Khi bị ném xuống nước, chúng có thể làm chết các sinh vật thủy sinh, phủ kín nhiều vùng biển… Tuy những tác hại của túi nylon là vậy, nhưng thực trạng sử dụng một cách lạm dụng sản phẩm
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển, con người đã có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến môi trường sống Ở giai đoạn đầu, với dân số ít và phương thức sản xuất thô sơ, con người chỉ tác động đến môi trường ở mức độ thấp, giúp các chức năng của môi trường nhanh chóng phục hồi và duy trì trạng thái cân bằng tương đối.
Bằng sự lao động và tư duy sáng tạo, con người đã nghiên cứu và chế tạo ra những công cụ sản xuất hiện đại Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã mang lại những thành tựu to lớn trong khoa học công nghệ, phục vụ tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến sự suy kiệt nghiêm trọng của tài nguyên thiên nhiên và môi trường Một trong những sản phẩm tiêu biểu của công nghệ hiện đại là túi nylon.
Túi nylon là sản phẩm tiện lợi nhưng cũng gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng Trung bình mỗi người dân Việt Nam sử dụng 1 túi nylon mỗi ngày, dẫn đến khoảng 31,4 tỷ túi được tiêu thụ hàng năm Phần lớn túi nylon được làm từ các chất liệu khó phân hủy như PE, PVC, và PP, mất từ 500 đến 1000 năm để phân hủy nếu không chịu tác động của ánh sáng mặt trời Túi nylon xuất hiện khắp nơi, từ đường phố đến bãi biển, gây mất mỹ quan đô thị và tắc nghẽn hệ thống cống rãnh, dẫn đến ngập lụt và phát sinh dịch bệnh Ngoài ra, khi lẫn vào đất, rác nylon làm ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ sinh thái đất, và khi thải ra nước, chúng có thể gây chết cho các sinh vật thủy sinh.
Mặc dù túi nylon gây ra nhiều tác hại, nhưng việc lạm dụng sản phẩm này ở Việt Nam hiện nay đang ở mức báo động, dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Quận Thủ Đức, thuộc thành phố Hồ Chí Minh, đang phát triển mạnh mẽ cùng với sự mở rộng của nền kinh tế và vốn đầu tư Với tổng dân số 346.329 người (2005) và 12 phường, quận là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp như Linh Trung I, II và nhiều công ty, xí nghiệp, dẫn đến số lượng công nhân lớn Ngoài ra, quận còn có nhiều trường Đại học và Cao đẳng lớn, thu hút đông đảo sinh viên từ khắp nơi Sự gia tăng dân số, bao gồm cả cư dân từ nơi khác, đã làm tăng nhu cầu sử dụng túi nylon, dẫn đến lượng rác thải nylon tăng lên Tuy nhiên, việc thu gom và xử lý loại rác thải này vẫn chưa hiệu quả, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống.
Mỗi đối tượng trong cộng đồng có đặc điểm khác nhau về tuổi, giới, nghề nghiệp và thu nhập, dẫn đến sự khác biệt trong thái độ, hành vi và thói quen sử dụng túi nylon Chúng tôi nghiên cứu nhận thức của cư dân quận Thủ Đức về túi nylon, hiện trạng sử dụng và tác động của nó đến môi trường Mục tiêu của chúng tôi là đưa ra các kiến nghị nhằm giảm thiểu và tái sử dụng túi nylon trong cộng đồng Do đó, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG TÚI NYLON TRONG SINH HOẠT TẠI QUẬN THỦ ĐỨC - TP HỒ CHÍ MINH”.
Mục tiêu của đề tài
Hoàn thành đề tài này, nhóm nghiên cứu chúng tôi hy vọng:
Người dân quận sẽ hiểu rõ hơn về sản phẩm túi nylon, bao gồm cả lợi ích và tác hại của nó, từ đó có thể sử dụng một cách hợp lý hơn nhằm bảo vệ môi trường quận hiệu quả hơn.
Đề tài này mong muốn đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế việc sử dụng rác thải nylon và tìm kiếm các phương pháp xử lý hiệu quả cho vấn đề này.
Nhiệm vụ của đề tài
Tìm hiểu thực trạng sử dụng túi nylon của cư dân trên toàn quận
Nêu lên tác hại cũng như lợi ích trong việc sử dụng sản phẩm này
Góp phần nâng cao cách nhìn của nhân dân quận đối với sản phẩm nylon (trong việc dùng cũng như thải bỏ)
Đồng thời đề xuất một số hướng mới nhằm hạn chế sử dụng nylon trong đời sống của nhân dân quận.
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin thứ cấp từ các đơn vị liên quan như sở tài nguyên môi trường, các đề tài nghiên cứu khác, báo cáo, tạp chí và internet là rất quan trọng.
Thông tin sơ cấp từ phỏng vấn sâu, câu hỏi điều tra…
Khảo sát thực tế, chụp hình…
Dùng phương pháp phân tích - tổng hợp.
Giới hạn của đề tài
Chất thải rắn đang trở thành một vấn đề cấp bách tại quận và toàn thành phố, cũng như trong các đô thị trên toàn quốc Chất thải rắn có nhiều loại và nguồn gốc khác nhau, và việc phân loại phụ thuộc vào điều kiện từng vùng Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian và số lượng thành viên tham gia, đề tài này sẽ chỉ tập trung vào sản phẩm túi nylon, cả trong quá trình sử dụng và khi thải bỏ.
Chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn đã được thí điểm ở một số quận tại thành phố Hồ Chí Minh như quận 1, 4, 5, 6, 10 và huyện Củ Chi, nhưng chưa được triển khai tại quận Thủ Đức Túi nylon, một loại rác vô cơ, đã được các quận khác phân loại Chúng tôi hy vọng rằng việc tìm hiểu về sản phẩm này sẽ mở ra hướng đi mới cho kế hoạch phân loại rác tại nguồn ở quận Thủ Đức.
Tình hình nghiên cứu của đề tài
Chất thải rắn là một chủ đề nghiên cứu phổ biến của nhiều tác giả trong và ngoài nước, tuy nhiên, vấn đề túi nylon vẫn còn mới mẻ và chỉ có một số tác giả tiến hành nghiên cứu về nó.
Chúng tôi, có tìm hiểu một số đề tài nghiên cứu có liên quan như:
Sách tham khảo: “Hỏi đáp về tài nguyên và môi trường”
Cuốn sách “Hỏi đáp về sinh thái và môi trường” do Lê Văn Khoa chủ biên, xuất bản năm 2005, đã chỉ ra những hiểm họa chung từ rác thải nylon Tuy nhiên, tác phẩm này chưa thực hiện nghiên cứu chi tiết tại một địa bàn cụ thể.
Chưa có nghiên cứu nào từ sinh viên về tình hình sử dụng và thải bỏ túi nylon tại quận Thủ Đức, mặc dù các sách tham khảo chỉ tập trung vào những nội dung liên quan.
Đóng góp mới của đề tài
Tìm hiểu được thực trạng sử dụng túi nylon của người dân trên địa bàn quận Thủ Đức
Nhóm nghiên cứu mong muốn tìm hiểu thái độ của người dân quận Thủ Đức đối với sản phẩm nylon và những hậu quả của nó, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế và giải quyết vấn đề này, phù hợp với lối sống và điều kiện của cư dân địa phương.
Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
8.1 Ý nghĩa lý luận Đề tài hoàn thành sẽ làm tư liệu tham khảo cho các đề tài của sinh viên về sau
8.2 Ý nghĩa thực tiễn Đề tài là cơ sở để cơ quan chức năng địa phương tham khảo, qua đó đưa ra kế hoạch, chiến lược nhằm sử dụng hợp lý hơn sản phẩm nylon.
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 5 chương như sau:
1.2 Tổng quan về quận Thủ Đức
Chương 2: Ưu điểm và tác hại của túi nylon
2.2 Tác hại của túi nylon
Chương 3: Hiện trạng sử dụng túi nylon trong sinh hoạt tại quận Thủ Đức
3.2 Sơ lược về hiện trạng rác thải sinh hoạt và rác thải nylon tại quận 3.3 Hiểu biết của người dân về túi nylon
3.4 Vấn đề sử dụng túi nylon của người dân ở quận
3.5 Vấn đề về việc thải bỏ và tái sử dụng túi nylon tại quận
3.6 Ý thức của người dân đối với việc hạn chế sử dụng túi nylon
3.7 Đối với người cung cấp túi nylon
3.8 Công tác tuyên truyền về túi nylon tại quận
Chương 4: Giảp pháp nhằm giải quyết vấn đề túi nylon tại quận
NỘI DUNG – KÉT QUẢ: CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
CÁC KHÁI NIỆM
TỔNG QUAN VỀ QUẬN THỦ ĐỨC
Chương 2: Ưu điểm và tác hại của túi nylon
2.2 Tác hại của túi nylon
Chương 3: Hiện trạng sử dụng túi nylon trong sinh hoạt tại quận Thủ Đức
3.2 Sơ lược về hiện trạng rác thải sinh hoạt và rác thải nylon tại quận 3.3 Hiểu biết của người dân về túi nylon
3.4 Vấn đề sử dụng túi nylon của người dân ở quận
3.5 Vấn đề về việc thải bỏ và tái sử dụng túi nylon tại quận
3.6 Ý thức của người dân đối với việc hạn chế sử dụng túi nylon
3.7 Đối với người cung cấp túi nylon
3.8 Công tác tuyên truyền về túi nylon tại quận
Chương 4: Giảp pháp nhằm giải quyết vấn đề túi nylon tại quận
PHẦN 2: NỘI DUNG – KÉT QUẢ CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1.1 Định nghĩa chất dẻo và nylon
Công nghệ phát triển cần giải quyết vấn đề vật liệu, trong đó vật liệu chất dẻo đang được các nước phát triển chú trọng Chất dẻo có nhiều ưu điểm như mềm dẻo, bền chắc, dễ tạo hình, có thể pha màu hoặc trong suốt, nhẹ và nhiều đặc tính quý khác Do đó, chất dẻo đang dần thay thế sắt thép, gỗ và có khả năng thay thế cả hợp kim cứng trong tương lai gần Một lợi thế khác là chi phí sản xuất sản phẩm từ chất dẻo chỉ bằng 1/3 so với sản phẩm kim loại, giúp tiết kiệm năng lượng, chi phí vận chuyển và giá thành, phù hợp với ngân sách của các nước đang phát triển như Việt Nam.
Chất dẻo, hay nhựa và polyme, là các hợp chất cao phân tử được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nhiều vật dụng hàng ngày và sản phẩm công nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong đời sống hiện đại Chúng có khả năng biến dạng dưới tác động của nhiệt và áp suất, đồng thời giữ được hình dạng đã biến đổi khi không còn tác động.
- Tính chất chính của polyme:
+ Thường là chất rắn, không bay hơi
+ Hầu hết Polyme không tan trong nước hoặc các dung môi thông thường
Các phản ứng tổng hợp polyme
Phản ứng trùng hợp là quá trình kết hợp nhiều monome giống nhau để tạo ra polyme Ví dụ, phản ứng của n phân tử CH2=CH-CH=CH2 sẽ tạo thành polyme có cấu trúc (-CH2-CH=CH-CH2-)n.
Phản ứng trùng hợp Butađien1,3
Phản ứng trùng ngưng là quá trình kết hợp nhiều monome để tạo ra polyme cùng với một sản phẩm phụ, thường là nước Ví dụ, phản ứng của n(OH-CH2-CH2-OH) dẫn đến sự hình thành polyme (-CH2-CH2-O-CH2-CH2-)n và thải ra nH2O.
Phản ứng đồng trùng hợp Phản ứng trùng hợp là phản ứng kết hợp nhiều monome của hai hay nhiều chất tạo thành polyme
Phân loại theo tính chất:
1 Nhựa nhiệt dẻo : Là loại nhựa khi gia nhiệt thì sẽ hóa dẻo, ví dụ như : PP, PE, PVC, PET, PS
- HDPE (High Density Polyethylen - polyethylene trọng lượng cao) thường được sử dụng để đựng thực phẩm
- LDPE (Low Density Polyethylen - polyethylene trọng lượng thấp) thường được sử dụng để đựng quần áo, giày dép…
2 Nhựa nhiệt rắn : Là loại nhựa khi gia nhiệt sẽ rắn cứng, ví dụ như : PF, MF…
Phân loại theo ứng dụng:
1 Nhựa thông dụng : là loại nhựa được sử dụng số lượng lớn, giá rẻ, dùng nhiều trong những vật dụng thường ngày, như : PP, PE, PVC, PET, ABS…
2 Nhựa kỹ thuật : Là loại nhựa có tính chất cơ lý trội hơn so với các loại nhựa thông dụng, thường dùng trong các mặt hàng công nghiệp, như: PC, PA,
3 Nhựa chuyên dụng : Là các loại nhựa tổng hợp chỉ sử dụng riêng biệt cho từng trường hợp
Phân loại theo cấu tạo hóa học
1 Polyme mạch cacbon: polyme có mạch chính là các phân tử cacbon liên kết với nhau
2 Polyme dị mạch: polyme trong mạch chính ngoài nguyên tố cacbon còn có cac nguyên tố khác như O, N, S Ví dụ như polyoxymetylen, polyeste, polyuretan, polysiloxan…
Chất thải bao gồm tất cả các vật chất mà con người thải bỏ trong quá trình hoạt động kinh tế xã hội, bao gồm sản xuất, sinh hoạt và duy trì sự tồn tại của cộng đồng.
Lượng chất thải phát sinh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm sự phát triển của sản xuất, gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, và sự nâng cao đời sống cũng như trình độ dân trí.
Chất thải rắn là bất kỳ vật liệu nào ở dạng rắn bị loại bỏ ra mà không được tiếp tục sử dụng như ban đầu
Chất thải rắn phát sinh từ các nguồn chính sau:
- Nhà máy xử lý chất thải
Chất thải rắn sinh hoạt bao gồm các loại chất thải phát sinh từ hoạt động của hộ gia đình, chung cư, khu công cộng, công sở, trường học, viện nghiên cứu, khu thương mại, chợ, và từ hoạt động sinh hoạt của con người trong các khu công nghiệp.
Thành phần chất thải rắn ở các đô thị khác nhau thì không giống nhau song đều có hai đặc điểm chung gồm:
- Thành phần rác thải hữu cơ dễ phân hủy, thực phẩm hư hỏng với số lượng trung bình từ 30 – 60%
- Thành phần đất cát, vật liệu xây dựng các chất vô cơ khác với số lượng trung bình từ 20 – 40%
Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số hơn 6,24 triệu người vào năm 2005, tiếp nhận khoảng 6.000 đến 6.500 tấn chất thải rắn đô thị mỗi ngày Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt từ các khu đô thị chiếm từ 3.500 đến 4.500 tấn/ngày, chất thải từ cơ sở y tế - công nghiệp là 800 đến 1.200 tấn/ngày, chất thải xây dựng từ 700 đến 1.200 tấn/ngày, và chất thải công nghiệp khoảng 700 đến 900 tấn/ngày, bao gồm 150 đến 200 tấn chất thải nguy hại Dự báo, lượng rác thải bình quân ở thành phố sẽ tăng từ 0,61 kg/người/ngày vào năm 1996 lên hơn 1 kg/người/ngày vào năm 2010.
Bảng 1 : Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh
STT Thành phần Khối lượng (%)
(Trung tâm nghiên cứu công nghệ và quản lý môi trường CENTEMA – 2007)
Giảm phát sinh chất thải, tiêu dùng một cách tiết kiệm, hợp lý, sử dụng ít hơn thông thường để giảm lượng rác phát sinh
Bạn nên chỉ mua những sản phẩm cần thiết và sử dụng hết chúng Hãy lựa chọn những sản phẩm có bao bì tái chế, tiết kiệm nhiên liệu và tránh bao bì phức tạp Bảo trì và sửa chữa đồ dùng gia đình để kéo dài tuổi thọ của chúng.
Nói không với túi nylon khi mua hàng hoặc sử dụng càng ít càng tốt, mang theo túi hoặc giỏ đựng khi đi mua hàng
Việc tái sử dụng sản phẩm và vật dụng đã qua sử dụng giúp tiết kiệm chi phí và tối ưu hóa khả năng sử dụng của chúng, cho phép sử dụng lại vào các mục đích khác nhau.
Sản phẩm như ly uống nước, chén, đĩa và đũa nên được sử dụng nhiều lần thay vì chỉ một lần Quần áo cũ có thể được cho người khác hoặc gửi đến các tổ chức từ thiện Thay vì sử dụng khăn giấy, hãy chọn khăn giặt được để tiết kiệm Các chai và hũ thủy tinh sau khi rửa sạch có thể trở thành vật dụng hữu ích Giấy gói, thùng và hộp giấy nên được giữ lại để sử dụng cho việc gói quà hoặc chứa đồ Khi thay thế các vật dụng lớn trong nhà như tủ và bàn ghế, hãy bán hoặc cho tặng cho những gia đình cần đến thay vì vứt bỏ.
Tái sử dụng túi nylon là dùng lại các túi nylon đã qua sử dụng nhằm giảm chất thải ra môi trường và giảm chi phí
Là quá trình sản xuất ra sản phẩm dựa trên nguồn nguyên liệu là những sản phẩm đã qua sử dụng
Các sản phẩm có thể tái chế từ rác thải bao gồm giấy viết, báo, tạp chí, bìa carton, thiết bị điện tử, gỗ, sơn, hóa chất, vật liệu xây dựng, lon nhôm, sắt, kim loại, chai nhựa, chai PET, túi nylon và thủy tinh.
Bạn có biết rằng 60% rác thải có thể được tái chế? Trong đó, 50% rác thải gia đình có thể biến thành phân compost, và 100% thủy tinh đều có thể tái chế Việc tái chế một hộp thiếc tiết kiệm năng lượng đủ để mở tivi trong 3 giờ, trong khi tái chế một chai thủy tinh tiết kiệm năng lượng để sử dụng máy tính trong 25 phút Tái chế một chai nhựa giúp tiết kiệm năng lượng cho bóng đèn 60 W trong 3 giờ, và cần đến 24 cây to để sản xuất một tấm giấy báo.
Tái chế nhựa và chất dẻo là quá trình tạo ra sản phẩm mới từ nguyên liệu nhựa và chất dẻo đã qua sử dụng.
Sơ đồ hệ thống tái chế được tóm tắt trong hình sau:
Hình 1: Sơ đồ hệ thống tái chế rác
ƯU ĐIỂM VÀ TÁC HẠI CỦA TÚI NYLON
Tác hại của túi nylon
Chương 3: Hiện trạng sử dụng túi nylon trong sinh hoạt tại quận Thủ Đức
Thu thập số liệu
3.2 Sơ lược về hiện trạng rác thải sinh hoạt và rác thải nylon tại quận 3.3 Hiểu biết của người dân về túi nylon
3.4 Vấn đề sử dụng túi nylon của người dân ở quận
3.5 Vấn đề về việc thải bỏ và tái sử dụng túi nylon tại quận
3.6 Ý thức của người dân đối với việc hạn chế sử dụng túi nylon
3.7 Đối với người cung cấp túi nylon
3.8 Công tác tuyên truyền về túi nylon tại quận
Chương 4: Giảp pháp nhằm giải quyết vấn đề túi nylon tại quận
PHẦN 2: NỘI DUNG – KÉT QUẢ CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1.1 Định nghĩa chất dẻo và nylon
Công nghệ phát triển cần giải quyết vấn đề vật liệu, trong đó vật liệu chất dẻo đang được các nước phát triển chú trọng Chất dẻo có nhiều ưu điểm như mềm dẻo, bền, dễ tạo hình, có thể pha màu hoặc trong suốt, nhẹ và nhiều đặc tính quý khác Do đó, chất dẻo đang dần thay thế sắt thép, gỗ và có khả năng thay thế cả hợp kim cứng trong tương lai gần Một lợi thế khác là chi phí sản xuất sản phẩm chất dẻo chỉ bằng 1/3 so với sản phẩm kim loại, giúp tiết kiệm năng lượng, chi phí vận chuyển và giá thành, phù hợp với ngân sách của các nước đang phát triển như Việt Nam.
Chất dẻo, hay nhựa và polyme, là hợp chất cao phân tử được sử dụng rộng rãi trong sản xuất các vật dụng hàng ngày và sản phẩm công nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong đời sống hiện đại Chúng có khả năng biến dạng dưới tác động của nhiệt và áp suất, đồng thời giữ được hình dạng đã biến đổi khi không còn tác động.
- Tính chất chính của polyme:
+ Thường là chất rắn, không bay hơi
+ Hầu hết Polyme không tan trong nước hoặc các dung môi thông thường
Các phản ứng tổng hợp polyme
Phản ứng trùng hợp là quá trình kết hợp nhiều monome giống nhau để tạo ra polyme Ví dụ, phản ứng của n phân tử CH2=CH-CH=CH2 sẽ tạo thành polyme có cấu trúc (-CH2-CH=CH-CH2-)n.
Phản ứng trùng hợp Butađien1,3
Phản ứng trùng ngưng là quá trình kết hợp nhiều monome để tạo ra polyme và một sản phẩm phụ, thường là nước Ví dụ, phản ứng của n(OH-CH2-CH2-OH) dẫn đến sự hình thành polyme (-CH2-CH2-O-CH2-CH2-)n cùng với n phân tử nước.
Phản ứng đồng trùng hợp Phản ứng trùng hợp là phản ứng kết hợp nhiều monome của hai hay nhiều chất tạo thành polyme
Phân loại theo tính chất:
1 Nhựa nhiệt dẻo : Là loại nhựa khi gia nhiệt thì sẽ hóa dẻo, ví dụ như : PP, PE, PVC, PET, PS
- HDPE (High Density Polyethylen - polyethylene trọng lượng cao) thường được sử dụng để đựng thực phẩm
- LDPE (Low Density Polyethylen - polyethylene trọng lượng thấp) thường được sử dụng để đựng quần áo, giày dép…
2 Nhựa nhiệt rắn : Là loại nhựa khi gia nhiệt sẽ rắn cứng, ví dụ như : PF, MF…
Phân loại theo ứng dụng:
1 Nhựa thông dụng : là loại nhựa được sử dụng số lượng lớn, giá rẻ, dùng nhiều trong những vật dụng thường ngày, như : PP, PE, PVC, PET, ABS…
2 Nhựa kỹ thuật : Là loại nhựa có tính chất cơ lý trội hơn so với các loại nhựa thông dụng, thường dùng trong các mặt hàng công nghiệp, như: PC, PA,
3 Nhựa chuyên dụng : Là các loại nhựa tổng hợp chỉ sử dụng riêng biệt cho từng trường hợp
Phân loại theo cấu tạo hóa học
1 Polyme mạch cacbon: polyme có mạch chính là các phân tử cacbon liên kết với nhau
2 Polyme dị mạch: polyme trong mạch chính ngoài nguyên tố cacbon còn có cac nguyên tố khác như O, N, S Ví dụ như polyoxymetylen, polyeste, polyuretan, polysiloxan…
Chất thải bao gồm tất cả các vật chất mà con người thải bỏ trong quá trình hoạt động kinh tế xã hội, bao gồm sản xuất, sinh hoạt và duy trì sự tồn tại của cộng đồng.
Lượng chất thải phát sinh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm sự phát triển của sản xuất, gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, và sự nâng cao đời sống cũng như trình độ dân trí.
Chất thải rắn là bất kỳ vật liệu nào ở dạng rắn bị loại bỏ ra mà không được tiếp tục sử dụng như ban đầu
Chất thải rắn phát sinh từ các nguồn chính sau:
- Nhà máy xử lý chất thải
Chất thải rắn sinh hoạt bao gồm các loại chất thải phát sinh từ hoạt động của hộ gia đình, chung cư, khu công cộng, công sở, trường học, viện nghiên cứu, khu thương mại, chợ, và từ hoạt động sinh hoạt của con người trong các khu công nghiệp.
Thành phần chất thải rắn ở các đô thị khác nhau thì không giống nhau song đều có hai đặc điểm chung gồm:
- Thành phần rác thải hữu cơ dễ phân hủy, thực phẩm hư hỏng với số lượng trung bình từ 30 – 60%
- Thành phần đất cát, vật liệu xây dựng các chất vô cơ khác với số lượng trung bình từ 20 – 40%
Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số hơn 6,24 triệu người vào năm 2005, tiếp nhận khoảng 6.000 đến 6.500 tấn chất thải rắn đô thị mỗi ngày Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt từ các khu đô thị chiếm từ 3.500 đến 4.500 tấn/ngày, chất thải từ cơ sở y tế - công nghiệp là 800 đến 1.200 tấn/ngày, chất thải xây dựng từ 700 đến 1.200 tấn/ngày, và chất thải công nghiệp từ 700 đến 900 tấn/ngày, bao gồm khoảng 150 đến 200 tấn chất thải nguy hại Dự báo, lượng rác thải bình quân ở thành phố sẽ tăng từ 0,61 kg/người/ngày vào năm 1996 lên hơn 1 kg/người/ngày vào năm 2010, theo số liệu ước tính của Sở Tài Nguyên và Môi Trường thành phố.
Bảng 1 : Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh
STT Thành phần Khối lượng (%)
(Trung tâm nghiên cứu công nghệ và quản lý môi trường CENTEMA – 2007)
Giảm phát sinh chất thải, tiêu dùng một cách tiết kiệm, hợp lý, sử dụng ít hơn thông thường để giảm lượng rác phát sinh
Bạn nên chỉ mua những sản phẩm cần thiết và sử dụng hết chúng Hãy chọn những sản phẩm có bao bì tái chế, tiết kiệm nhiên liệu và tránh bao bì phức tạp Bảo trì và sửa chữa đồ dùng gia đình để kéo dài tuổi thọ của chúng.
Nói không với túi nylon khi mua hàng hoặc sử dụng càng ít càng tốt, mang theo túi hoặc giỏ đựng khi đi mua hàng
Việc tái sử dụng sản phẩm và vật dụng đã qua sử dụng giúp tiết kiệm chi phí và tối ưu hóa khả năng sử dụng của chúng, cho phép sử dụng lại vào các mục đích khác nhau.
Sản phẩm như ly uống nước, chén, đĩa và đũa nên được sử dụng nhiều lần thay vì chỉ một lần Quần áo cũ có thể được cho người khác hoặc gửi đến các tổ chức từ thiện Thay vì sử dụng khăn giấy, hãy chọn khăn giặt được để tiết kiệm Các chai, hũ thủy tinh sau khi rửa sạch có thể trở thành vật dụng hữu ích Giấy gói, thùng và hộp giấy nên được giữ lại để sử dụng cho việc gói quà hoặc chứa đồ Khi thay thế các vật dụng lớn trong nhà như tủ và bàn ghế, hãy bán hoặc cho tặng cho những gia đình cần đến thay vì vứt bỏ.
Tái sử dụng túi nylon là dùng lại các túi nylon đã qua sử dụng nhằm giảm chất thải ra môi trường và giảm chi phí
Là quá trình sản xuất ra sản phẩm dựa trên nguồn nguyên liệu là những sản phẩm đã qua sử dụng
Các sản phẩm có thể tái chế từ rác thải bao gồm giấy viết, báo, tạp chí, bìa carton, thiết bị điện tử, gỗ, sơn, hóa chất, vật liệu xây dựng, lon nhôm, sắt, kim loại, chai nhựa, chai PET, túi nylon và thủy tinh.
Bạn có biết rằng 60% rác thải có thể được tái chế? Trong đó, 50% rác thải gia đình có thể biến thành phân compost, và 100% thuỷ tinh đều có thể tái chế Việc tái chế 1 hộp thiếc tiết kiệm năng lượng đủ để mở tivi trong 3 giờ, trong khi tái chế 1 chai thuỷ tinh giúp tiết kiệm năng lượng cho máy tính trong 25 phút Tái chế 1 chai nhựa có thể tiết kiệm năng lượng cho bóng đèn 60 W trong 3 giờ, và để sản xuất một tấm giấy báo, cần đến 24 cây to.
Tái chế nhựa và chất dẻo là quá trình tạo ra sản phẩm mới từ nguyên liệu nhựa và chất dẻo đã qua sử dụng.
Sơ đồ hệ thống tái chế được tóm tắt trong hình sau:
Hình 1: Sơ đồ hệ thống tái chế rác
Sơ lược về hiện trạng rác thải sinh hoạt – Hoạt động tái chế chất thải rắn ở quận Thủ Đức
3.2.1 Sơ lược về hiện trạng rác thải sinh hoạt và rác thải nilon ở quận Thủ Đức
Theo cuộc phỏng vấn sâu với ông Phạm Văn Danh từ phòng Tài nguyên và Môi trường quận Thủ Đức, chúng tôi đã thu thập được thông tin cụ thể về khối lượng rác thải hàng năm của quận Thủ Đức.
Báng 2: Khối lượng rác thải sinh hoạt của quận Thủ Đức qua các năm
(Nguồn: Đội dịch vụ công cộng quận Thủ Đức)
Việc thống kê chính xác lượng rác thải nylon gặp nhiều khó khăn do khó kiểm soát số lượng nylon bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển hoặc bị vứt bừa bãi Để có số liệu về rác nylon, nhóm chúng tôi đã dựa vào kết quả nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu công nghệ và quản lý môi trường CENTIMA.
Theo số liệu năm 2007, rác nylon chiếm từ 1,5% đến 17% tổng khối lượng rác thải Khối lượng rác thải sinh hoạt tại quận Thủ Đức có xu hướng gia tăng qua các năm Đến năm 2006, tổng khối lượng rác thải sinh hoạt của quận đạt 77.429,41 tấn, trung bình mỗi ngày khoảng 215 tấn, trong đó rác nylon dao động từ 3,225 đến 36,55 tấn mỗi ngày.
3.2.2 Hoạt động tái chế chất thải rắn
Hoạt động tái chế rác tại thành phố đã hình thành và phát triển từ lâu, chủ yếu tập trung ở các quận có lịch sử lâu dài như quận 5, 6, 8, và 11 Hiện nay, toàn thành phố có 1.022 cơ sở liên quan đến tái chế, trong đó có 514 cơ sở thu mua phế liệu, bao gồm 103 cơ sở thu mua nhựa, 202 cơ sở thu mua sản phẩm nhựa khác, 209 cơ sở thu mua giấy và kim loại Ngoài ra, còn có 508 cơ sở tái chế, với 473 cơ sở chuyên tái chế hạt nhựa và 35 cơ sở tái chế phế liệu khác.
Các loại hình tái chế chất thải rắn chủ yếu là:
Thu mua phế liệu các loại (giấy, nhựa, đồng, sắt…)
Bảng 3: Số lượng và sự phân bố các cơ sở thu mua, tái chế nhựa và các phế liệu khác
TMPL các loại (có nhựa)
Tái chế các loại khác
(Nguồn: Kỷ yếu hội thảo – công nghệ tái chế nhựa, Quỹ tái chế chất thải -Sở Tài
Theo bảng số liệu, các cơ sở thu mua và tái chế nhựa chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn thành phố Quận Thủ Đức nổi bật với 65 cơ sở thu mua và tái chế phế liệu, chiếm 6,4% tổng số cơ sở trong thành phố Trong đó, có 49 cơ sở thu mua phế liệu nhựa, tương đương 47,6% tổng số cơ sở thu mua nhựa, và 6 cơ sở tái chế nhựa, chiếm 17,1% tổng số cơ sở tái chế Điều này cho thấy hoạt động thu gom và tái chế nhựa tại quận Thủ Đức đang phát triển mạnh mẽ.
Ta có thể mô tả sơ lược về quy trình tái chế nhựa như sau:
Hình 3 : Sơ đồ quy trình tái chế nhựa từ nylon (Nguồn: Trung tâm Vật Liệu Xây
Hoạt động thu mua và tái chế nhựa, đặc biệt là nylon, đang gặp nhiều khó khăn do các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa chủ yếu là tư nhân với trình độ kỹ thuật và quản lý thấp Phương pháp tái chế hiện tại chủ yếu là cơ học, thiếu công nghệ tái chế hóa học Công nghệ thu gom và phân loại chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến việc sử dụng lao động chân tay và điều kiện làm việc không đảm bảo Nguồn phế liệu không đồng nhất về số lượng và thành phần ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Hơn nữa, nguồn cung nguyên liệu cho các cơ sở tái chế không ổn định, phụ thuộc vào quá trình phát sinh chất thải từ sản xuất và sinh hoạt, trong khi sản phẩm đầu ra phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng ngành.
Ngành tái sản xuất nhựa, nylon đang đối mặt với vấn đề môi trường nghiêm trọng Một khảo sát từ 67 cơ sở tái chế nhựa cho thấy chỉ khoảng 13,4% cơ sở thực hiện nghĩa vụ đóng phí môi trường, trong khi hầu hết đều thải ra lượng chất thải lớn Đặc biệt, 97% cơ sở không có cán bộ chuyên trách về môi trường, dẫn đến việc không đảm bảo an toàn lao động và môi trường Thiếu sự quan tâm và quản lý từ các cơ quan chính quyền địa phương là nguyên nhân chính cho tình trạng này.
Sự phát triển của các cơ sở sản xuất và tái chế rác nhựa, nylon không chỉ tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn giúp giảm thiểu chất thải rắn tại quận Thủ Đức, góp phần làm sạch môi trường Ngoài ra, việc tái chế các chất thải khó phân hủy thành sản phẩm hữu ích như túi nylon là rất quan trọng Để nâng cao hiệu quả tái chế, vào đầu năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố đã thành lập Quỹ tái chế chất thải rắn, phát động phong trào “hạn chế sử dụng túi nylon” và tổ chức ngày hội tái chế nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường Quỹ cũng hỗ trợ vốn và công nghệ cho các cơ sở tái chế, thúc đẩy sự phát triển đồng bộ giữa các ngành và cơ quan trong công tác bảo vệ môi trường.
Đối với người sử dụng túi nylon
3.3.1 Hiểu biết của người sử dụng về túi nylon
Theo khảo sát, 84% trong số 162 người được hỏi nhận thức rõ về tác hại của túi nylon đối với môi trường và sức khỏe Hầu hết mọi người (88,2%) đều biết rằng túi nylon rất khó phân hủy, dẫn đến tắc nghẽn hệ thống sông ngòi, ao hồ, và tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển Điều này ảnh hưởng đến hệ sinh thái đất và sự sinh trưởng của thực vật Ngoài ra, việc đốt túi nylon thải ra khí độc hại, ảnh hưởng đến chất lượng không khí và sức khỏe con người Người dân cũng nhận thấy rằng việc vứt bỏ túi nylon không đúng cách làm mất mỹ quan đô thị, khi chúng xuất hiện khắp nơi từ đường lớn đến hẻm nhỏ.
Bảng 4: Thể hiện sự hiểu biết của người sử dụng về tác hại của túi nylon
Số lượng (người) Các tác hại
60,3 Mất cảnh quan đô thị (a) 82
80,9 Gây tắc nghẽn sông, hồ…(b) 110
74,5 Khi đốt thải ra khí độc (c ) 104
54,4 Gây “ngộp thở”, khó canh tác trong môi 74 trường đất (d)
Trong quá trình khảo sát, nhóm chúng tôi phát hiện rằng một số khu vực vẫn tồn tại tình trạng người dân tự xử lý rác, bao gồm cả rác nylon, bằng cách đốt rác ngoài trời Hơn nữa, rác nylon cũng bị vứt bừa bãi trên các kênh rạch, gây tắc nghẽn Hình ảnh minh họa được chụp tại phường Linh Trung, quận Thủ Đức.
Biểu đồ1: Thể hiện sự hiểu biết của người sử dụng về tác hại của túi nylon
Hình 4 và 5 : Đốt rác và Rác nylon trên kênh
Trong quá trình sử dụng, người dân đã nhận thấy những tác động tiêu cực của túi nylon đối với sức khỏe, đặc biệt là ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm khi chứa đựng thực phẩm nóng Những dấu hiệu như mùi hôi và sự thay đổi trạng thái của túi nylon là những cách nhận biết ban đầu Theo khảo sát, có tới 114 trong số 134 người được hỏi nhận thức rõ về tác hại của túi nylon đối với sức khỏe con người.
Biểu đồ 2: Thể hiện hiểu biết của người sử dụng về tác hại của túi nylon đối với sức khỏe con người
Túi nylon mang lại nhiều ưu điểm như độ bền, dẻo và khả năng chứa đựng sản phẩm ở mọi trạng thái mà không lo bị rơi Tuy nhiên, nó cũng gây ra không ít khó khăn cho người sử dụng, điều này đã được nhận thấy qua quan sát Để hiểu rõ hơn về tình hình sử dụng túi nylon của người dân tại quận Thủ Đức, chúng ta sẽ xem xét các thông tin thu thập được từ bảng hỏi của nhóm nghiên cứu.
3.3.2 Hiện trạng sử dụng túi nylon tại quận Thủ Đức
Túi nylon được ưa chuộng nhờ vào những ưu điểm tiện dụng, với 97,5% người được khảo sát thường xuyên sử dụng Mỗi cá nhân có thói quen và mục đích sử dụng khác nhau, phụ thuộc vào nghề nghiệp và thu nhập Trong số đó, 134 người cho biết họ sử dụng từ 1 đến 5 túi nylon mỗi ngày, trong khi 14 người sử dụng từ 5 đến 10 túi, và một số ít hơn 14 người sử dụng trên 10 túi Điều này cho thấy lượng túi nylon tiêu thụ hàng ngày là rất lớn.
Giỏ dựng đồ bằng nhựa
Tí nilon cỡ lớn Không mang gì cả
Biểu đồ 3: Thể hiện tỷ lệ vật dụng được mang theo khi người sử dụng đi mua đồ
Người dân sử dụng túi nylon cho nhiều mục đích như đựng thực phẩm tươi sống, thực phẩm chín, và các vật dụng sinh hoạt Tuy nhiên, có tới 40,7% người dân vẫn sử dụng túi nylon để đựng thực phẩm chín, nóng, điều này cần được chú ý Khi túi nylon tiếp xúc với nhiệt độ cao, nó có thể sinh ra các chất độc hại Do đó, người tiêu dùng nên hạn chế sử dụng túi nylon để giảm thiểu tác động xấu đến sức khỏe và môi trường.
Bảng 5: Mục đích sử dụng túi nylon của người sử dụng
Số lượng (người) Mục đích sử dụng
72 8 Đựng thực phẩm tươi sống (A) 118
40.7 Đựng thực phẩm chín, nóng (B) 66
75.3 Đựng các vật gia dụng(C) 122
Biểu đồ 4 : Thể hiện mục đích sử dụng túi nylon của người sử dụng
Theo khảo sát, mặc dù đa số người dân nhận thức được tác hại của túi nylon, họ vẫn tiếp tục sử dụng và lạm dụng chúng do thói quen đã ăn sâu Những ảnh hưởng từ nylon tích tụ dần trong cơ thể, và chỉ khi đến mức "quá tải" mới bộc lộ ra ngoài Người dân chưa thấy được tác động trực tiếp đến sức khỏe nên chưa có ý định hạn chế sử dụng Thêm vào đó, giá thành rẻ và sự cung cấp dễ dàng từ người bán (95,1% người khảo sát cho rằng như vậy) khiến người mua vô tư nhận túi nylon Đây là quy luật tự nhiên trong cuộc sống.
Ngày xưa, khi đi chợ, các bà, các chị thường mang theo làn nhựa, thúng, rổ bằng tre, nứa, nhưng hiện nay, tại các thành phố, đặc biệt là quận Thủ Đức, 82,7% người tiêu dùng không mang theo túi đựng Họ phụ thuộc vào việc người bán cung cấp túi, vì trong thời đại công nghiệp hóa, việc mang theo túi trở nên bất tiện Mặc dù ý kiến này hợp lý với nhịp sống nhanh, nhưng để phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, cần thay đổi thói quen sử dụng túi Sử dụng túi lớn có thể tái sử dụng, như túi của siêu thị METRO, là một giải pháp khả thi Thay đổi thói quen cũ không dễ, nhưng nếu mang lại lợi ích lâu dài, chắc chắn sẽ được chấp nhận.
3.3.3 Vấn đề thải bỏ và tái sử dụng túi nylon tại quận
Trong một cuộc khảo sát với 162 người, có 124 người cho biết họ sẽ thải bỏ túi nylon sau khi sử dụng, trong khi chỉ có 38 người (chiếm 23,5%) cho biết họ tái sử dụng túi nylon.
Khi thải bỏ rác nilon, 85,2% hộ được khảo sát cho biết họ bỏ vào thùng rác, trong khi chỉ có 24 hộ thừa nhận vứt rác tiện đâu bỏ đó Tuy nhiên, quan sát thực tế tại quận Thủ Đức cho thấy rác nilon bị vứt bừa bãi ở nhiều nơi như ven đường, dưới lòng đường, vỉa hè, bãi cỏ và bãi đất trống.
Bảng 6: Cách thải bỏ túi nylon của người sử dụng
Số lượng (người) Cách thải bỏ
Bỏ vào thùng rác theo quy định 138
14.8% Bỏ vào thùng rác theo quy định Tiện đâu để đó
Biểu đồ 5: Thể hiện cách thải bỏ túi nylon của người sử dụng
Có thể giải thích nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do:
Hiện tượng người dân vứt rác bừa bãi, bao gồm cả rác sinh hoạt và rác nilon, đang diễn ra phổ biến Họ thường tiện đâu thì bỏ đó, vứt rác ra các bãi đất trống xa nhà mà không đăng ký thu gom rác thải theo quy định của phường hay quận, và con số này là khá đáng kể.
Hình 6 và 7: Rác nylon trên đường gần KTX ĐH Quốc Gia
Hình 8 và 9: Rác nylon tại bến xe buýt làng Đại Học
Nhiều người sau khi sử dụng túi nylon, như túi đựng nước uống hay bánh kẹo, thường vứt rác bừa bãi xuống đường, đặc biệt là từ các xe khách có cửa sổ mở Tình trạng này trở nên phổ biến khi người đi đường không tìm thấy thùng rác công cộng, buộc họ phải để rác lại bên đường vì không thể cầm theo mãi.
Người dân thường để sọt rác lớn hoặc tập trung rác trước nhà để chờ thu gom, nhưng rác nylon nhẹ dễ bị cuốn theo gió, gây ra tình trạng bừa bãi.
- Ngoài ra có thể do trong quá trình thu gom hay vận chuyển rác bị rơi vãi
Hình 10 và 11: Rác nylon bên vệ đường quốc lộ 1A
Rác nylon thường bị trộn lẫn với các loại rác sinh hoạt khác, gây khó khăn trong việc phân loại và xử lý Sự hiện diện của túi nylon làm cho rác hữu cơ khó phân hủy do tạo ra môi trường phân hủy yếm khí.
Hình 12 và 13: Túi Nylon dùng để đựng rác
Người dân thường dựa vào các tiêu chí khi tái sử dụng túi nylon, trong đó ưu tiên hàng đầu là những túi còn sạch với 104 ý kiến ủng hộ Tiêu chí thứ hai là túi còn nguyên vẹn, được 56 ý kiến chọn lựa, trong khi chỉ có 2 ý kiến ưu tiên cho túi có mẫu mã đẹp Không có ai chọn túi dày và lớn làm tiêu chí ưu tiên đầu, vì những túi này thường được sử dụng để đựng rác thải Thứ tự ưu tiên tiếp theo vẫn chủ yếu tập trung vào việc túi phải còn sạch và nguyên vẹn trước khi xem xét các tiêu chí khác.
Đối với những người cung cấp (người bán hàng) túi nylon
Trong thời đại hiện nay, việc nhận túi nylon từ người bán hàng khi mua sắm trở nên rất phổ biến, với 95,1% trong số 162 người được khảo sát cho biết họ thường lấy túi nylon từ người bán thay vì tự mua Thói quen này đã hình thành do sự dễ dàng trong việc tiếp cận túi nylon từ người bán Qua các cuộc phỏng vấn với những người bán hàng như rau, hoa quả và thuốc, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng túi nylon đã trở thành một hiện trạng phổ biến trong cộng đồng.
Một người bán rau và thực phẩm tại chợ gần khu vực sinh viên cho biết, trung bình mỗi 4 đến 5 ngày, chị lại phải mua túi mới với khối lượng khoảng 100kg Giá túi dao động từ 18.500 đến 40.000 đồng/kg, trong đó túi màu trắng trong và nhẵn thường có giá cao hơn so với túi màu và nhám Chị thường chọn túi màu để tiết kiệm chi phí, chỉ mua ít túi trong để đựng bún Các loại túi cỡ nhỏ và vừa, với đáy rộng từ 20cm, được ưa chuộng hơn.
Khách hàng thường mua ít sản phẩm, đặc biệt là các món có kích thước 40 cm, và thường xin thêm túi để bảo quản đồ tránh dây bẩn ra quần áo và sách vở Người bán sẵn sàng cung cấp túi nylon vì giá thành không cao và lo ngại mất khách Mặc dù đã nghe về túi tự hủy sinh học, nhưng do giá quá cao và vốn hàng không lớn, họ không dám đầu tư vào loại túi này.
Các cửa hàng bán hoa quả thường xuyên sử dụng túi nylon để đựng hàng hóa Dù khách hàng mua ít hay nhiều, họ đều cần túi riêng cho từng loại sản phẩm, và nếu mua nhiều loại khác nhau, mỗi loại sẽ được đựng trong túi khác nhau.
Mỗi 4 - 5 ngày, chị lại mua túi để sử dụng, thường khách xin thêm túi để đựng hàng nặng nhằm tránh đứt túi, và chị luôn sẵn lòng cho thêm Đối với người bán thuốc, số lượng túi sử dụng ít hơn so với các mặt hàng khác; một chị cho biết khoảng nửa tháng mới lấy túi một lần với số lượng không nhiều Chị cũng chia sẻ rằng có loại túi giá chỉ 13.000 đồng/kg, tuy trông không khác biệt nhiều so với túi “thật” nhưng có mùi hôi khó chịu Dù vậy, nếu đã mua về, chị vẫn đưa cho khách bình thường và sẵn sàng cho thêm nếu khách yêu cầu, vì giá túi không đáng kể.
Như vậy, cho dù là bán hàng gì đi chăng nữa thì với tâm lý chiều khách
Để giải quyết triệt để vấn nạn túi nilon, cần chú trọng đến người bán hàng, vì họ luôn sẵn lòng cung cấp túi nilon cho khách hàng do sợ mất khách và giá túi không chênh lệch nhiều Việc thay đổi thói quen của người bán sẽ góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu sử dụng túi nilon.