Bảng 1: Chỉ số tài chính của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2017-2021... Chỉ số RTR được tổng hợp và phân tích cụ thể theo
Trang 12021 Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng biến tốc độ tăng trưởng doanh thu (SGR) và vòng quay phải thu khách hàng (RTR) để đo lường chỉ số tài chính của doanh nghiệp công nghệ viễn thông dựa trên phương pháp nghiên cứu hỗn hợp Chúng tôi đã thực hiện một số phân tích
mô tả, so sánh với sự hỗ trợ của phần mềm Stata để đánh giá và đo lường các chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông Kết quả cho thấy có sự chênh lệch lớn về chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp này Sự khác biệt giữa tăng trưởng doanh thu và vòng quay phải thu khách hàng giữa các doanh nghiệp có số năm niêm yết từ 10 năm trở lên và các doanh nghiệp còn lại là không có ý nghĩa thống kê Dựa trên kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị được trình bày nhằm cải thiện các chỉ số tài chính của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông
Từ khóa: Tốc độ tăng trưởng doanh thu (SGR), vòng quay phải thu khách hàng (RTR), doanh nghiệp công nghệ viễn thông, chỉ số tài chính, kế toán
ABSTRACT EVALUATION OF SALE GROWTH RATE AND RECEIVABLE TURNOVER RATIO OF TELECOMMUNICATIONS TECHNOLOGY FIRMS IN VIETNAM
The main purpose of this study is to empirically test the sale growth rate (SGR), receivable turnover ratio (RTR) of telecommunications technology firms listed on the Vietnam stock market The authors collected secondary data from previous studies, data of telecommunications technology firms for the period of 2017-2021 In this study we use variable
of sale growth rate (SGR) and receivable turnover ratio (RTR) to measure the financial ratios
of telecommunications technology firms based on mixed research methods We have performed some descriptive analysis, compared with support by software Stata to evaluate and measure financial ratios of telecommunications technology firms The results show that there is a big difference in financial ratios of these firms The difference of sale growth rate and receivable turnover ratio between enterprises has the number years posted up is 10 years or higher and the remaining enterprises is not statistically significant Based on the research results, some recommendations are presented to improve the financial indicators of telecommunications technology firms
Keywords: Sale Growth Rate (SGR), Receivable turnover ratio (RTR), telecommunications technology firms, financial ratios, accounting
1 GIỚI THIỆU
Tính đến nay, có 22 doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam; đó là sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và sở giao địch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HSX) Các doanh nghiệp này đang đóng góp vai trò quan trọng, tích
Trang 2363
cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Đặc biệt, trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, ngành Công nghệ Viễn thông ngày càng thu hút nguồn nhân lực trẻ đam mê khoa học công nghệ và là một trong những ngành có nhu cầu nguồn nhân lực lớn nhất hiện nay Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng và truyền dữ liệu của con người cũng không ngừng tăng cao Bằng việc sử dụng các kỹ thuật công nghệ tiên tiến theo nhiều phương thức khác nhau, ngành Công nghệ Viễn thông đã làm thay mọi mặt của cuộc sống, hiện thực hóa khả năng liên kết của mỗi người, mỗi quốc gia
Đại dịch Covid19 bùng phát và ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống Để ứng phó với ảnh hưởng của đại dịch Covid19, nhiều doanh nghiệp, tổ chức đều tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy, các gói thầu về công nghệ dự kiến được đẩy mạnh trong những năm tới Mặt khác, thuê bao băng rộng cố định và mạng 5G sẽ là hai yếu tố ngày càng được nhiều doanh nghiệp, cá nhân sử dụng Bên cạnh đó, nhu cầu chuyển đổi số tăng cao của khách hàng trên thế giới và tại Việt Nam sẽ giúp các doanh nghiệp công nghệ viễn thông được hưởng lợi từ xuất khẩu phần mềm Do đó, các doanh nghiệp công nghệ viễn thông phải liên tục phát triển với khả năng tài chính đủ mạnh, và khẳng định được năng lực tài chính vững mạnh
Nghiên cứu này đánh giá và đo lường hai (02) chỉ số tài chính cơ bản bao gồm: tốc độ tăng trưởng doanh thu (SGR) và vòng quay phải thu khách hàng (RTR)
Nghiên cứu này được kết cấu gồm 6 phần: Phần 1 là giới thiệu, phần 2 trình bày cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu, phần 3 là phương pháp nghiên cứu, phần 4 trình bày kết quả nghiên cứu, phần 5 là thảo luận và hàm ý quản trị, và phần 6 trình bày kết luận
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tốc độ tăng trưởng doanh thu
Tốc độ tăng trưởng là một trong những điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu trong suốt thời gian hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tăng trưởng giúp cho doanh nghiệp tích lũy được nguồn vốn và cơ sở vật chất để đầu tư, mở rộng sản xuất, đồng thời tạo dựng được uy tín đối với khách hàng cũng như với các nhà đầu tư Tăng trưởng còn giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nhằm đảm bảo sự tồn tại
và phát triển trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay
Về mặt lý thuyết, tăng trưởng có thể mang lại những lợi nhuận quan trọng cho doanh nghiệp Tuy nhiên, tăng trưởng nhanh chưa chắc đã là một điều tốt vì nó có thể mang lại rủi ro cho doanh nghiệp Khi năng suất và khả năng quản lý không đáp ứng được tốc độ tăng trưởng nhanh sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp cần duy trì một tốc độ tăng trưởng phù hợp với năng suất và năng lực quản lý dựa trên một kế hoạch kinh doanh cụ thể để nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như nâng cao khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu của Zeitun & Tian (2007); Onaolapo & Kajola (2010); Abbasali & Esfandiar (2012) cho thấy, tốc độ tăng trưởng có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đỗ Dương Thanh Ngọc (2011) lại cho rằng tốc
độ tăng trưởng không có tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Tốc độ tăng trưởng được thể hiện bởi “tốc độ tăng trưởng doanh thu” Tốc độ tăng trưởng doanh thu được xác định như sau:
Trang 32.2 Hệ số hệ số vòng quay khoản phải thu
Hệ số hệ số vòng quay khoản phải thu (Receivable turnover ratio) là một cách tính trong
kế toán để kiểm tra mức độ hiệu quả của một doanh nghiệp khi thực hiện việc thu hồi các khoản phải thu và các khoản nợ của khách hàng Dựa vào chỉ số này có thể đưa ra đánh giá khách quanh về mức độ hiệu quả của doanh nghiệp khi cấp tín dụng cho khách hàng đồng thời thể hiện khả năng thu hồi các khoản nợ ngắn hạn Việc tính số vòng quay nợ phải thu có thể được thực hiện theo năm/quý/tháng
Cách tính số hệ số vòng quay khoản phải thu như sau:
Hệ số hệ số vòng quay khoản phải thu = Doanh thu bán chịu ròng/Trung bình khoản phải thu Trong đó
(i), Doanh thu bán chịu ròng = Tổng doanh thu bán chịu trong kỳ - Khoản doanh thu bán chịu mà khách hàng đã thanh toán bằng tiền mặt
(ii) Trung bình khoản phải thu = Trung bình cộng của khoản phải thu đầu kỳ và cuối kỳ Một doanh nghiệp mà có nhiều khoản phải thu cũng giống như việc cho khách hàng vay tiền mà không lấy lại được khoản tiền gốc và tiền lãi Thông thường khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng doanh nghiệp phải kèm theo một điều khoản trong đó yêu cầu phía khách hàng phải thanh toán giá trị hàng hóa, dịch vụ trong vòng từ 30 - 60 ngày
Dựa vào hệ số vòng quay khoản phải thu có thể đưa ra được những đánh giá ban đầu về khả năng thu hồi các khoản nợ của doanh nghiệp đó hay hiệu của việc cấp tín dụng tại doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại Dựa vào hệ số này cũng có thể biết được số lần khoản phải thu được chuyển thành tiền mặt trong doanh nghiệp
Hệ số vòng quay khoản phải thu là một trong những nhân tố ảnh hưởng ngược chiều đến
tỷ suất sinh lời (ROA) của doanh nghiệp (Padachi, 2006; Lazaridis & Tryfonidis, 2006) Hệ số vòng quay khoản phải thu ảnh hưởng ngược chiều đến lợi nhuận doanh nghiệp (Napompech, 2012) Hệ số vòng quay khoản phải thu tác động ngược chiều đến rủi ro tài chính (Võ Minh Long, 2020)
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định tính: Chúng tôi sử dụng kỹ thuật tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu để đánh giá chỉ số tốc độ tăng trưởng doanh thu (SGR) và vòng quay phải thu khách hàng (RTR) của doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Bên cạnh việc thu thập các công trình nghiên cứu trước đây chúng tôi thực hiện việc phỏng vấn các chuyên gia là những giảng viên hàng đầu về tài chính, kế toán; giám đốc tài chính tại các doanh nghiệp công nghệ viễn thông Phương pháp nghiên cứu định tính định hướng và sàng lọc kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước đây; từ đó, nghiên cứu này kế thừa và áp dụng
Phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên dữ liệu bảng, dữ liệu được tổng hợp trong
5 năm, từ năm 2017 đến năm 2021 Căn cứ vào các trang web có uy tín như http://cafef.vn;
https://financevietstock.vn, cophieu68.com.vn và công ty dịch vụ dữ liệu toàn cầu, chúng tôi thu thập dữ liệu các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp như SGR, RTR
Mẫu nghiên cứu là 22 doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng
Trang 4365
khoán Việt Nam (cophieu68.vn), với 2 chỉ tiêu tài chính trong 5 năm; chúng tôi đã thu thập được 110 quan sát Sau đó chúng tôi đánh giá, phân tích với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 13
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1 cho biết chỉ số tài chính khi xét riêng từng doanh nghiệp công nghệ viễn thông trong từng năm, bên cạnh những doanh nghiệp có chỉ số tài chính tốt thì vẫn còn những doanh nghiệp có chỉ số tài chính hạn chế nhất định (nhìn bảng 1)
Bảng 1: Chỉ số tài chính của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2017-2021
Trang 5366
Chỉ số SGR
Bảng 2: Chỉ tiêu SGR bình quân qua các năm của các doanh nghiệp công nghệ
viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bình quân 2017-2021
Nguồn: https://finance.vietstock.vn/ ; http://cafef.vn và các tác giả tổng hợp
Bảng 3: Chỉ tiêu SGR bình quân qua các năm (2017-2021) của từng doanh nghiệp
công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Nguồn: https://finance.vietstock.vn/ ; http://cafef.vn và các tác giả tổng hợp
Bảng 2 và bảng 3 cho thấy, tốc độ tăng trưởng doanh thu của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam biến động mạnh Nhiều doanh nghiệp sụt giảm độ tăng trưởng Quá trình tăng trưởng của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2017-2021 còn bộc lộ nhiều hạn chế đó là: Tốc độ tăng trưởng không ổn định, đầu tư dàn trải, nhiều doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh ngày càng giảm sút
Trong giai đoạn 2017-2021; có 8 doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng doanh thu âm;
03 doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao nhất (TTZ, SRA, SVT)
Chỉ số RTR được tổng hợp và phân tích cụ thể theo bảng 4 và bảng 5 như sau:
Bảng 4: Chỉ tiêu RTR bình quân qua các năm của các doanh nghiệp công nghệ
viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bình quân 2017-2021
Nguồn: https://finance.vietstock.vn/ ; http://cafef.vn, công ty dịch vụ dữ liệu toàn cầu và
các tác giả tổng hợp
Trang 6367
Bảng 5: Chỉ tiêu RTR bình quân qua các năm (2017-2021) của từng doanh nghiệp
công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (đơn vị tính: lần) STT RTR<0 0< RTR <1,0 1,0< RTR <2,0 RTR >2,0
Hệ số vòng quay khoản phải thu cao cũng có thể đưa ra đánh giá ban đầu về hoạt động của doanh nghiệp này chủ yếu dựa trên tiền mặt Doanh nghiệp cũng rất thận trọng trước khi cấp tín dụng cho khách hàng Điều này sẽ giúp doanh nghiệp ngăn ngừa rủi ro nợ khó đòi Tuy nhiên, nó
có thể làm doanh nghiệp mất đi các khách hàng tiềm năng, mang lại lợi nhuận cho mình
Hệ số vòng quay khoản phải thu thấp chứng tỏ khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp đó thấp, chính sách tín dụng không hiệu quả Tình trạng nợ xấu của doanh nghiệp tăng, khả năng kiểm soát dòng tiền khó Khách hàng không có khả năng thanh toán nợ nên khó có thể thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi sau này
Nếu doanh nghiệp có hệ số vòng quay phải trả thấp nên cân nhắc việc sửa đổi chính sách tín dụng để đảm bảo khả năng thu hồi các khoản phải thu và các khoản nợ của khách hàng
Bảng 4 và bảng 5 cho thấy RTR bình quân của ngành công nghệ viễn thông qua các năm cũng có những biến động đáng kể, xu hướng giảm dần Cụ thể: Năm 2017, RTR đạt 3,70 lần; năm 2018, RTR giảm nhẹ còn 3,69 lần, và tiếp tục giảm vào năm 2019 với 3,53 lần, giảm nhẹ xuống 3,31 lần vào năm 2020 và giảm tiếp vào năm 2021 với 2,47 lần
Kết quả Bảng 5 cho thấy, trong số 22 doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam; 11 doanh nghiệp được đánh giá có khả năng thu hồi các khoản phải thu và các khoản nợ hiệu quả
Thống kê mô tả
Tiếp theo, Bảng 6 cho thấy: Có 2 chỉ số tài chính, mỗi chỉ số tài chính được mô tả bằng
110 quan sát (obs); các chỉ tiêu cơ bản như giá trị trung bình (mean), giá trị lớn nhất (max), giá trị nhỏ nhất (min), độ lệch chuẩn (sd) của từng chỉ số đã được xác định và các chỉ số cơ bản này phản ánh đúng thực trạng chỉ số tài chính của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 7Sources: Authors synthesized and Stata Sofware 13
Theo các chuyên gia tài chính và các chuyên gia được phỏng vấn, thời gian niêm yết của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán là một trong những yếu tố để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp nói chung, các chỉ số tài chính của doanh nghiệp nói riêng Thời gian niêm yết để so sánh, đánh giá các chỉ số tài chính của doanh nghiệp thông thường là theo chu
kỳ 5 năm Ngoài ra, ngày 28/7/200, trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
đã chính thức đi vào hoạt động và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của thị trường chứng khoán Việt Nam Do đó, chúng tôi lựa chọn việc chia mẫu theo thời gian niêm yết từ 10 năm trở lên
Tiếp theo, so sánh các chỉ số tài chính của doanh nghiệp có thời gian niêm yết từ 10 năm trở lên và các doanh nghiệp còn lại
Thời gian niêm yết (YPU): Biến giả là 1 nếu doanh nghiệp có có thời gian niêm yết từ 10 năm trở lên và trường hợp còn lại bằng không (0)
Bảng 7 và bảng 8 cho thấy, có 64 lượt doanh nghiệp có số năm đăng ký hoạt động từ 10 năm trở lên
Các doanh nghiệp có số năm đăng ký là 10 năm trở lên có SGR thấp hơn các doanh nghiệp khác Sự khác biệt của SGR giữa các doanh nghiệp có số năm đăng ký từ 10 năm trở lên và các doanh nghiệp còn lại là không có ý nghĩa thống kê (p-value = 0,3674> 0,05, giá trị chênh lệch 0,2514054) (Bryman & Cramer, 2001; Kohler & Kreuter, 2005; Torres-Reyna, 2007; Ditzen, 2018)
Các doanh nghiệp có số năm đăng ký là 10 năm trở lên có RTR cao hơn các doanh nghiệp khác Chênh lệch giữa RTR giữa các doanh nghiệp có số năm niêm yết từ 10 năm trở lên và các doanh nghiệp còn lại là không có ý nghĩa thống kê (p-value = 0,5478> 0,05, giá trị chênh lệch 0,4854416) (Bryman & Cramer, 2001; Kohler & Kreuter, 2005; Torres-Reyna, 2007; Ditzen, 2018)
Trang 8369
Bảng 7: So sánh chỉ số SGR giữa doanh nghiệp có thời gian niêm yết từ 10 năm
trở lên và các doanh nghiệp còn lại
,299177
-5
,80198
82
diff = mean (0) – mean (1) t = 0,9051
Ho: diff = 0 degrees of freedom = 108
Ha: diff < 0 Ha: diff ! = 0 Ha: diff > 0
Pr (T < t) = 0,8163 Pr (|T| > |t|) = 0,3674 Pr (T > t) = 0,1837
Sources: Authors synthesized and Stata Sofware 13
Bảng 8: So sánh chỉ số RTR giữa doanh nghiệp có thời gian niêm yết từ 10 năm
trở lên và các doanh nghiệp còn lại
Ttest RTR by (YPU)
Two-sample t test with equal variances
Group Obs Mean Std Err Std Dev [95% Conf Intervall]
0 46 3,03343 ,5121843 3,473803 2,001838 4,065022
1 64 3,518871 ,5744442 4,595554 2,370936 4,666807 Combined 110 3,315868 ,3959596 4,152859 2,531089 4,100647
diff = mean (0) – mean (1) t = -0,6030
Ho: diff = 0 degrees of freedom = 108
Ha: diff < 0 Ha: diff ! = 0 Ha: diff > 0
Pr (T < t) = 0,2739 Pr (|T| > |t|) = 0,5478 Pr (T > t) = 0,7261
Sources: Authors synthesized and Stata Sofware 13
5 THẢO LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Ngành nghề kinh doanh chính của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm buôn bán sản phẩm điện tử, tin học, thiết bị vật tư, sản xuất phần mềm vi tính, dịch vụ phần mềm và gia công phần mềm, dịch vụ tích hợp hệ thống
và dịch vụ công nghệ thông tin, sản xuất, lắp ráp, phân phối máy tính, dịch vụ hạ tầng viễn thông (Telecom) và một số ngành kinh doanh khác Hầu hết các doanh nghiệp công nghệ viễn thông luôn duy trì một danh mục dàn trải nhiều công ty thành viên Căn cứ vào các chỉ tiêu tài chính quan trọng như: Vốn chủ sở hữu, tài sản, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế, tỷ suất
Trang 9370
lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tốc
độ tăng trưởng doanh thu, vòng quay phải thu khách hàng thì có thể khẳng định năng lực tài chính của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn có những hạn chế, rủi ro tài chính và hiệu quả hoạt động kinh doanh còn thấp so với các doanh nghiệp khác ngành
Đối với ngành công nghệ thông tin và ngành viễn thông, dịch bệnh Covid19 tạo ra thách thức nhưng cũng đem đến những cơ hội Doanh nghiệp ngành này đã nhanh nhạy nắm bắt để vươn lên và phát triển bền vững Dịch Covid19 đã đẩy nhanh làn sóng chuyển đổi số và đầu tư công nghệ tại nhiều doanh nghiệp, tổ chức Đồng thời, tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho các doanh nghiệp công nghệ tiên phong cung cấp các giải pháp, nền tảng, dịch vụ và sản phẩm chuyển đổi số Doanh nghiệp ngành công nghệ thông tin được hưởng lợi nhờ xu hướng chuyển đổi số tại Việt Nam và trên thế giới và cùng đó là sự gia tăng của các gói thầu đầu tư công nghệ
Đó là một trong những lợi thế để các doanh nghiệp này cải thiện các chỉ số tài chính, trong đó bao gồm SGR và RTR
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, mỗi doanh nghiệp luôn phải bảo đảm hoạt động kinh doanh của mình ngày càng phát triển để có thế đứng vững trên thị trường Tăng trưởng là một trong những điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu trong suốt thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh Tăng trưởng giúp doanh nghiệp tích lũy về vốn, đầu tư cơ sở vật chất để tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh đồng thời tạo dựng được uy tín đối với khách hàng cũng như với các nhà cung cấp và các nhà đầu tư Vì vậy, tăng trưởng là cơ hội phát triển, mở rộng hoạt động và nâng cao lợi nhuận Do đó, doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hướng tới việc quản lý tốt tăng trưởng doanh thu bằng cách: (i) Cần tích cực thâm nhập vào đầu tư các dự án công nghệ cao: Nhu cầu chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất kinh doanh hiện nay tại Việt Nam đang rất lớn và Nhà nước đang có nhiều ưu đãi Vì vậy, cần lựa chọn những dự
án tốt về công nghệ, viễn thông để đầu tư (ii) Cần đầu tư nguồn lực nhằm thiết lập kênh thông
tin điều tra nhu cầu của khách hàng và thường xuyên nhận phản hồi từ khách hàng Chính vì vậy, việc đầu tư nguồn lực nhằm hiểu nhu cầu khách hàng và nhận phản hồi từ khách hàng, từ
đó, xác định được những điểm mạnh và điểm yếu để tiến hành những giải pháp cần thiết điều chỉnh nhằm cải thiện những mặt còn yếu là nhân tố rất quan trọng nhằm nâng cao uy tín của doanh nghiệp và sự trung thành của khách hàng với doanh nghiệp
Các chuyên gia được phỏng vấn cho rằng, khi phân tích hệ số vòng quay các khoản phải thu, ngoài việc so sánh giữa các năm, so sánh với các DN cùng ngành, các DN cần xem xét kỹ lưỡng từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn trả và có biện pháp xử lý Ngoài ra, khi phân tích hệ số vòng quay các khoản phải thu, cần đề cập đến: (i) Phương thức bán hàng của doanh nghiệp: Thông thường, ở các doanh nghiệp bán lẻ bán hàng thu tiền ngay thì tỷ trọng khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng thấp, ngược lại ở các doanh nghiệp bán buôn thì tỷ trọng khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn, do chính sách bán hàng trả chậm của các doanh nghiệp này (ii) Chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp, thể hiện qua thời hạn tín dụng và mức tín dụng cho phép đối với từng khách hàng Với những doanh nghiệp mà kỳ hạn tín dụng dài, số dư nợ định mức cho khách hàng cao thì các khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn Do tín dụng bán hàng là phương thức kích thích tiêu thụ nên xem xét, đánh giá tính hợp lý của chỉ tiêu này cần đặt trong mối quan hệ với doanh thu tiêu thụ của doanh
Trang 10371
nghiệp (iii) Khả năng quản lý nợ và khả năng thanh toán của khách hàng Đây cũng là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị chỉ tiêu này Nếu khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn mà nguyên nhân không xuất phát từ hai trường hợp trên thì tỷ trọng này càng cao thể hiện tình hình sử dụng vốn chưa được tốt Doanh nghiệp cần tìm hiểu các nguyên nhân để có biện pháp điều chỉnh kịp thời; như: giảm mức dư nợ định mức cho các khách hàng thanh toán chậm, ngưng cung cấp hàng hóa dịch vụ, bán các khoản nợ cho các công ty quản lý nợ, nhờ pháp luật can thiệp
6 KẾT LUẬN
Nhu cầu về chuyển đổi số, sử dụng công nghệ trong các hoạt động ngày càng mở rộng ở tất cả các tổ chức, doanh nghiệp… chứng tỏ tầm quan trọng của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá, phân tích và đo lường 02 chỉ số tài chính bao gồm SGR và RTR của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch lớn về chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Sự khác biệt giữa tăng trưởng doanh thu (SGR) và vòng quay phải thu khách hàng (RTR) giữa các doanh nghiệp có số năm niêm yết từ 10 năm trở lên và các doanh nghiệp còn lại là không
có ý nghĩa thống kê
Nghiên cứu góp phần vào sự hoàn thiện khung lý thuyết về tài chính doanh nghiệp, kế toán Nghiên cứu này đã phân tích, đánh giá và đo lường 02 chỉ số tài chính bao gồm SGR và RTR của các doanh nghiệp công nghệ viễn thông niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng trên thực tế, có nhiều chỉ tiêu tài chính khác cũng cần được làm rõ Vì vậy, nghiên cứu trong tương lai có thể bổ sung các chỉ tiêu tài chính khác để nghiên cứu và chọn mẫu nghiên cứu lớn hơn, đa dạng hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo tiếng Việt
1 Võ Minh Long (2020) Một số nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính – Nghiên cứu doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
(HSX), Tạp chí khoa học - Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, 03, 77-88
2 Đỗ Dương Thanh Ngọc (2011) Các yếu tố tài chính tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Ngành Xây dựng niêm yếu trên thị trường chứng khoán Việt
Nam Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
3 Websites: cophieu68.vn; cafef.vn; https://vietstock.vn [Vietnamese]…
Tài liệu tham khảo tiếng Anh
4 Abbasali, P., & Esfandiar, M (2012) The Relationship between Capital Structure and Firm Performance Evaluation Measures: Evidence from the Tehran Stock Exchange
International Journal of Business and Commerce, 1(9), 166-181
5 Bryman, A., & Cramer, D (2001) Quantitative data analysis with SPSS release 10 for windows: A guide for social scientists
6 Ditzen (2018) Estimating dynamic common-correlated effects in Stata The Stata Journal, 18(3), 585-617 https://doi.org/10.1177/1536867X1801800306
7 Kohler, U., & Kreuter, F (2005) Data Analysis Using Stata College Station, TX: Stata Press
Trang 11372
8 Lazaridis, I., & Tryfonidis, D (2006) Relationship Between Working Capital
Management and Profitability of Listed Companies in the Athens Stock Exchange Journal of
Financial Management and Analysis, 19(1), 26-35
9 Napompech, K (2012) Effects of Working Capital Management on the Profitability
of Thai Listed Firms International Journal of Trade, Economics and Finance, 3, 227-232
https://doi.org/10.7763/IJTEF.2012.V3.205
10 Onaolapo, A A., & Kajola, S O (2010) Capital structure and firm performance:
Evidence from Nigeria European Journal of Economics, Finance and Administrative Sciences,
25, 70-82
11 Padachi, K (2006) Trends in Working Capital Management and Its Impact on Firms’
Performance: An Analysis of Mauritian Small Manufacturing Firms International Review of
Business Research Papers, 2, 45-58
12 Torres-Reyna, O (2007) Panel Data Analysis Fixed and Random Effects Using Stata (v 4.2) Data & Statistical Services, Priceton University
13 Zeitun, R., & Tian, G G (2007): Capital structure and corporate performance:
evidence from Jordan Australasian Accounting Business and Finance Journal, 1(4), 40-61
-
Thông tin tác giả
- TS Đỗ Đức Tài, Trường Đại học Lao động – Xã hội, 43 Trần Duy Hưng, Hà Nội Email: taiketoanquocte@gmail.com
Điện thoại: 0904509101
Lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu: Kế toán, kiểm toán và phân tích
- PGS, TS Trần Mạnh Dũng, Phó Tổng biên tập Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 207 Giải Phóng, Hà Nội
Email: manhdung@ktpt.edu.vn
Điện thoại: 0947120510
Lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu: Kế toán, kiểm toán và phân tích
- TS Nguyễn Thị Xuân Hồng, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, Số 298 Cầu Diễn,
Trang 12373
PHỐI HỢP HIỆU QUẢ GIỮA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN TRONG BỐI CẢNH MỚI CỦA NỀN KINH TẾ
ThS Đỗ Thị Thủy, ThS Trương Thị Luân
TÓM TẮT
Về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn ở Việt Nam, thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán là hai thị trường bộ phận của thị trường tài chính, có mối liên hệ mật thiết với nhau Khi lãi suất tăng, thị trường chứng khoán sụt giảm, vốn từ thị trường chứng khoán có xu hướng chạy sang thị trường tiền tệ Ngược lại, khi thị trường chứng khoán tăng trưởng tốt, lãi suất trên thị trường tiền tệ thấp, vốn có xu hướng chạy sang thị trường chứng khoán Bài viết về thực tiễn Việt Nam, sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống, phân tích thực trạng mối quan hệ đó trong 2 năm 2020-2021 và 6 tháng đầu năm 2022 ở nước ta, khuyến nghị giải pháp góp phần phát triển bền vững hai thị trường này
Từ khóa: thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, phối hợp hiệu quả, bối cảnh mới
Keywords: money market, stock market, effective coordination, new context
1 MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000 Thị trường tiền tệ Việt Nam chính thức ra đời từ thập niên 90 của thế kỷ trước, khi nước ta thực hiện đổi mới hoạt động ngân hàng Đến nay hai thị trường này đã có bước phát triển vượt bậc theo hướng hội nhập với cộng đồng tài chính khu vực và quốc tế Sự phối hơp các dòng chảy vốn giữa hai thị trường góp phần tạo vốn và cung ứng vốn với lãi suất ngày càng hợp lý cho phát triển kinh
tế - xã hội, nhất là trong bối cảnh mới của kinh tế Việt Nam từ đầu năm 2020 đến nay Tuy nhiên thực tiễn cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách về sự phối hợp điều hành quản lý hai thị trường này cũng như điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài chính Việc phân tích thực trạng phát triển hai thị trường nói trên đưa ra khuyến nghị có liên quan là có ý nghĩa hết sức thiết thực trong giai đoạn hiện nay tại Viêt Nam
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài tham luận của nhóm tác giả nghiên cứu về thực tiễn, không có điều kiện xây dựng cơ
sở lý thuyết Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh dựa trên số liệu và tư
Trang 13374
liệu thứ cấp của một số cơ quan, tổ chức, tiến hành đánh giá, nhận xét và đưa ra khuyến nghị giải pháp
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tổng quan một số góc độ liên quan trực tiếp đến mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán
3.1.1 Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Cho đến giữa năm 2022, đại dịch Covid 19 vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, kéo dài trên thế giới cũng như tại Việt Nam Đặc biệt là tại Trung Quốc vẫn phải giãn cách xã hội ở nhiều thành phố lớn và thực hiện các biện pháp chống dịch nghiêm ngặt, ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên trong năm 2020 - 2021 và đầu năm 2022, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục diễn biến theo hai chiều, phát triển nhanh trong 2 năm 2020 - 2021 và bị điều chỉnh mạnh từ đầu năm 2022 trong bối cảnh mới Tổng số tài khoản các nhà đầu tư mở tại các Công ty chứng khoán (CTCK), số dư tiền gửi bình quân của các nhà đầu tư (NĐT) cá nhân tại các CTCK, dư nợ cho vay của các CTCK đối với các nhà đâu tư, doanh số giao dịch trên thị trường chứng khoán đều tăng lên mức kỷ lục Tình hình đó ảnh hưởng nhất định đến thị trường tiền tệ (TTTT), đến điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, cũng như điều hành chính sách tài chính (CSTC) của Bộ Tài chính
Trong năm đầu tiên diễn ra đại dịch Covid-19, đó là năm 2020, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã diễn ra những kết quả ấn tượng Tính đến hết năm 2020, tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các CTCK vào khoảng 60.000 tỷ đồng, gấp 3 lần so với thời điểm đầu năm và đây là con số kỷ lục trong lịch sử Trong đó chủ yếu là tiền gửi của nhà đầu tư giao dịch chứng khoán theo phương thức CTCK quản lý Đây là lượng tiền đang nằm sẵn trong tài khoản nhà đầu tư và chưa thực hiện giải ngân vào thời điểm 31/12/2020 Tuy nhiên đến năm 2021,
năm thứ hai diễn ra đại dịch, TTCK tiếp tục đạt được những kỷ lục mới (SSC 2019-2022)
Năm 2021 tiếp tục có số lượng tài khoản đầu tư chứng khoán tăng kỷ lục Tính đến hết ngày 31/12/2021, số lượng tài khoản chứng khoán mở mới trong năm 2021 đạt 1.552.634 tài khoản, bằng con số của hơn 4 năm trước cộng lại Con số kỷ lục này đã góp phần nâng tổng số lượng tài khoản chứng khoán tại Việt Nam đến hết năm 2021 đạt trên 4,3 triệu tài khoản, trong khi giai đoạn đầu của TTCK Việt Nam chỉ có 3.000 tài khoản chứng khoán Đặc biệt, giá trị danh mục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã tăng khoảng gấp 6,5 lần trong vòng 10
năm qua và đến hết năm 2021 đạt khoảng 50 tỷ USD (SSC 2019-2022)
Tham khảo diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam trong 4 năm qua ở hình số 1 dưới đây
Trang 14375
Hình số 1: Diễn biến chỉ số VN–Index và thanh khoản trên Thị trường
chứng khoán
Nguồn: Dữ liệ FiinPro, Agriseco Research và SSC 2019 - 2022
Trong năm 2021 dòng tiền đầu tư tiếp tục chảy mạnh mẽ vào thị trường chứng khoán Việt
Nam, số lượng tài khoản NĐT mở mới cũng tiếp tục tăng mạnh Dự báo trong năm 2022 dòng
tiền và số lượng tài khoản chứng khoán mở mới giếp tục tăng Lũy kế 2 tháng đầu năm 2022,
các nhà đầu tư trong nước mở mới tổng cộng hơn 405.000 tài khoản chứng khoán, lớn hơn tổng
lượng tài khoản mở mới trong cả năm 2020 (393.659 tài khoản) (SSC 2019-2022)
Trong 6 tháng đầu năm 2022, các Nhà đầu tư trong nước đã mở mới hơn 1,8 triệu tài
khoản, vượt qua con số kỷ lục 1,5 triệu tài khoản trong cả năm ngoái Lượng tài khoản mở mới
trong 6 tháng đầu năm chiếm đến 1/3 tổng số tài khoản chứng khoán trong hơn 22 năm hoạt
động Đáng chú ý, lượng tài khoản mới lớn chưa từng có trong lịch sử TTCK Việt Nam lại xuất
hiện đúng vào giai đoạn sóng gió nhất của thị trường trong nhiều năm trở lại đây Từ đầu năm
2022 đến hết tháng 6/2022, VN-Index giảm hơn 20% với 70% số cổ phiếu giảm điểm Trong
đó, gần một nửa số cổ phiếu trên 3 sàn chứng khoán có mức giảm lớn hơn VN-Index, 1/4 số cổ
phiếu trên sàn giảm gấp đôi chỉ số này từ đầu năm Tính tới cuối tháng 6/2022, tổng số tài khoản
chứng khoán nhà đầu tư trong nước đạt hơn 5,0 triệu, tương đương khoảng 5,1% dân số Đồng
thời, triển vọng TTCK Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi, ra mắt các sản phẩm
mới, như: T0, phái sinh, bán khống Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán được mở mới
tăng mạnh cho thấy triển vọng và tính hấp dẫn của TTCK Việt Nam, góp phần trong việc duy
trì thanh khoản của thị trường (SSC 2019-2022)
Phân tích về lĩnh vực phát hành Cổ phiếu và Trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), đến hết
năm 2021 tổng giá trị hai loại chứng khoán này đạt 155.588 tỷ đồng, tăng 2,3 lần so với năm
Trang 15376
2020; huy động vốn cho ngân sách nhà nước qua hình thức phát hành Trái phiếu Chính phủ (TPCP) đạt 318.000 tỷ đồng Kỳ hạn huy động phát hành TPCP bình quân dài nhất là 13,92 năm, với mức lãi suất huy động bình quân thấp nhất đạt 2,3% năm, góp phần quan trọng vào tái cơ cấu nợ công của Chính phủ Ngoài ra, huy động vốn qua phát hành TPDN đạt kỷ lục trên
500.000 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay (SSC 2019-2022)
Bên cạnh việc nhà đầu tư mở tài khoản mới, sự bùng nổ thanh khoản trong mỗi phiên giao dịch cũng rất lớn; trong đó, một nguồn vốn đầu tư rất lớn đó là sự hỗ trợ từ dòng tiền margin, tức là các Công ty chứng khoán cho nhà đầu tư, khách hàng đang mở tài khoản của công ty, cầm cố cổ phiếu đang sở hữu để vay tiền đầu tư mua thêm cổ phiếu trên thị trường Đến cuối năm 2021, ước tính dư nợ cho khách hàng vay đầu tư chứng khoán, mà chủ yếu là cho vay margin tại các công ty chứng khoán trên toàn Thị trường chứng khoán Việt Nam đạt khoảng 193.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 8,4 tỷ USD tính theo tỷ giá hiện tại, tăng gần 90% so với thời điểm tháng 6/2021 Đây là con số kỷ lục trên TTCK Việt Nam từ khi thành lập đến nay Đó là số dư nợ không bao gồm cho vay 3 bên, tức là Ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và nhà đầu tư Nếu tính thêm dư nợ từ cho vay 3 bên, con số thực tế có thể lên tới
hơn 200.000 tỷ đồng, ước tính lên tới 250.000 tỷ đồng (SSC 2019-2022)
Như vậy một lượng lớn tiền nằm trên thị trường tiền tệ, thì trong những tháng cuối năm
2020 đã được chuyển mạnh mẽ sang thị trường chứng khoán, thể hiện ở số dư tiền của nhà đầu
tư tại CTCK tăng vọt trong quý cuối năm 2020, nhưng số dư tiền gửi cá nhân tại nhiều NHTM giảm nhẹ hay không tăng như thường lệ nhiều năm trước đó Nguồn tài trợ cho vay của các công ty chứng khoán ngoài vốn chủ sở hữu phần còn lại đến chủ yếu từ nguồn vốn vay, bao gồm: vay các NHTM Việt Nam, phát hành trái phiếu ngắn và dài hạn Đến cuối năm 2021, tính
dư nợ cho khách hàng vay đầu tư chứng khoán, mà chủ yếu là cho vay margin tại các CTCK trên toàn TTCK Việt Nam đạt khoảng 193.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 8,4 tỷ USD (tính theo tỷ giá hiện tại), tăng gần 90% so với thời điểm tháng 6/2021 Đây là con số kỷ lục trên TTCK Việt Nam từ khi thành lập đến nay Đó là số dư nợ không bao gồm cho vay 3 bên, tức
là NHTM, CTCK và nhà đầu tư (NĐT) Nếu tính thêm dư nợ từ cho vay 3 bên, con số thực tế
có thể lên tới hơn 200.000 tỷ đồng, ước tính lên tới 250.000 tỷ đồng (SSC 2019-2022)
Đến cuối tháng 6/2022, dư nợ cho khách hàng vay đầu tư chứng khoán, mà chủ yếu là cho vay margin tại các CTCK trên toàn TTCK Việt Nam đạt khoảng 160.000 tỷ đồng, giảm hơn 30.000 tỷ đồng so với cuối năm 2021 Bên cạnh đó, nhiều khoản vay với mục đích tiêu dùng của khách hàng tại các NHTM và công ty tài chính tiêu dùng, nhưng thực chất là đầu tư chứng khoán Nên con số thực tế vốn vay từ các định chế tài chính: công ty chứng khoán, công
ty tài chính tiêu dùng, NHTM… để đầu tư chứng khoán trên toàn TTCK Việt Nam đến hết tháng 6 năm 2022 là rất lớn Dòng tiền vốn margin từ các NĐT trong nước đã góp phần quan trọng giúp TTCK Việt Nam đứng vững trước áp lực bán ròng mạnh mẽ của khối NĐT nước
ngoài ở các thời điểm cuối tháng 12/2021 và trong các tháng đầu năm 2022 (SSC 2019-2022)
Cho khách hàng vay Margin và ứng trước tiền bán chứng khoán cũng như cho vay 3 bên
là nguồn thu nhập rất quan trọng của mỗi Công ty chứng khoán Bởi vì lãi suất cho vay lên tới
14 -15%/năm, thậm chí là cao hơn và lãi tính theo ngày, trong khi lãi suất đầu vào chỉ khoảng
7 - 9%, thậm chí là chiếm dụng được tiền bán chứng khoán của nhà đầu tư vì nghiệp vụ T+2 Nếu 1 CTCK có dư nợ cho vay bình quân 1.000 tỷ đồng, mỗi năm có thu nhập tối chiểu 50 -
Trang 16377
60 tỷ đồng, nếu dư nợ bình quân 10.000 tỷ đồng thì mỗi năm thu chênh lệch lãi tới 500 - 600 tỷ
đồng nay 40-50 tỷ đồng/tháng (SSC 2019-2022)
3.1.2 Sự phát triển của thị trường tiền tệ
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, tính đến hết tháng 4/2022, tiền gửi của khách hàng tại hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) Tính từ đầu năm 2022, tiền gửi của cư dân đã có 4 tháng tăng liên tiếp, đạt 5,532 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 4, cao hơn 4,37%
so với cuối năm 2021 NHNN (2019-2022)
so với cuối năm 2021 và cao hơn 14% so với quý I năm trước, ứng với khoảng 14,5 triệu tài
khoản được mở mới NHNN (2019-2022)
Tiền gửi cùa dân cư giảm có nhiều nguyên nhân, trong đó có lý do quan trọng là một lượng đáng kể số vốn này trên thị trưởng tiền tệ chảy sang thị trường chứng khoán trong điều kiện lãi suất tiền gửi NHTM có xu hướng giảm, TTCK tăng trưởng nóng, tiếp theo đó là kênh đầu tư bất động sản Phân tích về nguyên nhân tiền gửi doanh nghiệp có tốc độ tăng cao hơn tiền gửi dân cư có thể thấy, trong điều kiện đại dịch Covid-19 kéo dài và diễn biến phức tạp, phải thực hiện dãn cách xã hội, nhiều hoạt động bị đứt gẫy chuỗi cung ứng, nhiều lĩnh vực dịch
vụ bị ngưng trệ Do đó nhiều doanh nghiệp không triển khai được dự án hay triển khai dự án
chậm hơn như dự kiến HOSE (2015-2021)
Phân tích chi tiết hơn nguyên nhân tiền gửi dân cư tại các TCTD tăng quá thấp, có thể thấy, thu nhập của nhiều người dân, hộ gia đình bị ảnh hưởng, không có tiền gửi NHTM, không
có thu nhập từ tiền lương và tiền công, hoạt động sản xuất kinh doanh và làm dịch vụ, nên thậm chí nhiều người phải rút tiền gửi tiết kiệm ra để chi tiêu Một loạt hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân bị ngưng trệ, không có doanh thu để gửi NHTM, thậm
Trang 17378
chí phải rút ra trả nợ, thanh toán tiền thuê nhà, chi trả tiền công Một nguyên nhân khác, đó là
do phải thực hiện giãn cách xã hội cũng khiến khách hàng khó đến ngân hàng để gửi tiết kiệm Một nguyên nhân khá quan trọng khác, đó là nhiều người sử dụng tiền gửi để đầu tư chứng khoán Một khối lượng đáng kể tiền gửi dân cư tại NHTM chạy sang kênh đầu tư chứng khoán
và đầu tư bất động sản
Theo nguồn số liệu từ Trung tâm lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) thuộc UBCK
NN, tính chung năm 2021, nhà đầu tư trong nước mở mới hơn 1,5 triệu tài khoản chứng khoán, lớn gấp rưỡi tổng số tài khoản mở mới trong 4 năm 2017; 2018; 2019 và 2020 cộng lại (tổng 4 năm đạt 1,04 triệu tài khoản) Tổng dư nợ cho nhà đầu tư cá nhân vay mua chứng khoán đến hết năm 2021 đạt 193.000 tỷ đồng, tăng gấp hơn 2 lần so với cuối năm 2020 Một lượng lớn
tiền của dân cư chạy sang Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản (SSC 2019-2022)
Phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán Nhìn tổng thể trong năm 2021, số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán tăng đột biến
đã góp phần đẩy thanh khoản thị trường tăng mạnh Phiên giao dịch gần đây nhất, ngày 19/11/2021, lần đầu tiên nhà đầu tư chứng kiến tổng giá trị giao dịch trên toàn thị trường lên hơn 56.195 tỷ đồng, xấp xỉ 2,5 tỷ USD Trong 2 tháng 10 và 11/2021, doanh số giao dịch trong mỗi phiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục phá kỷ lục, bình quân cao gấp 3 lần
các tháng tương ứng của năm 2019, bình quân tháng 11/2021 đạt trên 40.000 tỷ đồng/ngày (SSI
2019-2022)
Diễn biến rất đáng chú ý của TTCK Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2022 đó là trong khi thanh khoản thị trường liên tục sụt giảm, trái ngược với xu hướng tăng của số tài khoản mở mới Liên tục giảm từ đỉnh vào cuối năm 2021, giá trị khớp lệnh bình quân trên TTCK trong tháng 6/2022 đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 2/2021
Hình số 3: Tương quan diễn biến giữa thanh khoản và tài khoản mở mới
tại Công ty chứng khoán
Nguồn: SSI 2019-2022
Như vậy có thể thấy, thanh khoản của TTCK Việt Nam diễn ra ngược chiều với số lượng tài khoản của các Nhà đầu tư cá nhân mở mới trong 6 tháng đầu năm 2022 Có nhiều yếu tố có
Trang 18379
thể lý giải cho sự sụt giảm thanh khoản trên thị trường như xu hướng tăng lãi suất, ảnh hưởng
từ thị trường trái phiếu, hoạt động siết margin,… Bên cạnh đó, rất nhiều nhà đầu tư đang lỗ sâu, chấp nhận "gồng" đến khi "về bờ" do không chịu sức ép buộc phải bán "Đóng bảng đi làm việc" trở thành câu khẩu hiệu khá quen thuộc trên các diễn đàn chứng khoán, giao dịch thị trường trở nên ảm đạm cũng không quá bất ngờ Trước đó, tính từ cuối tháng 11/2021 trở về trước, số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán tăng đột biến đã góp phần đẩy thanh khoản thị trường tăng mạnh Phiên giao dịch ngày 19/11/2021, lần đầu tiên nhà đầu tư chứng kiến tổng giá trị giao dịch trên toàn thị trường lên hơn 56.195 tỷ đồng, xấp xỉ 2,5 tỷ USD Trong 2 tháng 10 và 11/2021, doanh số giao dịch trong mỗi phiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục phá kỷ lục, bình quân cao gấp 3 lần các tháng tương ứng của năm 2019, bình
quân tháng 11/2021 đạt trên 40.000 tỷ đồng/ngày (SSI 2019-2022)
3.2 Một số nhận xét và đánh giá
Các doanh nghiệp cố phần số tiền mặt lớn gửi tại các NHTM cũng là các công ty cổ phần
và Tổng công ty cổ phần có mức vốn hóa lớn, có giá cổ phiếu cao và nhiều thời điểm tăng cao trên thị trường chứng khoán Việt Nam 2 năm gần đây
Bộ Tài chính, NHNN chủ động và kịp thời trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản quan trọng phát triển TTCK, sửa đổi, bổ sung quy định về phát hành TPDN; NHNN ban hành Thông tư siết chặt quy định NHTM đầu tư vốn vào TPDN trong điều kiện của đại dịch covid 19 NHNN cũng triển khai các biện pháp phát triển các nghiệp vụ thị trường tiền
tệ nhằm nâng cao hiệu lực điều hành CSTT của NHNN, các công cụ phát triển TTCK trong điều hành chính sách tài khóa của Bộ Tài chính
Hệ sinh thái phát triển các nghiệp vụ thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán; điều hành CSTT và CSTK, thanh toán điện tử, giao dịch điện tử, đặt lệnh mua bán chứng khoán điện tử,…
đã được hình thành với sự kết nối giữa các CTCK, các NHTM và khách hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán; đồng thời hệ sinh thái
đó còn tích hợp với các ngành, lĩnh vực khác cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch thanh toán trực tuyến, tạo sự liên thông vốn giữa TTTT và TTCK
Sự phát triển nóng của TTCK trong quý 4/2020, nhiều thời điểm trong năm 2021, thu hút lượng lớn tiền từ TTTT sang TTCK gây ra rủi ro cho cả TTTT và TTCK Không loại trừ nhiều khoản cho vay của NHTM được khách hàng đầu tư chứng khoán, gây tiềm ẩn rủi ro nếu khách hàng thua lỗ trong đầu tư chứng khoán Một số CTCK tăng quy mô vay vốn NHTM để cho khách hàng vay đầu tư chứng khoán Lãi suất cho vay của các NHTM Việt Nam cao hơn mặt bằng lãi suất cho vay của các nước trong khu vực có trình độ phát triển tương đồng và lãi suất cho vay các CTCK cũng vào loại cao nhất Đây cũng là một sự tiềm ẩn rủi ro và một nguyên nhân làm cho lãi suất cho vay chung trong nền kinh tế khó giảm
3.3 Kết luận và khuyến nghị
Từ những nội dung phân tích và đánh giá nói trên, để góp phần phát triển bền vững hai thị trường như đã đề cập, bài viết xin có một số khuyến nghị sau:
Một là, Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ trong điều hành
chính sách tiền tệ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, nhằm phát triển ổn định, bền vững cả TTTT và TTCK CSTT là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính quốc gia Do vậy, CSTT và các chính sách vĩ mô khác có quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau cùng hướng tới thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô cho phát triển bền vững của thị trường tài
Trang 19380
chính Các DN đa dạng hóa kênh huy động vốn trên TTCK, không lệ luộc vào kênh tín dụng NHTM Do vậy, để nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách vĩ mô (trong đó có CSTT), càng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa CSTT với các chính sách vĩ mô khác trong nâng cao chất lượng đầu tư công, thu hút cổ đông chiến lược vào các DN đã cổ phần hóa, thu hút vốn đầu tư gián tiếp vào TTCK, thúc đẩy niêm yết cổ phiếu của các NHTM cổ phần; tăng vốn chủ sở hữu cho 3 NHTM NN đã cổ phần hóa bằng hình thức chia cổ tức hàng năm cho đến năm 2025; đồng thời thúc đẩy tiến độ cổ phần hóa Agribank trong năm 2022
Hai là, Bộ Tài chính và NHNN cần phải kết hợp chặt chẽ trong việc điều hành CSTT và
chính sách tài khóa Đảm bảo sự phối hợp tích cực, đồng bộ từ phía các Bộ, Ngành trong hoạt động của TTTT và TTCK
Ba là, các Công ty tài chính, Công ty chứng khoán và các định chế tài chính khác cũng
là chủ thể có vai trò quan trọng tham gia trên thị trường tiền tệ, trên TTCK cần có biện pháp cụ thể nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho chính mình, chủ động ứng phó trong mọi tình huống biến động bất thường của TTCK Việt Nam Xét lâu dài, sự phát triển về số lượng và chất lượng của các Công ty tài chính, CTCK, các định chế tài chính khác tham gia trên thị trường tiền tệ, trên TTCK là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh của các thành viên tham gia, thúc đẩy sự phát triển của TTTT, của TTCK Do vậy, ngoài việc thu hút các CTTC, Công ty chứng khoán, các định chế tài chính khác tham gia trên thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán thì cũng chính các công ty, cũng như các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cần đưa ra các biện pháp hiệu quả nâng cao uy tín và đảm bảo năng lực tài chính lành mạnh của nhóm chủ thể này
Giải pháp cụ thể xin được đề xuất đối với các CTTC, công ty chứng khoán và các định chế tài chính khác cũng giống như giải pháp đề ra đối với các NHTM, đó là nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, khả năng phân tích dự báo thị trường, áp dụng các công cụ và phương thức quản lý hiện đại; tập trung giải quyết các khoản nợ xấu; tăng cường hơn nữa tiềm lực tài chính, vốn chủ sở hữu; tăng cường đưa ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý và phát triển sản phẩm dịch vụ chứng khoán; thực hiện tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực có trình độ, năng lực kinh doanh và am hiểu hoạt động của thị trường tiền tệ, của thị trường chứng khoán
Bốn là, để đảm bảo hơn nữa tính an toàn trong hoạt động của các công ty chứng khoán,
CTTC và các định chế tài chính khác Bộ Tài chính, Ủy ban chứng khoán Nhà nước và NHNN cần tăng cường mạnh mẽ công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể này, nhất là các hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán
4 KẾT LUẬN
Chính phủ cần có sự chỉ đạo chặt chẽ, cụ thể và thường xuyên; NHNN và Bộ Tài chính cần chủ động và phối hợp chặt chẽ điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài chính Các TCTD và các CTTC, CTCK cần không ngừng đổi mới, tăng cường quản trị rủi ro Tất cả các chuyển động đó sẽ góp phần phát triển bền vững thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 CTCK (2018-2021) Báo cáo tài chính các năm 2019 - 2021 của các Công ty chứng
khoán truy cập từ ngày 1/3/2022 đến ngày 10/4/2022, Truy cập trên trang web của các Công ty
chứng khoán được lựa chọn
2 HNX (2019-2021) Số liệu về giao dịch thị trường hàng ngày tại Sở Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội, truy cập từ ngày 1/3/2022 đến ngày 10/4/2022, www.hnx.vn
Trang 20381
3 HoSE (2015-2021) Số liệu về giao dịch thị trường hàng ngày tại Sở Giao dịch Chứng
khoán TP HCM; truy cập tại: www.hose.vn; thời gian truy cập từ ngày 11/7/2022 đến ngày 14/7/2022
4 NHNN (2019-2022) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Một số thông tin trong các báo
cáo chuyên đề ban hành tháng 11/2020, tháng 1/2021 và tháng 1/2022
5 SSC (2019-2022), thông tin thị trường tài chính, các tháng trong các năm 2019-2021
và 3 tháng đầu năm 2022, truy cập từ ngày 11/7/2022 đến ngày 14/7/2022, www.ssc.gov.vn
6 SSI (2019-2022): Báo cáo phân tích thị trường tài chính hàng tháng, các tháng trong
các năm 2019 – 2021 và đến tháng 3/2022, Công ty CP chứng khoán Sài Gòn - file mềm gửi
qua thư điện tử cho các Nhà đầu tư mở tài khoản tại SSI, Hà Nội
-
Thông tin tác giả:
- Th.s Đỗ Thị Thủy, Trung tâm tuyển sinh và truyền thông – Trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật Hưng Yên đơn vị, Dân Tiến - Khoái Châu - Hưng Yên
Email: dothuydh@gmail.com
Số điện thoại: 0975015325
Lĩnh vực nghiên cứu: Kế toán, Quản Trị Kinh doanh
- Th.S Trương Thị Luân, Khoa Kinh tế - Trường Đại học Tây Bắc, Phường Chiềng Ngần – thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La
Số điện thoại: 0977727994
Lĩnh vực nghiên cứu: Tài chính, Ngân hàng
Trang 21382
ĐIỀU HÀNH LINH HOẠT CÔNG CỤ DỰ TRỮ BẮT BUỘC HỖ TRỢ GIẢM LÃI SUẤT VAY VỐN GIÚP DOANH NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI BỐI CẢNH MỚI CỦA
NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
TS Đoàn Thanh Hải
TÓM TẮT
Trong bối cảnh mới của nền kinh tế hiện nay, việc hỗ trợ doanh nghiệp nói riêng và khách hàng tín dụng của ngân hàng thương mại nói chung giảm lãi suất vay vốn là yêu cầu có tính cấp bách Bởi bì, lãi suất cho vay vốn của Ngân hàng thương mại Việt Nam đối với khách hàng còn cao là một thực tế Mức lãi suất này cao so với nhiều quốc gia có trình độ phát triển kinh tế tương đương Việt Nam, cao so với những khó khăn của khách hàng trong điều kiện bị ảnh hưởng bởi Covid-19 Chính phủ nhiều lần chỉ đạo Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần có biện pháp giảm lãi suất cho vay trong nền kinh tế, nhưng việc giảm lãi suất chỉ thấy trên báo cáo còn thực tế chưa giảm đáng kể Bài viết phân tích thực tế quá trình sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian gần đây, đưa ra một số đánh giá và khuyến nghị nhằm góp phần giảm lãi suất cho vay trong nền kinh tế
Từ khóa: Giảm lãi suất, Ngân hàng Nhà nước, Dự trữ bắt buộc, Hỗ trợ, Doanh nghiệp
ABSTRACT FLEXIBLE MANAGEMENT OF REQUIRED RESERVATION TOOLS
SUPPORTING LOAN INTEREST RATES TO HELP ENTERPRISES TO APPLY TO
THE NEW CONTEXT OF THE ECONOMY IN VIETNAM
In the new context of the current economy, it is urgent to support businesses in particular and credit customers of commercial banks in general to reduce loan interest rates Because of that, the high lending interest rate of Vietnam Commercial Bank to customers is a fact This interest rate is high compared to many countries with a level of economic development similar
to Vietnam, high compared to the difficulties of customers in the context of being affected by Covid-19 The Government has repeatedly directed the State Bank of Vietnam to take measures
to reduce lending interest rates in the economy, but the interest rate reduction seen only in the report has not actually decreased significantly The article analyzes the actual process of using the compulsory reserve tool at the State Bank of Vietnam recently, gives some assessments and recommendations to contribute to reducing lending interest rates in the economy
Keywords: Interest rate reduction, State Bank, Reserve requirement, Support, Enterprise
Trong một số năm gần đây, do tác động bất thường của kinh tế thế giới, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam chưa có hành động linh hoạt điều chỉnh giảm tỷ lệ DTBB Bài viết tập
Trang 22383
trung phân tích và đánh giá thực trạng điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn (từ năm 2011 đến nay) và đề xuất một số giải pháp nhằm điều hành linh hoạt công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết không có điều kiện xây dựng cơ sở lý luận Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích mô tả, so sánh dựa trên các nguồn số liệu thứ cấp và tư liệu thứ cấp của các cơ
quan, tổ chức khác nhau, đưa ra đánh giá, nhận xét và khuyến nghị hàm ý chính sách
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ năm 2011 đến nay
Theo Quyết định 750/QĐ-NHNN, ban hành tháng 4/2011, NHNN giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các TCTD, tiền gửi VND không kỳ hạn và dưới 12 tháng từ 4% xuống 3%, kỳ hạn từ
12 tháng trở lên từ 2% xuống 1% Các mức quy định trên áp dụng cho đến nay, ngoại trừ lần điều chỉnh riêng đối với Agribank trong năm 2018 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại
tệ hiện áp các tỷ lệ cao hơn, tương ứng phân loại trên là 8% và 6% (riêng Agribank được áp
thấp hơn 1% các loại) Ngân hàng Nhà nước (2011-2021)
Trong hơn những năm gần đây mức lãi suất tiền gửi DTBB được NHNN giữ ổn định ở mức thấp, phù hợp với mục tiêu điều hành CSTT trong giai đoạn này và thực trạng huy động tiền gửi của các NHTM Đó là việc thu hút tiền gửi trên thị trường khó khăn, lãi suất huy động vốn có xu hướng tăng cao
Trong nhiều năm, NHNN giữ ổn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc Gần đây nhất, ngày 29/5/2018, NHNN đã có Quyết định số 1158/2018/QĐ - NHNN điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB)
Kỳ hạn từ
12 tháng trở lên
Tiền gửi của
tổ chức tín dụng ở nước ngoài
Tiền gửi khác không kỳ hạn
và có kỳ hạn dưới 12 tháng
Tiền gửi khác có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên
1 Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức
2 Ngân hàng chính sách Theo quy
định của Chính phủ
Theo quy định của Chính phủ
Theo quy định của Chính phủ
Theo quy định của Chính phủ
Theo quy định của Chính phủ
3 Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam,
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước (2018), Quyết định số 1158/QĐ-NHNN
Quyết định số: 1158/2018/QĐ-NHNN có một số thay đổi lớn như: giảm tỷ lệ DTBB đối với các loại tiền gửi bằng đồng Việt Nam và tiền gửi bằng ngoại tệ của quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), tổ chức tài chính vi mô về 0%; nâng tỷ lệ DTBB của Agribank và Ngân hàng Hợp
Trang 23384
tác xã đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3%/tổng
số dư tiền gửi phải tính DTBB (mức cũ là 1%)…Tỷ lệ DTBB của NH Chính sách xã hội do Chính phủ quy định Đối với các loại hình TCTD khác không thay đổi Quyết định này có hiệu
lực thi hành kể từ kỳ duy trì DTBB tháng 6/2018 Ngân hàng Nhà nước (2011-2021)
Có thể thấy QĐ1158 chỉ hạ tỷ lệ DTBB của QTDND và tổ chức tài chính vi mô, những đơn vị có thị phần nhỏ trên thị trường nên sẽ không tác động lớn đến vốn tín dụng cho nền kinh
tế nhưng lại gián tiếp hỗ trợ thêm cho nhóm người yếu thế, đối tượng khách hàng chính của QTDND và các tổ chức tài chính vi mô Còn việc nâng tỷ lệ DTBB tiền gửi không kỳ hạn và
có kỳ hạn dưới 12 tháng của NH Hợp tác xã và Agribank đã phần nào được "cân bằng" bởi Thông tư 14 Bởi Agribank giữ vai trò chủ lực cung ứng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn
luôn chiếm trên 70% tổng vốn dư nợ của NHTM này Ngân hàng Nhà nước (2020-2022)
Cùng với Quyết định 1158, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 14/2018/NHNN hướng dẫn thực hiện các biện pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ các TCTD trong cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn thay thế Thông tư 20/2010/TT-NHNN Theo văn bản này là NHNN tiếp tục có những chính sách hỗ trợ rất lớn cho các TCTD trong cho vay tam nông thông qua tái cấp vốn và qua công cụ DTBB TCTD có tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực tam nông bình quân từ 70% trở lên sẽ được áp dụng tỷ lệ DTBB theo đề nghị của TCTD (nhưng không thấp hơn 1/20 tỷ lệ DTBB tương ứng với từng loại tiền gửi do NHNN quy định) TCTD có tỷ trọng tín dụng cho tam nông bình quân đạt từ 40% đến dưới 70% áp dụng
tỷ lệ DTBB theo đề nghị của TCTD nhưng không thấp hơn 1/5 tỷ lệ DTBB tương ứng với từng loại tiền gửi do NHNN quy định Các tỷ lệ này không thay đổi so với quy định tại Thông tư 20 trước đây, nhưng có lộ trình và công thức tính rất cụ thể cho từng giai đoạn để đảm bảo tính
chính xác và minh bạch Ngân hàng Nhà nước (2020-2022)
Cuối tháng 11/2019, NHNN quyết định giảm lãi suất dự trữ bắt buộc, cùng với đợt giảm lãi suất huy động cho vay trước đó cho thấy, NHNN điều hành nới lỏng chính sách tiền tệ có mức
độ nhằm mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng, trong khi lạm phát đang được kiềm chế Theo đó, từ ngày 1/12/2019, lãi suất đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND của các TCTD giảm về mức 0,8%/ năm và tiếp tục không trả lãi đối với khoản tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng VND Điều này có ảnh hưởng, nhưng không đáng kể tới lợi nhuận của các NHTM bởi vì tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng hiện nay ở mức thấp, chỉ 3% Với tiền gửi ngoại tệ, NHNN tiếp tục không tính lãi đối với khoản dự trữ bắt buộc, còn lãi suất tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc là 0,05%/năm Trong thời gian gần đây: năm 2020 – 2021 và những tháng đầu năm 2022 NHNN giữ ổn định tỷ lệ dự
trữ bắt buộc Ngân hàng Nhà nước (2020-2022)
3.2 Đánh giá thực trạng điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộc
3.2.1 Ưu điểm
Thứ nhất, về cơ bản và nhìn chung NHNN tiếp tục phối hợp đồng bộ điều hành tỷ lệ dự
trữ bắt buộc các nghiệp vụ khác của thị trường tiền tệ, các công cụ điều hành chính sách tiền tệ theo hướng khuyến khích thu hút tiền gửi nội tệ, giữ khoảng cách chênh lệch rất lớn, từ 5-8%/năm giữa lãi suất giữa tiền gửi ngoại tệ và nội tệ của khách hàng tại NHTM, kiên định mục tiêu chống đô la hóa nền kinh tế
NHNN kiên định giữ tiền gửi DTBB bằng ngoại tệ cao hơn tiền gửi nội tệ ở tất cả các kỳ hạn Việc điều hành đó nhằm làm giảm tình trạng đô la hóa, khuyến khích người dân lựa chọn nội tệ gửi NHTM và hạn chế tình trạng doanh nghiệp găm giữ ngoại tệ trên tài khoản, khuyến
Trang 24385
khích bán cho NHTM Tình hình đó tạo nên cung cầu ngoại tệ cải thiện trên thị trường, không có tình trạng đầu cơ ngoại tệ, không có các cơn sốt tỷ giá Tất nhiên bản thân tỷ giá ổn định trong thời gian dài trong các năm trước đó cũng làm cho cho người dân và doanh nghiệp nhận thấy nếu găm giữ ngoại tệ hay cất trữ ngoại tệ bị thua thiệt, nên lựa chọn nội tệ Bản thân các NHTM cũng không đầu cơ, kỳ vọng vào tỷ giá tăng trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của mình
Về lý thuyết, việc thay đổi tỷ lệ DTBB sẽ tác động đến hệ số nhân tiền, lượng tiền cung ứng và lãi suất trên thị trường Nếu tỷ lệ DTBB tăng, có nghĩa lượng tiền gửi của TCTD tại NHNN tăng, làm giảm khả năng cung tín dụng; giảm cả khả năng cung ứng vốn của các TCTD trên thị trường liên ngân hàng; và sau một thời gian sẽ khiến lãi suất tăng Việc giảm tỷ lệ DTBB
sẽ có những tác động ngược lại Công cụ DTBB không chỉ giúp cơ quan quản lý trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng mà còn tạo nên sân chơi bình đẳng hơn cho các TCTD, cũng như tạo điều kiện để NHNN nắn dòng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ DTBB cũng là công cụ mạnh của cơ quan điều hành nên việc điều chỉnh được tính toán, cân nhắc rất kỹ
Thứ hai, công cụ tỷ lệ DTBB khuyến khích mở rộng tín dụng nông nghiệp, nông thôn,
hoạt động của tổ chức tài chính vi mô Trong các năm qua, ngành Ngân hàng đã triển khai mạnh
mẽ các chương trình tín dụng ưu đãi đối với một số ngành, lĩnh vực đặc thù, lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo
đó, tỷ lệ DTBB của Agribank, của TCTD hoạt động nông nghiệp – nông thôn thấp hơn Theo
đó, khuyến khích tăng trưởng tín dụng của khu vực tam nông nói riêng và các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ luôn cao hơn nhiều tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế
3.2.2 Hạn chế
Trong nhiều năm gần đây lãi suất tiền gửi DTBB được NHNN giữ ổn định ở mức thấp, được NHNN giải thích là phù hợp với mục tiêu điều hành CSTT trong giai đoạn này Tuy nhiên, thực trạng huy động tiền gửi của các NHTM các năm gần đây khó khăn, lãi suất huy động vốn trung dài hạn của các NHTM CP tư nhân hầu như không Việc thu hút tiền gửi trên thị trường khó khăn, nên các NHTM không thể giảm lãi suất cho vay
Bên cạnh đó, từ năm 2013 đến nay NHNN chỉ thực hiện 2 lần điều chỉnh tỷ lệ DTBB với mức độ rất nhỏ, không tác động đến giảm lãi suất cho vay trong nền kinh tế Việc ổn định như vậy là thiếu linh hoạt trong phối hợp thực hiện mục tiêu giảm lãi suất cho vay trong nền kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ
Về điều tiết vốn khả dụng của các TCTD, việc điều chỉnh tỷ lệ DTBB thường được thực hiện để kiểm soát lạm phát và tăng trưởng tín dụng của hệ thống NH Tuy nhiên, khi điều chỉnh
tỷ lệ DTBB cần đánh giá cả tác động của công cụ này đến việc đảm bảo khả năng thanh toán của các TCTD Trong trường hợp tín dụng của hệ thống NH tăng trưởng cao, để kiểm soát tốc
Trang 25386
độ tăng trưởng tín dụng thì việc tăng tỷ lệ DTBB là cần thiết Nhưng do dư nợ tín dụng đã tăng cao nên thường kèm theo các TCTD mất cân đối vốn, nếu tiếp tục tăng tỷ lệ DTBB sẽ làm cho tình trạng mất cân đối vốn càng khó khăn, dễ dẫn đến thiếu hụt khả năng thanh khoản, làm lãi suất thị trường tăng cao Đây là trường hợp mà Việt Nam đã gặp phải trong tháng 2/2008
Vì vậy, để tránh những trường hợp này, NHNN cần dự báo trước vốn khả dụng của các NHTM khi điều chỉnh tỷ lệ DTBB, xác định thời điểm điều chỉnh tỷ lệ DTBB và thông báo trước cho các TCTD để chủ động dự phòng nguồn vốn cho DTBB và đảm bảo khả năng thanh toán Trường hợp TCTD thiếu hụt vốn khả dụng cần điều chỉnh tăng tỷ lệ DTBB ở mức thấp, điều chỉnh dần thành nhiều đợt
Ngoài việc dự báo vốn khả dụng của hệ thống NHTM, cần xác định khả năng ảnh hưởng đến hệ số nhân tiền tệ của các NHTM Nếu việc giảm tỷ lệ DTBB trong trường hợp các TCTD
đã dư thừa vốn, thì việc tăng tỷ lệ DTBB chỉ có tác động rất hạn chế đến hệ số nhân tiền tệ, đến tốc độ tăng trưởng tín dụng Vì vậy, việc điều chỉnh tỷ lệ DTBB cần đánh giá cụ thể điều kiện của thị trường để việc điều chỉnh nghiệp vụ này đạt hiệu quả cao
Bên cạnh đó, cần quan tâm đánh giá tác động của DTBB đối với lãi suất thị trường Mặc
dù DTBB được tính bình quân trong tháng đã hỗ trợ các TCTD trong quản lý vốn và đảm bảo DTBB, nhưng trong một số giai đoạn, việc quy định tỷ lệ DTBB cao, nhất là trong giai đoạn thắt chặt CSTT, sẽ tạo áp lực buộc các TCTD phải thực hiện duy trì đầy đủ DTBB ngay từ đầu tháng do e ngại nếu thiếu hụt DTBB từ đầu tháng sẽ khó có thể bù đắp vào cuối tháng khi mà cầu dự trữ thường căng thẳng hơn, làm cầu vốn tăng lên nhanh chóng đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng (LNH) tăng Song đến giai đoạn cuối tháng, khi phần lớn TCTD đã thực hiện
đủ DTBB, nhu cầu vốn giảm làm lãi suất thị trường giảm dần
Hai là, NHNN cần phối hợp chặt chẽ nghiệp vụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các nghiệp
vụ khác trên thị trường tiền tệ, với các công cụ chính sách tiền tệ để nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ
Trong điều hành CSTT, nghiệp vụ tỷ lệ DTBB còn có những điểm yếu, đó là công cụ này tác động mạnh đến thị trường Chỉ một điều chỉnh nhỏ về tỷ lệ DTBB sẽ có tác động rất lớn đến trạng thái vốn khả dụng của thị trường, đến cung cầu vốn và lãi suất Vì vậy, việc điều hành nghiệp vụ tỷ lệ DTBB cần phải được kết hợp chặt chẽ với các công cụ CSTT khác để hạn chế tối đa những tác động không mong muốn tới thị trường, tới khả năng thanh toán của các TCTD Đây là bài học đã từng xảy ra đối với Việt Nam vào tháng 2/2008, khi NHNN tăng tỷ lệ DTBB (lên gấp đôi) làm giảm vốn khả dụng của các TCTD nhưng chưa kịp thời điều tiết phối hợp với các công cụ CSTT khác, đã làm cho lãi suất trên thị trường LNH tăng mạnh Chỉ sau khi NHNN điều tiết bơm tiền ra qua các kênh NVTTM, tái cấp vốn cho một số NH khó khăn thì lãi suất trên thị trường LNH mới ổn định dần
Để đạt hiệu quả cao trong điều hành nghiệp vụ tỷ lệ DTBB và giảm thiểu những mặt còn hạn chế của công cụ này, những giải pháp kết hợp nghiệp vụ tỷ lệ DTBB với các nghiệp vụ khác của TTTT và công cụ CSTT khác là:
Tính toán kỹ lưỡng tác động của nghiệp vụ tỷ lệ DTBB đến các điều kiện của thị trường
để dự phòng các phương án cần phối hợp với các công cụ khác trong điều hành CSTT
Cần điều chỉnh tỷ lệ DTBB dần ở những tỷ lệ nhỏ và quan sát diễn biến của thị trường tiền tệ, hết sức tránh điều chỉnh đột ngột, điều chỉnh ở mức độ lớn, đồng thời sẵn sàng sử dụng các công cụ CSTT khác để hỗ trợ Ví dụ như theo tính toán, việc điều chỉnh giảm 1% DTBB
Trang 26387
thanh khoản của các TCTD sẽ có khoảng 100.000 tỷ đồng vốn khả dụng, nhưng trên thực tế NHNN chỉ cần tăng 1% tỷ lệ DTBB thu về khoảng 100.000 tỷ đồng Do đó NHNN có thể kết hợp cả việc điều chỉnh tăng tỷ lệ DTBB ở mức độ hẹp 0,5% cùng với việc chào bán GTCG trên NVTTM để có thể thu về một lượng tiền như theo ước tính; hoặc có thể điều chỉnh tăng tỷ lệ DTBB lên 1% đồng thời chào mua GTCG qua NVTTM để đưa tiền ra tương ứng với lượng tiền
đã thu vượt dự kiến Nếu như trong các năm 2016-2022, theo chỉ đạo của Chính phủ NHNN phải thực hiện giảm lãi suất cho vay trong nền kinh tế, tỷ dự DTBB chỉ cần giảm 1% hay 1,5% thì cũng tác động rất lớn đến Thị trường tiền tệ đến mặt bằng lãi suất Tuy nhiên trong các năm này NHNN vẫn giữ ổn định tỷ lệ DTBB như vậy là thiếu linh hoạt và thiếu sự phối hợp hiệu quả với điều hành các nghiệp vụ khác của Thị trường tiền tệ
Sau khi điều chỉnh tỷ lệ DTBB, nếu thị trường có những diễn biến bất lợi cần sử dụng ngay các công cụ CSTT khác để trung hòa và triệt tiêu những tác động tiêu cực của DTBB đối với thị trường tiền tệ Việc điều chỉnh tỷ lệ DTBB mặc dù được tính toán kỹ lưỡng, nhưng không thể tránh khỏi hiện tượng một vài TCTD sẽ gặp khó khăn tạm thời về vốn, nhất là những TCTD nhỏ, uy tín thấp khó vay mượn được trên thị trường liên ngân hàng, trên thị trường mở Trong những trường hợp này, NHNN nên thực hiện cho vay tái cấp vốn trực tiếp cho các TCTD thiếu hụt vốn, để ngăn chặn ngay những hiện tượng gây xáo trộn thị trường Những khoản tái cấp vốn này chỉ nên có kỳ hạn ngắn 1 đến 3 tháng nhằm đảm bảo đúng mục tiêu của CSTT Ngoài ra, NHNN cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp phát triển thị trường tiền tệ, thúc đẩy sự luân chuyển vốn thông suốt trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM điều hoà vốn trên thị trường, qua đó giảm việc can thiệp của NHNN trên thị trường tiền tệ
Ba là, NHNN cần quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho từng loại tiền gửi và từng loại hình tổ chức tín dụng
Tỷ lệ DTBB cần được quy định đối với từng loại tiền gửi và từng loại hình TCTD theo hướng:
Tiếp tục duy trì tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi ngoại tệ cao hơn đối với nội tệ kiên trì mục tiêu chống đô la hóa nền kinh tế Trong điều kiện thị trường tiền tệ của Việt Nam còn tình trạng đôla hóa thì việc quy định tỷ lệ DTBB riêng cho tiền gửi bằng VND và tiền gửi bằng ngoại tệ
là phù hợp Tiền gửi bằng ngoại tệ nên được quy định cao hơn so với tiền gửi bằng VND nhằm làm cho chi phí huy động vốn bằng VND thấp hơn so với chi phí huy động vốn bằng ngoại tệ, tạo ra mức chênh lệch giữa lãi suất VND và lãi suất ngoại tệ hợp lý để bù đắp kỳ vọng về biến động tỷ giá của đồng Việt Nam, tạo lợi thế cho hoạt động huy động và sử dụng vốn bằng VND
và khuyến khích người dân bán ngoại tệ cho hệ thống NH để gửi VND hưởng lãi suất
Dừng việc quy định các tỷ lệ DTBB khác nhau giữa các loại kỳ hạn tiền gửi Hiện nay, NHNN đang quy định các loại tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng có tỷ lệ DTBB là 3%, cao hơn 2% so với các loại tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên: 1% Việc quy định như vậy trong giai đoạn lịch sử trước đây đã thúc đẩy các TCTD huy động vốn có kỳ hạn dài hơn và phù hợp với tính chất dự phòng thanh khoản của từng loại tiền gửi Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đa dạng và linh hoạt của các hình thức huy động vốn, ranh giới giữa các kỳ hạn gửi tiền càng khó xác định Các TCTD có thể chuyển các khoản tiền gửi có kỳ hạn ngắn sang các khoản tiền có
kỳ hạn dài thông qua các hình thức tiết kiệm theo thời gian thực gửi, tiết kiệm linh hoạt, để giảm nghĩa vụ DTBB Bên cạnh đó, do đặc điểm của các hình thức huy động vốn nên nhiều khoản tiền gửi trên danh nghĩa là ngắn hạn nhưng thực tế được quay vòng nhiều lần nên trở
Trang 27388
thành những khoản tiền gửi dài hạn Vì vậy, việc quy định các tỷ lệ DTBB khác nhau cho các
kỳ hạn tiền gửi khác nhau sẽ là cơ hội để TCTD tránh nghĩa vụ thực hiện DTBB, đồng thời làm phức tạp quá trình đánh giá tác động của tỷ lệ DTBB đến hệ số nhân tiền tệ Vì vậy, NHNN nên quy định thống nhất một tỷ lệ DTBB đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn khác nhau
Tỷ lệ DTBB nên quy định riêng đối với từng loại hình TCTD Hiện nay có nhiều loại hình TCTD, mỗi loại hình có đặc điểm và lĩnh vực hoạt động riêng biệt Hiện nay NHNN mới quy định tỷ lệ DTBB đối với QTDND và tổ chức tài chính vi mô là 0%, NHNo&PTNT Việt Nam và NH HTX, TCTD khác đối với tiền gửi nội tệ dưới 12 tháng đều là 3%, từ 12 tháng trở lên là 1%, tiền gửi ngoại tệ có khác biệt 1% Tuy nhiên trong thực tế, có những loại hình chỉ được huy động vốn dài hạn như CTTC và công ty cho thuê tài chính, có những loại hình phục
vụ cho địa bàn nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu vùng xa như NHNO&PTNT Có những loại hình phục vụ cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách như NHCSXH, tổ chức tài chính vi mô, Vì vậy, tỷ lệ DTBB nên được tiếp tục quy định riêng cho từng loại hình tổ chức để đảm bảo phù hợp với đặc điểm hoạt động và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế đối với từng lĩnh vực Bài viết cho rằng trong giai đoạn 2022-2025 tỷ lệ DTBB đối với Agribank và NH HTX, nên được giảm về 0% đối với tiền gửi nội tệ từ 12 tháng trở lên, từ 0,5% - 1,0% đối với tiền gửi dưới 12 tháng và không kỳ hạn
Hiện tại và trong những năm tới, nghiệp vụ DTBB ở Việt Nam vẫn có tác động tới nhu cầu vốn khả dụng của các NHTM và đồng thời cũng tác động đến tính hiệu quả của CSTT Vì vậy, cần phải có những biện pháp nâng cao hiệu quả điều tiết tiền tệ của công cụ này:
Điều chỉnh cách tính DTBB theo số dư tiền gửi của các TCTD tại Sở Giao dịch NHNN
và các chi nhánh NHNN Cần điều chỉnh kỳ tính DTBB xuống còn 2 tuần, đồng thời nên thực hiện các bước chuẩn bị để có thể thực hiện trùng một phần giữa kỳ tính DTBB và kỳ duy trì DTBB trong thời gian thích hợp nhằm tăng hiệu quả điều tiết của nghiệp vụ này Tỷ lệ DTBB phải được điều chỉnh linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường Cần chú ý khi phối hợp sử dụng nghiệp vụ này với các nghiệp vụ khác và công cụ khác của CSTT, đặc biệt khi cần có sự tác động kép cả về giá và về lượng thì việc kết hợp giữa NVTTM với DTBB có hiệu quả rất nhanh chóng
4 KẾT LUẬN
Doanh nghiệp là nguồn lực to lớn để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nền kinh tế
sẽ không thể duy trì và phát triển nếu như các doanh nghiệp phải đóng cửa Bên cạnh đó, hệ thống tài chính, ngân hàng cũng sẽ không thể ổn định, tăng trưởng nếu như các doanh nghiệp giải thể, phá sản Vì vậy, việc điều hành linh hoạt công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một trong những giải pháp hỗ trợ tín dụng kịp thời cho các doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay, điều này không chỉ thể hiện tính nhân văn của Nhà nước mà còn thể hiện trách nhiệm vì cộng đồng của hệ thống ngân hàng đối với xã hội
Trang 28389
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ngân hàng Nhà nước (2020-2022): “Báo cáo của NHNN Việt Nam công bố tại cuộc
họp báo một số tháng trong các năm 2020-2021 và đầu năm 2022”
2 Ngân hàng Nhà nước (2018) Quyết định số 1158/QĐ-NHNN, ngày 29/05/2018 về tỷ
lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
3 Ngân hàng Nhà nước (2011-2021) Truy cập tại www.sbv.gov.vn , thời gian truy cập từ
ngày 9-12/7/2022
4 SBV (2016- 2021): NHNN Việt Nam truy cập tại www.sbv.gov.vn: Mục tin tức, văn bản quy phạm pháp luật; Các thông tin có liên quan đã được công bố; truy cập từ ngày 9- 12/7/2022
-
Thông tin tác giả
TS Đoàn Thanh Hải
Khoa Kinh tế, Trường Đại học Tây Bắc
Trang 29390
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC KẾ TOÁN - KIỂM
TOÁN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
TS Đoàn Thị Quỳnh Anh, TS Nguyễn Thị Nga
TÓM TẮT
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định Số 633/QĐ-TTg ngày 23 tháng
5 năm 2022 về việc phê duyệt Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 trong đó nhấn mạnh đến việc chú trọng phát triển thị trường dịch vụ và nguồn nhân lực trong lĩnh vực kế toán
- kiểm toán ngang tầm với các nước trong khu vực Qua đó nâng cao chất lượng của hệ thống thông tin kinh tế - tài chính - ngân sách ngày càng công khai, minh bạch, phản ánh trung thực các thông tin, số liệu kinh tế - tài chính trong nền kinh tế quốc dân, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, điều hành và ra quyết định của cơ quan quản lý nhà nước cũng như các doanh nghiệp, đơn vị và tổ chức khác Tăng cường hội nhập quốc tế, hợp tác với các tổ chức quốc tế về kế toán - kiểm toán, tạo lập mối liên hệ chặt chẽ, thừa nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và các nước
trong khu vực, trên thế giới Bài viết này tập trung vào phân tích thực trạng đối với thị trường
dịch vụ và nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán Việt Nam đồng thời đưa ra một số khuyến nghị các giải pháp để phát triển thị trường này trong thời gian tới
Từ khóa: Dịch vụ kế toán kiểm toán; nguồn nhân lực kế toán - kiểm toán; kế toán; kiểm toán
ABSTRACT DEVELOPMENT OF MARKET SERVICES AND HUMAN RESOURCES ACCOUNTING - AUDIT IN THE INTEGRATION PERIOD
Recently, the Prime Minister issued Decision No 633/QD-TTg dated May 23, 2022 approving the Strategy of Accounting - Auditing to 2030, which emphasizes on market development services and human resources in the field of accounting - auditing are on par with other countries in the region Thereby improving the quality of the economic-financial-budget information system to be more open and transparent, honestly reflecting economic-financial information and data in the national economy meet the requirements of management, administration and decision-making of state management agencies as well as other enterprises, units and organizations Strengthening international integration, cooperating with international organizations on accounting - auditing, creating close relationship and mutual recognition between Vietnam and countries in the region and in the world This article focuses on analyzing the current situation for the accounting and auditing service market and human resources in Vietnam, and makes some recommendations for solutions to develop this market in the coming time
Keywords: Accounting and auditing services; accounting - auditing human resources; accountant; audit
Hội nhập quốc tế về kế toán, kiểm toán (KTKT) là một yêu cầu tất yếu của Việt Nam trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, một mặt đáp ứng yêu cầu về minh bạch hóa trong nền kinh tế thị trường, mặt khác thúc đẩy quá trình xây dựng hệ thống quản lý
tài chính tiên tiến dựa trên các chuẩn mực quốc tế đã và đang thịnh hành Sau hơn 20 năm, hội
nhập trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, Quốc hội, Chính phủ cũng như Bộ Tài chính đã nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển ngành nghề và dịch vụ kế toán, kiểm toán hướng
đến xây dựng một hệ thống quản lý tài chính tiên tiến, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc
Trang 30391
tế Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi Việt Nam triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán kiểm toán (DVKTKT) cũng như nguồn nhân lực kế toán kiểm toán nhằm góp phần phục vụ đắc lực, hiệu quả cho các hoạt động kinh
tế - tài chính
1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC KẾ TOÁN KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM
1.1 Những kết quả đạt được trong phát triển thị trường dịch vụ và nguồn nhân lực
kế toán- kiểm toán
1.1.1 Về khuôn khổ pháp lý
Môi trường pháp lý cho hoạt động của thị trường dịch vụ kế toán Việt Nam được hình thành tương đối đầy đủ, rõ ràng, phù hợp với điều kiện trong nước và những thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển thị trường DVKTKT do các DN kế toán, kiểm toán trong và ngoài nước cung cấp
Luật Kế toán năm 2015 của Quốc hội, các Nghị định của Chính phủ (Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán, Nghị định
số 41/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập ) đã quy định rõ các đối tượng được cung cấp DVKTKT; các trường hợp, đối tượng không được cung cấp DVKTKT; các mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán góp phần tạo dựng một nền tảng cơ sở pháp lý quan trọng cho thị trường DVKTKT phát triển ổn định Đặc biệt, với việc Chiến lược phát triển kế toán, kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (ban hành tại Quyết định số 480/QĐ-TTg ngày 18/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ) được triển khai mạnh mẽ, quyết liệt, đạt được nhiều kết quả tích cực.Sau gần
10 năm triển khai, Chiến lược phát triển kế toán, kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã tạo lập hệ thống kế toán tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với cơ chế quản lý của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Với khung khổ pháp lý về kế toán ngày càng được hoàn thiện, góp phần tạo điều kiện cho hoạt động kế toán phát triển; phục vụ đắc lực, hiệu quả cho các hoạt động kinh tế - tài chính của các doanh nghiệp (DN), tổ chức, đơn vị kế toán…Đây là điều kiện thúc đẩy thị trường dịch vụ kế toán Việt Nam phát triển, đạt được những thành tựu quan trọng
cả về quy mô và chất lượng dịch vụ
1.1.2 Về chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ kế toán, kiểm toán viên hành nghề
Với sự phát triển của thị trường, nguồn nhân lực thực hiện dịch vụ kế toán kiểm toán cũng tăng về số lượng và chất lượng Chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, hoạt động dịch vụ kiểm toán của Việt Nam đã và đang phát triển mạnh mẽ, từ 2 công ty với 13 nhân viên (năm 1991) và tính đến hết năm 2020 theo thống kê của Bộ Tài chính, cả nước có 135 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh DVKTKT (tăng 14,4% so với năm 2019) và 386 cá nhân được cấp giấy chứng nhận đăng ký hành nghề DVKT (tăng 19,9% so với năm 2019) Trong những năm qua, dưới sự quản lý chặt chẽ của cơ quan quản lý, trực tiếp là
Bộ Tài chính, ý thức chấp hành, tuân thủ các quy định pháp luật về kế toán nói chung và chất lượng DVKTKT nói riêng của các doanh nghiệp cung cấp DVKTKT và các kế toán viên đều
đã được nâng lên Bên cạnh đó, số lượng người được cấp chứng chỉ kế toán ngày càng tăng phù hợp với quy mô trên thị trường: Thống kê cho thấy, tính đến tháng 12/2020, Số nhân viên chuyên nghiệp là 11.433; Số khách hàng là 52.519 khách hàng, số người có chứng chỉ hành nghề kế toán viên là 1.091 người, trong đó có 368 người đang làm việc trong các doanh nghiệp
Trang 31392
DVKTKT, chiếm 33% số người có chứng chỉ kế toán viên Năng lực của các kế toán viên cũng ngày càng được nâng cao, cơ bản đáp ứng yêu cầu của khách hàng
1.1.3 Về nhu cầu dịch vụ kế toán, kiểm toán của nền kinh tế
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp (DN), đặc biệt
là các DN nhỏ và vừa (DNNVV), nhu cầu sử dụng dịch vụ kế toán, kiểm toán (KT-KT) và các dịch
vụ có liên quan trong nền kinh tế ngày càng gia tăng Cuộc khảo sát "Khảo sát động thái DN Việt Nam" (2015) do VCCI thực hiện đối với 600 DN cho thấy, dịch vụ mà các DN sử dụng nhiều nhất chính là dịch vụ KT-KT và tư vấn thuế (65%), tiếp đến là các dịch vụ liên quan đến pháp lý (49%), quảng cáo (46,2%) Trong khi đó, chỉ có 23,3% DN đã từng ít nhiều sử dụng dịch vụ khảo sát thăm
dò dư luận, có 30,1% DN sử dụng dịch vụ thử nghiệm và phân tích kỹ thuật… Báo cáo Tổng kết hoạt động năm 2018 của Cục Quản lý và giám sát KT-KT (Bộ Tài chính) cho thấy, doanh thu năm
2018 của toàn ngành đạt 7.783.915 triệu đồng, tăng 20,09% so với năm 2017 (6.481.767 triệu đồng)
So sánh cơ cấu 8 loại doanh thu dịch vụ của các công ty này năm 2018 đều tăng so với năm 2017 (tăng cao nhất là doanh thu dịch vụ thẩm định giá tài sản tăng 53,52%; thấp nhất cũng tăng 8,35%
là doanh thu của dịch vụ bồi dưỡng tài chính, KT-KT)
1.1.4 Về khách hàng của thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán
Sự gia tăng các DN được thành lập mới, đặc biệt là các DNNVV dẫn đến số lượng khách hàng của các công ty KT-KT hàng năm ngày càng tăng Cụ thể: năm 2018 là 52.598 DN, tăng 8,58% so với năm 2017 Theo loại hình DN, tổ chức thì khách hàng là các công ty TNHH vẫn chiếm tỷ trọng cao (năm 2017 là 56,82%, năm 2018 là 54,77%) Theo hình thức sở hữu thì DN nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ (năm 2017 là 12,29%, năm 2018 là 12,47%), còn 2 hình thức
sở hữu còn lại mỗi hình thức chiếm tỷ trọng trên 42%
1.1.5 Về mở rộng và tự do hóa thị trường dịch vụ kiểm toán, kế toán
Các doanh nghiệp dịch vụ kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp về pháp luật, chế độ, thể chế tài chính, kế toán của Nhà nước, cũng như việc lập, ghi sổ kế toán, tính thuế, lập báo cáo tài chính Dịch vụ kế toán, kiểm toán đã
có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đa dạng hóa loại hình hoạt động, năng lực cũng như trình độ của các tổ chức, cá nhân hành nghề kế toán, kiểm toán, ý thức và trách nhiệm nghề nghiệp của kế toán viên từng bước được nâng cao Nhiều kế toán viên chuyên nghiệp đã trưởng thành và có thể thực hiện nhiều loại dịch vụ, cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau Đánh giá của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế cũng cho thấy, những năm gần đây, nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ kế toán của Việt Nam ngày càng được cải thiện đáng kể Cùng với đó, niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam cũng tăng lên đáng kể, các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội được tiếp nhận nhiều hơn các nguồn vốn đầu tư từ các công ty, tập đoàn danh tiếng trên thế giới
1.1.6 Về hình thức đào tạo và cơ sở đào tạo nghề kế toán, kiểm toán:
Bên cạnh một số cơ sở đào tạo về nghiệp vụ kế toán, kiểm toán như Học viện Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân…, Nhà nước cũng tạo điều kiện tốt nhất cho các tổ chức kế toán, kiểm toán nước ngoài hoạt động tại Việt Nam như ACCA, CPA Úc nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán Từ đó tạo lập được môi trường thông thoáng, bình đẳng, hội nhập với khu vực và thế giới Ngoài ra, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho dịch vụ
kế toán, kiểm toán khi AEC đi vào vận hành, Việt Nam đã ký MRA với các nước ASEAN trong việc cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán Theo đó, Bộ Tài chính Việt Nam đã thừa nhận và cho
Trang 321.2.1 Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kế toán còn nhiều hạn chế
Công tác quản lý, giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động kế toán đóng vai trò hết sức quan trọng nhưng trong thực tiễn chưa được hoàn thiện Hoạt động kiểm tra chất lượng DVKT trong một số trường hợp còn có hạn chế nhất định Hoạt động quản lý, công tác kiểm tra, giám sát tính tuân thủ pháp luật về kế toán đạt hiệu quả chưa cao Nguồn nhân lực tại cơ quan quản
lý nhà nước trong lĩnh vực kế toán tuy đã có sự cải thiện về chất lượng, nhưng số lượng lại thiếu trong bối cảnh thị trường DVKT ngày càng phát triển, các hoạt động kiểm tra, giám sát ngày càng đa dạng và phức tạp hơn
1.2.2 Quy mô thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán còn chưa tương xứng với quy mô của nền kinh tế
Trong những năm qua, sự phát triển của lĩnh vực kế toán có sự đóng góp to lớn của các
tổ chức nghề nghiệp Tuy nhiên, xét trên bình diện chung, vai trò của các tổ chức nghề nghiệp
về kế toán, kiểm toán ở Việt Nam hiện nay khá mờ nhạt trong công tác quản lý, chủ yếu mới chỉ thực hiện chức năng hỗ trợ chuyên môn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho kế toán viên, kiểm toán viên Số lượng DN cung cấp DVKT đăng ký còn hạn chế, quy mô thị trường còn nhỏ, do đó chưa tạo được sự cạnh tranh về chất lượng dịch vụ giữa các DN Sự phát triển của DVKT Việt Nam chưa phát triển xứng tầm với sự tăng trưởng của nền kinh tế Bên cạnh đó dù chất lượng dịch vụ, dù đã có sự cải thiện đáng kể nhưng thực tế chất lượng DVKT, dịch vụ kiểm toán tại một số DN còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu Một số DN và kế toán viên, kiểm toán viên chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán và các quy định pháp luật có liên quan Mặc dù, số lượng khách hàng và doanh thu dịch vụ các công ty KT-KT có tăng trưởng khá nhưng trên bình diện chung, tốc độ tăng vẫn còn thấp
Điển hình như, năm 2019, mặc dù số lượng DN đã tăng 57% so với năm 2018 nhưng số lượng khách hàng mới trong hoạt động kinh doanh DVKT chỉ đạt con số 7.396 đơn vị, chiếm
tỷ trọng rất nhỏ trong thị trường Tổng doanh thu của thị trường chỉ chiếm khoảng 0,08% GDP/năm Sự phát triển của dịch vụ KT-KT Việt Nam chưa phát triển xứng tầm với sự tăng trưởng của nền kinh tế Hơn nữa, Vẫn còn tình trạng mất cân đối trong phát triển của thị trường
các công ty 100% vốn nước ngoài chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng chiếm đến 50% doanh thu toàn thị trường dịch vụ KT-KT Đây là biểu hiện cho sự mất cân đối trong phát triển của thị trường
1.2.3 Nguồn nhân lực chuyên nghiệp, chất lượng cao còn thiếu
Theo các chuyên gia kế toán, chất lượng cung cấp DVKT dựa rất nhiều vào chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, đây lại là một trong những thách thức lớn đối với các DN cung cấp DVKT, kiểm toán Hiện nay, cả nước có 2.037 kiểm toán viên, khoảng trên 1.000 kế toán viên được cấp chứng chỉ hành nghề Số lượng này là quá thấp so với nhu cầu thực tế của thị trường (cần khoảng 7.000 kế toán viên, kiểm toán viên) Các kiểm toán viên có chứng chỉ quốc tế chủ yếu làm việc ở các DN có vốn đầu tư nước ngoài Các kế toán viên, kiểm toán viên có trình độ
Trang 33394
và kinh nghiệm cao có xu hướng chuyển nghề, phát triển thành các nhà quản trị DN cũng tạo
ra thiếu hụt về nhân sự có chất lượng cao trên thị trường này Bên cạnh đó, sự thiếu hụt các kỹ năng cần thiết là tiền đề cho sự suy giảm chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán
Tính đến năm 2014, so với các nước trong khu vực, Việt Nam có số lượng kế toán chuyên nghiệp chỉ đứng hàng thứ 6, với tỷ lệ 5,45% so với khu vực ASEAN, đứng trên bốn nước Myanmar (0,32%), Campuchia (0,15%), Lào (0,1%) và Brunei (0,03%)
Bảng 1: lượng kế toán chuyên nghiệp ở các nước ASEAN (01/2013 - 3/2014) Quốc gia Số lượng kế toán
chuyên nghiệp
Tỷ lệ % trong khu vực ASEAN Xếp thứ
Nguồn: World Bank Group (2014) - AFA
1.2.4 Dịch vụ cung cấp chưa đa dạng, giá trị gia tăng thấp, chất lượng dịch vụ còn chưa đáp ứng được yêu cầu
Mặc dù, đã có chuyển biến tích cực song dịch vụ KT-KT cung cấp trên thị trường hiện chủ yếu tập trung vào các dịch vụ cơ bản như: kiểm toán báo cáo tài chính, dịch vụ kế toán cơ bản (ghi sổ, lập báo cáo tài chính theo quy định), kê khai thuế… Các dịch vụ tạo ra giá trị gia tăng cao như tư vấn tài chính, kế toán quản trị, kiểm soát, quản trị rủi ro… còn khá hạn chế Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, các dịch vụ cơ bản sẽ có ít dư địa tăng trưởng
Bên cạnh hạn chế về sự đa dạng của dịch vụ, chất lượng dịch vụ KT-KT cũng còn nhiều hạn chế do thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như giá phí dịch vụ còn thấp Công tác quản lý của Nhà nước đối với thị trường dịch vụ KT-KT chưa hoàn chỉnh, đồng bộ; vai trò của các tổ chức nghề nghiệp còn mờ nhạt
2 NHỮNG MỤC TIÊU CẦN TẬP TRUNG NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC KẾ TOÁN KIỂM TOÁN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 2.1 Hoàn thiện hệ thống quy định, ban hành, công bố và cập nhật hệ thống chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán
Bổ sung Luật Kế toán, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Kiểm toán độc lập, đảm bảo các quy định đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện của Việt Nam, tăng cường vai trò, trách nhiệm của các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp thông tin kế toán - kiểm toán Tăng cường tính phù hợp giữa cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán; xây dựng khung pháp lý để áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) theo lộ trình phù hợp, cập nhật hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính của Việt Nam (VFRS), chuẩn mực kiểm toán độc lập, chuẩn mực kiểm toán nội bộ, phương pháp nghiệp vụ trên cơ sở phù hợp với thông lệ
Trang 34395
quốc tế và điều kiện của Việt Nam; đảm bảo tính so sánh được của thông tin kinh tế, tài chính giữa các doanh nghiệp, tổ chức trong nền kinh tế Công bố hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam trên cơ sở chuẩn mực kế toán công quốc tế, triển khai áp dụng phù hợp với pháp luật của Việt Nam
2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thị trường dịch vụ kế toán - kiểm toán
Phát triển thị trường dịch vụ kế toán - kiểm toán; thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, dịch vụ kiểm toán Định hướng quy mô, số lượng các tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán - kiểm toán phù hợp với yêu cầu thực tế thông qua việc hoàn thiện cơ chế và điều kiện hành nghề Xác định đối tượng được kiểm toán thiết thực hiệu quả, đến năm 2025 đảm bảo 100% doanh nghiệp, đơn vị có quy mô lớn được kiểm toán báo cáo tài chính, không phân biệt loại hình hoạt động, hình thức sở hữu Có chính sách để tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ kế toán viên, kiểm toán viên, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế
2.3 Phát triển các tổ chức nghề nghiệp về kế toán - kiểm toán
Có chính sách khuyến khích đối với các tổ chức nghề nghiệp về kế toán - kiểm toán nhằm thống nhất và nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức này; chủ động phối hợp chặt chẽ cùng các tổ chức nghề nghiệp trong công tác hoạch định, triển khai pháp luật về kế toán - kiểm toán cũng như kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy định của đội ngũ hành nghề kế toán - kiểm toán
2.4 Tăng cường hội nhập quốc tế về kế toán - kiểm toán
Rà soát, hoàn thiện và tăng cường khung khổ, thỏa thuận hợp tác với các đối tác quan trọng như các tổ chức tài chính, các tổ chức nghề nghiệp quốc tế và các cơ quan quản lý nhà nước về kế toán - kiểm toán tại các nước đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác truyền thông của Việt Nam Phát triển chiều sâu, nâng cao hiệu quả thực chất các chương trình hợp tác với các tổ chức này, tạo lập mối liên hệ chặt chẽ, thừa nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và các nước trong khu vực và trên thế giới
2.5 Thực hiện chuyển đổi số trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với quá trình chuyển đổi số trong việc xây dựng khung khổ pháp lý và tổ chức triển khai thực hiện tại các đơn vị; xây dựng cơ sở dữ liệu liên quan đến kế toán - kiểm toán phục vụ hoạt động của các đơn vị và hoạt động quản lý, giám sát kế toán - kiểm toán
3 QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM
3.1 Quan điểm phát triển thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán
- Thị trường dịch vụ KT-KT là thị trường dịch vụ đặc biệt Sự phát triển của thị trường này tác động đến tính minh bạch, trung thực của thông tin tài chính và tính hiệu quả, an toàn của phân bổ các nguồn lực tài chính Vì vậy, yêu cầu minh bạch, trung thực, chất lượng là tiêu chí hàng đầu
- Phát triển thị trường dịch vụ KT-KT trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường đồng thời đảm bảo sự điều tiết của Nhà nước Đặc biệt, yếu tố chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cần được kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp
Trang 35396
- Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thị trường dịch vụ KT-KT vận hành trong mối quan
hệ chặt chẽ với thị trường dịch vụ của các nước Đặc biệt, trong khu vực ASEAN, dịch vụ kế toán là một trong những dịch vụ có tính hội nhập cao
3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường dịch vụ và nguồn nhân lực kế toán
- kiểm toán
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và lĩnh vực tài chính nói riêng đã và đang đặt
ra yêu cầu Việt Nam cần tạo lập một hệ thống kế toán, kiểm toán hoàn chỉnh, phù hợp với cơ chế quản lý của Nhà nước và xu thế phát triển dịch vụ kế toán, kiểm toán của khu vực và thế giới
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi Việt Nam triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, góp phần phục vụ đắc lực, hiệu quả cho các hoạt động kinh tế - tài chính
3.2.1 Nâng cao hiệu quả quản lý thị trường dịch vụ KT-KT
Cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về dịch vụ KT-KT theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện của Việt Nam; nghiên cứu xây dựng các Luật Kế toán, Kiểm toán thay thế cho các luật hiện hành theo hướng tiếp cận thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện Việt Nam và giải quyết căn bản các tồn tại, hạn chế, làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện khung pháp
lý về kế toán, kiểm toán Tăng cường năng lực quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà Nước với các chủ thể cung cấp dịch vụ trên thị trường; tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý thị trường dịch vụ KT-KT.Thúc đẩy phát triển các tổ chức nghề nghiệp KT-KT trong nước theo hướng từng bước mở rộng và xem xét để chuyển giao các công việc thuộc chức năng quản lý
của Nhà nước cho các tổ chức nghề nghiệp phù hợp với thông lệ quốc tế
3.2.2 Đa dạng hóa dịch vụ kế toán – kiểm toán
Phát triển thị trường phải gắn với việc đa dạng hóa dịch vụ, hướng tới các dịch vụ có giá trị gia tăng cao (tích hợp dịch vụ KT-KT với các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn thuế, quản trị rủi ro, tư vấn xây dựng hệ thống quản trị)…Phát triển số lượng các DN cung cấp dịch vụ KT-
KT một cách hợp lý; khuyến khích hình thành các công ty KT-KT có quy mô lớn, có chất lượng cao đủ sức cạnh tranh tại thị trường trong nước và hướng tới cung cấp dịch vụ tại các thị trường nước ngoài Các DN cần tăng cường áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động chuyên môn nhằm tăng năng suất nghề nghiệp; tăng cường hợp tác kinh doanh trong việc cung cấp dịch vụ trọn gói và toàn diện cho khách hàng
3.2.3 Chuẩn bị nguồn nhân lực chuyên nghiệp, chất lượng cao, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp
Cần xây dựng mạng lưới các cơ sở đào tạo KT-KT theo hướng liên kết chặt chẽ với các
DN dịch vụ KT-KT; tăng cường đào tạo, tuyên truyền về đạo đức nghề nghiệp kế toán viên, kiểm toán viên Nâng cao nhận thức về quản lý, nâng cao chất lượng và DVKT Kiểm soát chất lượng cần dựa vào những tiêu thức nhất định đã được xây dựng, để có sự đánh giá khắc phục, phát huy những kết quả sẵn có Phát triển thị trường phải gắn với việc đa dạng hóa dịch vụ, hướng tới các dịch vụ có giá trị gia tăng cao theo hướng tích hợp DVKT với các dịch vụ tư vấn
tài chính, tư vấn thuế, quản trị rủi ro, tư vấn xây dựng hệ thống quản trị… Đối với hội nghề
nghiệp cần nâng cao hiệu quả các hoạt động chuyên môn của Hội nghề nghiệp; chuyển giao các hoạt động nghề nghiệp phù hợp Tăng cường mối quan hệ và tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế về kế toán, kiểm toán và các tổ chức phi Chính phủ trên thế giới; Nghiên cứu các mô hình của các nước phát triển để vận dụng vào Việt Nam trong việc xây
Trang 36397
dựng kỹ thuật nghiệp vụ kế toán; Tiếp tục hoàn thiện mô hình đào tạo, thi, cấp chứng chỉ hành nghề về kế toán
3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp
3.3.1 Về phía cơ quan quản lý
Tiêu chuẩn hóa các quy định về kiểm tra, giám sát chất lượng đối với dịch vụ kế toán - kiểm toán; quy định các chế tài xử lý vi phạm đảm bảo tính răn đe, nâng cao trách nhiệm của
cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan Hoàn thiện thể chế, khung khổ pháp lý hoạt động kiểm tra, giám sát báo cáo tài chính, việc chấp hành pháp luật kế toán - kiểm toán đảm bảo đồng bộ, đầy đủ, thống nhất giữa các cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát
- Ban hành, công bố các hệ thống chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán: Xác định khung báo cáo phù hợp đối với từng loại hình doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả của thông tin tài chính, kế toán Triển khai áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam theo
lộ trình do Bộ Tài chính xác định đối với các doanh nghiệp có nhu cầu và đủ điều kiện áp dụng Xây dựng và tổ chức thực hiện chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc
tế và điều kiện Việt Nam thay thế hệ thống chuẩn mực kế toán doanh nghiệp Việt Nam Ban hành các văn bản hướng dẫn kế toán phù hợp đối với các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ
- Bố trí nguồn lực theo Có biện pháp cụ thể về nguồn nhân lực và điều kiện khác để nâng cao năng lực, hiệu quả của việc kiểm tra, giám sát tính tuân thủ pháp luật về kế toán - kiểm toán Hướng dẫn, đôn đốc các bộ, địa phương, cơ quan, đơn vị xây dựng, tổ chức thực hiện các hoạt động liên quan đến thực hiện Chiến lược phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao
- Chú trọng đến hoạt động dự báo về nhu cầu nhân lực kế toán Trên cơ sở đó, có những điều chỉnh kịp thời về đào tạo để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở từng giai đoạn
3.3.2 Cơ sở đào tạo, các tổ chức nghề nghiệp
- Đổi mới chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, sinh viên, các chức danh nghề nghiệp kế toán - kiểm toán phù hợp với cơ chế chính sách, chuẩn mực, chế
độ kế toán
- Tham gia phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu, xây dựng các văn bản, chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán - kiểm toán; phối hợp triển khai thực hiện các văn bản pháp luật trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán
- Các tổ chức nghề nghiệp thực hiện bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho người làm kế toán,
kế toán viên hành nghề Tham gia tổ chức thi chứng chỉ kế toán viên, kiểm toán viên theo quy định của Bộ Tài chính Phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch
vụ kế toán khi có yêu cầu
3.3.3 Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan, đơn vị
- Phối hợp nghiên cứu, tiếp thu thông lệ quốc tế về kế toán - kiểm toán và tham gia tích cực vào việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản, chuẩn mực kế toán doanh nghiệp
- Tổ chức thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về kế toán - kiểm toán theo lĩnh vực hoạt động; kịp thời phản ánh những vướng mắc, khó khăn và tham gia tích cực vào quá trình nghiên cứu, soạn thảo các văn bản, chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp
3.3.4 Về phía các cơ sở đào tạo
Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo để thích ứng với CMCN 4.0 Đổi mới chương trình đào tạo phù hợp với xu thế của thời đại Thiết kế chương trình đào tạo linh động hơn, cập nhật kiến thức hơn, hướng tới phát triển các kỹ năng, phát triển tư duy hệ thống và liên ngành phù hợp
Trang 37398
với CMCN 4.0 Thay đổi cách thức tổ chức và phương pháp giảng dạy Chuẩn bị đội ngũ giảng viên có trình độ cao về chuyên môn, công nghệ thông tin, hệ thống mạng,… Nâng cao và cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, đảm bảo chất lượng đào tạo Nâng cao thu nhập cho các nhà khoa học, xây dựng hệ thống thư viện, phòng thực hành là các yếu tố cần thực hiện đồng bộ trong thời đại công nghiệp 4.0
4 Kết luận
Đối với lĩnh vực kế toán, trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa thì nhu cầu sử dụng dịch vụ và nguồn nhân lực về kế toán kiểm toán ngày càng gia tăng, cả về chất lượng dịch vụ
và quy mô hoạt động; từ đó góp phần nâng cao chất lượng, làm lành mạnh hóa và nâng cao tính công khai, minh bạch của các hoạt động kinh tế - tài chính của tất cả các đơn vị, tổ chức trong nền kinh tế - xã hội Môi trường pháp lý về cơ bản được quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, thông lệ, nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển thị trường do các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán trong và ngoài nước cung cấp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tham khảo tiếng việt
1 Chính phủ (2016), Nghị định số 174/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán;
2 Chính phủ (2018), Nghị định số 41/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập;
3 Chính phủ (2022), Quyết định Số 633/QĐ-TTg ngày 23 tháng 5 năm 2022 về việc phê duyệt Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030
4 Mai Ngọc Anh (2020), Phát triển thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán: Những vấn đề đặt ra Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 4/2020
5 Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/QH13;
6 Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 480/QĐ-TTg ban hành Chiến lược kế toán, kiểm toán giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030;
7 Vũ Đức Chính (2021), Nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán Tạp chí Tài chính kỳ 1+2 tháng 02/2021;
Tài liệu tham khảo tiếng anh
1 The ASEAN Secretariat, ASEAN Integration Report (2015), http://www.miti.gov.my/miti/resources/ASEAN_Integration_Report_2015.pdf
-
Thông tin tác giả
- TS Đoàn Thị Quỳnh Anh
Trang 38Từ khoá: Big data, doanh nghiệp vừa và nhỏ, kế toán – kiểm toán
Keywords: Big data, mall-medium enterprises, accounting - auditing
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thế giới hạn chế về năng lực, mọi tối ưu hóa áp dụng cho công việc đều nhận được
sự quan tâm Theo các chuyên gia phân tích và nghiên cứu thị trường thì 5 mục đích cuối cùng
mà các doanh nghiệp (DN) chuyển đổi số hướng đến bao gồm: Tăng tốc độ ra thị trường; Tăng cường vị trí cạnh tranh trên thị trường; Thúc đẩy tăng trưởng doanh thu; Tăng năng suất của
Trang 39400
nhân viên; Mở rộng khả năng thu hút và giữ chân khách hàng Vì vậy việc tìm hiểu công nghệ ngày càng gia tăng, phát triển không ngừng và đang trở thành yếu tố không thể thiếu trong hầu hết các DN (Bizfly Cloud, 2020) Đây có thể được coi là một sự thay đổi về văn hóa của các
DN, đồng thời là sự thay đổi căn bản đối với cách thức vận hành, mô hình kinh doanh Để thực hiện được điều này, tức là thay đổi từ mô hình DN truyền thống sang DN số đòi hỏi các DN phải liên tục thay đổi, thử nghiệm cái mới và thoải mái chấp nhận các thất bại Tuy nhiên, nếu không theo kịp tốc độ phát triển mới nhất trong lĩnh vực công nghệ, DN có nguy cơ bị tụt hậu Theo báo cáo của DBT Center, chưa có thống kê DN nào “chết” khi chưa chuyển đổi số nhưng 60% DN sẽ “chết” nếu không chuyển đối số trong thời gian tới
Với tiềm năng trong thế giới trực tuyến hiện đang là không gian thị trường lớn nhất cho các DN trên toàn thế giới, Dữ liệu lớn (Big Data) đang chứng tỏ là bộ công cụ mạnh mẽ nhất
để sở hữu và sử dụng Bởi vì hầu hết tất cả các website và ứng dụng hiện nay đều theo dõi hành
vi duyệt web của người dùng để ghi lại và sau đó phân tích các yêu cầu và lựa chọn của người dùng Công nghệ Big Data không chỉ bao gồm việc thu thập dữ liệu mà còn phải hiểu và phân tích nó để tạo ra các hình mẫu hành vi của người dùng Chỉ khi đó nó mới có thể trở nên hữu ích cho các DN Đây là công nghệ được giới thiệu từ năm 2005, là bước ngoặt đánh dấu sự phát
triển của nền CN 4.0 Nó vốn được sử dụng để mô tả việc khai thác các thông tin trọng yếu từ
nhiều hệ thống khác nhau, sau đó tập hợp các thông tin này lại để phân tích Tuy nhiên, sự thật lại có rất nhiều DN đã bỏ quên tầm quan trọng của Big Data Mặc dù biết rằng dữ liệu – đặc biệt là dữ liệu “đúng” và đủ chính là nguồn sống của DN Ngoài ra, ở thế giới “siêu kết nối” hiện tại, dữ liệu đại diện cho khách hàng – không phải dữ liệu khách hàng nào cũng đến từ các
hệ thống ERP, mà đôi khi DN phải cân nhắc cả những phản hồi và khảo sát khách hàng, cũng như các bình luận trên mạng xã hội của họ Chính vì vậy, việc vận dụng được các nguồn dữ liệu, dù là dữ liệu cấu trúc hay phi cấu trúc cũng sẽ phần nào giúp giải tỏa áp lực cho DN Vai trò này càng được nhấn mạnh và dễ dàng nhận thấy rõ ràng nhất trong bối cảnh đại dịch Covid vừa qua đã làm xáo trộn mọi quy luật đời sống thường nhật Trong đại dịch, phần lớn mọi người phải làm việc từ xa và việc thu thập thông tin về hiệu suất làm việc cũng như mức độ hài lòng của khách hàng cũng do đó mà trở nên khó khăn hơn nhiều Vì vậy, trong bối cảnh thế giới ngày càng có nhiều biến động, công nghệ ngày càng phát triển, các DN vừa và nhỏ ngày càng phải đối mặt với nhiều thử thách dữ liệu mới Để đối phó với những khó khăn này, DN nên biết cách thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn, phân tích chúng, rồi sử dụng các phân tích này để đưa ra các quyết định phù hợp
Trong những năm qua, trong quá trình phát triển kinh tế, cùng với sự đổi mới của nền kinh
tế, hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam đã không ngừng được cải cách, phát triển và ngày càng được hoàn thiện Cụ thể, hoạt động kế toán là tổ chức và cung cấp hệ thống thông tin tài chính cho các đối tượng quan tâm tài chính nhà nước, có trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế không chỉ trong một quốc gia, mà cả bên ngoài quốc gia Kiểm toán là hoạt động kiểm tra, đánh giá, xác nhận và đảm bảo độ tin cậy của các thông tin kinh tế - tài chính do kế toán tổ chức và cung cấp Sự lành mạnh của nền tài chính quốc gia, của hoạt động kinh tế, của quản trị kinh doanh phụ thuộc vào chất lượng thông tin kinh tế - tài chính do kế toán cung cấp, do kiểm toán đánh giá và đưa ra ý kiến Và ngày nay, kế toán không phải chỉ là người cung cấp thông tin thông thường nữa mà họ còn tham gia vào quy trình chiến lược, với thời đại dữ liệu lớn, bản chất của kế toán và báo cáo tài chính không thay đổi nhưng các
Trang 40401
phương pháp truyền thống như ghi nhận, tập hợp và phân tích thông tin kế toán lại thay đổi Dữ liệu lớn và phân tích đưa ra một vấn đề cấp bách và đồng thời là cơ hội thật sự cho kế toán viên làm việc trong lĩnh vực điều tra và định giá (Kaya, I., & Akbulut, D H , 2018) Với tiềm năng giúp cải thiện đáng kể hiệu suất của DN, số lượng các công ty triển khai Big data được dự đoán
sẽ tăng gấp đôi trong tương lai gần Đề nhanh chóng bắt kịp xu thế các kế toán, kiểm toán DN cần phải sẵn sàng để tiếp nhận công nghệ mới này Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ này một cách hiệu quả không phải là điều dễ thực hiện Trong quá trình áp dụng big data, DN sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức Vì vậy cần phải làm rõ thực trạng và đánh giá các rào cản hiện đang
tồn tại trong các DNVVN cũng như sức ảnh hưởng của big data
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỮ LIỆU VÀ CÁC DN VỪA VÀ NHỎ
Có thể nói, Big data là công nghệ tiên tiến trong việc quản lý các dữ liệu, cho phép công
ty có thể dễ dàng thao tác và kiểm soát một lượng lớn thông tin nội bộ của DN
Công nghệ này có thể ghi nhớ và lưu trữ một cách rất chi tiết về tất cả thời điểm, sự kiện, các thông tin khách hàng, Cụ thể, Bigdata có hai tính năng nổi bật như sau:
Tệp lưu trữ dữ liệu lớn (large datasets): Nghĩa là một tập thông tin lớn và rất chi tiết sẽ được lưu trữ và xử lý qua công nghệ tân tiến này mà các loại máy tính truyền thống thông thường không thể xử lý nổi
Sử dụng các chiến lược (strategies) cùng tích hợp những công nghệ (technologies) để
xử lý khối lượng lượng dữ liệu lớn
Nhằm làm nên sự khác biệt với những hệ thống xử lý dữ liệu khác hiện nay thì Các Big
Data được đánh giá cao nhờ sở hữu mô hình “3Vs” 3Vs chính là Volume, Velocity và Variety
với các điểm đặc trưng sau:
Kích thước lớn (big volume): Dữ liệu có kích thước lớn có thể lên đến hàng ngàn tỉ Gigabyte hoặc thậm chí lớn hơn
Tốc độ xử lý nhanh (velocity): Dữ liệu đảm bảo xử lý các thao tác như truy xuất, cập nhật, chỉnh sửa… với tốc độ nhanh
Sự đa dạng trong dữ liệu (variety): Dữ liệu không cần tuân theo một cấu trúc và có thể lưu trữ nhiều định dạng khác nhau như văn bản, hình ảnh…
Dữ liệu chỉ đảm bảo được 1 hoặc 2 trong 3 thuộc tính trên thì chưa được coi là Big Data
Ví dụ có một số dữ liệu trong DN đảm bảo được kích thước lớn và sự đa dạng của dữ liệu nhưng lại có tốc độ xử lý dữ liệu chậm nên chưa được coi là Big Data