 8÷10%
Thành phố và tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa kết hợp với đặc điểm khí hậu vùng núi cao, dẫn đến sự thay đổi liên tục của các khối không khí Sự chia cắt địa hình mạnh mẽ tạo ra ảnh hưởng rõ rệt đến thời tiết ở khắp nơi trong khu vực.
Khí hậu Tuyên Quang được chia làm 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông, trong đó mùa Đông khô và lạnh, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều
Sự kết hợp giữa hoàn lưu và địa hình là nguyên nhân chính gây ra sự phân hóa khí hậu tại Tuyên Quang Một số yếu tố khí hậu quan trọng cần được đề cập bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, và lượng mưa.
Chế độ nhiệt của khu vực này có nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,6ºC, với nhiệt độ thấp nhất dao động từ 16,7 đến 18,3ºC Nhiệt độ tối cao tuyệt đối ghi nhận được là 40,5ºC vào tháng 6, trong khi nhiệt độ thấp tuyệt đối là 6,3ºC vào tháng 12 Biên độ dao động nhiệt trong ngày đạt 8,4ºC Khu vực này cũng có số giờ nắng trung bình hàng năm là 1.568,9 giờ và tổng tích ôn trong năm khoảng 7.000-7.500ºC.
Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10, với lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.442,7 mm và số ngày mưa là 128,3 ngày Trong mùa mưa, lượng mưa chiếm khoảng 70% tổng lượng mưa cả năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7 và 8, trong đó tháng 8 ghi nhận lượng mưa lớn nhất với 267,1 mm.
Bảng 3.1: Lượng mưa trung bình tháng và năm các trạm trên lưu vực sông Lô
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
- Về chế độ ẩm: Độ ẩm tương đối, trung bình năm 83,7%, độ ẩm cao nhất 86%, độ ẩm thấp nhất 36%
- Về lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình năm là: 1.020,3 mm
Trong các tháng mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, lượng bốc hơi thường vượt quá lượng mưa, dẫn đến chỉ số ẩm ướt dưới 0,5, gây ra tình trạng khô hạn nghiêm trọng.
Hướng gió chủ đạo trong tỉnh bị ảnh hưởng bởi chế độ gió mùa và địa hình phân cách mạnh, dẫn đến sự khác biệt về tần suất gió ở các khu vực Tại các thung lũng, hướng gió thường trùng với hướng gió của thung lũng, trong khi ở vùng đồng bằng hoặc núi cao, hướng gió thịnh hành thường phù hợp với hướng gió chính theo mùa Vào mùa Đông, gió thịnh hành chủ yếu là gió Đông Bắc hoặc Bắc, trong khi vào mùa Hạ, tần suất gió Đông Bắc giảm và chuyển sang gió Đông Nam hoặc Nam.
- Tốc độ gió: Tần suất lặng gió rất nhỏ, khả năng xảy ra tốc độ gió lớn cao, tốc độ trung bình khoảng 0.54m/s
Thành phố Tuyên Quang, tọa lạc ở hạ lưu sông Lô, chịu ảnh hưởng của bốn ngòi lớn: Ngòi Cơi, Ngòi Là, Ngòi Chả và Ngòi Thục Do đó, thành phố này có chế độ thủy văn đặc trưng từ các sông ngòi này, dẫn đến những diễn biến đáng chú ý về mức độ ngập lụt.
- Mức lũ 23,0m hàng năm, tần suất 97%, chỉ ngập các ruộng lúa thấp
- Mức lũ 30,87m, tần suất 4%, ngập và thiệt hại hoa máu rất lớn
- Mức lũ 31,37m, tần suất 1,0%, thiệt rất lớn
Hiện tại đang xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện đầu nguồn sông Lô sẽ hạn chế mức nước ngập cho thành phố Tuyên Quang
Khu vực thành phố Tuyên Quang có 6 nhóm đất chính, bao gồm 12 Đơn vị đất và 16 Đơn vị đất phụ Các nhóm đất này bao gồm: 1) Nhóm đất phù sa - Fluvisols (FL); 2) Nhóm đất Glây - Gleysols (GL); 3) Nhóm đất đen - Luvisols (LV); 4) Nhóm đất xám - Acrisols (AC); 5) Nhóm đất đỏ - Ferrasols (FR); 6) Nhóm đất dốc tụ - Regosols (RG) Trong đó, nhóm đất phù sa (Fluvisols) được ký hiệu là FL.
Với diện tích 1.215 ha, chiếm 10,19% tổng diện tích tự nhiên của thành phố, khu vực này phân bố rộng rãi ở 13 phường, xã Đặc biệt, diện tích lớn nhất tập trung tại các xã, phường như Tân Hà (225 ha), Ỷ La (188 ha), An Khang (186 ha), Hưng Thành (140 ha) và An Tường.
Đất phù sa tại Thành phố Tuyên Quang, như ở Đội Cấn (114 ha) và các khu vực khác (123 ha), chủ yếu được hình thành từ sự bồi đắp của sông Lô Bên cạnh đó, các suối chảy qua địa bàn cũng đóng góp vào việc hình thành những dải đất phù sa hẹp với thành phần cơ giới thô hơn.
Nhóm đất này xuất hiện ở những khu vực địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, không thường xuyên được bồi tụ Chúng hình thành trong điều kiện ngập nước thường xuyên, do địa hình thấp hoặc do việc canh tác lúa nước.
Đơn vị đất này có hạn chế chính là hàm lượng dinh dưỡng thấp đến trung bình và sự không cân đối của các chất dinh dưỡng Tuy nhiên, những hạn chế này có thể được khắc phục thông qua việc sử dụng phân bón Nhóm đất glây (Gleysols) được ký hiệu là GL.
Có 97 ha, chiếm 0,81% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở một số xã, phường: Lưỡng Vượng (40 ha), Thái Long (38 ha), An Tường (10 ha), Đội Cấn (9 ha) Nhóm đất Glây hình thành chủ yếu tại các vùng đất thấp, vàn thấp, thường bị ngập nước hoặc những nơi có mực nước ngầm cao trong các thung lũng, tiêu nước kém Trong quá trình ngập nước, các ôxit sắt và mangan bị khử và hoà tan trong nước Những chất này di chuyển và tích tụ tạo thành tầng glây có màu xám xanh, xanh đen, xanh lục nhạt… và có những vệt rỉ sắt thường thấy theo các đường rễ cây Đất glây thường mất cấu trúc, hoặc tảng, chặt, chứa nhiều độc tố đối với cây trồng Đất Glây phân bố ở địa hình bằng, tầng đất dày, có chế độ ẩm phù hợp cho canh tác lúa nước Hạn chế chính của Đơn vị đất này là phân bố ở địa hình thấp trũng, khó thoát nước Đất bị glây mạnh, hình thành một số độc tố gây độc cho bộ rễ của cây trồng, lúa bị nghẹt rễ, đẻ nhánh kém, lá vàng úa, dẫn đến chết
Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số và lao động
Dân số và cơ cấu: a) Dân số
- Hiện trạng năm 2017: Dân số toàn thành phố sau khi mở rộng là 178.058 người, trong đó:
+ Dân số khu vực mở rộng là 26.000 người
+ Tổng dân số thành phố hiện hữu: 148.657 người, gồm 96.796 nhân khẩu thường trú, 51.861 nhân khẩu tạm trú (đã quy đổi) Trong đó:
+ Khu vực nội thành: 101.458 người, gồm 57.390 nhân khẩu thường trú, 44.068 nhân khẩu tạm trú (đã quy đổi)
+ Khu vực ngoại thành: 47.199 người, gồm 39.406 nhân khẩu thường trú, 7.793 nhân khẩu tạm trú (đã quy đổi) b) Thành phần dân tộc
Thành phố Tuyên Quang có 14,96% dân số là người dân tộc thiểu số, bao gồm các dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa, Mường, và Dao chiếm 14,11% Các dân tộc khác chỉ chiếm 0,85% dân số toàn thành phố.
3.2.2 Tình hình sử dụng đất đai
- Tổng diện tích đất tự nhiên trong ranh giới nghiên cứu là 18.700 ha Trong đó:
+ Nhóm đất nông nghiệp: 18,14 km 2 , chiếm 60%
+ Nhóm đất phi nông nghiệp: 11,73 km 2 , chiếm 39%
+ Nhóm đất chưa sử dụng: 0,58 km 2 , chiếm 1%
+ Nhóm đất nông nghiệp: 66,54 km 2 , chiếm 75%
+ Nhóm đất phi nông nghiệp: 20,22 km 2 , chiếm 23%
+ Nhóm đất chưa sử dụng: 1,85 km 2 , chiếm 2%
- Xã Kim Phú: Nhóm đất nông nghiệp: 1459 ha, chiếm 75,62%; Nhóm đất phi nông nghiệp: 459 ha, chiếm 23,8%.; Nhóm đất chưa sử dụng: 11 ha, chiếm 0,58%
- Xã Phú Lâm: Nhóm đất nông nghiệp: 3322 ha, chiếm 87,45%.; Nhóm đất phi nông nghiệp: 471 ha, chiếm 12,4%; Nhóm đất chưa sử dụng: 6 ha, chiếm 0,15%
- Thị trấn Tân Bình: - Nhóm đất nông nghiệp: 18 ha, chiếm 2,29%; Nhóm đất phi nông nghiệp: 786 ha, chiếm 97,71%
Bảng 3.2: Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất
STT Các hạng mục sử dụng đất Diện tích (ha)
Hệ số sử dụng đất
3 Đất cơ quan, trụ sở hành chính, CT sự nghiệp 47.54 0.25 3 1.2 40
7 Đất hạ tầng kỹ thuật 1.13 0.01 - 0.2 40
9 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 30.10 0.16 - 1.2 40
15 Đất tôn giáo tín ngưỡng 0.77 0.00 - 1.2 -
(Thuyết minh Điều chỉnh quy hoạch thành phố Tuyên Quang) 3.2.3 Hiện trạng cơ hạ tầng
Cơ sở hạ tầng xã hội: a) Các công trình hành chính
Trên phạm vi thành phố có các cơ quan hành chính phân thành 3 cấp:
Trụ sở của các cơ quan hành chính và đoàn thể cấp Tỉnh, bao gồm UBND tỉnh, Tỉnh ủy và các Sở ban ngành, đã được xây dựng và hiện đang hoạt động chủ yếu tại phường Minh Xuân, Phan Thiết, Tân Quang.
Trụ sở UBND thành phố và các phòng ban liên quan đã được quy hoạch xây mới, tọa lạc ở phía Nam thành phố, tại xã An Tường.
- Trụ sở UBND các phường, xã bảo đảm diện tích mặt bằng và chất lượng công trình
Các cơ quan khác của Tỉnh, Thành phố, bao gồm các sở, điện lực, ngân hàng, chi cục thuế, kho bạc, bảo hiểm và bưu điện, được phân bố dọc theo tuyến Tân Trào và tuyến đường Trường Chinh.
- Diện tích xây dựng các công trình công cộng cấp đô thị: 44,5ha Diện tích bình quân khu vực nội thị là 7,9 m 2 /người b) Các công trình giáo dục
Hệ thống giáo dục mầm non tại địa bàn bao gồm 18 trường, trong đó có 9 trường đạt chuẩn Quốc gia Hệ thống này đáp ứng 30% nhu cầu gửi trẻ dưới 2 tuổi và 98% nhu cầu cho trẻ mẫu giáo, với tỷ lệ 100% cho trẻ 5 tuổi.
Giáo dục phổ thông hiện có 33 trường, trong đó 100% các trường tiểu học và THCS đã triển khai dạy - học theo chuẩn Đến nay, 60% các cơ sở giáo dục đã được đầu tư xây dựng đạt chuẩn Bên cạnh đó, các công trình văn hóa và thể dục thể thao cũng được chú trọng phát triển.
Các công trình văn hóa tại phường Tân Quang, Minh Xuân bao gồm nhà văn hóa, rạp chiếu phim, bảo tàng và thư viện Mỗi tổ, xóm đều có nhà sinh hoạt văn hóa, với tổng cộng 10 nhà văn hóa xã, phường và 168 nhà văn hóa thôn, xóm, tổ dân phố Tuy nhiên, nhiều nhà văn hóa ở tổ, xóm hiện đang xuống cấp và chưa đáp ứng được nhu cầu hoạt động đa dạng của cộng đồng.
Tỷ lệ gia đình văn hoá 93,2% (kế hoạch 91,5%); thôn, xóm, tổ văn hoá 80,1% (kế hoạch 75,1%) d) Các công trình y tế
+ Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang
+ Bệnh viện Y dược cổ truyền Tuyên Quang
+ Bệnh viện Lao và bệnh phổi Tuyên Quang
+ Trung tâm phục hồi chức năng Hương Sen Tuyên Quang
+ Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Tuyên Quang
+ Trung tâm Phòng chống các bệnh xã hội
+ Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS
+ Trung tâm y tế thành phố
+ Trung tâm Dân số - KHHGĐ thành phố
- Tuyến xã, phường: gồm 13 Trạm Y tế xã, phường (6 xã, 7 phường)
- Các đơn vị y tế tư nhân:
+ Phòng khám tư nhân chất lượng cao: 02 (phòng khám An Sinh, phòng khám đa khoa 159)
+ Phòng khám Y học cổ truyền: 12
+ Cơ sở hành nghề dược: 99 e) Công trình di tích lịch sử, tôn giáo
Thành phố Tuyên Quang nổi bật với nhiều di tích lịch sử được Nhà nước và tỉnh công nhận, như Thành Nhà Mạc, Đền Hạ, Đền Thượng, chùa An Vinh, Đền Mỏ Than, Đền Cấm, suối Đát, Núi Dùm, và Chùa Hang Những điểm đến này không chỉ thu hút khách du lịch mà còn là nơi tổ chức các lễ hội hấp dẫn Bên cạnh đó, thành phố còn có các công trình thể dục thể thao, cây xanh và công viên, tạo nên không gian sống xanh và lành mạnh cho cư dân và du khách.
Thành phố đang tích cực nhận sự hỗ trợ từ tỉnh và sở văn hóa, thể thao và du lịch để tổ chức và quản lý các cơ sở thể dục thể thao Hiện tại, khoảng 50% dân số và 60% hộ gia đình của thành phố thường xuyên tham gia luyện tập thể dục thể thao.
Thành phố có cơ sở vật chất phong phú cho luyện tập thể dục thể thao, bao gồm 15 sân tennis, 5 sân bóng đá, 1 nhà thi đấu, 3 nhà tập luyện, 2 bể bơi và 260 sân cho các hoạt động thể thao khác.
Thành phố Tuyên Quang hiện chỉ có các vườn hoa cây xanh tại các trung tâm phường, xã Tuy nhiên, với lợi thế từ Sông Lô chảy qua, thành phố có tiềm năng phát triển các tuyến hành lang cây xanh công viên cảnh quan quan trọng, góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ và phục vụ nhu cầu của người dân.
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật
Giao thông: a Giao thông đối ngoại
Thành phố Tuyên Quang, nằm trên tuyến đường từ Hà Nội đến Hà Giang, là điểm giao thoa của các Quốc lộ 2, 2C và 37, đồng thời có sông Lô chảy qua.
Quốc lộ 2, nằm ở phía Tây thành phố Tuyên Quang, kết nối Hà Nội, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Hà Giang Hiện tại, Quốc lộ 2 đã có tuyến tránh qua thành phố Tuyên Quang với chiều dài 8,22 km, từ km125+501 đến km139+771, đạt tiêu chuẩn cấp II MN, với nền đường rộng 21m.
4 làn xe bê tông nhựa 17m, 2 bên có đường gom quy mô nền 5,5m, mặt 3,5m) Đoạn tuyến còn lại với tổng chiều dài 11,3km quy mô cấp III MN; IV
MN bề rộng nền 9 -15m, bề rộng mặt 6-11m
Quốc lộ 2C, dài 7,07 km trên cơ sở TL185 và 2,34 km trùng với QL37, nằm ở phía Đông thành phố Tuyến đường này kết nối Sơn Tây - Tân Trào - thành phố Tuyên Quang và đã được hoàn thành nâng cấp vào năm 2015 với quy mô cấp III ĐB.
- III MN, chiều rộng nền đường 15-18m, chiều mặt 11-15m, riêng đoạn TL185 cũ quy mô cấp V MN, nền đường 6,5m, mặt đường 5,5m
Quốc lộ 37 kết nối thành phố Yên Bái với Tuyên Quang và Thái Nguyên, có chiều dài 64,5 km qua Tuyên Quang Đoạn qua Thành phố Tuyên Quang (từ km 209 đến km 230) bao gồm một phần trùng với QL2C và một phần là đường đô thị (đường Tân Trào, đường Bình Thuận…) với tổng chiều dài 10,5 km, đạt quy mô cấp III ĐB và IIIMN Đoạn ngoài đô thị từ km 220 đến km 238+152 dài 17,2 km, trong đó 9 km (từ km 220 đến km 229) đạt cấp III MN và 8,3 km đạt cấp V MN Đường tỉnh 186 đi qua thành phố tại khu vực KCN Long Bình An, có tổng chiều dài 4 km với mặt đường nhựa rộng 12,0 m và 11,0 m.
2 có chiều dài khoảng 4km, quy mô nền 6,5m, mặt 3,5m Chất lượng đường đã bị xuống cấp nghiêm trọng cần được nâng cấp cải tạo
Tuyến đường thuỷ trên sông Lô đi qua địa phận thành phố Tuyên Quang dài
~ 31 km, trên tuyến có các cảng Tuyên Quang, cảng An Hòa, các bến đò Tân
Giới thiệu Quy hoạch chung thành phố Tuyên Quang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Theo Quyết định số 919/QĐ-UBND ngày 11/8/2017, quy hoạch chung thành phố Tuyên Quang được điều chỉnh đến năm 2020 với định hướng phát triển đến năm 2030, bao gồm 4 định hướng chính.
- Vùng phát triển đô thị nằm theo hướng Tây bắc, Đông nam dọc theo tuyến đường tránh QL2 và dòng sông Lô;
- Phía Bắc là vùng đô thị lịch sử hiện hữu, bảo tồn và phát triển có bản sắc gắn liền với đô thị giáo dục đào tạo đại học;
Phía Nam thành phố đang phát triển thành một vùng đô thị năng động theo định hướng hiện đại, kết nối chặt chẽ với các tuyến giao thông quan trọng như trục đối ngoại Đông Tây, đường Hồ Chí Minh, cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ và hệ thống đường sắt.
- Phía Tây thành phố là vùng đệm đô thị, sản xuất nông nghiệp và du lịch sinh thái hỗ trợ cho sự phát triển của thành phố;
- Phía Đông thành phố là vùng núi bảo vệ thành phố kết hợp du lịch văn hóa tâm linh, sinh thái
Việc phát triển đô thị hiện nay đòi hỏi sự lựa chọn cây xanh một cách cẩn thận hơn bao giờ hết, nhằm tạo ra hướng đi đúng đắn và góp phần làm đẹp cảnh quan cho toàn thành phố.