1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ kinh tế việc sử dụng thông tin kế toán quản trị, năng lực thuận hai tay và kết quả hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp việt nam

262 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việc sử dụng thông tin kế toán quản trị, năng lực thuận hai tay và kết quả hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả Lê Mộng Huyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thu, TS. Hoàng Cẩm Trang
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 262
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chưa thấy nghiên cứu nào kiểm định và đánh giá một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa các khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT, năng lực thuận hai tay và KQHĐKD trong bối cảnh các doanh n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LÊ MỘNG HUYỀN

VIỆC SỬ DỤNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ, NĂNG LỰC THUẬN HAI TAY VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG CÁC DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LÊ MỘNG HUYỀN

VIỆC SỬ DỤNG THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ, NĂNG LỰC THUẬN HAI TAY VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG CÁC DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án “Việc sử dụng thông tin kế toán quản trị, năng lực

thuận hai tay và kết quả hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp Việt Nam”

là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học

Kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực Nội dung của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2021

Nghiên cứu sinh

Lê Mộng Huyền

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang lan toả vào mọi mặt của đời sống, mở ra cơ hội phát triển toàn diện về kinh tế – xã hội cho đất nước (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2018b; Vietnam Report, 2019) Không nằm ngoài

xu hướng chung, Việt Nam đang từng bước chuyển đổi số trên mọi lĩnh vực, mọi mặt của đời sống xã hội (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2018b) Đó không chỉ là những nỗ lực đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin mà còn là công cuộc đổi mới nhằm khai thác tối đa sức mạnh của thời đại và những tiến bộ khoa học công nghệ,

từ đó nâng cao KQHĐKD và tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững cho các doanh nghiệp (Vũ Minh Khương, 2019) Mặc dù kết quả đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2019 cho thấy chỉ số năng lực cạnh tranh 4.0 (GCI 4.0) của Việt Nam tăng

10 bậc (từ vị trí 77 lên vị trí 67) Tuy nhiên, có đến 8/12 trụ cột năng lực cạnh tranh của Việt Nam có thứ hạng thấp hoặc rất thấp so với mức thứ hạng chung (thứ hạng 67), đáng lưu ý là mức độ năng động trong kinh doanh (thứ hạng 89) và năng lực đổi mới sáng tạo (thứ hạng 76) (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2020) Bên cạnh đó, kết quả khảo sát VNR500 của Vietnam Report cho thấy năng lực cạnh tranh còn yếu là một trong những thách thức ảnh hưởng đến KQHĐKD của các doanh nghiệp Việt Nam (Vietnam Report, 2018) Thực trạng trên cho thấy những động lực thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo để bắt kịp sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 của Việt Nam còn yếu và chưa hiệu quả Do vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh và KQHĐKD cho các doanh nghiệp Việt Nam là một vấn đề cấp thiết hiện nay

Để thích nghi với môi trường kinh doanh cạnh tranh và năng động, các doanh nghiệp cần phải luôn nỗ lực khám phá những ý tưởng hoặc quy trình mới, phát triển những sản phẩm và dịch vụ mới cho thị trường mới Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần sự ổn định để tận dụng các năng lực hiện tại, khai thác các sản phẩm và dịch vụ hiện có (Raisch & Birkinshaw, 2008; O'Reilly & Tushman, 2013) Hay nói cách khác, để đạt được sự thành công lâu dài đòi hỏi các doanh nghiệp phải đáp ứng được các nhu cầu hôm nay đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển của ngày

Trang 5

mai (Levinthal & March, 1993; Gibson & Birkinshaw, 2004) Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp ngày nay cần phải trở nên thuận cả hai tay, phát triển đồng thời cả những hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và đổi mới theo hướng khám phá để đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững, từ đó nâng cao KQHĐKD của doanh nghiệp (He & Wong, 2004; Cao & cộng sự, 2009) Bên cạnh đó, hệ thống kế toán quản trị (KTQT) từ lâu đã được công nhận là có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị để họ thực hiện tốt các chức năng của mình như lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định (Chenhall & Morris, 1986; Chenhall, 2003; Agbejule, 2005) Hơn nữa, TTKTQT cũng được đánh giá là một nguồn lực quan trọng cho lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Barney, 1991; Nguyen, 2018) Do

đó, TTKTQT sẽ góp phần thúc đẩy năng lực thuận hai tay, từ đó nâng cao KQHĐKD cho doanh nghiệp

Mặc dù nhiều nghiên cứu trước đây đã nhấn mạnh lợi ích của việc kết hợp cả hai hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và khám phá (He & Wong, 2004; Cao

& cộng sự, 2009; Peng & Lin, 2019) Nhưng làm thế nào các doanh nghiệp có thể phát triển và duy trì năng lực thuận hai tay? Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra những nhân tố cơ cấu tổ chức, bối cảnh tổ chức và sự lãnh đạo thúc đẩy năng lực thuận hai tay (Jansen & cộng sự, 2006; Raisch & Birkinshaw, 2008; Simsek & cộng

sự, 2009) Trong khi nhiều nghiên cứu công nhận vai trò của các nhà quản trị thì lại

có ít bằng chứng thực nghiệm về vai trò của TTKTQT trong việc thúc đẩy năng lực thuận hai tay Theo đuổi đồng thời cả hai hoạt động mâu thuẫn nhau thường là phức tạp và khó đạt được (Benner & Tushman, 2003), do vậy nhà quản trị sẽ cần sự hỗ trợ từ TTKTQT Một số nhà nghiên cứu kế toán như Lillis và van Veen-Dirks (2008) và Dekker & cộng sự (2013) chỉ ra rằng các công ty thực hiện các chiến lược hỗn hợp có hệ thống đo lường KQHĐKD phức tạp hơn, với sự đa dạng của các thông tin tài chính và phi tài chính, phản ánh nhu cầu quản lý để cân bằng hơn là đánh đổi giữa các mục tiêu cạnh tranh Gần đây hơn, Bedford (2015) đã kiểm định vai trò thúc đẩy KQHĐKD của các đòn bẩy kiểm soát trong bối cảnh các doanh nghiệp thuận hai tay Severgnini & cộng sự (2018) xem xét ảnh hưởng ba khía cạnh

Trang 6

của hệ thống đo lường KQHĐKD (sự tập trung chú ý, hợp pháp hóa và ra quyết định chiến lược) đến năng lực thuận hai tay và KQHĐKD

Hơn nữa, tác giả cũng nhận thấy các nghiên cứu hiện có chỉ tập trung vào hệ thống đo lường KQHĐKD và được thực hiện ở các nước phát triển (Lillis & van Veen-Dirks, 2008; Dekker & cộng sự, 2013; Bedford, 2015; Severgnini & cộng sự, 2018) Có ít nghiên cứu kết hợp cả hai khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT đó là đặc điểm thông tin và phương pháp sử dụng thông tin, ngoại trừ nghiên cứu của Naranjo-Gil và Hartmann (2006, 2007) Chưa thấy nghiên cứu nào kiểm định và đánh giá một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa các khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT, năng lực thuận hai tay và KQHĐKD trong bối cảnh các doanh nghiệp hoạt động ở một thị trường mới nổi và ngày càng năng động như Việt Nam Do vậy, mối quan hệ này cần được tiếp tục nghiên cứu và làm rõ để giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có định hướng đầu tư vào hệ thống KTQT một cách phù hợp nhằm thúc đẩy cho việc phát triển năng lực thuận hai tay để từ đó đạt được KQHĐKD vượt trội Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài

Việc sử dụng TTKTQT, năng lực thuận hai tay và KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam để làm luận án tiến sĩ

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng TTKTQT đến năng lực thuận hai tay và KQHĐKD, ảnh hưởng của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng kiểm định ảnh hưởng gián tiếp của việc sử dụng TTKTQT đến KQHĐKD thông qua năng lực thuận hai tay trong các doanh nghiệp Việt Nam

Mục tiêu cụ thể của luận án là:

(1) Nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của việc sử dụng TTKTQT (qua hai khía cạnh đó là đặc điểm thông tin và phương pháp sử dụng thông tin) đến năng lực thuận hai tay trong các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 7

(2) Nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của việc sử dụng TTKTQT (qua hai khía cạnh đó là đặc điểm thông tin và phương pháp sử dụng thông tin) đến KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam

(3) Nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam

(4) Nghiên cứu ảnh hưởng gián tiếp của việc sử dụng TTKTQT (qua hai khía cạnh đó là đặc điểm thông tin và phương pháp sử dụng thông tin) đến KQHĐKD thông qua năng lực thuận hai tay

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Các khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT có ảnh hưởng đến năng lực thuận hai tay trong các doanh nghiệp Việt Nam hay không? Mức độ ảnh hưởng như thế nào?

Câu hỏi 2: Các khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT có ảnh hưởng đến KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam hay không? Mức độ ảnh hưởng như thế nào?

Câu hỏi 3: Năng lực thuận hai tay có ảnh hưởng đến KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam hay không? Mức độ ảnh hưởng như thế nào?

Câu hỏi 4: Việc sử dụng TTKTQT có ảnh hưởng gián tiếp đến KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam thông qua năng lực thuận hai tay hay không? Mức độ ảnh hưởng như thế nào?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng TTKTQT đến năng lực thuận hai tay và KQHĐKD cũng như ảnh hưởng của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại các doanh nghiệp vừa và lớn

ở Việt Nam Bởi lẽ những doanh nghiệp vừa và lớn ở Việt Nam có hệ thống KTQT hoàn chỉnh hơn các doanh nghiệp nhỏ (Doan, 2016; Nguyen & cộng sự, 2017) Bên cạnh đó, những doanh nghiệp vừa và lớn được mong đợi là có đủ nguồn lực để

Trang 8

tham gia đồng thời vào cả hai hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và đổi mới theo hướng khám phá (Jansen & cộng sự, 2006; Vietnam Report, 2019)

Về thời gian: Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 01 năm 2018 đến tháng

09 năm 2020

Về nội dung:

Về việc sử dụng TTKTQT, nghiên cứu tập trung vào hai khía cạnh đó là đặc điểm của TTKTQT và phương pháp sử dụng TTKTQT Về đặc điểm TTKTQT, nghiên cứu chỉ tập trung vào đặc điểm TTKTQT phạm vi rộng Về phương pháp sử dụng TTKTQT, nghiên cứu tập trung vào hai phương pháp sử dụng TTKTQT chẩn đoán và tương tác Luận án chỉ tập trung vào các khía cạnh trên bởi đó là những khía cạnh đã được xác nhận là quan trọng cũng như có mối liên kết tiềm năng với các hoạt động đổi mới, năng lực thuận hai tay và KQHĐKD

Về năng lực thuận hai tay của doanh nghiệp, nghiên cứu tập trung vào khả năng của doanh nghiệp để thực hiện đồng thời cả hai hoạt động đổi mới đó là vừa khai thác những sản phẩm/dịch vụ hoặc quy trình hiện tại (hoạt động đổi mới theo hướng khai thác), vừa khám phá những sản phẩm/dịch vụ hoặc quy trình mới (hoạt động đổi mới theo hướng khám phá) Hầu hết các nghiên cứu trước về năng lực thuận hai tay đều bao gồm cả hai hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và đổi mới theo hướng khám phá Do vậy, việc bao gồm cả hai hoạt động đổi mới này là cần thiết để giúp so sánh kết quả nghiên cứu của luận án với các nghiên cứu liên quan đã được thực hiện trước đây

Về KQHĐKD, để có một cái nhìn tổng quát về KQHĐKD của các doanh nghiệp, nghiên cứu xem xét KQHĐKD của các doanh nghiệp trên cả hai khía cạnh tài chính và phi tài chính

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp PPNC định tính và PPNC định lượng Quy trình

nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn như sau:

Trong giai đoạn đầu tiên, mô hình nghiên cứu và thang đo cho các khái niệm nghiên cứu được xác định dựa trên cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước Sau đó, tác giả soạn thảo dàn bài thảo luận để thảo luận tay đôi với các

Trang 9

chuyên gia nhằm mục đích chính là điều chỉnh thang đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu là các doanh nghiệp Việt Nam Sau đó, để đảm bảo chắc chắn thang đo không có bất cứ từ ngữ nào khó hiểu, dễ bị hiểu nhầm hay chứa đựng những câu hỏi nhạy cảm không thể trả lời, tác giả sẽ tiếp tục gửi phiếu khảo sát đến 8 nhà quản trị cấp trung hoặc cấp cao để nhờ họ trả lời và góp ý giúp cho tác giả Kết thúc bước này, tác giả sẽ phác thảo được phiếu khảo sát nháp để chuẩn bị cho bước thu thập

dữ liệu sơ bộ Sau khi thu thập được 100 phản hồi đầu tiên, tác giả sẽ tiến hành phân tích Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) trên phần mềm SPSS

20 để đánh giá độ tin cậy và giá trị của các thang đo Kết quả thu được từ bước này

sẽ giúp cho tác giả hoàn chỉnh được phiếu khảo sát để chuẩn bị cho bước thu thập

dữ liệu chính thức

Trong giai đoạn thứ hai, tác giả sẽ gửi phiếu khảo sát chính thức đến các nhà quản trị cấp cao và cấp trung đang làm việc trong các doanh nghiệp vừa và lớn Việt Nam Cả hai cách thu thập dữ liệu trực tiếp thông qua phiếu khảo sát giấy và thu thập dữ liệu thông qua email (gửi đường link phiếu khảo sát) đều sẽ được áp dụng

để thu thập đủ dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu Sau khi có dữ liệu, tác giả sẽ tiến hành các bước phân tích trên phần mềm SmartPLS 3 như đánh giá mô hình đo lường, đánh giá sự phù hợp của mô hình cấu trúc, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và một số kiểm định bổ sung khác

5 Đóng góp của luận án

Kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ mang lại một số đóng góp cả về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn quản lý cho các nhà quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực KTQT, các học viên và sinh viên chuyên ngành

kế toán Cụ thể như sau:

Thứ nhất, luận án sẽ góp phần bổ sung vào dòng nghiên cứu về việc sử dụng

TTKTQT một số nội dung như sau:

- Nếu như các nghiên cứu trước chỉ tập trung vào một trong hai khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT đó là đặc điểm thông tin hoặc phương pháp sử dụng thông tin thì luận án này là một trong số ít những nghiên cứu sẽ kết hợp cả hai khía cạnh này trong một nghiên cứu để cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn

Trang 10

- Luận án dự kiến sẽ bổ sung vào dòng nghiên cứu KTQT vận dụng lý thuyết bất định theo phương pháp tiếp cận trung gian, cho biết ảnh hưởng của các khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT đến KQHĐKD được giải thích thông qua năng lực thuận hai tay như thế nào

Thứ hai, luận án cũng sẽ góp phần bổ sung vào dòng nghiên cứu mới nổi về

năng lực thuận hai tay một số điểm như sau:

- Trong khi lợi ích của năng lực thuận hai tay đã được công nhận thì vẫn còn

ít nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực thuận hai tay Trong đó, một

số tiền tố của năng lực thuận hai tay đã được biết đến như cơ cấu tổ chức, bối cảnh

tổ chức và sự lãnh đạo Nghiên cứu này cho chúng ta biết thêm về vai trò của TTKTQT như là một nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp giúp thúc đẩy năng

lực thuận hai tay, từ đó nâng cao KQHĐKD của các doanh nghiệp

- Nghiên cứu xem xét năng lực thuận hai tay dưới góc nhìn của năng lực

động Trong đó, nghiên cứu chỉ rõ năng lực thuận hai tay là một năng lực động đặc biệt cần thiết cho các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh cạnh tranh và năng động như Việt Nam Đây là một năng lực đặc biệt mà các doanh nghiệp có thể đạt được nhưng không dễ Do vậy, doanh nghiệp nào sở hữu được năng lực này sẽ giành được lợi thế cạnh tranh, từ đó đạt được KQHĐKD vượt trội

Bên cạnh đóng góp về mặt lý thuyết, kết quả nghiên cứu của luận án dự kiến cũng sẽ có những đóng góp thực tiễn như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu sẽ chứng minh TTKTQT là một nguồn lực quan trọng

có tác dụng thúc đẩy năng lực thuận hai tay, từ đó nâng cao KQHĐKD của các doanh nghiệp Với kết quả như vậy, nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức của các nhà quản trị về vai trò của TTKTQT Từ đó, họ sẽ chủ động lên kế hoạch tìm hiểu và triển khai vận dụng KTQT trong doanh nghiệp

Thứ hai, nghiên cứu này muốn nhấn mạnh một điều rằng việc đầu tư vào một

hệ thống KTQT tinh vi không phải là tất cả mà quan trọng là cách mà nhà quản trị

sử dụng TTKTQT đó như thế nào cho hiệu quả Để nâng cao KQHĐKD, các nhà quản trị không chỉ sử dụng TTKTQT cho mục đích giám sát, so sánh, đánh giá kết quả so với thực hiện mà còn sử dụng thông tin như là một công cụ hữu ích để cùng nhau trao đổi, thảo luận, hoạch định chiến lược, chia sẻ và học tập

Trang 11

Thứ ba, kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy năng lực thuận hai tay là một trong

những năng lực động cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam Do vậy, các doanh nghiệp cần phải không ngừng nỗ lực tìm kiếm, thử nghiệm những sản phẩm/dịch vụ mới để đáp ứng cho các nhu cầu của khách hàng và thị trường mới Đồng thời, các doanh nghiệp cũng không quên khai thác các năng lực hiện tại, cải tiến những sản phẩm/dịch vụ hiện có để đáp ứng cho các nhu cầu của khách hàng và thị trường hiện tại

Từ những đóng góp trên, luận án kỳ vọng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho những học viên và nhà nghiên cứu quan tâm đến các vấn đề liên quan

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, những phần còn lại của luận án được

bố cục như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Trong chương đầu tiên này, tác giả tổng

quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, nhận xét và xác định khoảng trống nghiên cứu nhằm khẳng định sự cần thiết của nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày các khái niệm nghiên

cứu và các lý thuyết nền được vận dụng trong luận án Từ đó, xây dựng mô hình nghiên cứu cùng với các giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày các PPNC chi

tiết của đề tài như phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu, thang đo cho các biến và các phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày kết

quả và bàn luận về kết quả nghiên cứu của đề tài như: đánh giá mô hình đo lường, đánh giá sự phù hợp của mô hình cấu trúc, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng trực tiếp cũng như ảnh hưởng gián tiếp và cuối cùng là kết quả của một

số kiểm định bổ sung

Chương 5: Kết luận và hàm ý Trong chương này, tác giả sẽ trình bày

những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn của luận án, đưa ra những hàm ý quản

lý cho các doanh nghiệp Việt nam Cuối cùng, nêu lên những hạn chế của đề tài và

đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Để có một cái nhìn tổng quát về các dòng nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả đã tìm hiểu các nghiên cứu được công bố trên thế giới và tại Việt Nam thuộc

ba dòng nghiên cứu sau: (1) Các nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT và các nhân

tố ảnh hưởng đến việc sử dụng TTKTQT; (2) Các nghiên cứu về năng lực thuận hai tay và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực thuận hai tay; và (3) Các nghiên cứu về KQHĐKD và các nhân tố ảnh hưởng đến KQHĐKD Sau khi nhận xét về các nghiên cứu trước, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu cho đề tài luận án

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về việc sử dụng thông tin kế toán quản trị, năng lực thuận hai tay và kết quả hoạt động kinh doanh

1.1.1 Các nghiên cứu về việc sử dụng thông tin kế toán quản trị và các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin kế toán quản trị

1.1.1.1 Khái quát chung các nghiên cứu về việc sử dụng thông tin kế toán quản trị

Các nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT vận dụng lý thuyết bất định có thể được chia thành hai nhóm nghiên cứu chính: (1) Các nghiên cứu về đặc điểm của TTKTQT; (2) Các nghiên cứu về phương pháp sử dụng TTKTQT

Về đặc điểm của TTKTQT

Trước bài báo mang tính bước ngoặt của Chenhall và Morris (1986), mặc dù các nhà nghiên cứu đã nhận ra được tiềm năng của việc vận dụng lý thuyết bất định trong các nghiên cứu kế toán nhưng có ít nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện (Chenhall & Morris, 1986) Chỉ có Gordon và Narayanan (1984) đã nghiên cứu về mối quan hệ của sự không chắc chắn môi trường nhận thức, TTKTQT và cơ cấu tổ chức Kết quả là khi nhận thức được môi trường kinh doanh là không chắc chắc, các nhà quản trị sẽ tăng cường sử dụng TTKTQT để ra quyết định

Năm 1986, khi nghiên cứu về nhu cầu sử dụng TTKTQT của các nhà quản trị, Chenhall và Morris (1986) đã phát triển và thử nghiệm thang đo nhận thức hữu

ích về TTKTQT với bốn khía cạnh là phạm vi rộng (broad-scope), kịp thời

(timeliness), tổng hợp (aggregation), đồng bộ (integration) Kết quả kiểm định dữ

liệu từ 68 nhà quản trị cho thấy phân quyền có mối quan hệ với TTKTQT tổng hợp

Trang 13

và đồng bộ, sự không chắc chắn môi trường nhận thức có mối quan hệ với TTKTQT phạm vi rộng và kịp thời, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban có mối quan hệ với TTKTQT phạm vi rộng, tổng hợp và đồng bộ Nghiên cứu này có một đóng góp quan trọng cho dòng nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT vận dụng

lý thuyết bất định Đa số các nghiên cứu được thực hiện sau đó đều kế thừa thang

đo của Chenhall và Morris (1986), đôi khi có một số điều chỉnh nhỏ cho phù hợp với bối cảnh cụ thể (Agbejule, 2005; Chenhall, 2006)

Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu về đặc điểm TTKTQT

Ghi chú: (S) Phạm vi rộng; (A) Tổng hợp; (I) Đồng bộ; (T) Kịp thời

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Trang 14

Bảng 1.1 cho thấy ngoại trừ nghiên cứu ban đầu của Chenhall và Morris (1986), một số ít nghiên cứu bao gồm cả bốn khía cạnh đặc điểm của TTKTQT như nghiên cứu của Bouwens và Abernethy (2000); Agbejule (2005); Soobaroyen và Poorundersing (2008); Ghasemi & cộng sự (2016); Ismail & cộng sự (2018) Có một số nghiên cứu tập trung vào hai trong bốn khía cạnh với sự kết hợp của khía cạnh phạm vi rộng và một khía cạnh khác, chẳng hạn như phạm vi rộng và tổng hợp (Gul & Chia, 1994); phạm vi rộng và kịp thời (Fisher, 1996; Tsui, 2001) Đa số các

nghiên cứu chỉ tập trung vào một khía cạnh phạm vi rộng bởi vì vai trò quan trọng

của khía cạnh này trong việc hỗ trợ cho nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị của họ (Mia & Chenhall, 1994; Chong & Chong, 1997; Mia & Clarke, 1999; Naranjo-Gil & Hartmann, 2007; Mia & Winata, 2008; Cheng, 2012; Bangchokdee

& cộng sự, 2016)

Như vậy, có thể thấy rằng TTKTQT phạm vi rộng là khía cạnh quan trọng và được nghiên cứu nhiều nhất Bởi lẽ TTKTQT phạm vi rộng (tập trung bên ngoài, phi tài chính và định hướng tương lai) có một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho các nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị như hoạch định, kiểm soát và

ra quyết định (Bouwens & Abernethy, 2000)

Về phương pháp sử dụng TTKTQT

Phương pháp sử dụng TTKTQT đề cập đến cách thức sử dụng TTKTQT và

được rút ra từ mô hình đòn bẩy kiểm soát (Levers of Control – LOC) của Simons (1995), bao gồm bốn khía cạnh niềm tin (beliefs), ranh giới (boundary), chẩn đoán

(diagnostic) và tương tác (interactive) Nếu như các nghiên cứu KTQT liên quan

đến đặc điểm TTKTQT đã được thực hiện từ trước những năm 1980 thì các nghiên cứu về phương pháp sử dụng TTKTQT chỉ mới được thực hiện những năm gần đây Ngoài các nghiên cứu lý thuyết của Simons, nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên là nghiên cứu về phương pháp sử dụng dự toán của Abernethy và Brownell (1999)

Mặc dù được giới thiệu ban đầu bao gồm bốn khía cạnh, thế nhưng chỉ có nghiên cứu của Widener (2007) và Bedford (2015) là tập trung cả bốn khía cạnh, có

ít nghiên cứu KTQT tập trung vào hai khía cạnh niềm tin và ranh giới (Otley, 2016)

Đa số nghiên cứu đã được thực hiện tập trung vào hai phương pháp sử dụng chẩn

Trang 15

đoán và tương tác (Henri, 2006; Naranjo-Gil & Hartmann, 2006; Chong & Mahama, 2014; Marginson & cộng sự, 2014; Bedford & Malmi, 2015; Su & cộng

sự, 2015; Guenther & Heinicke, 2019; Müller-Stewens & cộng sự, 2020) Ngoài ra,

có một số nghiên cứu chỉ tập trung vào phương pháp sử dụng tương tác (Abernethy

& Brownell, 1999; Bisbe & Otley, 2004; Abernethy & cộng sự, 2010; Valeiras & cộng sự, 2016) Bảng 1.2 trình bày tổng hợp những nghiên cứu về các phương pháp sử dụng TTKTQT

Lopez-Bảng 1.2: Tổng hợp các nghiên cứu về phương pháp sử dụng TTKTQT

Tác giả (năm)

Phương pháp sử dụng TTKTQT

Niềm tin

Ranh giới

Chẩn đoán

Tương tác

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Tóm lại, từ kết quả đánh giá khái quát trên cho thấy trong giai đoạn đầu các nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT tập trung vào khía cạnh đặc điểm TTKTQT, trong đó TTKTQT phạm vi rộng nhận được sự quan tâm nhiều nhất từ các nhà

Trang 16

nghiên cứu Sự ra đời của cuốn sách của Simons (1995) và nghiên cứu đầu tiên của Abernethy và Brownell (1999), nhiều nghiên cứu về phương pháp sử dụng TTKTQT tương tác và chẩn đoán đã được thực hiện Tuy nhiên, có ít nghiên cứu kết hợp cả hai khía cạnh đặc điểm thông tin và phương pháp sử dụng thông tin, ngoại trừ nghiên cứu của Naranjo-Gil và Hartmann (2006, 2007) Do vậy, đề tài luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu để bổ sung vào những nội dung còn hạn chế này

1.1.1.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin kế toán quản trị

Nghiên cứu KTQT vận dụng lý thuyết bất định đã có truyền thống hơn bốn thập kỷ và đã cung cấp một danh sách dài các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng TTKTQT (Chenhall, 2003; Chenhall & Chapman, 2006; Otley, 2016) Cụ thể:

Nhân tố sự không chắc chắn môi trường nhận thức

Môi trường bên ngoài là một nhân tố bối cảnh thu hút nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu KTQT Trong đó, khía cạnh môi trường được nghiên cứu nhiều nhất

là sự không chắc chắn môi trường nhận thức (Chenhall, 2006; Otley, 2016) Cụ thể,

sự không chắc chắn môi trường nhận thức có mối quan hệ cùng chiều với việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng (Gordon & Narayanan, 1984; Chenhall & Morris, 1986; Mia, 1993; Fisher, 1996; Chong & Chong, 1997) và kịp thời (Chenhall & Morris, 1986; Fisher, 1996) Một số nghiên cứu khác (Gul & Chia, 1994; Agbejule, 2005) kết luận rằng khi tăng cường sử dụng TTKTQT sẽ mang lại hiệu quả quản lý cao hơn trong điều kiện sự không chắc chắn môi trường nhận thức cao

Nhân tố mức độ cạnh tranh

Mức độ cạnh tranh cũng là một nhân tố liên quan đến môi trường bên ngoài

có ảnh hưởng đến việc sử dụng TTKTQT Chẳng hạn, nghiên cứu của Mia và Clarke (1999) cho thấy mức độ cạnh tranh có ảnh hưởng cùng chiều đến việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng và sau đó là nâng cao KQHĐKD trong các doanh nghiệp sản xuất ở Úc Gần đây, Bangchokdee & cộng sự (2016) cũng báo cáo kết quả tương tự rằng mức độ cạnh tranh có ảnh hưởng trực tiếp cùng chiều đến cả bốn khía cạnh của đặc điểm TTKTQT trong các tổ chức tài chính ở Iran

Trang 17

Nhân tố phân quyền

Phân quyền là một khía cạnh thuộc cơ cấu tổ chức được nghiên cứu nhiều nhất Bằng chứng từ các nghiên cứu trước cho thấy ảnh hưởng cùng chiều của phân quyền đến việc sử dụng TTKTQT Chẳng hạn, Chenhall và Morris (1986) cho rằng phân quyền không ảnh hưởng đến nhận thức hữu ích về TTKTQT phạm vi rộng nhưng có ảnh hưởng cùng chiều đến nhận thức hữu ích về TTKTQT tổng hợp và đồng bộ Bên cạnh đó, nghiên cứu của Chia (1995) tìm thấy ảnh hưởng điều tiết của phân quyền đến mối quan hệ giữa việc sử dụng TTKTQT và hiệu quả quản lý

Nhân tố chiến lược kinh doanh

Bouwens và Abernethy (2000) nhận thấy mối quan hệ giữa TTKTQT tổng hợp, đồng bộ và kịp thời với chiến lược tùy chỉnh là có ý nghĩa trong khi mối quan

hệ giữa TTKTQT phạm vi rộng và chiến lược tùy chỉnh là không có ý nghĩa Ngược lại, Chong và Chong (1997) kết luận rằng sự lựa chọn chiến lược có ảnh hưởng cùng chiều đến việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng Tương tự, Naranjo-Gil và Hartmann (2007) cung cấp bằng chứng cho thấy cách các nhà quản trị sử dụng TTKTQT phạm vi rộng và tương tác để thực hiện thành công sự thay đổi chiến lược của tổ chức Gần đây, Bangchokdee & cộng sự (2016) cho thấy những công ty càng tập trung vào chiến lược khác biệt và có sản phẩm đang ở giai đoạn đầu của vòng đời thì việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng càng lớn

Nhân tố công nghệ sản xuất

Các nghiên cứu KTQT vận dụng lý thuyết bất định đã bao gồm biến công nghệ sản xuất như là một biến bối cảnh có ảnh hưởng đến việc sử dụng TTKTQT (Chenhall, 2006) Trong đó, có một số biến khác nhau đã được nghiên cứu như công nghệ sản xuất tiên tiến, việc áp dụng JIT, việc áp dụng TQM Chẳng hạn, nghiên cứu của Mia và Winata (2008) cho thấy việc áp dụng JIT thúc đẩy việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng, sau đó thúc đẩy việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông Hay nghiên cứu của Mia và Winata (2014) cho thấy mối quan hệ tương tác ba chiều giữa việc áp dụng JIT, việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng và cạnh tranh thị trường có ảnh hưởng đến KQHĐKD tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất ở Úc Gần đây, nghiên cứu của Ismail & cộng sự (2018) cho thấy việc áp

Trang 18

dụng sản xuất tích hợp (bao gồm JIT, TQM và công nghệ sản xuất tiên tiến) có mối quan hệ cùng chiều với việc sử dụng TTKTQT, từ đó nâng cao KQHĐKD của các doanh nghiệp sản xuất ở Malaysia

Nhân tố sự không chắc chắn nhiệm vụ

Có ba trong số các nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT đã báo cáo mối quan hệ giữa sự không chắc chắn nhiệm vụ và việc sử dụng TTKTQT Cụ thể, Chong (1996) chỉ ra rằng khi mức độ không chắc chắn nhiệm vụ càng cao thì việc tăng cường sử dụng TTKTQT phạm vi rộng sẽ mang lại hiệu quả quản lý cao hơn Trong một nghiên cứu tiếp theo, Chong (2004) cũng báo cáo kết luận tương tự Khi

sự không chắc chắn về nhiệm vụ thấp, việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng hơn có thể dẫn đến tình trạng quá tải thông tin, gây bất lợi cho hiệu quả quản lý và ngược lại Trong khi đó, nghiên cứu của Soobaroyen và Poorundersing (2008) đã cho thấy

sự không chắc chắn nhiệm vụ có ảnh hưởng trực tiếp cùng chiều đến bốn khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT

Nhân tố sự phụ thuộc lẫn nhau

Sự phụ thuộc lẫn nhau trong tổ chức được tìm thấy là có mối quan hệ cùng chiều với việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng, tổng hợp và đồng bộ (Chenhall & Morris, 1986) Bên cạnh đó, Bouwens và Abernethy (2000) cũng chỉ ra rằng chiến lược tùy chỉnh có tác động gián tiếp đến việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng, tổng hợp, đồng bộ và kịp thời thông qua sự phụ thuộc lẫn nhau trong tổ chức

Ngoài các biến độc lập trên, một số nghiên cứu đã được thực hiện còn tìm hiểu các nhân tố khác ảnh hưởng đến việc sử dụng TTKTQT như văn hóa quốc gia (Tsui, 2001), sự đa dạng của nhóm nhà quản trị cấp cao (Naranjo-Gil & Hartmann, 2007), sự tham gia dự toán (Tsui, 2001; Cheng, 2012), các giai đoạn vòng đời sản phẩm (Janke & cộng sự, 2014; Bangchokdee & cộng sự, 2016)

1.1.1.3 Nhận xét

Trong suốt hơn bốn thập kỷ qua, các nghiên cứu KTQT vận dụng lý thuyết bất định đã được thực hiện và ngày càng nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng TTKTQT đã được kiểm tra (Otley, 2016) Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng TTKTQT có thể được chia thành các nhân tố môi trường bên ngoài và các

Trang 19

nhân tố bên trong tổ chức Các nhân tố môi trường bên ngoài được nghiên cứu phổ biến như sự không chắc chắn môi trường nhận thức (Chong & Chong, 1997; Agbejule, 2005), mức độ cạnh tranh (Mia & Clarke, 1999; Bangchokdee & cộng sự, 2016) và văn hóa quốc gia (Tsui, 2001) Các nhân tố bên trong tổ chức đã được nghiên cứu như là phân quyền (Chenhall & Morris, 1986; Chia, 1995), chiến lược kinh doanh (Chong & Chong, 1997; Bangchokdee & cộng sự, 2016), sự phụ thuộc lẫn nhau (Chenhall & Morris, 1986; Bouwens & Abernethy, 2000), sự không chắc chắn nhiệm vụ (Chong, 1996; Soobaroyen & Poorundersing, 2008), công nghệ sản xuất (Mia & Winata, 2014; Ismail & cộng sự, 2018), v.v Các nghiên cứu kể trên đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức vô cùng phong phú về các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng TTKTQT, do vậy luận án sẽ không tiếp tục thực hiện lặp lại các nội dung này

Trong khi các biến độc lập (các nhân tố bối cảnh) ngày càng được mở rộng thì các khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT vẫn chưa được chú trọng Trong đó, các nghiên cứu có xu hướng tập trung vào một trong hai khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT đó là đặc điểm TTKTQT (Agbejule, 2005; Soobaroyen & Poorundersing,

2008, v.v.; Mia & Winata, 2014; Ismail & cộng sự, 2018) hoặc phương pháp sử dụng TTKTQT (Abernethy & Brownell, 1999; Bisbe & Otley, 2004; Henri, 2006;

Su & cộng sự, 2015; Guenther & Heinicke, 2019; Müller-Stewens & cộng sự, 2020) Chỉ có nghiên cứu của Naranjo-Gil và Hartmann (2006, 2007) là đã bao gồm

cả hai khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT trong một nghiên cứu Do vậy, luận án

sẽ nghiên cứu kết hợp cả hai khía cạnh đặc điểm thông tin và phương pháp sử dụng thông tin để bổ sung vào những nội dung còn hạn chế này

1.1.2 Các nghiên cứu trên thế giới về năng lực thuận hai tay và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực thuận hai tay

1.1.2.1 Khái quát chung các nghiên cứu về năng lực thuận hai tay

Sự phát triển của các nghiên cứu về năng lực thuận hai tay của tổ chức có thể được chia thành ba giai đoạn như sau:

Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn hình thành khái niệm về năng lực thuận hai tay (ambidexterity) Trong đó, có ba nghiên cứu nổi bật đó là: Thứ nhất, Duncan

Trang 20

(1976) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ năng lực thuận hai tay để mô tả các cơ cấu tổ chức kép mà nhiều doanh nghiệp sử dụng để quản lý các hoạt động mâu

thuẫn Thứ hai, bài báo March (1991) cho rằng khám phá và khai thác là hai hoạt

động học tập khác nhau cơ bản làm phân chia sự chú ý và nguồn lực của doanh

nghiệp Thứ ba, Tushman và O'Reilly III (1996) nhắc lại khái niệm này trong một

bài báo về cách các doanh nghiệp quản lý hai quá trình thay đổi cách mạng và tiến hóa Như Duncan (1976) đã đề cập ở 20 năm trước, Tushman và O'Reilly III (1996) nhấn mạnh đến cơ cấu tổ chức tách biệt để quản lý hai hoạt động khác nhau

Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn phát triển các nghiên cứu thực nghiệm về năng lực thuận hai tay của tổ chức Trong đó, năng lực thuận hai tay đã được các nhà nghiên cứu thảo luận trên nhiều khía cạnh như: thiết kế tổ chức, học tập tổ chức, sự đổi mới công nghệ, sự thích ứng của tổ chức (Raisch & Birkinshaw, 2008)

Cùng với sự đa dạng của các chủ đề nghiên cứu, các nghiên cứu trong giai đoạn này

tìm hiểu một số tiền tố, hậu tố hoặc bao gồm cả tiền tố và hậu tố của năng lực thuận hai tay (Raisch & Birkinshaw, 2008) Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng đã bắt đầu xây dựng các mô hình phức tạp hơn để xem xét ảnh hưởng điều tiết của các nhân tố bối cảnh (Jansen & cộng sự, 2008; Cao & cộng sự, 2009)

Những năm gần đây, các nghiên cứu về năng lực thuận hai tay vẫn tiếp tục

được thực hiện nhưng có xu hướng giảm hơn so với giai đoạn trước (Birkinshaw & Gupta, 2013) Trong giai đoạn này, các nghiên cứu KTQT liên quan đến năng lực thuận hai tay mới bắt đầu được thực hiện (Bedford, 2015; Severgnini & cộng sự, 2018; Bedford & cộng sự, 2019) Điểm nổi bật trong giai đoạn này đó là số báo đặc biệt của Tạp chí Academy of Management Perspectives, với sự đóng góp của ba bài đánh giá tổng quan về các nghiên cứu năng lực thuận hai tay của Birkinshaw và Gupta (2013), Junni & cộng sự (2013) và O'Reilly và Tushman (2013)

1.1.2.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực thuận hai tay

Nhiều nghiên cứu đã thảo luận về sự thành công của các doanh nghiệp thuận hai tay trong việc quản lý các nhu cầu kinh doanh hiện tại đồng thời thích ứng với những thay đổi của môi trường (Levinthal & March, 1993; Tushman & O'Reilly III, 1996) Để thúc đẩy năng lực thuận hai tay, một số nhân tố đã được chỉ ra như:

Trang 21

Nhân tố liên quan đến cơ cấu tổ chức

Những tài liệu nghiên cứu ban đầu thường giải quyết sự đánh đổi giữa các nhu cầu mâu thuẫn nhau bằng cách thiết lập ra những đơn vị riêng biệt để theo đuổi các hoạt động khai thác và khám phá (Tushman & O'Reilly III, 1996) Cơ cấu tổ chức như vậy đảm bảo rằng mỗi đơn vị sẽ được thiết kế sao cho phù hợp với môi trường nhiệm vụ cụ thể Tuy nhiên, sự tách biệt như vậy có thể dẫn đến nguy cơ bị

cô lập giữa các nhiệm vụ, thiếu sự liên kết trong tổ chức (Gibson & Birkinshaw, 2004) Do đó, việc tích hợp và chuyển giao kiến thức liên tục giữa các đơn vị khám phá và khai thác là cần thiết (McCarthy & Gordon, 2011) Liên quan đến mức độ tích hợp của các đơn vị này, Jansen & cộng sự (2006) đã cung cấp bằng chứng về vai trò thúc đẩy năng lực thuận hai tay của cơ chế phối hợp không chính thức giữa các đơn vị Tiếp nối dòng nghiên cứu này, Jansen & cộng sự (2009) đã tiếp tục chứng minh vai trò trung gian của cơ chế tích hợp trong mối quan hệ giữa cơ cấu tổ chức tách biệt và năng lực thuận hai tay Cụ thể hơn, nghiên cứu này cho thấy cơ cấu tổ chức tách biệt có ảnh hưởng đến năng lực thuận hai tay thông qua cơ chế tích hợp tổ chức chính thức (ví dụ, giao tiếp xuyên chức năng) và cơ chế tích hợp của nhóm lãnh đạo cấp cao không chính thức (ví dụ, tích hợp xã hội của nhóm lãnh đạo cấp cao)

Nhân tố liên quan đến bối cảnh tổ chức

Gibson và Birkinshaw (2004, tr 209) định nghĩa năng lực thuận hai tay bối

cảnh là “năng lực hành vi để thực hiện đồng thời sự liên kết và khả năng thích ứng

trên toàn bộ đơn vị kinh doanh” Thay vì sắp xếp các cơ cấu tổ chức kép, các nhà

lãnh đạo dự kiến sẽ tạo ra một bối cảnh tổ chức hỗ trợ để thúc đẩy năng lực thuận hai tay Bối cảnh tổ chức đề cập đến hệ thống, quy trình và niềm tin định hình hành

vi của các cá nhân trong tổ chức (Ghoshal & Bartlett, 1994) Bối cảnh này cho phép

và khuyến khích mỗi thành viên trong tổ chức tự phân bổ thời gian tốt nhất để thực hiện các hoạt động khai thác và khám phá mâu thuẫn nhau (Raisch & Birkinshaw, 2008) Sử dụng dữ liệu khảo sát từ 41 đơn vị kinh doanh, Gibson và Birkinshaw

(2004) đã chứng minh bối cảnh tổ chức được đặc trưng bởi stretch, sự kỷ luật, sự hỗ

Trang 22

trợ và niềm tin có vai trò thúc đẩy năng lực thuận hai tay, nhờ đó nâng cao KQHĐKD cho đơn vị

Nhân tố liên quan đến sự lãnh đạo

Là những người lãnh đạo chủ chốt, các giám đốc điều hành được cho là có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy năng lực thuận hai tay (Raisch & Birkinshaw, 2008) Bằng chứng thực nghiệm từ nghiên cứu của Jansen & cộng sự (2006) cho thấy sự tích hợp hành vi của nhóm lãnh đạo cấp cao có vai trò thúc đẩy năng lực thuận hai tay, sau đó nâng cao KQHĐKD Ngược lại, phong cách lãnh đạo thiếu liên kết và cứng nhắc có thể gây ra những thiệt hại lớn hơn cho các dự án khám phá (O'Reilly & Tushman, 2013) Tiếp nối dòng nghiên cứu này, Jansen & cộng sự (2008) cho thấy một số thuộc tính của nhóm lãnh đạo cấp cao có liên quan đến khả năng của công ty để kết hợp các hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và đổi mới theo hướng khám phá ở mức độ cao Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy phong cách lãnh đạo chuyển đổi có ảnh hưởng điều tiết dương đến mối quan hệ giữa sự tích hợp

xã hội và năng lực thuận hai tay, điều tiết âm cho mối quan hệ giữa hệ thống khen

thưởng bất định và năng lực thuận hai tay Gần đây hơn, Umans & cộng sự (2018)

cũng cung cấp bằng chứng cho thấy phong cách lãnh đạo chia sẻ của các nhà quản trị cấp cao có ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực thuận hai tay Với dữ liệu từ các doanh nghiệp công nghệ thông tin ở Ấn Độ, Siachou và Gkorezis (2018) kết luận rằng lãnh đạo trao quyền có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực thuận hai tay đồng thời có ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực thuận hai tay thông qua sự hỗ trợ tổ chức

Nhân tố liên quan đến KTQT

Chỉ mới những năm gần đây các nhà nghiên cứu KTQT mới quan tâm đến vai trò của TTKTQT trong các tổ chức thuận hai tay Nghiên cứu của Bedford (2015) cho thấy các phương pháp sử dụng hệ thống kiểm soát quản lý có ảnh hưởng độc lập đến KQHĐKD trong các công ty chỉ tập trung vào một trong hai hoạt động đổi mới theo hướng khai thác hoặc đổi mới theo hướng khám phá Tuy nhiên, trong các công ty thuận hai tay (thực hiện đồng thời các hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và đổi mới theo hướng khám phá), các phương pháp sử dụng hệ thống kiểm soát quản lý có ảnh hưởng phụ thuộc lẫn nhau đến KQHĐKD Nghiên cứu của

Trang 23

Severgnini & cộng sự (2018) chỉ ra ba khía cạnh của việc sử dụng thông tin đo lường KQHĐKD (sự tập trung chú ý, hợp pháp hóa và ra quyết định chiến lược) thúc đẩy năng lực thuận hai tay tổ chức, từ đó nâng cao KQHĐKD của các doanh nghiệp phần mềm ở Brazin Mới đây, nghiên cứu của Bedford & cộng sự (2019) cho thấy mối quan hệ của năng lực thuận hai tay, việc sử dụng thông tin đo lường KQHĐKD, sự xung đột nhận thức và các kết quả đổi mới trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp sáng tạo ở Ailen

Bảng 1.3: Tổng hợp các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng

đến năng lực thuận hai tay

Nhân tố liên quan

Jansen & cộng sự (2006); Jansen & cộng sự (2008); Jansen & cộng

sự (2009); Umans & cộng sự (2018); Lubatkin & cộng sự (2006); Siachou và Gkorezis (2018)

Nhân tố liên quan

Trang 24

luận án sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của các khía cạnh khác nhau của việc sử dụng TTKTQT đến năng lực thuận hai tay để bổ sung vào những hạn chế còn tồn tại này

1.1.3 Các nghiên cứu trên thế giới về kết quả hoạt động kinh doanh và các nhân

tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh

1.1.3.1 Khái quát chung các nghiên cứu về kết quả hoạt động kinh doanh

Môi trường kinh doanh hiện đại được đặc trưng bởi sự cạnh tranh về khách hàng, các yếu tố sản xuất đầu vào và nguồn vốn, dẫn đến việc đạt được KQHĐKD trở thành một điều kiện cần thiết cho sự sống còn và thành công của các doanh nghiệp (Richard & cộng sự, 2009) Do vậy, KQHĐKD đã trở thành một biến nghiên cứu trọng tâm và là biến phụ thuộc cuối cùng mà các nghiên cứu KTQT và quản trị hướng tới (Chenhall, 2006; Richard & cộng sự, 2009; Kihn, 2010; Otley, 2016) Tuy vậy, khái niệm nghiên cứu về KQHĐKD hiếm khi được trình bày rõ ràng trong các nghiên cứu thực nghiệm (Richard & cộng sự, 2009) Từ đó dẫn đến hai hệ lụy tiếp theo là các thang đo về KQHĐKD khá đa dạng, từ các thang đo khách quan cho đến các thang đo chủ quan khác nhau (Richard & cộng sự, 2009; Kihn, 2010) Thang đo khách quan bao gồm thang đo dựa trên dữ liệu kế toán (như doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE),

tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), v.v.), dữ liệu thị trường tài chính (như giá

cổ phiếu, lợi nhuận trên một cổ phiếu, v.v.), và sự kết hợp giữa dữ liệu kế toán và thị trường tài chính (như Tobin’Q, Z-score) (Richard & cộng sự, 2009) Thang đo chủ quan được đo lường dựa trên nhận thức của người trả lời về các KQHĐKD của doanh nghiệp Theo đó, người trả lời được yêu cầu so sánh KQHĐKD của doanh nghiệp so với kỳ vọng (Gupta & Govindarajan, 1986) hoặc so với đối thủ cạnh tranh chính (Lubatkin & cộng sự, 2006; Hoque, 2011)

Trong đó, đa số các nghiên cứu KTQT sử dụng đánh giá chủ quan của nhà quản trị về KQHĐKD (Chenhall, 2006; Otley, 2016) Giá trị của việc sử dụng các thước đo chủ quan để đánh giá KQHĐKD của tổ chức đã được ủng hộ bởi Covin

và Slevin (1988), các tác giả này cho rằng thang đo nhận thức về KQHĐKD có thể đóng vai trò thay thế tốt trong trường hợp không có đầy đủ dữ liệu khách quan (xem thêm Dess & Robinson, 1984) Nguồn thang đo được sử dụng trong các nghiên cứu

Trang 25

cũng khá đa dạng, trong đó đa số nghiên cứu kế thừa nguồn thang đo của Govindarajan và các cộng sự của ông (Kihn, 2010)

Trong các nghiên cứu về năng lực thuận hai tay, KQHĐKD có thể được đo lường thông qua thang đo khách quan và chủ quan (Junni & cộng sự, 2013) Thật thú vị, kết quả phân tích tổng hợp của Junni & cộng sự (2013) kết luận rằng thang

đo khách quan không có mối quan hệ với năng lực thuận hai tay trong khi đó thang

đo nhận thức chủ quan có mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa với năng lực thuận hai tay Không giống như các nghiên cứu KTQT, các nghiên cứu về năng lực thuận hai tay khá đồng nhất về nguồn thang đo nhận thức về KQHĐKD Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng thang đo được phát triển bởi Gupta và Govindarajan (1986)

1.1.3.2 Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh

Như đã trình bày ở trên, KQHĐKD là mục tiêu cuối cùng mà các doanh nghiệp hướng đến và cũng là biến phụ thuộc cuối cùng trong nhiều nghiên cứu quản trị và KTQT Do vậy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến KQHĐKD đã được nghiên cứu, trong đó có nhân tố liên quan đến việc sử dụng TTKTQT và năng lực thuận hai tay Cụ thể như sau:

Thứ nhất, ảnh hưởng của việc sử dụng TTKTQT đến KQHĐKD

Các nghiên cứu trước đây đã kiểm tra mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của việc sử dụng TTKTQT với KQHĐKD Đa số các nghiên cứu báo cáo mối quan hệ cùng chiều, tuy nhiên vẫn có một vài nghiên cứu báo cáo kết quả ngược chiều hoặc không có mối quan hệ tùy thuộc vào đặc điểm TTKTQT và phương pháp sử dụng TTKTQT Cụ thể như sau:

Về đặc điểm TTKTQT, đa số nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT đã báo

cáo mối quan hệ cùng chiều giữa việc sử dụng TTKTQT và hiệu quả quản lý (Mia, 1993; Gul & Chia, 1994; Chong, 1996; Tsui, 2001; Agbejule, 2005; Soobaroyen & Poorundersing, 2008; Ghasemi & cộng sự, 2016) Nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc sử dụng TTKTQT và KQHĐKD ít được thực hiện hơn Trong số các nghiên cứu đã được thực hiện, hầu hết đều ủng hộ quan điểm rằng việc sử dụng TTKTQT

có ảnh hưởng cùng chiều với KQHĐKD (Chong & Chong, 1997; Mia & Clarke, 1999; Mia & Winata, 2014; Ismail & cộng sự, 2018) Chẳng hạn, cả hai nghiên cứu

Trang 26

của Chong và Chong (1997) và Mia và Clarke (1999) đều kết luận rằng việc sử dụng TTKTQT có ảnh hưởng cùng chiều đến KQHĐKD của các doanh nghiệp sản xuất ở Úc Nghiên cứu của Mia và Winata (2014) cho thấy một ảnh hưởng tương tác ba chiều giữa việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng, mức độ cạnh tranh và việc

áp dụng JIT đến tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) của các doanh nghiệp sản xuất ở Úc Gần đây, nghiên cứu của Ismail & cộng sự (2018) cũng cho thấy việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng, tổng hợp, đồng bộ và kịp thời có tác dụng thúc đẩy KQHĐKD của các doanh nghiệp sản xuất ở Malaysia

Về phương pháp sử dụng TTKTQT, đa số các nghiên cứu đã được thực hiện

tập trung vào mối liên hệ gián tiếp hoặc điều tiết của các phương pháp sử dụng TTKTQT với KQHĐKD (Abernethy & Brownell, 1999; Bisbe & Otley, 2004; Henri, 2006; Widener, 2007) Các nghiên cứu về ảnh hưởng trực tiếp giữa các phương pháp

sử dụng TTKTQT với KQHĐKD đã báo cáo kết quả không đồng nhất Mặc dù không có giả thuyết cụ thể về tác động trực tiếp của các phương pháp sử dụng thông tin đo lường KQHĐKD đến KQHĐKD nhưng nghiên cứu của Henri (2006) cũng đã cho thấy một kết quả bổ sung rằng có mối quan hệ trực tiếp giữa các phương pháp sử dụng hệ thống đo lường KQHĐKD và KQHĐKD tài chính Theo đó, phương pháp

sử dụng chẩn đoán có ảnh hưởng cùng chiều đến KQHĐKD tài chính trong khi phương pháp sử dụng tương tác có ảnh hưởng ngược chiều đến KQHĐKD tài chính Tương tự, Sakka & cộng sự (2013) đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa việc sử dụng thông tin theo cách chẩn đoán với KQHĐKD dự án, nhưng không có mối quan

hệ nào giữa việc sử dụng thông tin theo cách tương tác với KQHĐKD dự án Ngược

lại, nghiên cứu của Chong và Mahama (2014) cho thấy việc sử dụng dự toán theo

cách tương tác có cả ảnh hưởng trực tiếp cùng chiều và gián tiếp (thông qua hiệu quả tập thể nhận thức) đến hiệu quả của nhóm Nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa việc sử dụng dự toán theo cách chẩn đoán, hiệu quả tập thể nhận thức và hiệu quả của nhóm Trong khi đó, Su & cộng sự (2015) phát hiện ra ảnh hưởng cùng chiều (ngược chiều) của các phương pháp sử dụng hệ thống kiểm soát quản lý theo cách tương tác và chẩn đoán đến KQHĐKD phụ thuộc vào các giai đoạn trong chu kỳ sống của doanh nghiệp Với những kết quả không nhất quán như trên, luận án dự định

Trang 27

sẽ tiếp tục khám phá thêm về mối quan hệ này trong bối cảnh các doanh nghiệp hoạt động tại một nền kinh tế mới nổi (như Việt Nam)

Thứ hai, ảnh hưởng của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng năng lực thuận hai tay là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và thành công của một doanh nghiệp (Raisch & Birkinshaw, 2008) Các nhà nghiên cứu này lập luận rằng những doanh nghiệp tham gia vào cả hai hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và khám phá có nhiều khả năng đạt được KQHĐKD doanh vượt trội hơn so với các doanh nghiệp chỉ tập trung vào một trong hai (Tushman & O'Reilly III, 1996; Raisch & Birkinshaw, 2008) Do vậy, họ đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa năng lực thuận hai tay và KQHĐKD (Benner & Tushman, 2003; He & Wong, 2004)

Liệu việc theo đuổi đồng thời cả hai hoạt động đổi mới theo hướng khai thác

và khám phá có làm mất đi giá trị tiềm năng của mỗi hoạt động hay không? Trả lời

cho câu hỏi này, Levinthal và March (1993, tr 105) khẳng định rằng “vấn đề cơ

bản mà một tổ chức phải đối mặt là tham gia khai thác đủ để đảm bảo khả năng tồn tại trong hiện tại, đồng thời dành đủ năng lượng khám phá để đảm bảo khả năng tồn tại trong tương lai” Ủng hộ quan điểm này, Tushman và O'Reilly III (1996)

cho rằng các doanh nghiệp theo đuổi các hoạt động khai thác và khám phá đồng thời có nhiều khả năng đạt được KQHĐKD cao hơn so với các doanh nghiệp chỉ tập trung vào một trong hai Bởi lẽ các doanh nghiệp chỉ tập trung vào khám phá có thể gặp rủi ro và sẽ mất nhiều thời gian thu được lợi nhuận (Raisch & Birkinshaw, 2008) Các doanh nghiệp này sử dụng những nguồn lực khan hiếm để khám phá mà không thu được lợi ích từ việc khai thác Như vậy, quá tập trung vào việc khám phá

có thể khiến các doanh nghiệp bị mắc kẹt trong một chu kỳ tìm kiếm vô tận, thất bại

và thay đổi không ngừng Bởi vì những đổi mới được thay thế bằng những ý tưởng mới trước khi chúng có cơ hội đóng góp vào lợi nhuận (Levinthal & March, 1993) Ngược lại, các doanh nghiệp chỉ tập trung vào khai thác thường đạt được lợi nhuận ngắn hạn nhưng không bền vững Levinthal và March (1993, tr 105) lập luận rằng

“một tổ chức chỉ tham gia khai thác thường sẽ phải chịu đựng sự lỗi thời” Một ưu

thế của hoạt động khai thác là tăng cường KQHĐKD ngắn hạn, nhưng có thể khiến

Trang 28

cho tổ chức hoạt động theo quán tính, ngăn chặn tổ chức thích nghi với điều kiện môi trường thay đổi, điều này sẽ dẫn đến KQHĐKD kém trong tương lai (Levinthal

& March, 1993; Smith & Tushman, 2005)

Như vậy, xét về mặt lý thuyết, các học giả từ lâu đã công nhận năng lực thuận hai tay là nhân tố thúc đẩy chính cho KQHĐKD của tổ chức Từ năm 2004, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa năng lực thuận hai tay và KQHĐKD của doanh nghiệp Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm

về ảnh hưởng của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD là hỗn hợp (Junni & cộng

sự, 2013) Một số nghiên cứu đã tìm thấy một mối quan hệ cùng chiều (Gibson & Birkinshaw, 2004; He & Wong, 2004; Jansen & cộng sự, 2006; Lubatkin & cộng

sự, 2006; Cao & cộng sự, 2009; Peng & Lin, 2019), trong khi nghiên cứu của Atuahene-Gima (2005) lại tìm thấy một mối quan hệ ngược chiều

Như vậy, có thể thấy rằng mặc dù kết quả vẫn còn chưa thống nhất, tuy nhiên

đa số nghiên cứu cung cấp bằng chứng về ảnh hưởng cùng chiều của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD Trong đó, He và Wong (2004) là người đầu tiên chính thức kiểm tra giả thuyết về năng lực thuận hai tay trong bối cảnh đổi mới kỹ thuật (đổi mới sản phẩm và quy trình) Dựa trên mẫu 206 doanh nghiệp sản xuất ở Singapore

và Malaysia, He và Wong (2004) đã cho thấy (1) sự kết hợp giữa các chiến lược đổi mới theo hướng khai thác và khám phá có ảnh hưởng cùng chiều đến tốc độ tăng trưởng doanh số và (2) sự mất cân bằng (chênh lệch tuyệt đối) giữa các chiến lược đổi mới theo hướng khai thác và khám phá có ảnh hưởng ngược chiều đến tốc độ tăng trưởng doanh số Nghiên cứu của Gibson và Birkinshaw (2004) đã tìm thấy bằng chứng cho thấy một đơn vị kinh doanh có khả năng đồng thời đạt được sự liên kết và khả năng thích ứng có mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa với KQHĐKD Trong bối cảnh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Lubatkin & cộng sự (2006) cũng

đã tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ cùng chiều giữa năng lực thuận hai tay và KQHĐKD Tương tự He và Wong (2004), nghiên cứu của Cao & cộng sự (2009) cho thấy năng lực thuận hai tay cân bằng và kết hợp là hai thành phần khác biệt và góp phần nâng cao KQHĐKD của các doanh nghiệp công nghệ cao Trung Quốc Kết quả phân tích dữ liệu từ 227 doanh nghiệp phần mềm Brazil, Severgnini & cộng

Trang 29

sự (2018) khẳng định việc theo đuổi đồng thời cả hai hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và khám phá góp phần nâng cao KQHĐKD của các doanh nghiệp này Gần đây, Peng và Lin (2019) cung cấp bằng chứng cho thấy năng lực thuận hai tay không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp cùng chiều đến KQHĐKD mà còn có ảnh hưởng

gián tiếp đến KQHĐKD thông qua sự căng thẳng tổ chức

Dưới đây là bảng tổng hợp các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng TTKTQT và năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD (Bảng 1.4)

Bảng 1.4: Tổng hợp các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến KQHĐKD

Cùng chiều Ngược chiều Không ảnh hưởng

Trang 30

1.1.3.3 Nhận xét

Thứ nhất, KQHĐKD là biến phụ thuộc cuối cùng trong nhiều nghiên cứu về

việc sử dụng TTKTQT (Chenhall, 2006; Otley, 2016) cũng như nghiên cứu về năng lực thuận hai tay (Junni & cộng sự, 2013) Trong đó, KQHĐKD có thể được đo lường bằng thang đo chủ quan hoặc khách quan (Kihn, 2010; Junni & cộng sự, 2013) Tuy nhiên, thang đo chủ quan thường được sử dụng hơn trong các nghiên cứu KTQT (Chenhall, 2006; Kihn, 2010; Otley, 2016) và được cho là có mối quan

hệ có ý nghĩa giữa năng lực thuận hai tay và KQHĐKD (Junni & cộng sự, 2013)

Do vậy, luận án sẽ bao gồm KQHĐKD là biến phụ thuộc cuối cùng trong mô hình nghiên cứu và được đo lường bằng thang đo nhận thức chủ quan của nhà quản trị

Thứ hai, ảnh hưởng của việc sử dụng TTKTQT đến KQHĐKD đã được

nghiên cứu sâu rộng Trong đó, đa số nghiên cứu ủng hộ rằng việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng có mối quan hệ cùng chiều với KQHĐKD (Chong & Chong, 1997; Mia & Winata, 2014) Tuy nhiên, ảnh hưởng của việc sử dụng TTKTQT theo cách chẩn đoán và tương tác đến KQHĐKD vẫn chưa thống nhất (Henri, 2006; Sakka & cộng sự, 2013; Chong & Mahama, 2014; Su & cộng sự, 2015) Do vậy, vẫn cần tiếp tục nghiên cứu về ảnh hưởng của các khía cạnh khác nhau của việc sử dụng TTKTQT đến KQHĐKD

Thứ ba, ảnh hưởng cùng chiều của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD đã

được bàn luận trong nhiều nghiên cứu lý thuyết cũng như kiểm định thực nghiệm Mặc dù kết quả kiểm định vẫn còn hỗn hợp tuy nhiên đa số nghiên cứu kết luận rằng năng lực thuận hai tay có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy KQHĐKD của doanh nghiệp (He & Wong, 2004; Lubatkin & cộng sự, 2006; Cao & cộng sự, 2009; Peng & Lin, 2019)

1.2 Các nghiên cứu trong nước về việc sử dụng thông tin kế toán quản trị, năng lực thuận hai tay và kết quả hoạt động kinh doanh

1.2.1 Các nghiên cứu về việc sử dụng thông tin kế toán quản trị và các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin kế toán quản trị

Tại Việt Nam, nghiên cứu KTQT với PPNC định lượng chỉ mới được thực

hiện trong khoảng vài năm gần đây Đa số các nghiên cứu tập trung tìm hiểu các

Trang 31

nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT hoặc KTQT chiến lược trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Chẳng hạn như nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012); Vương Thị Nga (2015); Bùi Thị Nhân (2015); Doan (2016); Trần Ngọc Hùng (2016); Phạm Ngọc Toàn và Phạm Thị Ánh Hồng (2017); Nguyễn Việt Hưng (2016); Do và Le (2017); Nguyễn Văn Hải (2017); Thái Anh Tuấn (2018); Nguyễn Quốc Hưng (2019b); Trinh (2019); La Xuân Đào & cộng sự (2020) v.v Các nghiên cứu đã chứng minh một số nhân tố bối cảnh bên trong và bên ngoài tổ chức có ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT gồm áp lực cạnh tranh, mức độ phân quyền, văn hóa tổ chức, chiến lược kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, trình độ của nhân viên

kế toán, nhận thức của nhà quản trị về KTQT, v.v Đa số các nghiên cứu đã thực hiện tiếp cận lý thuyết bất định theo hình thức phù hợp lựa chọn và xây dựng mô hình hồi quy đa biến (Bùi Thị Nhân, 2015; Vương Thị Nga, 2015; Trần Ngọc Hùng, 2016; Phạm Ngọc Toàn & Phạm Thị Ánh Hồng, 2017; La Xuân Đào & cộng sự, 2020) Ngoại trừ bốn nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), Doan (2016), Do

và Le (2017) và Trinh (2019) đã tiếp cận lý thuyết bất định theo hình thức phù hợp trung gian để chứng minh vai trò trung gian của việc vận dụng KTQT chiến lược Trong đó, nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) và Doan (2016) đã chứng

minh vai trò trung gian của việc vận dụng KTQT chiến lược trong mối quan hệ của

cạnh tranh, phân quyền với KQHĐKD của các doanh nghiệp vừa và lớn ở Việt Nam Tiếp đó, Do và Le (2017) đã cho thấy nhân tố đặc điểm bên trong tổ chức và

sự lãnh đạo của tổ chức có ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT hiện đại, từ đó mang lại sự thành công của việc vận dụng KTQT hiện đại Gần đây, luận án của Trinh (2019) đã chứng minh vai trò trung gian của KTQT chiến lược trong mối quan hệ giữa vốn trí tuệ và KQHĐKD của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam

Tuy nhiên, luận án này không tập trung vào dòng nghiên cứu trên, luận án tập trung vào dòng nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng TTKTQT Nổi bật trong dòng nghiên cứu này phải kể đến hai bài báo của các tác giả Nguyễn Phong Nguyên

và Đoàn Ngọc Quế (2016) và Nguyen (2018) Vận dụng kết hợp lý thuyết bất định với RBV, Nguyễn Phong Nguyên và Đoàn Ngọc Quế (2016) và Nguyen (2018) đã chứng minh TTKTQT (phạm vi rộng, kịp thời, tổng hợp và đồng bộ) là nguồn lực

Trang 32

thỏa mãn bốn thuộc tính đó là: có giá trị, hiếm, khó bắt chước và không thể thay thế được (gọi tắt là các thuộc tính VRIN) Do vậy, việc sử dụng TTKTQT được chứng minh là có ảnh hưởng trực tiếp cùng chiều đến KQHĐKD tài chính Bên cạnh đó,

cả hai nghiên cứu đều cho thấy việc sử dụng TTKTQT đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa định hướng thị trường và KQHĐKD tài chính Ngoài ra, nếu như nghiên cứu của Nguyễn Phong Nguyên và Đoàn Ngọc Quế (2016) đã chứng minh mối quan hệ giữa định hướng thị trường và việc sử dụng TTKTQT bị điều tiết bởi

áp lực cạnh tranh thì nghiên cứu của Nguyen (2018) đã chứng minh được ảnh hưởng điều tiết của sự tham gia của KTQT trong quy trình ra quyết định chiến lược trong mối quan hệ này Cũng dựa trên bộ dữ liệu khảo sát này, nghiên cứu của Nguyễn Phong Nguyên và Trần Thị Trinh (2018) kết luận rằng sự tham gia của KTQT vào việc ra quyết định chiến lược có ảnh hưởng cùng chiều đến mức độ sử dụng TTKTQT, từ đó nâng cao KQHĐKD Bên cạnh đó, tầm ảnh hưởng của KTQT

có tác dụng làm gia tăng ảnh hưởng của sự tham gia của KTQT trong quy trình ra quyết định chiến lược đến KQHĐKD của doanh nghiệp

Với lập luận rằng TTKTQT phạm vi rộng có vai trò quan trọng, nghiên cứu của Nguyen & cộng sự (2017) và Lê Mộng Huyền & cộng sự (2020) chỉ tập trung vào khía cạnh phạm vi rộng của TTKTQT Kết quả của Nguyen & cộng sự (2017) cho thấy phong cách lãnh đạo chuyển đổi có ảnh hưởng trực tiếp cùng chiều đến việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng, hệ thống đo lường KQHĐKD toàn diện và hiệu quả quản lý, không ảnh hưởng đến hệ thống khen thưởng Ngoài ra, phong cách lãnh đạo chuyển đổi có ảnh hưởng gián tiếp một phần đến hiệu quả quản lý thông qua ba trung gian (TTKTQT phạm vi rộng, hệ thống đo lường KQHĐKD toàn diện, hệ thống khen thưởng) Với kết quả phân tích dữ liệu thu thập từ 236 doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu của Lê Mộng Huyền & cộng sự (2020) đã chứng minh: (1) Mức độ cạnh tranh và sự thay đổi chiến lược có ảnh hưởng cùng chiều với việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng, từ đó nâng cao KQHĐKD; (2) TTKTQT phạm vi rộng là trung gian toàn phần cho mối quan hệ giữa cạnh tranh và KQHĐKD tài chính, trung gian một phần cho mối quan hệ giữa cạnh tranh và KQHĐKD phi tài chính Bên cạnh đó, nó còn là trung gian một phần cho mối quan

hệ giữa sự thay đổi chiến lược và KQHĐKD tài chính và phi tài chính

Trang 33

Bắt kịp dòng nghiên cứu mới nổi gần đây về vai trò của TTKTQT trong việc thúc đẩy năng lực tổ chức, nghiên cứu của Trần Thị Yến và Nguyễn Phong Nguyên (2019) đã cho thấy việc sử dụng TTKTQT theo bốn khía cạnh (phạm vi rộng, tổng hợp, đồng bộ và kịp thời) có ảnh hưởng điều tiết đến mối quan hệ giữa học tập tổ chức và năng lực đổi mới Bên cạnh đó, cả năng lực đổi mới và việc sử dụng TTKTQT đều có ảnh hưởng cùng chiều đến KQHĐKD của các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam Chỉ tập trung vào đặc điểm TTKTQT phạm vi rộng, nghiên cứu của Lê Mộng Huyền và Nguyễn Phong Nguyên (2019) đã chỉ ra vai trò thúc đẩy năng lực động của TTKTQT phạm vi rộng, từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam Nói cách khác, mối quan hệ giữa việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng và lợi thế cạnh tranh (bao gồm cả lợi thế chi phí và lợi thế khác biệt) được trung gian bởi năng lực động

Gần đây, tác giả Nguyễn Phong Nguyên và các cộng sự đã đề xuất một số

mô hình nghiên cứu mới, chẳng hạn: Trần Mai Đông và Nguyễn Phong Nguyên (2020) đề xuất mô hình nghiên cứu tích hợp lãnh đạo chuyển đổi và hệ thống TTKTQT nhằm nâng cao năng lực đổi mới trong các doanh nghiệp Việt Nam Tương tự, một mô hình nghiên cứu tích hợp KTQT, sự phân quyền và năng lực đổi mới đã được đề xuất bởi Nguyễn Phong Nguyên và Trần Thị Trinh (2020) Ngoài

ra, Trần Thị Trinh và Nguyễn Phong Nguyên (2020) cũng đề xuất mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của sự hài lòng về TTKTQT đến việc sử dụng TTKTQT, từ đó nâng cao KQHĐKD Bên cạnh đó, bài báo cũng đề xuất giả thuyết rằng sự hiểu biết

về kế hoạch chiến lược của lãnh đạo các cấp có ảnh hưởng điều tiết đến mối quan

hệ giữa sự hài lòng về TTKTQT và mức độ sử dụng TTKTQT Đây đều là những hướng nghiên cứu thú vị, qua đó cho thấy sức hấp dẫn của chủ đề nghiên cứu này trong bối cảnh của các doanh nghiệp Việt Nam đang dần tăng cường vận dụng và hoàn thiện hệ thống KTQT

1.2.2 Các nghiên cứu về năng lực thuận hai tay và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực thuận hai tay

Cho đến nay, tại Việt Nam, năng lực thuận hai tay chỉ mới được nghiên cứu vài năm gần đây bởi tác giả Lưu Trọng Tuấn và những cộng sự của ông (Luu,

Trang 34

2017b, 2017a; Luu & cộng sự, 2019a; Luu & cộng sự, 2019b) và tác giả Ngo & cộng sự (2019)

Những nghiên cứu của tác giả Lưu Trọng Tuấn và cộng sự tập trung khai thác ở góc độ phong cách lãnh đạo của nhà quản trị Đầu tiên, phân tích dữ liệu từ

427 nhà quản trị trong các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam, nghiên cứu của Luu

(2017a) cho thấy phong cách lãnh đạo thuận hai tay (ambidextrous leadership) có

ảnh hưởng cùng chiều đến định hướng tinh thần doanh nghiệp, đồng thời mối quan

hệ này được điều tiết dương bởi vốn xã hội của tổ chức Cũng trong năm 2017, Luu (2017b) đã cung cấp bằng chứng cho thấy vai trò điều tiết của (1) sự tự tin vào năng lực bản thân và (2) động lực cung cấp dịch vụ công đến mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo thuận hai tay và sự cải cách tổ chức Nghiên cứu tiếp theo của Luu & cộng sự (2019a) được thực hiện và chứng minh vai trò trung gian của định hướng tinh thần doanh nghiệp trong mối quan hệ của phong cách lãnh đạo thuận hai tay và

sự điều chỉnh công việc Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò điều tiết dương của sự trao đổi xã hội tổ chức cho mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo thuận hai tay và định hướng tinh thần doanh nghiệp Gần đây nhất, trong một nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, Luu & cộng sự (2019b) đã vận dụng quan

điểm về sự thay thế của lãnh đạo (Substitutes for leadership) để làm sáng tỏ vai trò

của phong cách lãnh đạo thuận hai tay như là một nguồn lực thay thế trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nói cách khác, phong cách lãnh đạo thuận hai tay đóng vai trò điều tiết âm đến ba mối quan hệ: (1) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và sự điều chỉnh công việc theo định hướng khách hàng; (2) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hành vi công dân của tổ chức định hướng khách hàng; (3) Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả phục hồi dịch vụ

Tích hợp quan điểm năng lực động vào dòng nghiên cứu năng lực thuận hai tay, Ngo & cộng sự (2019) đề xuất khung nghiên cứu cảm nhận – phản hồi – kết quả Kết quả phân tích dữ liệu từ một mẫu gồm 150 doanh nghiệp Việt Nam cho thấy khả năng cảm nhận thị trường và công nghệ có tác dụng thúc đẩy các hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và đổi mới theo hướng khám phá, từ đó góp phần nâng cao KQHĐKD Hay nói cách khác, hoạt động đổi mới theo hướng khai

Trang 35

thác và đổi mới theo hướng khám phá là trung gian cho mối quan hệ giữa khả năng cảm nhận thị trường và công nghệ với KQHĐKD Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy sự kết hợp giữa hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và đổi mới theo hướng khám phá có ảnh hưởng đến KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam Những phát hiện này ngụ ý rằng khả năng của công ty để cạnh tranh trong thị trường phức tạp (thị trường mới nổi) phụ thuộc vào khả năng thích ứng của công ty

Mặc dù còn ít về mặt số lượng nhưng các nghiên cứu của tác giả Lưu Trọng Tuấn và cộng sự, tác giả Ngô Viết Liêm và cộng sự đều là những tài liệu tham khảo rất có giá trị cho những nhà nghiên cứu đang tìm hiểu về các chủ đề liên quan trong bối cảnh ở Việt Nam

1.2.3 Các nghiên cứu về kết quả hoạt động kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh

Tương tự như các nghiên cứu trên thế giới, KQHĐKD cũng là một biến phụ thuộc cuối cùng trong nhiều nghiên cứu Việt Nam thuộc các lĩnh vực khác nhau bao gồm KTQT (Doan, 2016; Nguyễn Phong Nguyên & Đoàn Ngọc Quế, 2016; Nguyen, 2018; Trần Thị Yến & Nguyễn Phong Nguyên, 2019; Trinh, 2019; Lê Mộng Huyền & cộng sự, 2020) và quản trị (Luu, 2017a; Nguyễn Quang Thu & cộng sự, 2017; Ngo & cộng sự, 2019; Phan, 2019) Trong đó, KQHĐKD có thể được đo lường thông qua thang đo khách quan (dựa trên dữ liệu kế toán và/hoặc thị trường tài chính) hoặc thang đo chủ quan (dựa trên dữ liệu khảo sát) Đối với các nghiên cứu sử dụng thang đo chủ quan, có những nghiên cứu chỉ tập trung đo lường KQHĐKD tài chính (Nguyễn Phong Nguyên & Đoàn Ngọc Quế, 2016; Nguyen, 2018), trong khi những nghiên cứu khác bao gồm cả KQHĐKD tài chính và phi tài chính (Doan, 2016; Trần Thị Yến & Nguyễn Phong Nguyên, 2019; Lê Mộng Huyền

& cộng sự, 2020)

Hầu hết các nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT đều cho thấy việc sử dụng TTKTQT (bao gồm TTKTQT phạm vi rộng) có ảnh hưởng cùng chiều đến KQHĐKD Chẳng hạn, với dữ liệu được thu thập từ 171 doanh nghiệp lớn Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Phong Nguyên và Đoàn Ngọc Quế (2016) và Nguyen (2018) đã khẳng định việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng, kịp thời, tổng hợp và

Trang 36

đồng bộ có ảnh hưởng đến KQHĐKD của các doanh nghiệp Tương tự, kết quả kiểm định PLS-SEM từ một mẫu gồm 288 doanh nghiệp lớn ở Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thị Yến và Nguyễn Phong Nguyên (2019) cũng cho thấy việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng, tổng hợp, đồng bộ và kịp thời có ảnh hưởng cùng chiều đến KQHĐKD của doanh nghiệp Không chỉ trong các doanh nghiệp lớn, một nghiên cứu gần đây của Lê Mộng Huyền & cộng sự (2020) cũng cho thấy việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng có ảnh hưởng cùng chiều đến KQHĐKD tài chính và phi tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Như đã nêu ở trên, các nghiên cứu về năng lực thuận hai tay tại Việt Nam còn khá ít Mặc dù nghiên cứu của Luu (2017a) không kiểm định mối quan hệ trực tiếp giữa phong cách lãnh đạo thuận hai tay đến KQHĐKD, tuy nhiên nghiên cứu

đã cho thấy phong cách lãnh đạo thuận hai tay có ảnh hưởng cùng chiều đáng kể đến định hướng tinh thần doanh nghiệp, từ đó nâng cao KQHĐKD của các doanh nghiệp Việt Nam Trong khi đó, với kết quả kiểm định dữ liệu thu được từ 150 doanh nghiệp Việt Nam, nghiên cứu của Ngo & cộng sự (2019) đã cho thấy mỗi hoạt động đổi mới theo hướng khai thác và đổi mới theo hướng khám phá có ảnh hưởng cùng chiều đến KQHĐKD Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy mối quan

hệ giữa sự kết hợp của đổi mới theo hướng khai thác và đổi mới theo hướng khám phá (tức năng lực thuận hai tay) với KQHĐKD trong các doanh nghiệp Việt Nam

1.2.4 Nhận xét

Từ kết quả tổng quan trên có thể thấy đa số nghiên cứu trong giai đoạn đầu tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT (Đoàn Ngọc Phi Anh, 2012; Trần Ngọc Hùng, 2016) Nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT mới bắt đầu được thực hiện từ những năm 2010 (Nguyễn Phong Nguyên & Đoàn Ngọc Quế, 2016; Nguyen & cộng sự, 2017) Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về phương pháp sử dụng TTKTQT Do vậy, luận án sẽ nghiên cứu kết hợp cả hai khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT đó là đặc điểm TTKTQT và phương pháp sử dụng TTKTQT để góp phần khắc phục những hạn chế còn tồn tại được nêu ở trên

Trang 37

Năng lực thuận hai tay chỉ mới được nghiên cứu một vài năm gần đây Trong

số các nghiên cứu đã được thực hiện, bốn nghiên cứu của tác giả Lưu Trọng Tuấn

và cộng sự (Luu, 2017b, 2017a; Luu & cộng sự, 2019a; Luu & cộng sự, 2019b) tập trung vào khía cạnh phong cách lãnh đạo của các nhà quản trị Chỉ có một nghiên cứu của tác giả Ngo & cộng sự (2019) là khai thác ở góc độ năng lực thuận hai tay Chưa có nghiên cứu nào về vai trò của TTKTQT trong việc thúc đẩy năng lực thuận hai tay được thực hiện tại Việt Nam Do vậy, luận án sẽ nghiên cứu về ảnh hưởng của các khía cạnh khác nhau của việc sử dụng TTKTQT đến năng lực thuận hai tay trong các doanh nghiệp Việt Nam

Các nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT có kết luận thống nhất và tương đối phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trên thế giới rằng việc sử dụng TTKTQT (bao gồm TTKTQT phạm vi rộng) có ảnh hưởng cùng chiều đến KQHĐKD (Nguyen, 2018; Trần Thị Yến & Nguyễn Phong Nguyên, 2019) Ngược lại, nghiên cứu về ảnh hưởng của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD còn khá ít

và cho kết quả không phù hợp với các nghiên cứu đã công bố trên thế giới (Ngo & cộng sự, 2019) Do vậy, cần thiết phải thực hiện thêm những nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định mối quan hệ này trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, tại Việt Nam cũng chưa có nghiên cứu nào kiểm định ảnh hưởng của các phương pháp sử dụng TTKTQT đến KQHĐKD

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Thứ nhất, mặc dù nghiên cứu KTQT vận dụng lý thuyết bất định có truyền

thống hơn bốn thập kỷ qua nhưng đây vẫn là một mảnh đất màu mỡ với nhiều khía cạnh cần được khám phá và làm rõ thêm để đóng góp vào tri thức và sự hiểu biết của chúng ta Một trong số đó là cần thêm những nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT (Otley, 2016), hơn nữa cần kết hợp các khía cạnh này trong một nghiên cứu duy nhất để có một cái nhìn tổng quát hơn Bởi lẽ các nghiên cứu hiện có hầu như chỉ tập trung vào một trong hai khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT đó là đặc điểm thông tin (Nguyễn Phong Nguyên & Đoàn Ngọc Quế, 2016; Nguyen & cộng sự, 2017; Nguyen, 2018) hoặc phương pháp sử dụng thông tin (Henri, 2006; Bedford, 2015; Su & cộng sự, 2015) Do vậy, luận án sẽ

Trang 38

nghiên cứu việc sử dụng TTKTQT trên cả hai khía cạnh đó là đặc điểm thông tin (việc sử dụng TTKTQT phạm vi rộng) và phương pháp sử dụng thông tin (việc sử dụng TTKTQT theo hướng chẩn đoán và việc sử dụng TTKTQT theo hướng tương tác) để góp phần khắc phục những hạn chế còn tồn tại của dòng nghiên cứu này Xét

về thực tiễn, một nghiên cứu kết hợp cả hai khía cạnh trên là cần thiết để giúp cho các doanh nghiệp có một cái nhìn toàn diện và những hiểu biết sâu sắc hơn về ảnh hưởng của thông tin kế toán quản trị đến KQHĐKD Từ đó, các doanh nghiệp sẽ nhận thức rõ hơn rằng một hệ thống KTQT được thiết kế để cung cấp thông tin phạm vi rộng là cần thiết nhưng không phải là tất cả, cách thức mà nhà quản trị sử dụng thông tin như thế nào cho phù hợp cũng có một vai trò quan trọng không kém

Thứ hai, kết quả tổng quan các nghiên cứu đã công bố trên thế giới cũng như

tại Việt Nam cho thấy một vài nghiên cứu đã được thực hiện gần đây chỉ ra rằng các doanh nghiệp cần phải tạo ra và duy trì các năng lực tổ chức để chuyển hóa TTKTQT thành kết quả tổ chức, chẳng hạn như KQHĐKD Những năng lực tổ chức đã được chỉ ra như định hướng thị trường (Henri, 2006; Yuliansyah & cộng

sự, 2019), năng lực đổi mới (Henri, 2006; Trần Thị Yến & Nguyễn Phong Nguyên, 2019; Yuliansyah & cộng sự, 2019), học tập tổ chức (Chenhall, 2005; Henri, 2006; Trần Thị Yến & Nguyễn Phong Nguyên, 2019; Yuliansyah & cộng sự, 2019), và năng lực liên kết chiến lược với sản xuất (Chenhall, 2005) Năng lực thuận hai tay

đã trở thành một chủ đề ngày càng phổ biến trong các nghiên cứu quản trị và được công nhận là một năng lực quan trọng đối với KQHĐKD và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp (Tushman & O'Reilly III, 1996; Gibson & Birkinshaw, 2004) Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu KTQT vẫn chưa thật sự quan tâm một cách đầy đủ về chủ đề này Với một số ít nghiên cứu đã được thực hiện nhưng vẫn chưa khám phá một cách đầy đủ và có hệ thống về các khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT ảnh hưởng như thế nào đến năng lực thuận hai tay và KQHĐKD của doanh nghiệp Do vậy, luận án sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của hai khía cạnh sử dụng TTKTQT (đặc điểm thông tin và phương pháp sử dụng thông tin) đến năng lực thuận hai tay cũng như ảnh hưởng của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD

Trang 39

Cuối cùng, có ít nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng TTKTQT đến

năng lực thuận hai tay và KQHĐKD đã được thực hiện (Bedford, 2015; Severgnini & cộng sự, 2018; Bedford & cộng sự, 2019) Những nghiên cứu đã công bố đều được thực hiện tại các nước phát triển, chẳng hạn như nghiên cứu của Bedford (2015) được thực hiện tại Úc, nghiên cứu của Severgnini & cộng sự (2018) được thực hiện tại Braxin, nghiên cứu của Bedford & cộng sự (2019) được thực hiện ở Ailen Những hiểu biết về vai trò của TTKTQT trong việc thúc đẩy năng lực thuận hai tay, từ đó nâng cao KQHĐKD trong các doanh nghiệp ở một nền kinh tế mới nổi (như Việt Nam) là chưa được biết đến Nền kinh tế của Việt Nam đang ngày càng năng động (Nguyen & cộng sự, 2017) và đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng như xu hướng chuyển đổi số (Vietnam Report, 2019), do vậy đây sẽ là một bối cảnh thích hợp để thực hiện nghiên cứu này và mang lại những đóng góp có ý nghĩa cho dòng nghiên cứu KTQT Hơn thế nữa, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn đang cân nhắc lợi ích và chi phí giữa việc đầu tư hoàn thiện

hệ thống KTQT Do vậy, việc cung cấp một bằng chứng thực nghiệm về vai trò của TTKTQT trong việc thúc đẩy năng lực thuận hai tay và KQHĐKD là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam để họ nhận thức rõ hơn về lợi ích của TTKTQT Từ

đó, họ sẽ chủ động tìm hiểu, triển khai, vận dụng hoặc hoàn thiện hệ thống KTQT trong doanh nghiệp

Tóm lại, để lấp các khoảng trống nghiên cứu đã được chỉ ra, luận án sẽ xây dựng một mô hình nghiên cứu để nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng TTKTQT đến năng lực thuận hai tay, ảnh hưởng của năng lực thuận hai tay đến KQHĐKD Bên cạnh đó, luận án cũng kiểm định ảnh hưởng gián tiếp của việc sử dụng TTKTQT đến KQHĐKD thông qua năng lực thuận hai tay Các giả thuyết nghiên cứu sẽ được kiểm định trong bối cảnh các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam (một nền kinh tế mới nổi)

Trang 40

Kết luận chương 1

Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu đã được công

bố trên thế giới cũng như tại Việt Nam, từ đó nhận xét và xác định khoảng trống nghiên cứu của luận án

Để có một các nhìn tổng quát về các nghiên cứu liên quan, tác giả tập trung tổng quan các nghiên cứu đã được công bố trên thế giới cũng như tại Việt Nam thuộc ba dòng nghiên cứu đó là: (1) Nghiên cứu về việc sử dụng TTKTQT và các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng TTKTQT; (2) Nghiên cứu về năng lực thuận hai tay và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực thuận hai tay; và (3) Nghiên cứu về KQHĐKD và các nhân tố ảnh hưởng đến KQHĐKD

Sau quá trình tổng quan quan và nhận xét về các nghiên cứu trước, tác giả đã xác định được khoảng trống nghiên cứu như sau: (1) Có ít nghiên cứu kết hợp cả hai khía cạnh của việc sử dụng TTKTQT đó là đặc điểm thông tin và phương pháp

sử dụng thông tin; (2) Có ít nghiên cứu về vai trò của TTKTQT trong việc thúc đẩy năng lực thuận hai tay; và (3) Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trong bối cảnh các doanh nghiệp hoạt động tại một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam Do vậy, luận án được thực hiện để góp phần khắc phục những hạn chế còn tồn tại của các dòng nghiên cứu trên

Ngày đăng: 05/07/2023, 13:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w