1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11

114 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa – Thành phố Biên Hòa đoạn từ ngã tư Tam Hiệp tới vòng xoay cổng 11
Tác giả Hoàng Văn Tâm
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Văn Bách
Trường học Trường Đại học Giao thông Vận Tải
Chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Biên Hòa
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Tính cấp thiết của đề tài (15)
  • II. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (16)
  • III. Đối tƣợng nghiên cứu (16)
  • IV. Phạm vi nghiên cứu (16)
  • V. Phương pháp nghiên cứu (16)
  • VI. Kết cấu của luận văn (16)
  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ; TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI (18)
    • 1.1. Tổng quan về tình hình an toàn giao thông trên Thế Giới (18)
      • 1.1.1. Tỷ lệ số người chết/100.000 dân của một số nước trên thế giới:[WHO] . 4 1.1.2. Tỷ lệ tai nạn giao thông một số khu vực trên Thế Giới: [WHO] (18)
      • 1.1.3. Tỷ lệ chết do TNGT theo nhóm tuổi và theo mức thu nhập trên thế giới: [WHO] (21)
      • 1.1.4. Tỷ lệ chết do TNGT theo nhóm đối tượng tham gia giao thông khác (0)
      • 1.1.5. Tai nạn giao thông một số nước trên thế giới: [WHO] (24)
      • 1.1.6. Tai nạn giao thông một số Quốc gia khu vực Đông Nam Á (26)
    • 1.2. Tổng quan về tình hình an toàn giao thông ở Việt Nam (28)
      • 1.2.1. Tình hình giao thông đường bộ của Việt Nam thời gian qua (28)
      • 1.2.2. Tình hình giao thông đường bộ của Việt Nam trong năm 2014, 2015 và (33)
    • 1.3. Tổng quan về tình hình ATGT trên tuyến đường Bùi Văn Hòa trên địa phận Tp Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai (0)
      • 1.3.1. Tổng quan về tình hình ATGT trên địa bàn TP Biên Hòa (38)
      • 1.3.2. Phân loại tai nạn giao thông: Đề xuất có 9 loại sau (39)
      • 1.3.3. Nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông (41)
      • 1.3.4. Quan hệ phát triển kinh tế xã hội và vấn đề an toàn giao thông (44)
    • 1.4. Tổng quan về điểm đen tai nạn giao thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tƣ tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 thuộc địa phận Tp Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai (44)
      • 1.4.1. Định nghĩa điểm đen tai nạn giao thông theo quan điểm của việt nam và một số nước trên thế giới (44)
      • 1.4.2. Vị trí tiềm ẩn (45)
      • 1.4.3. Các giải pháp đặc trưng để xử lý điểm đen (0)
      • 1.4.4. Tình hình ATGT tại điểm đen tai nạn đường Bùi Văn Hòa (48)
    • 1.5. Kết luận chương 1 (49)
  • CHƯƠNG 2. ĐIỀU TRA PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG AN TOÀN (51)
    • 2.1. Thực trạng ATGT trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 (51)
      • 2.1.1. Về cơ sở hạ tầng giao thông chung ở Tp Biên Hòa (51)
      • 2.1.2. Cơ sở hạ tầng giao thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư (52)
      • 2.1.3. Khảo sát hiện trạng và các vấn đề bất cập trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 (56)
    • 2.2. Khảo sát và phân tích các phương tiện giao thông lưu thông hiện hành trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 (59)
      • 2.2.1. Các loại phương tiện lưu thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa (59)
      • 2.2.2. Các loại phương tiện thường gây tai nạn trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 (60)
    • 2.3. Khảo sát và phân tích các yếu tố của người tham gia giao thông ảnh hưởng đến an toàn xe chạy trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư (60)
      • 2.3.1. Không làm chủ tốc độ (60)
      • 2.3.2. Đi sai phần đường, làn đường (62)
      • 2.3.3. Không đảm bảo khoảng cách an toàn (63)
      • 2.3.4. Thiếu tập trung quan sát (64)
      • 2.3.5. Đi ngược chiều, vượt đèn đỏ (0)
      • 2.3.6. Uống rượu, bia khi tham gia giao thông (0)
    • 2.4. Phân tích và đánh giá các yếu tố hình học đường trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tƣ tam hiệp đến vòng xoay cổng 11 thuộc địa phận Tp Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai. ảnh hưởng đến an toàn xe chạy (66)
      • 2.4.1. Yếu tố trên bình đồ (66)
      • 2.4.2. Ảnh hưởng của yếu tố trắc dọc (72)
      • 2.4.3. Ảnh hưởng của các yếu tố trên trắc ngang (73)
    • 2.5. Phân tích các nguyên nhân chủ yếu liên quan đến tai nạn giao thông trên tuyến tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp đến vòng (75)
      • 2.5.1. Nguyên nhân gây ảnh hưởng tai nạn giao thông liên quan đến kết cấu hạ tầng giao thông (75)
      • 2.5.2. Nguyên nhân liên quan đến người tham gia giao thông (75)
      • 2.5.3. Nguyên nhân liên quan đến chất lượng phương tiện tham gia giao thông (76)
      • 2.5.4. Nguyên nhân liên quan đến điều kiện môi trường (76)
    • 2.6. Kết luận chương 2 (77)
  • CHƯƠNG 3. NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU TAI NẠN GIAO THÔNG TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG BÙI VĂN HÒA ĐOẠN TỪ NGÃ TƢ TAM HIỆP ĐẾN VÒNG XOAY CỔNG 11 (78)
    • 3.1. Nghiên cứu một số giải pháp áp dụng trên thế giới (78)
      • 3.1.1. Kinh nghiệm từ Pháp (78)
      • 3.1.2. Kinh nghiệm từ Australia (78)
      • 3.1.3. Kinh nghiệm từ Nhật Bản (79)
      • 3.1.4. Kinh nghiệm từ Trung Quốc (80)
      • 3.1.5. Kinh nghiệm từ Quốc đảo Singapore (81)
      • 3.1.6. Kinh nghiệm từ Thái Lan (81)
    • 3.2. Nghiên cứu một số giải pháp áp dụng ở Việt Nam (82)
    • 3.3. Đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông (tại các điểm đen cụ thể) trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng (84)
      • 3.3.1. Nhóm giải pháp chung cho tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư (84)
      • 3.3.2. Biện pháp xử lý các khu vực thường xảy ra tai nạn giao thông (vị trí mất ATGT, nguy cơ xảy ra tai nạn, điểm đen) (87)
      • 3.3.3. Khu vực thường xảy ra TNGT thuộc Phường Long Bình – Tp Biên Hòa (88)
        • 3.3.3.1. Mô tả, phân tích hiện trạng tuyến (88)
        • 3.3.3.2. Đề xuất giải pháp xử lý (88)
      • 3.3.4. Điểm đen tai nạn trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp đến vòng xoay cổng 11 (92)
        • 3.3.4.1. Mô tả, phân tích hiện trạng tuyến (92)
        • 3.3.4.2. Mô tả, phân tích hiện trạng điểm đen Ngã tư (0)
        • 3.3.4.3. Đề xuất giải pháp xử lý (97)
    • 3.4. Đánh giá hiệu quả và vấn đề kinh tế kỹ thuật (100)
      • 3.4.1. Một số chính sách giảm thiểu TNGTĐB ở Việt Nam (100)
      • 3.4.2. Tính hiệu quả của giải pháp khi xử lý các điểm đen trên tuyến đường. 90 1. Hiệu quả về mặt xã hội (104)
        • 3.4.2.2. Hiệu quả về mặt kinh tế (105)
    • 3.5. Kết luận chương 3 (106)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (111)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI ------ HOÀNG VĂN TÂM NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG BÙI VĂN HÒA – TP BIÊN HÒA ĐOẠN TỪ NGÃ

Tính cấp thiết của đề tài

Biên Hòa, thành phố công nghiệp thuộc tỉnh Đồng Nai, nằm ở khu vực Đông Nam Bộ, Việt Nam, là đô thị loại I và là đầu mối giao thông lớn trong vùng kinh tế phía Nam Với dân số hơn 1 triệu người, Biên Hòa là thành phố trực thuộc tỉnh đông dân nhất cả nước, cách Thành phố Hồ Chí Minh 30 km và Vũng Tàu 90 km Tuy nhiên, thành phố vẫn đối mặt với nhiều vấn đề xã hội, trong đó công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông là một trong những mối quan tâm hàng đầu Các ngành chức năng và chính quyền địa phương, cùng với ngành Công an, đã nỗ lực trong việc duy trì trật tự an toàn giao thông, nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy ra ở mức cao, gây bức xúc trong xã hội và thu hút sự chú ý của các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền.

Mặc dù số điểm đen tai nạn giao thông tại TP Biên Hòa đã giảm, nhưng các cơ quan chức năng dự báo tình hình TNGT vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ Do đó, việc tiếp tục giảm thiểu và xóa bỏ các điểm đen này là một vấn đề cấp bách cần được chú trọng.

Vòng xoay cổng 11, tọa lạc trên đường Bùi Văn Hòa tại phường Long Bình, Tp Biên Hòa, là một nút giao thông quan trọng Theo báo cáo, nơi đây ghi nhận nhiều vụ tai nạn và số người thương vong đáng kể, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện an toàn giao thông tại khu vực này.

Điểm đen tai nạn giao thông tại khu vực 11 đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong thời gian qua, đặt ra thách thức cho các kỹ sư giao thông trong việc nghiên cứu và phân tích nguyên nhân gây tai nạn Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao an toàn giao thông, giảm thiểu số vụ tai nạn và thương vong là điều cần thiết Đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao An toàn giao thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa – Tp Biên Hòa, đoạn từ ngã tư Tam Hiệp đến vòng xoay Cổng 11” được thực hiện để giải quyết vấn đề cấp bách này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu thực trạng tai nạn giao thông, đánh giá tình hình hiện tại, phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình an toàn trên tuyến đường.

Đoạn đường Bùi Văn Hòa từ ngã tư Tam Hiệp đến vòng xoay cổng 11, đặc biệt là điểm đen tại vòng xoay cổng 11, cần được chú trọng nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông tại Phường Long Bình, Tp Biên Hòa.

Đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu và phân tích dữ liệu trên tuyến đường Bùi Văn Hòa, Tp Biên Hòa, từ ngã tư Tam Hiệp đến vòng xoay Cổng 11, nhằm đề xuất các giải pháp hiệu quả để giảm thiểu tai nạn giao thông.

Phương pháp nghiên cứu

Thu thập số liệu thống kê về tình hình tai nạn giao thông đường bộ và tiến hành điều tra thực tế tại một số điểm thường xuyên xảy ra tai nạn.

Phân tích các nguyên nhân và hậu quả của tai nạn giao thông

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp xử lý cụ thể.

Kết cấu của luận văn

Chương 1: Tổng quan về An toàn giao thông đường bộ và tình hình tai nạn giao thông trong Nước và trên Thế Giới

Chương 2: Phân tích và đánh giá hiện trạng an toàn giao thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa, thành phố Biên Hòa, đoạn từ ngã tư Tam Hiệp đến vòng xoay Cổng 11.

Chương 3: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa, đặc biệt là đoạn từ ngã tư Tam Hiệp đến vòng xoay cổng Các giải pháp này sẽ tập trung vào việc cải thiện an toàn giao thông, nâng cao ý thức của người tham gia giao thông và tăng cường cơ sở hạ tầng.

Kết luận và kiến nghị.

TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ; TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI

Tổng quan về tình hình an toàn giao thông trên Thế Giới

Trong thế kỷ XX, sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện giao thông đã diễn ra mạnh mẽ Từ những phương tiện thô sơ, hiện nay thế giới sở hữu hàng tỷ loại phương tiện, bao gồm xe đạp, xe gắn máy, ô tô và máy bay hiện đại.

Hàng năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ghi nhận khoảng 1,3 triệu người chết và từ 20 đến 50 triệu người bị thương do tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB), chủ yếu ở nhóm tuổi 15 - 29 Tổng thiệt hại về tài sản lên đến 518 tỷ đô la Nếu không có biện pháp phòng ngừa, TNGTĐB có thể dẫn đến cái chết của khoảng 1,9 triệu người vào năm 2020.

1.1.1 Tỷ lệ số người chết/100.000 dân của một số nước trên thế giới:

Theo số liệu thống kê, tỷ lệ số người chết/100.000 dân của các nước trên thế giới

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ số người chết/100.000 dân các nước trên Thế Giới.[Nguồn: Tạp chí Cảnh sát nhân dân Chuyên đề An toàn giao thông - Số 01/tháng 11/2014]

Bloomberg vừa công bố báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về danh sách các quốc gia có tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông trên trung bình dân số cao nhất thế giới, dựa trên số liệu năm 2013.

Theo báo cáo, các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thường ghi nhận tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông cao gấp hai lần so với các quốc gia phát triển.

Thái Lan đứng đầu thế giới về tỷ lệ tài xế "ẩu", với 36,2 người tử vong do tai nạn giao thông trên 100.000 dân So với mức trung bình 9,3 của các quốc gia phát triển, tỷ lệ này tại các nước thu nhập thấp và trung bình lần lượt là 24,1 và 18,4.

Mức trung bình toàn cầu về tỷ lệ tử vong là 17 người chết trên 100.000 dân, trong khi tại Việt Nam con số này cao hơn, đạt 24,5 trên 100.000 dân So với một số quốc gia châu Á, tỷ lệ tử vong tại Trung Quốc là 18,8, Ấn Độ là 16,6, Indonesia là 15,3 và Hàn Quốc là 12.

Philippines - 10,5 Áo, Canada và các quốc gia châu Âu có số người tỷ vong trung bình thấp nhất (dưới 10 người/100.000 dân); trong khi số liệu này ở Mỹ là 10,6

Dự báo đến năm 2030, số ca tử vong do tai nạn giao thông ở các nước nghèo và có thu nhập trung bình sẽ tăng mạnh, như thể hiện trong Biểu đồ 1.2 (đường màu nâu) [Nguồn: WHO]

Theo tổ chức từ thiện iRAP, tử vong và thương tích do tai nạn giao thông chiếm khoảng 5% GDP của các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp Tổng chi phí liên quan đến y tế, chăm sóc, giảm thu nhập và thiệt hại tài sản do tai nạn giao thông lên tới 1.900 tỉ USD mỗi năm Trung bình, 500 tỉ USD được đầu tư hàng năm để cải thiện và nâng cấp hạ tầng giao thông, nhằm kết nối cộng đồng, tạo điều kiện di chuyển thuận lợi, tăng cường việc làm và phát triển đô thị.

1.1.2 Tỷ lệ tai nạn giao thông một số khu vực trên Thế Giới:

Tai nạn giao thông là một mối đe dọa lớn đối với nhân loại Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các khu vực có tần suất tai nạn giao thông cao được thể hiện rõ trong biểu đồ 1.3.

Biểu đồ 1.3 Tỷ lệ tai nạn giao thông một số khu vực trên thế giới [Nguồn: WHO]

Theo biểu đồ 1.3, tỷ lệ tai nạn giao thông cao nhất thuộc về khu vực Châu Phi với 24.1, tiếp theo là Trung Đông với 21.3 Khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á có tỷ lệ tương đương nhau là 18.5, trong khi Châu Mỹ ghi nhận 16.1 và Châu Âu có tỷ lệ thấp nhất là 10.3.

1.1.3 Tỷ lệ chết do TNGT theo nhóm tuổi và theo mức thu nhập trên thế giới:

Theo thống kê, trung bình mỗi ngày có khoảng 3.400 người tử vong do tai nạn giao thông đường bộ, trong đó 59% là người trong độ tuổi từ 15 đến 44 và 77% số nạn nhân là nam giới.

Biểu đồ 1.4 Tỷ lệ chết do TNGT theo nhóm tuổi và theo mức thu nhập

[ Nguồn: Tạp chí CSND Chuyên đề An toàn giao thông - Số 01/tháng 11/2014]

Tỷ lệ người chết do tai nạn giao thông (TNGT) vẫn không giảm, với các nghiên cứu chỉ ra rằng các quốc gia có mức thu nhập trung bình có tỷ lệ tử vong cao nhất, đạt 20,1 người chết trên 100.000 dân Ngược lại, các nước có mức thu nhập cao ghi nhận tỷ lệ thấp nhất, chỉ 8,7 người chết trên 100.000 dân Trung bình toàn cầu hiện tại là 18 người chết trên 100.000 dân.

Các quốc gia có mức thu nhập trung bình sở hữu 52% tổng số phương tiện giao thông toàn cầu, trong khi các quốc gia có mức thu nhập cao chiếm 47% Điều này cho thấy số lượng phương tiện giữa hai nhóm quốc gia này gần như tương đương.

Biểu đồ 1.5 Số người chết do tai nạn giao thông, dân số, số phương tiện giao thông theo các nước trên thế giới theo mức thu nhập bình quân

[ Nguồn: Tạp chí CSND Chuyên đề An toàn giao thông - Số 01/tháng 11/2014]

Biểu đồ 1.5 cho thấy rõ rằng số người chết do tai nạn giao thông không chỉ phụ thuộc vào số lượng phương tiện, mà còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố quan trọng khác như trình độ dân trí, hiểu biết về luật giao thông, ý thức của người tham gia giao thông và chất lượng kết cấu hạ tầng giao thông.

1.1.4 Tỷ lệ chết do TNGT theo nhóm đối tƣợng tham gia giao thông khác nhau theo mức thu nhập:

Số lượng thống kê cho thấy rằng, 1/2 số trường hợp chết do TNGT là người đi bộ (23%), đi xe đạp (22%) và đi xe gắn máy (5%)

Tổ chức Y tế Thế giới xác định những người tham gia giao thông dễ bị tổn thương Theo thống kê, tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông ở tài xế và hành khách chiếm 31%, trong khi 19% còn lại là các đối tượng tham gia giao thông khác.

Tổng quan về tình hình an toàn giao thông ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình giao thông đường bộ của Việt Nam thời gian qua:

Theo thống kê của UBATGTQG, hàng năm Việt Nam ghi nhận từ 11.000 đến 12.000 trường hợp tử vong do tai nạn giao thông, trong đó tai nạn giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ cao với 96,5% số vụ, 97,4% số người chết và 98,7% số người bị thương trong tổng số tai nạn.

Xét về thiệt hại kinh tế do tai nạn giao thông đường bộ gây ra: [Nguồn: JICA ]

STT CHỈ SỐ GIÁ TRỊ

2 Tính theo USD 2.041 triệu đô la

3 Tính theo đồng 32.619 tỷ đồng

Tình hình TNGT ở Việt Nam những năm gần đây:

Bảng 1.3 TNGT ở Việt Nam qua các năm gần đây

TT Năm Số vụ Số người chết Số người bị thương

[Nguồn: Uỷ ban ATGT Quốc gia ]

Theo bảng 1.3, năm 2002 ghi nhận số vụ tai nạn giao thông cao nhất với ba tiêu chí: số vụ, số người chết và số người bị thương Từ đó, số vụ tai nạn giảm dần qua các năm, đến năm 2009, số vụ giảm 53%, số người bị thương giảm 74%, trong khi số người chết chỉ giảm 12,66% Tuy nhiên, năm 2011 lại chứng kiến sự gia tăng đột biến với 44.548 vụ tai nạn, tăng 256% so với năm 2009 Từ năm 2011 đến 2013, số vụ tai nạn có xu hướng giảm, với năm 2012 còn 36.376 vụ.

Năm 2013, cả nước ghi nhận 29.385 vụ tai nạn giao thông (TNGT), với số người bị thương tỷ lệ thuận với số vụ Tuy nhiên, điều đáng mừng là số người chết do TNGT đã giảm dần qua các năm, từ 11.516 người vào năm 2009 xuống còn 9.369 người vào năm 2013 Tình hình TNGT, đặc biệt là tai nạn giao thông đường bộ (TNGTĐB), đang diễn biến phức tạp, nhất là ở khu vực nông thôn, nơi có xu hướng gia tăng Đến năm 2015, số vụ TNGT đã giảm hơn 2.900 vụ so với năm trước.

Năm 2014, tai nạn giao thông (TNGT) đã giảm 325 người chết và hơn 3.800 người bị thương, với gần 10.200 vụ xảy ra, làm chết 8.671 người và gần 6.000 người bị thương Đến năm 2017, TNGT từ ít nghiêm trọng trở lên xảy ra 9.770 vụ, làm chết 8.279 người và bị thương 5.587 người Ngoài ra, va chạm giao thông xảy ra 10.310 vụ, làm 11.453 người bị thương nhẹ So với cùng kỳ năm 2016, tình hình tai nạn giao thông đã có sự giảm đáng kể.

930 vụ (giảm 8,27%), giảm 1.647 người bị thương (giảm 12,57%)

Biểu đồ 1.6 TNGTĐB phân theo loại đường [Nguồn: Cục CSGT Đường bộ - Đường sắt]

Theo hình 1.8, tai nạn giao thông (TNGT) trên Quốc lộ có xu hướng giảm, với mức giảm 30% vào năm 2011 so với năm 2007 Ngược lại, TNGT trên các đường địa phương, đặc biệt là đường đô thị, lại tăng nhanh từ 14,69% năm 2008 lên 34,60% vào năm 2011.

Biểu đồ 1.7 TNGTĐB phân theo loại phương tiện [Nguồn: Cục CSGT Đường bộ - Đường sắt]

Theo hình 1.9, tỷ lệ tai nạn giao thông (TNGT) liên quan đến xe mô tô và xe gắn máy chiếm hơn 66%, trong khi đó, tai nạn do xe ô tô chiếm trên 22% Đáng chú ý, các vụ tai nạn liên quan đến người đi bộ và xe đạp có xu hướng gia tăng, trong khi tai nạn do ô tô lại giảm từ 28,74% vào năm 2009 xuống còn 22,29% vào năm 2011.

Biểu đồ 1.8 TNGTĐB theo mức độ thương tích [Nguồn: Cục CSGT Đường bộ - Đường sắt]

Theo hình 1.10, các tai nạn nghiêm trọng chiếm 70% tổng số vụ tai nạn giao thông, trong khi tai nạn rất nghiêm trọng chỉ chiếm dưới 6% Từ năm 2008, tỷ lệ tai nạn ít nghiêm trọng đã giảm từ 16,08% xuống còn 5,80% vào năm 2009, nhưng sau đó lại tăng lên 23,30% vào năm 2010 và 26,05% vào năm 2011.

Số lượng phương tiện giao thông tăng tốc độ chóng mặt (xem biểu đồ 1.11)

Biểu đồ 1.9 Bảng thống kê, biểu đồ số lượng phương tiện (Mô tô màu nâu,Ô tô màu đỏ) ở Việt Nam [Nguồn: Cục CSGT Đường bộ - Đường sắt]

Tỷ lệ phương tiện cơ giới đường bộ trong khu vực xem bảng 1.4:

Bảng 1.4 Tỷ lệ mô tô trên tổng PTCGĐB Việt Nam so với các nước

TỶ LỆ MÔ TÔ/TỔNG PTCGĐB (%)

Theo bảng 1.4 và biểu đồ 1.11, phương tiện cơ giới đường bộ tại Việt Nam đang bùng nổ, với sự gia tăng từ 300.000 đến 600.000 phương tiện mỗi năm trước 2001 Từ năm 2001, số lượng phương tiện tăng đột biến, với mô tô tăng từ 6.210.823 lên 8.359.042 chiếc và ô tô từ 438.917 lên 557.092 chiếc Mô tô chiếm hơn 94% tổng số phương tiện, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và TP.HCM Cơ cấu phương tiện cơ giới đường bộ hiện tại không hợp lý và tiềm ẩn nguy cơ cao về tai nạn giao thông, tạo ra thách thức lớn trong việc hạn chế tai nạn.

1.2.2 Tình hình giao thông đường bộ của Việt Nam trong năm 2016, 2017 Và

Theo báo cáo của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, năm 2017, cả nước ghi nhận 20.080 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.279 người và bị thương 17.040 người So với năm 2016, số vụ tai nạn giảm 1.509 vụ (6,99%), số người chết giảm 406 (4,67%) và số người bị thương giảm 2.240 (11,62%) Cụ thể, có 9.770 vụ tai nạn nghiêm trọng trở lên, làm chết 8.279 người và 5.587 người bị thương Đồng thời, va chạm giao thông xảy ra 10.310 vụ, làm 11.453 người bị thương nhẹ, giảm 930 vụ (8,27%) và 1.647 người bị thương (12,57%) so với cùng kỳ năm trước.

Biểu đồ 1.10 Số liệu tai nạn giao thông các năm từ 2014 – 2017

Biểu đồ 1.11 Các vụ tai nạn từ năm 2013 – 2017 được báo chí tổng hợp

Biểu đồ 1.14 TNGT 7 tháng đầu năm 2017

Trong tháng 4/2017, tai nạn giao thông tăng cả 3 tiêu chí so với tháng trước, với 1.554 vụ xảy ra, làm 672 người tử vong và 1.284 người bị thương Cụ thể, trên đường bộ có 1.536 vụ, khiến 657 người chết và 1.279 người bị thương; đường sắt ghi nhận 11 vụ, làm 9 người chết và 5 người bị thương; trong khi đường thủy xảy ra 7 vụ, làm 6 người tử vong Đặc biệt, toàn quốc có 9 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm 27 người chết và 37 người bị thương.

Biểu đồ 1.12 Bảng so sánh TNGT năm 2016 – 2017

Biểu đồ 1.16 Bảng so sánh TNGT năm 2016 - 2017

Trong năm vừa qua, tai nạn giao thông đường bộ đã xảy ra 19.798 vụ, dẫn đến 8.089 người thiệt mạng và 16.970 người bị thương Đặc biệt, có 62 vụ tai nạn nghiêm trọng đã làm chết 199 người và làm 189 người bị thương.

Vào ngày 30/12/2017, theo báo cáo của Bộ Công an, cả nước ghi nhận 34 vụ tai nạn giao thông trong kỳ nghỉ Tết Dương lịch, dẫn đến 29 người tử vong và 32 người bị thương Mặc dù trong năm 2017, số vụ tai nạn giao thông, số người chết và bị thương trên các lĩnh vực đường bộ, đường sắt và đường thủy đều giảm, nhưng số người chết trong lĩnh vực hàng hải lại có xu hướng tăng cao.

Tổng quan về tình hình ATGT trên tuyến đường Bùi Văn Hòa trên địa phận Tp Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai

1.3.1 Tổng quan về tình hình ATGT trên địa bàn TP Biên Hòa

Theo thống kê từ Phòng CSGT - CATP Biên Hòa, mặc dù thành phố đã nỗ lực triển khai nhiều giải pháp để kiềm chế tai nạn giao thông, tình hình an toàn giao thông vẫn phức tạp Số vụ tai nạn giao thông tại TP.Biên Hòa không giảm, mà còn tăng đột biến ở cả ba tiêu chí: số vụ, số người chết và bị thương trong 6 tháng đầu năm 2018.

Hòa xảy ra 97 vụ TNGT, làm 53 người chết và 71 người bị thương so với cùng kỳ năm 2017, tăng 38 vụ tai nạn, tăng 5 người chết và tăng 36 người bị thương

TP Biên Hòa có nhiều trục đường Bắc - Nam với mật độ lưu lượng phương tiện lớn, dẫn đến tình trạng tai nạn giao thông (TNGT) chiếm khoảng 50% tổng số vụ tai nạn của toàn tỉnh Các tuyến đường như quốc lộ 1, quốc lộ 51, Bùi Văn Hòa và Võ Thị Sáu được đánh giá có tình hình giao thông phức tạp do lượng phương tiện đông đúc.

Tại các nút giao thông quan trọng như ngã tư Vũng Tàu, ngã tư Amata và ngã ba Phát Triển, tín hiệu giao thông chưa hợp lý dẫn đến tình trạng ùn tắc và tai nạn liên tục vào giờ cao điểm Trên quốc lộ 1, đoạn qua thành phố, nhiều "điểm đen" an toàn giao thông tồn tại lâu dài chưa được xử lý, khiến người dân lo lắng khi lưu thông, đặc biệt là đoạn qua 2 phường Tân Hòa và Tân Biên dài khoảng 1km.

Đoạn đường từ ngã tư Vũng Tàu đến cầu Đồng Nai (km1861 - km1862) cần được chú trọng về an toàn giao thông Ban An toàn giao thông tỉnh nhận định rằng TP.Biên Hòa cần tăng cường công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường sắt Hiện tại, các lối đi dân sinh vẫn tồn tại dọc hai bên đường sắt, và tình trạng lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường sắt vẫn diễn ra tại các phường Long Bình, Tân Hiệp, Tân Biên.

Trong nhiều năm qua, tình hình TNGT ở TP.Biên Hòa luôn ở mức cao

Gia tăng dân số cơ học dẫn đến mật độ phương tiện giao thông ngày càng cao, trong khi cơ sở hạ tầng không đáp ứng đủ nhu cầu Ý thức chấp hành Luật Giao thông đường bộ của một số người tham gia giao thông còn hạn chế, với nhiều vi phạm phổ biến như chạy quá tốc độ, sử dụng rượu bia khi lái xe, vượt ẩu và chạy ngược chiều Hơn nữa, việc bố trí lực lượng tuần tra và kiểm soát trên các tuyến đường chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến tình trạng an toàn giao thông phức tạp và gia tăng các vụ tai nạn nghiêm trọng tại nhiều khu vực như ngã tư Vũng Tàu, ngã tư Amata và cầu Sập.

Ban An toàn giao thông TP.Biên Hòa sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông đến cuối năm Đặc biệt, sẽ chú trọng vào vai trò của lãnh đạo tại các xã, phường có tình hình giao thông phức tạp.

Qua đó, quyết tâm phòng ngừa, hạn chế xảy ra các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng”

1.3.2 Phân loại tai nạn giao thông: Đề xuất có 9 loại sau:

TNGT (tai nạn giao thông) xảy ra do sự tương tác giữa các nguyên nhân nội tại và bên ngoài; khi cả hai yếu tố này được cải thiện, an toàn giao thông sẽ được đảm bảo Ngoài ra, TNGT có thể được phân loại thành hai loại: TNGT thuần túy và TNGT suy đoán, dựa trên kết quả của sự lựa chọn.

Tai nạn giao thông (TNGT) có thể được phân loại thành hai cách xử lý: TNGT tập trung và TNGT phân tán Điều này có nghĩa là tai nạn không chỉ do một nguyên nhân cố định mà phát sinh từ nhiều yếu tố khác nhau Chẳng hạn, khi lưu thông qua một đoạn đường, tai nạn có thể xảy ra do ý thức tham gia giao thông kém hoặc do các phương tiện tham gia giao thông không đảm bảo an toàn.

Theo tác động dẫn xuất: TNGT trực tiếp và tai nạn giao thông gián tiếp

Theo đối tượng tổn thất: Về tài sản, con người, tổn thất về thời gian, tâm lý và gắn liền với trách nhiệm pháp lý

Theo tốc độ xảy ra: Tốc độ tai nạn xảy ra nhanh, chậm tùy tình huống xảy ra

Theo Mức độ cảm nhận: Dự đoán được hoặc không dự đoán được mức độ

Theo Phạm vi ảnh hưởng: Tai nạn mang tính chất cơ bản, tai nạn mang tính

Theo Mức độ: Rất cao (Người chết), cao (Chấn thương nặng), thông thường (Chấn thương nhẹ), không phân loại (Chấn thương không phân loại)

1.3.3 Nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông:

Biến đổi khí hậu là một vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến an toàn giao thông (ATGT) thông qua các hiện tượng như bão lũ và triều cường Các yếu tố thời tiết như mưa, nắng, gió, cùng với điều kiện đường xá và tình trạng phương tiện, cũng như khí hậu trong buồng lái, đều có tác động đáng kể đến ATGT.

Thông tin từ môi trường là yếu tố quan trọng giúp người lái kịp thời xử lý các tình huống bất ngờ, như điều chỉnh tốc độ hoặc thay đổi hướng đi Ngược lại, nếu thông tin không phù hợp, người lái sẽ dễ bị động, dẫn đến nguy cơ tai nạn giao thông.

Khi lái xe, người điều khiển cần thực hiện ba nhiệm vụ chính: xác định và giám sát hành trình, điều khiển phương tiện, và đảm bảo sự ổn định trong quá trình di chuyển.

* Cơ sở hạ tầng giao thông:

- Hạ tầng lạc hậu, yếu kém Số lượng đường có nhiều làn xe còn rất ít, các loại khác nhau cùng lưu thông trên cùng một phần xe chạy

- Dân số và số lượng phương tiện nhanh cơ sở hạ tầng chưa kịp đáp ứng

Việc sửa chữa, nâng cấp các tuyến đường thực sự gây trở ngại, ùn tắc

Dòng xe mô tô, xe máy chưa được quản lý và tổ chức khai thác hợp lý

Các yếu tố hình học (Bình đồ, trắc dọc, trắc ngang, ) của đường đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo ATGTĐB

Chất lượng thi công, quản lý khai thác đường cũng rất quan trọng

* Phương tiện tham gia giao thông:

Xe máy chiếm tỷ lệ lớn trong giao thông Việt Nam, với đặc điểm phức tạp và dòng xe hỗn hợp trên đường, điều này tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông cao.

Chất lượng của các phương tiện này không được kiểm tra định kỳ có khả năng cao gây TNGT

Phương tiện công cộng tham gia giao thông như xe buýt lưu hành và đỗ đón khách gây cản trở không nhỏ trong giao thông đô thị

Ý thức tham gia giao thông của người dân còn yếu kém và thiếu tự giác, với hơn 60% tai nạn giao thông do người điều khiển phương tiện gây ra Bên cạnh các yếu tố như môi trường, đường xá và phương tiện, ý thức của người tham gia giao thông đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra tai nạn.

Các nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông đường bộ bao gồm phán đoán sai tốc độ, thu hẹp giới hạn an toàn, và sao nhãng các quy tắc luật lệ giao thông Bên cạnh đó, áp lực xã hội và áp lực khi tham gia giao thông, cùng với việc lạm dụng các chất kích thích, cũng có ảnh hưởng đáng kể đến an toàn giao thông.

Hệ thống các yếu tố cơ bản tác dụng lên người lái xe xem bảng 1.5:

Bảng 1.5 Bảng tổng hợp các yếu tố tác dụng lên người lái xe

Mức độ Sự hiểu biết Các nhân tố gia tăng nguy cơ rủi ro Tự đánh giá

Mục đích và kĩ năng cho cuộc sống

Nhận thức /kiểm soát các mục tiêu, hành vi của người tham gia giao thông…đến quá trình xe chạy

Nhận thức và kiểm soát rủi ro là yếu tố quan trọng trong việc kết nối các mục tiêu cuộc sống với hành vi của người tham gia giao thông Áp lực xã hội và mức độ lạm dụng các chất kích thích cũng ảnh hưởng đáng kể đến hành vi này.

Nhận thức về xu hướng cá nhân như: điều khiển hành vi, động cơ, lối sống và các giá trị nhận thức khác

Mục đích và tình huống trong quá trình điều khiển xe

Hành trình có sự Xác định, ảnh hưởng đến những mục tiêu, lựa chọn môi trường, ảnh hưởng của áp lực xã hội và các đánh giá cần thiết

Tổng quan về điểm đen tai nạn giao thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tƣ tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 thuộc địa phận Tp Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai

1.4.1 Định nghĩa điểm đen tai nạn giao thông theo quan điểm của việt nam và một số nước trên thế giới Điểm đen có thể định nghĩa theo số lượng, hoặc theo thống kê, hoặc theo mô hình, một số nước có định nghĩa điểm đen như sau:

Quốc gia Đức: Đoạn đường 300m có ít nhất 5 tai nạn tương tự trong một năm hoặc 03 tai nạn trong 03 năm

Quốc gia Đan Mạch ghi nhận rằng một đoạn đường hoặc nút giao có số vụ tai nạn giao thông cao có ý nghĩa thống kê hơn so với các nút giao tương tự với cùng lưu lượng Thông thường, những đoạn đường này thường có ít nhất 04 vụ tai nạn trong vòng 05 năm.

Quốc gia Na Uy: Một đoạn đường dài 100 m có nhiều hơn 04 người chết

Quốc gia Áo xác định đoạn đường có ít nhất 03 tai nạn gây thương tật trở lên và có hệ số tương quan Rk tối thiểu từ 0.8 theo công thức cụ thể.

U: Tổng số người chết và thương tật trong 03 năm trên đoạn đường 200m

AADT: Lưu lượng xe ngày đêm trung bình năm

Quốc gia Hy Lạp ghi nhận tỷ lệ tai nạn giao thông có người chết và bị thương cao hơn từ 90% đến 97% so với phân phối Poison, dựa trên số liệu từ các đoạn đường tương tự.

Theo Tiểu ban ATGT thuộc Uỷ ban châu Âu, "Điểm đen" là thuật ngữ chỉ những vị trí, đoạn đường hoặc nút giao thông trên mạng lưới đường bộ của một quốc gia hoặc khu vực, nơi đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông (TNGT) trong một khoảng thời gian nhất định, dẫn đến thương vong và thiệt hại lớn về người và tài sản Thời gian này thường được xác định trong khoảng từ 3 năm trở lên.

5 năm gần nhất trở lại

Theo Thông tư số 26/2012/TT-BGTVT ngày 20/7/2012, điểm đen được định nghĩa là nơi thường xảy ra tai nạn giao thông "Điểm" ở đây có thể hiểu là một vị trí, đoạn đường hoặc khu vực nút giao Để xác định điểm đen, cần dựa vào tình hình tai nạn giao thông trong một năm, với các tiêu chí như: 02 vụ tai nạn có người chết; 03 vụ tai nạn trở lên, trong đó có 01 vụ có người chết; hoặc 04 vụ tai nạn trở lên, nhưng chỉ có người bị thương.

Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chuẩn mực quốc tế về điểm đen TNGT

“Điểm đen” được xác định và phân loại dựa trên việc đánh giá, nhận xét và thống kê mức độ tai nạn giao thông (TNGT) trong một khoảng thời gian nhất định Mỗi quốc gia có khái niệm về “Điểm đen” phù hợp với điều kiện giao thông và hạ tầng của mình.

Vị trí tiềm ẩn tai nạn bao gồm các đoạn đường có hư hỏng mặt đường như nứt do mỏi, lún vệt bánh xe, nứt do nhiệt, xô đẩy mặt đường, bong bật và nứt phản ảnh Cần xem xét thêm các đoạn đường có lún sụt nền móng, tăng tải trọng và lưu lượng xe, cùng với các yếu tố hình học đường ô tô thiết kế chưa hợp lý, vì chúng có thể dẫn đến xung đột nguy hiểm.

Theo Thông tư số 26/2012/TT-BGTVT ngày 20/7/2012, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam được định nghĩa là nơi có khả năng xảy ra tai nạn Để xác định điểm tiềm ẩn, cần xem xét hiện trạng công trình đường bộ, tổ chức giao thông và tình hình tai nạn trong vòng một năm Các yếu tố gây mất an toàn giao thông xung quanh vị trí cũng là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá.

05 vụ va chạm trở lên hoặc có ít nhất 01 vụ tai nạn nhưng chỉ có người bị thương

1.4.3 Các giải pháp đặc trƣng để xử lý điểm đen:

* Các tiêu chí và nguyên tắc xác định điểm đen:

Bảng 1.6 Các yếu tố hình thành nên điểm đen

STT Yếu tố ảnh hưởng trực tiếp góp phần tạo nên điểm đen

Các biểu hiện bất lợi và nguy hiểm

1 Cấp hạng kỹ thuật và các yếu tố hình học của tuyến

- Bán kính lồi lõm nhỏ

- Mặt đường ẩm ướt, bụi

- Thiếu biện pháp thi công

- Thiếu biển báo, sơn kẻ đường

- Không có dải phân cách

- Không có tường hộ lan

5 Điều kiện xe chạy trên đường

- Khu vực bệnh viện, trường học, chợ ở ngay ven đường

- Khu vực đông dân cư

- Khu vực có sương mù, nhiều mưa

- Khu vực có sạt lở đất

- Khu vực thiếu ánh sáng

6 Yếu tố ý thức con người

- Chạy quá tốc độ cho phép

- Uống rượu bia, buồn ngủ

- Thiếu tự giác chấp hành luật

* Trình tự và biện pháp xử lý điểm đen:

Theo Thông tư số 26/2012/TT-BGTVT ban hành ngày 20/7/2012 của Bộ Giao thông vận tải, có hiệu lực từ ngày 15/9/2012, quy định trình tự xử lý điểm đen và điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông gồm 08 bước Thông tư này thay thế Quyết định số 13/2005/QĐ-BGTVT ngày 02/02/2005.

Bước 1: Xác định và sơ bộ xếp hạng ưu tiên xử lý

Bước 2: Thị sát hiện trường lần đầu

Bước 3: Phân tích và sơ bộ xác định nguyên nhân

Bước 4: Nghiên cứu hiện trường lần hai để xác định nguyên nhân

Bước 5: Lựa chọn biện pháp khắc phục

Bước 6: Xác định cơ quan chịu trách nhiệm xử lý

Bước 7: Thực hiện xử lý điểm đen, điểm tiềm ẩn tai nạn giao thông

Bước 8: Theo dõi và đánh giá kết quả

Sơ đồ các giải pháp đặc trưng để xử lý điểm đen:

1.4.4 Tình hình ATGT tại điểm đen tai nạn đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tƣ tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 Ðường Bùi Văn Hòa là trục đường quan trọng kết nối QL 1 và QL 51, xuyên qua các KCN Biên Hòa 2, Long Bình và Khu kinh tế Tân Cảng Long Bình Mật độ giao thông đông đúc, đặc biệt là các giờ cao điểm, trong khi đó, quy mô hiện hữu chỉ 12m với 2 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ, không đáp ứng được nhu cầu vận tải và giao thông đô thị Đường Bùi Văn Hòa kết nối QL1 ( ngã tư Tam Hiệp) và QL51 ra - vào nội ô TP Biên Hòa (Đồng Nai) nằm ở cửa ngõ hai khu công nghiệp (KCN) Loteco và Biên Hòa 2 đang ngày càng trở nên chật hẹp, quá tải do lưu lượng phương tiện trên tuyến quá cao, trong khi người dân lấn chiếm lòng đường họp chợ, bán hàng Dù đường xuống cấp, chật hẹp, nhưng các xe ben, xe tải, container… từ Mỏ đá Tân Cang các KCN đổ ra chạy rầm rập, phóng nhanh, vượt ẩu, khiến nhiều người đi đường luôn cảm thấy bất an

Khu vực đường Bùi Văn Hòa từ ngã tư Tam Hiệp đến vòng xoay cổng 11 là một trong những điểm nóng về tai nạn giao thông tại TP Biên Hòa trong những năm qua, với nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng dẫn đến tử vong.

Bảng thống kê tai nạn giao thông đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11

Theo số liệu năm 2016, đoạn đường Bùi Văn Hòa (từ vòng xoay Tam Hiệp hướng về vòng xoay Cổng 11) chiếm 16,49% tổng số tai nạn giao thông tại thành phố Biên Hòa, với tỷ lệ người chết là 13,8% và số người bị thương là 23,2% so với toàn thành phố.

Năm 2017, tai nạn giao thông tại thành phố Biên Hòa chiếm 6,5% tổng số vụ, trong đó tỷ lệ tử vong là 6,8% và tỷ lệ người bị thương là 10,4% so với toàn thành phố, theo số liệu thống kê của Ban An Toàn Giao Thông.

Qua đó chúng ta thấy, đường Bùi Văn Hòa là một trong những tuyến đừng có lượng tai nạn xảy ra chiếm tỉ lệ cao trong thành phố

Năm Số vụ tai nạn Chết Bị thương

Theo thống kê từ Ban An toàn Giao thông TP Biên Hòa, trong giai đoạn 2016 – 2017, đường Bùi Văn Hòa ghi nhận tình trạng tai nạn giao thông đáng lo ngại Khu vực này có mật độ phương tiện di chuyển rất cao, đặc biệt là xe container, xe tải, ô tô và xe máy.

Kết luận chương 1

Để cải thiện tình hình an toàn giao thông và giảm số vụ tai nạn giao thông, cần thực hiện các chính sách pháp luật kết hợp với việc đẩy mạnh giáo dục và tuyên truyền luật giao thông đường bộ Việc nâng cao ý thức của người tham gia giao thông và xây dựng văn hóa giao thông là rất quan trọng, trong đó yếu tố nhận thức của con người được đặt lên hàng đầu Đồng thời, cần đầu tư vào hạ tầng giao thông với chiến lược và tầm nhìn lâu dài, xây dựng hệ thống giao thông thông minh (ITS).

TNGT ở Việt Nam ngày càng phức tạp với số vụ tai nạn không giảm đáng kể Cơ sở hạ tầng giao thông yếu kém, không đáp ứng nhu cầu thực tiễn, cùng với các yếu tố kỹ thuật, khai thác đường và ý thức của người tham gia giao thông đã gây thiệt hại lớn về người và phương tiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Để giảm thiểu tai nạn giao thông, cần có sự nỗ lực và chỉ đạo quyết liệt từ các cấp Trung ương đến địa phương.

Để đảm bảo an toàn giao thông, cần thực hiện một số biện pháp quan trọng như: thiết kế, khai thác và quản lý đường với quan điểm an toàn; nâng cao năng lực cho cơ quan quản lý an toàn giao thông; phát triển các cơ chế và chính sách nhằm xã hội hóa công tác đảm bảo an toàn giao thông; tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục về an toàn giao thông đường bộ; và đầu tư xây dựng các công trình, trang thiết bị đảm bảo an toàn giao thông.

Trước tình hình tai nạn giao thông (TNGT) ngày càng phức tạp, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai, việc nghiên cứu giải pháp giảm thiểu TNGT trở nên cấp thiết Đoạn đường Bùi Văn Hòa từ ngã tư Tam Hiệp đến vòng xoay cổng 11, TP Biên Hòa, cần được chú trọng để đảm bảo an toàn giao thông cho người dân.

ĐIỀU TRA PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG AN TOÀN

Thực trạng ATGT trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11

2.1.1 Về cơ sở hạ tầng giao thông chung ở Tp Biên Hòa:

Trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ, đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị trở thành thách thức lớn cho các siêu đô thị đang phát triển Tại TP Biên Hòa (Việt Nam), các phương thức đầu tư hạ tầng giao thông truyền thống, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và vốn ODA, đang gặp phải nhiều hạn chế.

Quy hoạch Giao Thông đến năm 2020 của TP.Biên Hòa, được điều chỉnh vào năm 2013, nhằm hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giao thông trong thập niên tới Nội dung quy hoạch dựa trên dự báo từ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, với dự kiến dân số tăng và kinh tế phát triển mạnh trong giai đoạn 2015-2025 Các mục tiêu của quy hoạch giao thông được chia thành ba điểm chính.

Cải thiện mạng lưới giao thông hiện tại bằng cách xây dựng thêm nhiều tuyến đường, cao tốc, đường vành đai và hầm chui.

Giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông bằng cách phát triển mạng lưới giao thông công cộng quy mô

Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng cảng quốc tế là yếu tố quan trọng để kết nối với các thành phố trên toàn cầu, bao gồm cả cảng nước sâu và sân bay quốc tế mới.

Hình 2.1 Sơ đồ hành chính Tp Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai

2.1.2 Cơ sở hạ tầng giao thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 Tp Biên Hòa

Mặt bằng tổng thể hiện trạng tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tạm hiệp tới vòng xoay cổng 11 Tp Biên Hòa

Hình 2.2 Mặt bằng tổng thể hiện trạng tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11

Mặt cắt ngang hiện trạng tuyến: đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 TP Biên Hòa

Đường Bùi Văn Hòa dài gần 6km, bắt đầu từ quốc lộ 1 (hầm chui Tam Hiệp) và kết thúc tại vòng xoay nút giao đường Võ Nguyên Giáp Mặt đường hiện tại hẹp, chỉ từ 12-15m, gây bất tiện và tiềm ẩn nguy cơ tai nạn, kẹt xe do lưu lượng xe ngày càng tăng Vì lý do này, cách đây 5 năm, đã có kế hoạch mở rộng tuyến đường Đây là tuyến giao thông quan trọng cho 3 khu công nghiệp: Biên Hòa 2, LOTECO, AGTEX Long Bình và cảng cạn ICD Tân Cảng - Long Bình Trong khi Khu công nghiệp Biên Hòa 2 có nhiều hướng thoát ra quốc lộ 1 và quốc lộ 51, thì LOTECO và AGTEX Long Bình chỉ có lối đi duy nhất qua đường Bùi Văn Hòa, dẫn đến lượng xe ra vào rất lớn.

Hình 2.4 Ngã tư tam hiệp thành phố Biên Hòa

Hình 2.5 Vòng xoay cổng 11 Tp Biên Hòa

Mặc dù đường Bùi Văn Hòa là tuyến giao thông chính kết nối khu công nghiệp phía nam, nhưng từ ngã tư Tam Hiệp đến vòng xoay cổng 11 vẫn sử dụng các trụ đèn tín hiệu cũ và vị trí lắp đặt không phù hợp Nhiều biển báo bị che khuất, và một số trụ đèn tín hiệu phục vụ cho nhiều làn đường, gây khó khăn cho người tham gia giao thông trong việc xác định tín hiệu và tuân thủ luật lệ giao thông.

2.1.3 Khảo sát hiện trạng và các vấn đề bất cập trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tƣ tam hiệp tới vòng xoay cổng 11

Quá tải ngày càng nặng

Đường Bùi Văn Hòa thường xuyên xảy ra tình trạng kẹt xe, đặc biệt vào sáng sớm và chiều muộn, gây khó khăn cho người tham gia giao thông Tình trạng này càng trở nên nghiêm trọng khi các hộ kinh doanh bày bán hàng hóa ra vỉa hè, chiếm dụng làn đường dành cho người đi bộ, làm tăng nguy cơ mất an toàn giao thông Đây là tuyến đường quan trọng kết nối các khu công nghiệp Biên Hòa 2, Long Bình và khu kinh tế Tân Cảng với QL1, QL51, phục vụ hàng trăm ngàn người lao động Với dân số lên đến 200.000 người tại hai phường Long Bình và Long Bình Tân, đường Bùi Văn Hòa luôn trong tình trạng quá tải Nhiều tài xế như anh Thanh cho biết, có những ngày chỉ để di chuyển hết vài km trên tuyến đường này đã mất hơn 1 giờ, và tình trạng ngập nước vào mùa mưa càng làm cho việc di chuyển trở nên khó khăn hơn.

Kẹt xe và ùn tắc giao thông thường xuyên xảy ra do lưu lượng xe quá lớn, đặc biệt là trên tuyến đường chạy xuyên qua hai khu công nghiệp, nơi có nhiều xe tải và xe container ra vào các nhà máy.

Ban An toàn giao thông tỉnh đã lắp đèn tín hiệu tại khu vực đường rẽ vào Khu kinh tế Tân Cảng Long Bình để điều tiết giao thông, mang lại hiệu quả bước đầu Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời và cục bộ Để giải quyết triệt để tình trạng quá tải trên toàn tuyến đường, TP Biên Hòa và tỉnh đã triển khai dự án nâng cấp, mở rộng đường Bùi Văn Hòa.

Hệ thống an toàn giao thông hiện trạng gồm biển báo vào đường cong, cọc tiêu, vạch sơn phản quang: đã hư hỏng hoặc không còn tác dụng

Tầm nhìn khi lái xe bị hạn chế bởi các cây tạp, trụ bê tông và biển quảng cáo dọc hai bên đường.

Trên tuyến có nhiều ngã tư giao cắt với lưu lượng giao thông đông đúc rất nguy hiểm cho lái xe trên đường

Việc lấn chiếm vĩa hè làm nơi kinh doanh buôn bán làm mất trật tự

Tình trạng kẹt xe cục bộ xảy ra do nhiều kho hàng và bãi xe tư nhân ra vào, khiến việc đón trả khách trở nên phức tạp và gây cản trở giao thông vào giờ cao điểm.

Các chợ tự phát xuất hiện dưới lòng đường dành cho người đi bộ và xe máy, gây ra tình trạng mất an toàn giao thông Người dân cho biết: “Người đi xe máy phải nín thở khi len vào phần đường của xe tải, không ít vụ va chạm nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến tử vong đã xảy ra!”

Hệ thống cọc tiêu và biển báo giao thông hiện tại, bao gồm biển báo vào đường cong, cọc tiêu và vạch sơn phản quang, đang trong tình trạng hư hỏng hoặc không còn hiệu quả.

Hình 2.6 Xe tải, xe container đậu tràn ra lòng đường trước tiệm sửa xe trên đường

Hình 2.7 Giờ cao điểm tại đường Bùi Văn Hòa

Hình 2.8 Chợ K8 mọc tràn ra đường Bùi Văn Hòa

Hình 2.9 Sau một trận mưa lớn ở đường Bùi Văn Hòa

Khảo sát và phân tích các phương tiện giao thông lưu thông hiện hành trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11

2.2.1 Các loại phương tiện lưu thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa

Tuyến đường Bùi Văn Hòa, từ ngã tư Tam Hiệp đến vòng xoay cổng 11, là khu vực có mật độ giao thông cao với sự hiện diện của nhiều loại phương tiện như xe tải, xe container, ô tô và xe gắn máy, đặc biệt vào các giờ cao điểm.

Trên tuyến đường này, mật độ xe vận tải và xe container rất lớn, đặc biệt tại các khu công nghiệp và bến bãi nhà xe Lưu lượng xe vận tải chủ yếu hướng về các khu công nghiệp, trong khi đó, đoạn tuyến này cũng là nơi di chuyển của công nhân, dẫn đến sự đông đúc của xe khách và xe dù.

Mật độ xe công cộng ( xe buýt, xe đưa rước ) cao vào thời điểm buổi chiều hết giờ làm việc

Mật độ xe máy tại các khu công nghiệp ra vào tập nập

Ngoài ra, còn tồn tại nhiều phương tiện giao thông thô sơ như xe lôi và xe chở hàng nông sản bán trên vỉa hè, cùng với các phương tiện tự chế thường được sử dụng để lấn chiếm vỉa hè phục vụ cho hoạt động kinh doanh.

2.2.2 Các loại phương tiện thường gây tai nạn trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tƣ tam hiệp tới vòng xoay cổng 11 TP Biên Hòa

Năm 2016, đoạn đường Bùi Văn Hòa (từ vòng xoay Tam Hiệp hướng về vòng xoay Cổng 11) ghi nhận 16,49% tổng số tai nạn tại thành phố Biên Hòa, với tỷ lệ người chết chiếm 13,8% và số người bị thương chiếm 23,2% so với toàn thành phố.

Năm 2017, tai nạn giao thông tại thành phố Biên Hòa chiếm 6,5% tổng số vụ, trong đó tỷ lệ tử vong là 6,8% và tỷ lệ người bị thương là 10,4% so với toàn thành phố, theo số liệu thống kê của Ban An Toàn Giao Thông.

Qua đó chúng ta thấy, đường Bùi Văn Hòa là một trong những tuyến đừng có lượng tai nạn xảy ra chiếm tỉ lệ cao trong thành phố

Các tai nạn giao thông chủ yếu xảy ra do va chạm giữa các loại phương tiện như xe khách, xe container, xe máy, xe ô tô con và các phương tiện thô sơ (Xem phụ lục số vụ tai nạn đính kèm)

Qua nhưng con số “biết nói” ở trên chung ta cần phải có cái nhìn thay đổi về

An toàn giao thông trên tuyến đường Bùi Văn Hòa một cách thiết thực hơn nữa.

Khảo sát và phân tích các yếu tố của người tham gia giao thông ảnh hưởng đến an toàn xe chạy trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tư

Người tham gia giao thông và nhận thức đầy đủ là yếu tố quyết định đến an toàn giao thông, nhưng khả năng nhận thức kém và thiếu tự giác, đặc biệt ở khu vực nông thôn, vẫn là vấn đề lớn Ngoài các nguyên nhân về môi trường, đường xá và phương tiện, ý thức của người tham gia giao thông đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra tai nạn giao thông Các nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn bao gồm không làm chủ tốc độ, phán đoán sai tốc độ, thiếu tập trung quan sát và đi ngược chiều.

2.3.1 Không làm chủ tốc độ:

Lái xe thường xuyên vượt quá tốc độ, đặc biệt là thanh thiếu niên, dẫn đến những tình huống khó kiểm soát Một ví dụ điển hình là vụ tai nạn xảy ra vào lúc 15h00 ngày 23.08.2016 tại đường Bùi Văn Hòa, TP Biên Hòa, Đồng Nai Tai nạn liên quan đến xe ô tô tải BKS: 51C-277.51 do Võ Hoàng Ân điều khiển và xe mô tô BKS: 98N5-2661 do Nguyễn Thị Yên điều khiển, cả hai phương tiện di chuyển cùng chiều trên QL51.

- Hậu quả: Chết 01 người(Yên), hư hỏng nhẹ 01 mô tô

- Nguyên nhân: Do xe ô tô tải 51C – 277.51 với nguyên nhân không làm chủ tốc độ

Hình 2.10 Tai nạn do không chấp hành qui định về tốc độ Sang đường, chuyển hướng không đúng quy định:

Vào buổi trưa, khi đường phố vắng xe, người đi bộ thường không chú ý đến các phương tiện giao thông Đồng thời, ngoài đường cũng trở thành nơi vui chơi của trẻ em nông thôn, khiến việc lái xe và băng qua đường trở nên rất nguy hiểm.

Khi tham gia giao thông, người điều khiển thường không tuân thủ luật lệ, dẫn đến việc chuyển hướng đột ngột mà không có tín hiệu thông báo Điều này gây ra phản ứng chậm từ các phương tiện khác, làm tăng nguy cơ tai nạn giao thông.

Vào lúc 15h15 ngày 11/11/2017, tại đường Bùi Văn Hòa, KP11, P An Bình, Biên Hòa, ĐN, xe mô tô 36G1-154.48 chở hai người, gồm Mai Văn Trường (SN 1988, ngụ Nga Trường, Nga Sơn, Thanh Hóa) và Nguyễn Hùng Tài (SN 1993, ngụ ấp 7, Phú Ngọc, Định Quán, ĐN), đã va chạm với ô tô tải thùng 60C-024.82 do Phạm Cao Vinh điều khiển.

1991, ngụ Đồng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh điều khiển lưu thông hướng ngược lại

Hậu quả: Tài chết tại BV, hỏng nhẹ 2 xe liên quan

(Nguồn Công An Giao Thông)

2.3.2 Đi sai phần đường, làn đường: Đây là hiện tượng khá phổ biến ở các tuyến đường tỉnh, trên đường có bố trí làn dành riêng cho xe máy, tuy nhiên do phương tiện lưu thông trên đường vào giờ rảnh, hoặc giờ cao điểm cũng vậy người điều khiển xe thấy đường trống sẵn sàng lấn chiếm và chạy với tốc độ nhanh, bất chấp các phương tiện khác phía sau, khả năng xảy ra va chạm, nguy hiểm là rất lớn

Vào lúc 22h30’ ngày 02/8/2017, tại đường Bùi Văn Hòa, KP6, P Long Bình, Biên Hòa, một vụ va chạm giao thông đã xảy ra giữa xe mô tô biển số 37H1-209.23, do người điều khiển chưa rõ danh tính, lưu thông hướng QL51 và xe mô tô BKS 86B8-272.96, do Kiều Quang Trường, sinh năm 1993, trú tại Vũ Hòa, Đức Linh, Bình Thuận, điều khiển lưu thông ngược lại.

Hậu quả: Kiều Quang Trường bị thương nặng Hai xe mô tô hư hỏng nhẹ không đúng chiều đường làn đường quy định

Hình 2.11 Hiện trường vụ tai nạn ngày 2/8/2017

2.3.3 Không đảm bảo khoảng cách an toàn:

Các phương tiện giao thông trên đường cần duy trì một khoảng cách an toàn nhất định để đảm bảo lưu thông dễ dàng và tránh va chạm Tuy nhiên, do mật độ phương tiện chưa cao, vấn đề này thường ít xảy ra trên các tuyến đường nông thôn.

Hồi 20h50’ ngày 04/09/2016, tại đường 2, KCN Biên Hòa 2, P An Bình, Đồng

Nai xảy ra 01 vụ tai nạn: xe ô tô khách BS 60B – 033.94 do Nguyễn Kim Hùng SN:

1966 ngụ tại P.An Bình, Biên Hòa, Đồng Nai, lưu thông hướng Bùi Văn Hòa đi hướng ngã 4 Vũng Tàu đã va chạm với xe mô tô 60K2 – 4990 do Nguyễn Quốc

Phong, Sn 1978, ngụ tại KP4, P Tam Hiệp, Tp Biên Hòa điều khiển lưu thông hướng ngược lại

Người điều khiển xe mô tô 60K2 – 4990 đã bị thương nặng và qua đời tại bệnh viện do không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước và đi không đúng làn đường quy định.

Hình 2.12 Hiện trường vụ tai nạn ngày 4/9/2016

2.3.4 Thiếu tập trung quan sát:

Người điều khiển phương tiện cần chú ý quan sát để xử lý và phán đoán tình huống giao thông Thiếu quan sát có thể dẫn đến nguy cơ tai nạn giao thông cao.

Vào lúc 00h30’ ngày 12/10/2016, một vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng đã xảy ra tại đường Phan Đăng Lưu, KP7, P.Long Bình, TP Biên Hòa, Đồng Nai Xe mô tô 59X2 – 222.90 do Thái Tín An, sinh năm 1995, điều khiển đã va chạm với xe đầu kéo 51C- 668.62 kéo rơ mooc 51R – 138.29 do Nguyễn Quốc Ngân, sinh năm 1991, điều khiển, khi xe đầu kéo này đang dừng đỗ trên đường Vụ tai nạn xảy ra do sự thiếu chú ý quan sát của người điều khiển xe mô tô.

Hậu quả: Thái Tín An chết tại bệnh viện, hư hỏng 02 phương tiện liên quan

Nguyên Nhân: Do Thái Tín An lái xe mô tô không chú ý quan sát

Hình 2.13 Hiện trường vụ tai nạn ngày 8/9/2015 do không chú ý quan sát

2.3.5 Đi ngƣợc chiều, vƣợt đèn đỏ:

Nhiều người điều khiển phương tiện thường xuyên chạy ngược chiều tại các khu vực có giải phân cách để tiết kiệm thời gian Hành vi này xuất phát từ ý thức kém của một số người dân, khi họ cho rằng đường vắng sẽ dễ lưu thông, bất chấp những nguy hiểm có thể xảy ra đối với tính mạng.

Vào lúc 07H00’ ngày 13/10/2016 tại đường Bùi Văn Hòa, KP6, P.Long Bình,

Vào ngày xảy ra tai nạn tại TP Biên Hòa, Đồng Nai, xe mô tô tải 37L1-559.42 do Trần Văn Huy, sinh năm 1990, điều khiển, chở theo Đạt từ P Hòa Bình, TP Biên Hòa, đã lưu thông ngược chiều hướng Tam Hòa về QL51 Trong khi đó, xe mô tô 60X7-4275 do Bùi Thị Mai Sơn, sinh năm 1960, điều khiển, chở theo Phạm Thị Mần, sinh năm 1947, đang lưu thông từ QL51 về ngã tư Tam Hòa Sự va chạm xảy ra khi xe tải chuyển hướng qua đường.

Hậu quả: Bùi Thị Mai Sơn bị thương nhẹ, Phạm Thị Mần bị thương nặng, hư hỏng nhẹ 02 phương tiện

Nguyên Nhân: Do xe 37L1 – 559.42 không chú ý quan sát, đi ngược chiều

2.3.6 Uống rƣợu, bia khi tham gia giao thông: Đây là vấn đề bức xúc và là vấn nạn đối với các tuyến đường tỉnh, đường nông thôn Người điều khiển phương tiện khi có nồng độ cồn trong máu, thường phóng nhanh, vượt ẩu, nhất là thanh thiếu niên chạy xe lạng lách, đánh võng cá biệt có trường hợp đua xe khi tham gia trên đường,…

Vào lúc 23h30’ ngày 04/11/2016, tại Ngã 4 đường số 3A giao với đường số 17A thuộc KCN Biên Hòa 2, xe mô tô BKS: 60C1-081.68 do Nguyễn Việt Tùng, sinh năm 1991, điều khiển đã va chạm với xe ô tô đầu kéo (biển số và danh tính người điều khiển chưa xác định) đang lưu thông cùng chiều Sau vụ tai nạn, tài xế xe ô tô đã bỏ trốn khỏi hiện trường Hậu quả, Nguyễn Việt Tùng đã tử vong tại bệnh viện và xe mô tô bị hư hỏng.

Phân tích và đánh giá các yếu tố hình học đường trên tuyến đường Bùi Văn Hòa đoạn từ ngã tƣ tam hiệp đến vòng xoay cổng 11 thuộc địa phận Tp Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai ảnh hưởng đến an toàn xe chạy

2.4.1 Yếu tố trên bình đồ:

Các khu vực có địa hình bằng phẳng thường được thiết kế theo đường thẳng dài để tối ưu chiều dài, nhưng điều này có thể gây bất lợi cho an toàn giao thông Theo thống kê từ CHLB Đức, trên một trục với hệ số triển tuyến 1,18 và 60% chiều dài là đường cong, tỷ lệ tai nạn giao thông (TNGT) là 32,5/100 triệu km hành trình Ngược lại, một đường cong khác với lưu lượng xe tương tự nhưng hệ số triển tuyến 1,04 và 80% chiều dài là đường thẳng lại có tỷ lệ TNGT cao hơn, lên tới 88,2/100 triệu km hành trình Điều này cho thấy số tai nạn trên đường thẳng gấp 3 lần so với đường cong Nguyên nhân chính là do đoạn đường dài, cảnh quan đơn điệu khiến lái xe dễ bị phân tâm, phản ứng chậm, và cảm thấy mệt mỏi, dễ rơi vào trạng thái buồn ngủ.

Khi lái xe trên các đoạn đường thẳng dài, nhiều tài xế thường chủ quan và ít chú ý đến việc kiểm tra tốc độ Họ có xu hướng cho xe chạy với tốc độ tối đa, đặc biệt là trên đường cao tốc Việc không theo dõi đồng hồ báo tốc độ có thể dẫn đến việc xe chạy vượt quá giới hạn cho phép, gây khó khăn trong việc xử lý các tình huống bất ngờ và tăng nguy cơ tai nạn.

Khi thiết kế đoạn thẳng dài, cần áp dụng giải pháp thay đổi cảnh quan dọc tuyến để giảm thiểu sự đơn điệu Việc trồng cây xanh và xây dựng các công trình hỗ trợ như trạm sửa chữa kỹ thuật, trạm dừng sẽ tạo điểm nhấn thu hút sự chú ý của lái xe.

Chiều dài tối đa và tối thiểu của các đoạn thẳng giữa hai đường cong cần được kiểm soát để đảm bảo điều kiện chạy xe ổn định Cụ thể, chiều dài tối thiểu cho đoạn thẳng giữa hai đường cong cùng chiều là 6V, trong khi giữa hai đường cong ngược chiều là 2V Việc này giúp tránh thay đổi đột ngột trong điều kiện lái xe và đảm bảo đủ không gian cho đoạn chêm.

* Ảnh hưởng trị số bán kính đường cong nằm được lựa chọn đến an toàn xe chạy:

Khi thiết kế đường cong có bán kính R nhỏ hơn 300m, mức độ nguy hiểm và khả năng xảy ra tai nạn giao thông (TNGT) rất cao Ngược lại, khi bán kính tăng lên, giá trị nguy hiểm giảm dần do tốc độ V85 tăng chậm Theo thống kê, tai nạn xảy ra trên đường cong chiếm từ 10-12% tổng số tai nạn giao thông.

Biểu đồ 2.1 Rủi ro tai nạn (UR) khi thay đổi bán kính đường cong bằng R.[ Nguồn:

Theo nghiên cứu của Lippold (1997), đường cong có bán kính nhỏ làm tăng nguy cơ tai nạn Cụ thể, đường cong với bán kính R < 200m có số vụ tai nạn gấp đôi so với đường cong có R > 400m Tại vùng núi, do địa hình khó khăn, việc xây dựng nhiều đường cong bán kính nhỏ buộc lái xe phải giảm tốc độ, dẫn đến số vụ tai nạn thấp hơn so với các đoạn đường đồng bằng có bán kính tương đương Tuy nhiên, khi đường có nhiều đoạn cong bán kính nhỏ, mức độ an toàn giảm, đặc biệt khi lái xe với tốc độ cao trên đường ẩm ướt và bẩn.

* Ảnh hưởng của chiều dài đường cong, độ cong, mức độ thay đổi góc ngoặt của đường cong nằm:

Biểu đồ 2.2 Rủi ro tai nạn (UR) khi thay đổi số lượng góc ngoặt (k) trên 1 km chiều dài đường (góc/km).[ Nguồn : KREBS/ KLOECKNER, 1977) và (DUNG, 2008)]

Biểu đồ rủi ro tai nạn cho thấy rằng khi số lượng góc ngoặt trên 1 km chiều dài tăng, rủi ro tai nạn cũng gia tăng, dẫn đến sự gia tăng đáng kể về tai nạn giao thông Việc thiết kế kết hợp giữa đường cong cơ bản và đường cong chuyển tiếp sẽ làm thay đổi góc ngoặt Mức độ biến đổi của góc ngoặt trong đường cong ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ khai thác.

Bán kính đường cong ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn khi xe di chuyển, đặc biệt là khi đường cong bán kính lớn nằm cạnh hoặc kẹp giữa các đường cong bán kính nhỏ Sự kết hợp này có thể tạo ra những tình huống nguy hiểm cho người lái.

Các thiết kế này khiến lái xe không kịp điều chỉnh tốc độ khi xe di chuyển trên đường cong có bán kính lớn, dẫn đến việc giảm tốc đột ngột để phù hợp với đường cong bán kính nhỏ liền kề, và ngược lại.

* Ảnh hưởng của tầm nhìn trên bình đồ đến an toàn xe chạy:

Có 3 loại: tầm nhìn hãm xe, tầm nhìn ngược chiều và tầm nhìn vượt xe Theo thống kê tai nạn giao thông ở Cộng hòa Liên bang Đức cho biết 25% số tai nạn là do không đủ tầm nhìn, ở Việt Nam 17,32% (thống kê 2003) Phân tích tai nạn tại

Mỹ cho biết khi khoảng cách tầm nhìn S750m Mức độ tai nạn tăng cao khi S

Ngày đăng: 31/05/2023, 08:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bài giảng Cao học An toàn giao thông đường ô tô, Bộ môn Đường ô tô – Đại học giao thông vận tải Hà Nội năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Cao học An toàn giao thông đường ô tô
Nhà XB: Bộ môn Đường ô tô – Đại học giao thông vận tải Hà Nội
Năm: 2011
3. Th.s Nguyễn Quang Phúc, Chuyên đề đường – Tai nạn giao thông và ảnh hưởng của các yếu tố hình học đường đến an toàn giao thông, Đại học Giao thông vận tải năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề đường – Tai nạn giao thông và ảnh hưởng của các yếu tố hình học đường đến an toàn giao thông
Tác giả: Th.s Nguyễn Quang Phúc
Nhà XB: Đại học Giao thông vận tải
Năm: 2007
5. PGS.TS Nguyễn Xuân Vinh, Thiết kế và khai thác đường ô tô đường thành phố theo quan điểm an toàn giao thông – NXB Xây dựng, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và khai thác đường ô tô đường thành phố theo quan điểm an toàn giao thông
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Xuân Vinh
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2007
11. Sổ tay xác định, khảo sát và xử lý điểm đen / bản thảo – BGTVT 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay xác định, khảo sát và xử lý điểm đen
Nhà XB: BGTVT
Năm: 2008
12. Thông tư số 26/2012/TT-BGTVT ngày 20/7/2012 của Bộ Giao thông vận tải quy định về việc xác định và xử lý vị trí nguy hiểm trên đường bộ đang khai thác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 26/2012/TT-BGTVT
Nhà XB: Bộ Giao thông vận tải
Năm: 2012
2. Giáo trình đào tạo Thẩm tra viên An toàn giao thông đường bộ của Viện Khoa học và Giao thông vận tải năm 2011 Khác
4. Điều lệ báo hiệu đường bộ 22 TCN 237 – 01, NXB Giao thông vận tải Khác
8. Báo cáo giữa kỳ Chiến lược bảo đảm trật tự ATGT đường bộ Quốc Gia đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 của Viện chiến lược và phát triển giao thông vận tải – tháng 8/2010 Khác
9. Tiêu chuẩn Thiết kế đường ô tô 22 TCVN 273 – 01, NXB Giao thông vận tải Hà Nội 2001 Khác
10. PGS.TS Nguyễn Quang Toản, đề tài nghiên cứu các giải pháp thiết kế nâng cao tính an toàn giao thông đường ô tô – Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2004 Khác
13. Các tài liệu khác có liên quan trong quá trình thực hiện nghiên cứu Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Sơ đồ hành chính Tp Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 2.1 Sơ đồ hành chính Tp Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai (Trang 52)
Hình 2.4 Ngã tư tam hiệp thành phố Biên Hòa - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 2.4 Ngã tư tam hiệp thành phố Biên Hòa (Trang 55)
Hình 2.9 Sau một trận mưa lớn ở đường Bùi Văn Hòa - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 2.9 Sau một trận mưa lớn ở đường Bùi Văn Hòa (Trang 59)
Hình 2.11 Hiện trường vụ tai nạn ngày 2/8/2017 - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 2.11 Hiện trường vụ tai nạn ngày 2/8/2017 (Trang 63)
Hình 2.12 Hiện trường vụ tai nạn ngày 4/9/2016 - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 2.12 Hiện trường vụ tai nạn ngày 4/9/2016 (Trang 64)
Hình 2.13 Hiện trường vụ tai nạn ngày 8/9/2015 do không chú ý quan sát. - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 2.13 Hiện trường vụ tai nạn ngày 8/9/2015 do không chú ý quan sát (Trang 65)
Hình 2.16 Hiện trường vụ tai nạn do xe ben đi sai làn đường vào ngày 21/11/2015. - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 2.16 Hiện trường vụ tai nạn do xe ben đi sai làn đường vào ngày 21/11/2015 (Trang 76)
Hình 3.1 Bình đồ hiện trạng an toàn giao thông tại nút Đường 3A vào KCN Biên - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 3.1 Bình đồ hiện trạng an toàn giao thông tại nút Đường 3A vào KCN Biên (Trang 89)
Hình 3.2 Bình đồ cải tạo an toàn giao thông tại nút giao Đường Đường 3A vào - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 3.2 Bình đồ cải tạo an toàn giao thông tại nút giao Đường Đường 3A vào (Trang 90)
Hình 3.3 : Điểm giao vòng xoay cổng 11 - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 3.3 Điểm giao vòng xoay cổng 11 (Trang 93)
Hình 3.3 Vòng xoay cổng 11 nhìn từ vệ tinh. - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 3.3 Vòng xoay cổng 11 nhìn từ vệ tinh (Trang 94)
Hình 3.4 Vụ va quẹt xảy ra giữa xe tải và xe máy khiến tài xế xe máy tử vong tại - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 3.4 Vụ va quẹt xảy ra giữa xe tải và xe máy khiến tài xế xe máy tử vong tại (Trang 95)
Hình 3.5 Những khối betong tại vòng xoay bị húc tơi tả - Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn giao thông trên tuyến đường bùi văn hòa   thành phố biên hòa đoạn từ ngã tư tam hiệp tới vòng xoay cổng 11
Hình 3.5 Những khối betong tại vòng xoay bị húc tơi tả (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm