Trong những năm qua, chính sách bảo hiểm xã hội nói chung, công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại TP Hồ Chí Minh nói riêng, đặc biệt là Bảo Hiểm Xã Hội Quận 9 đã đạt được những thành t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
ĐỖ THỊ HUYỀN TRANG
GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG
NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9 THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TP HỒ CHÍ MINH - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
ĐỖ THỊ HUYỀN TRANG
GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG
NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9 THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.01.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hằng Các nội dung nghiên cứu, kết quả luận văn này là trung thực và số liệu trong luận văn được tập hợp tại cơ quan Bảo Hiểm Xã Hội Quận 9 Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của Bảo Hiểm Xã Hội TP.HCM, cơ quan
tổ chức khác, các tài liệu, thông tin đăng tải trên các tạp chí, trang web
TPHCM, ngày tháng năm 2017
Tác giả Luận văn
Đỗ Thị Huyền Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn “Giải pháp hạn chế tình trạng nợ
đọng và trốn đóng Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh” tôi xin gửi lời cảm ơn tới các quý thầy cô giảng dạy tại khoa sau Đại
học, Trường Đại học Giao thông vận tải đã dìu dắt, truyền đạt những kiến thức quý báu để tôi áp dụng trong thực tiễn và quá trình hoàn thiện Luận văn
Tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới Giảng viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Bích Hằng, người đã tận tình hướng dẫn và cho tôi những ý
kiến, định hướng và giúp tôi thực hiện Luận văn một cách tốt nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc BHXH Quận 9 đã tạo điều kiện cho tôi được đi học để nâng cao trình độ, động viên khích lệ và cung cấp số liệu giúp tôi có những phân tích chính xác
Đồng thời, tôi xin gửi lời biết ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ và ủng hộ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả Luận văn
Đỗ Thị Huyền Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐÔ ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 4
1.1 Tổng quan chung về bảo hiểm xã hội và thu bảo hiểm xã hội 4
1.1.1 Giới thiệu chung, khái niệm, bản chất và vai trò bảo hiểm xã hội 4
1.1.2 Chức năng và tính chất bảo hiểm xã hội 9
1.1.3 Thu và quản lý thu Bảo hiểm xã hội 11
1.2 Vấn đề nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội: 27
1.3 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu và xử lý nợ đọng, trốn đóng BHXH: 33
1.3.1 Kinh nghiệm về giải quyết nợ đọng và trốn đóng BHXH của một số quốc gia trên thế giới 33
1.3.2 Kinh nghiệm về giải quyết nợ đọng và trốn đóng BHXH tại một số quận trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9- TP.HCM 42
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Quận 9 42
2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên và dân số, văn hoá, xã hội: 42
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế của Quận 9 những năm qua: 44
2.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến tình trạng nợ đọng và trốn đóng Bảo hiểm xã hội tại Quận 9 48
2.2 Tổ chức hệ thống Bảo hiểm xã hội Quận 9 49
2.2.1 Sự hình thành, chức năng, nhiệm vụ của BHXH Quận 9 49
Trang 62.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Bảo hiểm xã hội Quận 9: 52
2.3 Thực trạng công tác thu và quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại Quận 9: 55
2.4 Thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH tại quận 9 62
2.4.1 Thực trạng nợ đọng BHXH tại quận 9 62
2.4.2 Thực trạng các DN trốn đóng BHXH tại Quận 9 66
2.4.3 Nguyên nhân, hậu quả của nợ đọng và trốn đóng BHXH: 73
2.4.4 Các biện pháp giải quyết nợ đọng và trốn đóng BHXH đã được thực hiện tại Quận 9 78
2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tại Quận 9 81
2.5.1 Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của NLĐ và NSDLĐ 81
2.5.2 Tốc độ tăng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 83
2.5.3 Qui mô, đặc thù kinh doanh của các DN trên địa bàn Quận 9 84
2.5.4 Công tác thanh tra, kiểm tra của các cấp chính quyền 84
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA CÁC DN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 9 85
3.1 Quan điểm, phương hướng, mục tiêu cải cách chính sách BHXH 85
3.1.1 Quan điểm 85
3.1.2 Phương hướng 85
3.1.3 Mục tiêu 85
3.2 Dự báo về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Quận 9 đến năm 2020 86 3.3 Giải pháp hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH tại Quận 9 88
3.3.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền 88
3.3.2 Nhóm giải pháp liên quan đến tổ chức thực hiện 90
3.3.3 Kiến nghị 100
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
CB, CC, VC Cán bộ, công chức, viên chức
DN Doanh nghiệp
HCSN Hành chính sự nghiệp
HĐLĐ Hợp đồng lao động
KCN Khu công nghiệp
KPCĐ Kinh phí công đoàn
LĐ- TB& XH Lao động thương binh và xã hội LĐLĐ Liên đoàn lao động
TS Thai sản
UBND Uỷ ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ đóng BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ 15
Bảng 2.1: Số thu, số người tham gia và số đơn vị tại BHXH Quận 9 từ năm 2012 đến năm 2015 57
Bảng 2.2: Số đơn vị, số lao động tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2012 đến năm 2015 58
Bảng 2.3: Số tiền thu BHXH của Quận 9 giai đoạn 2012-2015 59
Bảng 2.4: Kết quả thu BHXH phân theo khối loại hình DN, tổ chức 60
Bảng 2.5: Kết quả số nợ phải thu và nợ đọ – 2015 64
Bảng 2.6: Tổng hợp số đơn vị và số tiền DN nợ đọng tại BHXH Quận 9 tại tháng 06/2016 65
Bảng 2.7: Ngân sách nhà nước nợ đọng BHXH Quận 9 tại tháng 06/2016 65
Bảng 2.8: Kết quả rà soát tình hình tham gia BHXH tại Quận 9 67
giai đoạn 31/12/2015 67
Bảng 2.9: Số đơn vị tham gia và trốn đóng BHXH bắt buộc ở Quận 9 68
Bảng 2.10: Lao động trốn đóng BHXH ở Quận 9 giai đoạn 2012- 2015 70
Bảng 2.11: Kết quả kiểm tra các Doanh nghiệp giai đoạn 2012-2015 72
Bảng 2.12: Kết quả kiểm tra liên ngành tại các DN giai đoạn 2012-2015 72
Bảng 2.13: Kết quả kiểm tra chấp hành luật BHXH ở một số DN 72
81
Bảng 2.15: Bảng tổng hợp mức độ hiểu biết của Chủ SDLĐ về pháp luật Bảo hiểm xã hội đối với 100 DN điều tra trên địa bàn Quận 9 82
Bảng 2.16: Tổng hợp trình độ chuyên môn của chủ 100 DN khảo sát trên địa bàn 82
Bảng 2.17: Bảng tổng hợp thu nhập BQ của NLĐ tại 100 DN điều tra 83
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐÔ
Sơ đồ 1.1: Quy trình thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT 19
Sơ đồ 1.2: Quy trình quản lý thu 23
Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức bộ máy hoạt động của BHXH Quận 9 53
Biểu đồ 2.1: Số tiền nợ BHXH ở Quận 9 tại thời điểm 31/12/2015 68
Biểu đồ 2.2: Số đơn vị tham gia và trốn đóng BHXH BB từ năm 2012 -2015 69
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc Cùng với
sự đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua, chính sách bảo hiểm xã hội cũng được điều chỉnh, thay đổi để phù hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước và nguyện vọng của người lao động
Thành phố (TP) Hồ Chí Minh là một Thành phố đang có sự chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các công ty cổ phần, các loại hình doanh nghiệp đã và đang thu hút lực lượng lao động lớn Trong những năm qua, chính sách bảo hiểm xã hội nói chung, công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại TP Hồ Chí Minh nói riêng, đặc biệt là Bảo Hiểm Xã Hội Quận 9 đã đạt được những thành tích đáng khích lệ như: số đơn vị, số người,
số tiền tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, làm nguồn thu tăng lên rõ rệt, quyền lợi bảo hiểm xã hội của người lao động (NLĐ) được đảm bảo
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội ở Quận 9 còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót, đặc biệt trong công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội đặt ra vấn đề quan tâm cần giải quyết đó là:
- Tình trạng nợ đọng, chậm đóng bảo hiểm xã hội đang diễn ra hết sức phổ biến ở tất cả các nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
- Tình trạng trốn đóng bảo hiểm xã hội ngày càng phổ biến, gia tăng
- Quản lý tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội chưa chặt chẽ
Những vấn đề trên nếu không được quan tâm khắc phục sẽ tác động xấu đến toàn bộ hoạt động của bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9 Vì vậy,
để đảm bảo nguyên tắc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, đáp ứng được những
Trang 11yêu cầu trong công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội nhằm nâng cao hiệu quả
công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội thì việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp
hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH trên địa bàn Quận 9, TP.HCM” là cần thiết, có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng tình hình nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội của các DN trên địa bàn Quận 9 các năm qua; đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội của các
DN trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Công tác thu bảo hiểm xã hội
- Tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc ở các đơn vị trên địa bàn Quận 9
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội
ở các đơn vị tại bảo hiểm xã hội Quận 9 từ năm 2013 đến năm 2015 nhằm đề xuất những giải pháp hạn chế tình trạng nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm xã hội trên địa bàn
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng trong luận văn
Trang 12bao gồm phương pháp luận duy vật biện chứng, lịch sử và các phương pháp như phương pháp phân tích thống kê, chi tiết hoá, so sánh, đánh giá, tổng hợp, khái quát,…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài đã hệ thống hóa và góp phần làm rõ thêm các vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9, Thành Phố Hồ Chí Minh
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn hướng tới những giá trị về thực tiễn đối với việc quản lý thu bảo hiểm xã hội nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội trên địa bàn Quận 9, Thành Phố Hồ Chí Minh, có thể làm tài liệu tham khảo cho chính quyền địa phương nghiên cứu thực hiện trong lĩnh vực quản lý thu bảo hiểm xã hội, các giải pháp hạn chế nợ bảo hiểm xã hội
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan chung về bảo hiểm xã hội và thu bảo hiểm xã
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THU
BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Tổng quan chung về bảo hiểm xã hội và thu bảo hiểm xã hội
1.1.1 Giới thiệu chung, khái niệm, bản chất và vai trò bảo hiểm xã hội
a Giới thiệu chung về bảo hiểm xã hội:
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động ổn định chính trị, trật tự an toàn
xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc
BHXH được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1945 và đã trải qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi đặc biệt trong các năm 1961, 1985 và 1995; 2014
Năm 1961, một Nghị định của Chính phủ được ban hành để cung cấp các dịch vụ phúc lợi xã hội cho tất cả các cán bộ, viên chức làm việc trong ngành nội chính, giáo dục, y tế, các doanh nghiệp Nhà nước, nội vụ Hệ thống này chỉ chịu trách nhiệm bảo hiểm cho khoảng 600.000 - 700.000 người trên tổng số dân là 17 triệu người của miền Bắc Việt Nam (theo số liệu năm 1962) Năm 1964 Nghị định 218 thực hiện BHXH cho quân nhân
Từ năm 1975 thì chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trong
cả nước Chế độ BHXH bao gồm: trợ cấp hưu trí, mất sức lao động và tử tuất, cùng với các chế độ ốm đau, thai sản và tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
do cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp đóng góp
Trước năm 1995, BHXH do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm quản lý thực hiện về các chế độ trợ cấp dài hạn (hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người nghỉ việc), Tổng Liên đoàn Lao động chịu trách nhiệm quản lý thực hiện các khoản chi trả trợ cấp ngắn hạn (trợ cấp đau ốm, TS và TNLĐ, BNN đối với người đang làm việc)
Từ tháng 01/1995, Bộ Luật Lao động có hiệu lực, trong đó có chương XII về BHXH Để hướng dẫn thực hiện Bộ Luật Lao động, ngày 16/02/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP của Chính phủ thành lập hệ thống
Trang 14BHXH Việt Nam để giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ về BHXH, BHYT và quản lý quỹ BHXH Ngày 26/01/1995 Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 12/CP về điều lệ BHXH đối với dân sự với 5 chế độ BHXH: chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ trợ cấp tử tuất
Và ngày 15/07/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 45 quy định về BHXH đối với quân sự (quân đội, công an) Trong 2 nghị định của Chính phủ
có quy định về hình thành quỹ BHXH trên cơ sở thu BHXH bao gồm người
sử dụng lao động đóng 15% quỹ tiền lương và người lao động đóng 5% tiền lương hàng tháng Quỹ này được sử dụng để chi cho 5 chế độ trên Quỹ BHXH được bảo tồn, tăng trưởng và được Nhà nước bảo hộ
Ngày 24/01/2002, Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển hệ thống BHYT trực thuộc Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam và ngày 06/12, Chính phủ ra Nghị định 100/NĐ-CP quyết định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của BHXH (bao gồm cả BHYT)
b Khái niệm :
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đến nay, nền kinh tế nước
ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách Bảo hiểm xã hội đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh BHXH hiện nay là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và nhà nước ta từ lâu đã được
cụ thể hóa thực hiện theo luật BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ giúp người lao động đảm bảo cuộc sống của mình và gia đình khi có rủi ro xảy ra Tuỳ theo góc độ nghiên cứu, cách tiếp cận mà người ta đưa ra nhiều khái niệm về BHXH khác nhau
Như vậy có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc
Trang 15mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết…trên cơ sở đóng góp quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện và sử dụng quỹ đó nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động và an toàn xã hội
c Bản chất của BHXH đựợc thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
BHXH là hình thức bảo hiểm thu nhập cho người lao động, là sản phẩm tất yếu khách quan của xã hội phát triển, là hình thức dịch vụ công để quản lý và đáp ứng nhu cầu chia sẻ các rủi ro trong cộng đồng, là quyền cơ bản của người lao động
BHXH vừa để thực hiện các mục đích xã hội, vừa để thực hiện các mục đích kinh tế trong mỗi cộng đồng, quốc gia Trong đó, mục đích kinh tế và mục đích xã hội luôn được thực hiện đồng thời, đan xen lẫn nhau, là hai mặt không thể tách rời của BHXH Khi đề cập đến các lợi ích kinh tế của BHXH đối với người lao động và đối với xã hội là đã bao hàm cả mục đích xã hội của nó Ngược lại, các mục đích xã hội của BHXH cũng chỉ đạt được khi nó đồng thời mang lại các lợi ích kinh tế thiết thực cho người tham gia
- Về phương diện xã hội: BHXH là sự chia sẻ rủi ro, bảo đảm an toàn
XH
- Về phương diện kinh tế: BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm, thông qua việc hình thành quỹ tiền tệ chung
- Về phương diện chính trị, pháp lý: Khi được nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật, BHXH đã trở thành quyền cơ bản của người lao động, xét trên
cả bình diện quốc gia và quốc tế Đồng thời đó cũng là trách nhiệm của họ và người sử dụng lao động phải tham gia BHXH Vì vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là bộ phận cơ bản để đảm bảo ASXH của các quốc gia
Trang 16c Vai trò của bảo hiểm xã hội:
- Đối với người lao động và gia đình của họ:
Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe doạ cuộc sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên bất ngờ không lường trước được nhưng xét trên bình diện xã hội, rủi ro là một tất yếu không thể tránh được Để phòng ngừa
và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH Chúng ta có thể liệt kê một số vai trò của BHXH đối với cá nhân:
Thứ nhất: BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình họ Khi tham gia BHXH, người lao động phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn Nhờ có chính sách BHXH mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống
Thứ hai: Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo được tâm lý
an tâm, tin tưởng Khi đã tham gia BHXH góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động
- Đối với xã hội:
Thứ nhất: Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH Tuy nhiên mối quan hệ mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải
có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao
Trang 17động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH
Thứ hai: BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên
Thứ ba: BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng
là nhân tố quan trọng cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững
Thứ tư: BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động Trên giác độ kinh tế, BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội
- Đối với nền kinh tế thị trường:
Thứ nhất: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trơ nên rõ rệt Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội Nhưng rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn BHXH đã góp phần
ổn định đời sống cho họ và gia đình họ
Thứ hai: Đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không
Trang 18may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn Hệ thống BHXH
đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường
Thứ ba: Khi tham gia BHXH cho người lao động sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình của người lao động trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường
Thứ tư: Quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phảt triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động
Thứ năm: BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua
hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động
1.1.2 Chức năng và tính chất bảo hiểm xã hội
a Chức năng của BHXH:
Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất
và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH
Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu - người nghèo, người khoẻ mạnh - người ốm đau, người trẻ - người già Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội
Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn
Trang 19phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ
đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội
Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội
b Tính chất của BHXH:
Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội Như đã phân tích ở trên rủi ro xẩy đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan
BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian Điều này này thể hiện rõ trong nội dung cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng
BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch
vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi)
Trang 201.1.3 Thu và quản lý thu Bảo hiểm xã hội
a Khái niệm và vai trò của thu BHXH:
- Khái niệm thu BHXH:
Thu BHXH: là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các
đối tượng tham gia phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép những đối tượng tự nguyện tham gia được lựa chọn mức đóng phù hợp với thu nhập của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho việc chi trả các chế độ BHXH và hoạt động của tổ chức sự nghiệp BHXH
Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập của các đối tượng tham gia BHXH Phân phối và phân phối lại một phần của cải
xã hội dưới dạng giá trị nhằm giải quyết hài hoà các mặt lợi ích xã hội góp phần bảo đảm công bằng xã hội
- Vai trò của thu BHXH:
Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một công quỹ độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Vì thế công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện chính sách BHXH
Công tác thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung thống nhất: Thu đóng góp BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương cùng với sự phối hợp của các ban ngành chức năng trên
cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH Đồng thời tránh được tình trạng nợ đọng BHXH từ các cơ quan đơn vị, từ người tham gia BHXH Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện
và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng
Trang 21Để chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì công tác thu BHXH có vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập cùng thực hiện chính sách BHXH: Bởi đây là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH Đồng thời đây cũng là một khâu bắt buộc đối với người tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ của mình Do vậy công tác thu BHXH là một công việc đòi hỏi độ chính xác cao, thực hiện thường xuyên, liên tục, kéo dài trong nhiều năm và có sự biến động về mức đóng và số lượng người tham gia
Công tác thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ BHXH được tập trung về một mối, vừa đóng vai trò như một công cụ thanh kiểm tra số lượng người tham gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc Bởi công tác thu BHXH cũng đòi hỏi phải được tổ chức tập trung thống nhất có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vị cũng như của từng người lao động Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cả một đời người và có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người tham BHXH để tạo lập lên quỹ BHXH, cho nên nghiệp vụ của công tác thu BHXH có một vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết trong thực hiện chính sách BHXH Bởi đây là khâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được các chức năng cũng như bản chất của mình
Hoạt động của công tác thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai Do BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc
có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra yêu cầu quy định đối với công tác thu nộp BHXH Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho NLĐ Vậy hoạt động thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH Do đó, thực hiện công tác thu BHXH đóng một vai trò quyết định, then chốt trong
Trang 22quá trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống của NLĐ cũng như các đơn vị doanh nghiệp được hoạt động bình thường
b Cơ sở thu BHXH:
- Cơ sở pháp lý:
Hiện nay, văn bản hiện hành về thu BHXH làm căn cứ thu BHXH được
quy định cụ thể như sau:
Quyết định 959/QĐ-BHXH ngày 09/09/2015, quy định về BHXH, BHYT, BHTN Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm
2015, thay thế Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25 tháng 10 năm 2011 ban hành Quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế Bãi bỏ Điều 1 Quyết định số 1018/QĐ-BHXH ngày 10 tháng 10 năm 2014 sửa đổi một số nội dung tại các quyết định ban hành quy định quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Các văn bản quy định do Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành trước đây trái với Quyết định này đều hết hiệu lực
Thông tư 58/2015/TT-BLĐTBXH, ngày 29/12/2015 Quy định mức điều chỉnh tiền lương và thu nhập tháng đã đóng BHXH
Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH- ngày 29/12/2015, quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều luật BHXH bắt buộc
Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH- Hướng dẫn một số điều về hợp đồng lao động…ngày 16/11/2015
Nghị định 115/2015/NĐ – CP - Quy định chi tiết một số điều Luật BHXH BB ngày 11/11/2015
Nghị định 134/2015/NĐ - CP – Quy định về BHXH tự nguyện ngày 29/12/2015…
Theo quy định của pháp luật hiện hành việc điều chỉnh các quan hệ về thu nộp BHXH và công tác quản lý đối tựợng tham gia BHXH đựợc ràng buộc thông qua mối quan hệ 3 bên: NLĐ, đơn vị SDLĐ và cơ quan BHXH
Trang 23- Đối tượng thu BHXH:
Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà thu BHXH có thể là tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc toàn
bộ thu nhập của NLĐ Tuy nhiên, đối tượng thu BHXH phải mang tính ổn định để thuận tiện cho công tác quản lý BHXH Ở những nước có nền kinh tế phát triển, việc ứng dụng công nghệ thông tin phổ biến trong quản lý thì đối tượng thu BHXH là mức thu nhập của NLĐ [[5]]
1 NLĐ là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt
buộc:
- Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa đơn vị với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
- Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (thực hiện từ 01/01/2018);
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu (trường hợp BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Công an nhân dân bàn giao cho BHXH các tỉnh);
- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia BHXH bắt buộc vào quỹ hưu trí và tử tuất (thực hiện từ 01/01/2016);
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Người hưởng chế độ phu nhân hoặc phu quân tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại Khoản 4 Điều 123 Luật BHXH
Trang 242 Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam
có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề
do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (thực hiện từ 01/01/2018)
3 Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc
tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh
cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ
- Mức thu BHXH:
Kể từ ngày 01/12/2015 theo Quyết định 959/QĐ-BHXH ngày 09/9/2015 của BHXH Việt Nam, quy định tỷ lệ đóng, mức tiền lương đóng, đối tượng tham gia BHXH, BHTN, BHYT cụ thể như sau:
Trang 25Đơn vị sử dụng lao động đóng BHXH: 18% (Trong đó: 3% vào quỹ
ốm đau và thai sản, 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất)
NLĐ đóng BHXH 8% vào quỹ quỹ hưu trí và tử tuất
- Quy trình thu:
Người tham gia BHXH
Kê khai và nộp tờ khai tham gia BHXH theo quy định cho đơn vị
đang làm việc Hàng tháng trích đóng BHXH và hàng năm nhận thông tin xác nhận về việc đóng BHXH do cơ quan BHXH cung cấp thông qua Cổng thông tin điện tử của BHXH Việt Nam hoặc thông qua đơn vị đang làm việc
Người sử dụng lao động
Hướng dẫn người tham gia BHXH kê khai tờ khai, nộp hồ sơ của NLĐ kèm danh sách lao động tham gia BHXH tại bộ phận một cửa của cơ quan BHXH trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc hoặc ngày có hiệu lực của quyết định tuyển dụng, nộp tiền đóng BHXH đúng thời hạn theo phương thức đã đăng ký với cơ quan BHXH, lập hồ sơ điều chỉnh đóng BHXH, BHYT, BHTN Hàng tháng, nhận thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN( mẫu C12-TS) qua dịch vụ bưu chính hoặc tra cứu tại Cổng thông tin của BHXH Việt Nam; kiểm tra, đối chiếu, nếu có sai lệch, phối hợp với cơ quan BHXH để giải quyết Định kỳ 6 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động Hàng năm, nhận thông tin đóng BHXH, BHYT, BHTN của người lao động (mẫu C13-TS) do cơ quan BHXH cung cấp để niêm yết công khai tại đơn vị
Bộ phận một cửa
Nhận hồ sơ của đơn vị, dữ liệu điện tử ( nếu có), kiểm đếm thành phần và số lượng hồ sơ, nếu đúng, đủ thì viết giấy hẹn Trường hợp hồ sơ chưa đúng, đủ thì ghi rõ lý do và trả lại đơn vị; chuyển hồ sơ cho Bộ phận
Trang 26thu, Bộ phận cấp sổ thẻ, Bộ phận chế độ để xử lý hồ sơ; nhận lại từ Bộ phận thu hồ sơ các trường hợp không đúng để gửi đơn vị; nhận từ Bộ phận cấp sổ thẻ thẻ BHYT, sổ BHXH để trả cho đơn vị và người tham gia, các hồ sơ còn lại lưu tại cơ quan BHXH
Bộ phận Thu:
- Nhận hồ sơ và dữ liệu điện tử ( nếu có) do bộ phận một cửa chuyển
đến; kiểm tra, đối chiếu các chỉ tiêu trên danh sách, tờ khai; đối chiếu với các chỉ tiêu trong dữ liệu điện tử của đơn vị trong chương trình quản lý thu
và dữ liệu thu và sổ BHXH, thẻ BHYT của Trung Tâm Công nghệ thông tin BHXH Việt Nam
- Chuyển Bộ phận một cửa hồ sơ của các trường hợp không đúng, đủ
để trả lại cho đơn vị; nhập và cập nhật dữ liệu vào chương trình quản lý thu các trường hợp có hồ sơ đúng, đủ; cấp mã quản lý BHXH, BHYT; ghi thời hạn sử dụng thẻ BHYT; ký danh sách, tờ khai sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ cho bộ phận Cấp sổ thẻ
- Hàng tháng, sau khi chốt dữ liệu trong chương trình quản lý thu, cán
bộ thu thực hiện in 02 bản Thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN (Mẫu C12 –TS) chuyển Bộ phận một cửa để gửi đơn vị 01 bản trước ngày 05; lưu 01 bản hoặc chuyển dữ liệu lên Cổng thông tin điện tử BHXH để tra cứu
- Hàng quý in 02 bản báo cáo tình hình thu BHXH, BHYT, BHTN để gửi BHXH Thành phố 01 bản, lưu 01 bản
Bộ phận Cấp sổ, thẻ:
- Nhận hồ sơ của đơn vị và người tham gia do Bộ phận Thu chuyển đến; kiểm tra, đối chiếu với dữ liệu trong chương trình quản lý thu và dữ liệu của Trung Tâm BHXH Việt Nam Trường hợp dữ liệu chương trình và
hồ sơ khớp đúng thì gửi dữ liệu in sổ BHXH, in thẻ BHYT về BHXH Thành phố Sau khi BHXH Thành phố kiểm tra, cho phép thì in sổ BHXH, thẻ BHYT, trình Giám đốc ký duyệt tờ khai, sổ BHXH; chốt sổ BHXH cho
Trang 27người lao động khi dừng đóng BHXH; xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN khi có đề nghị của đơn vị hoặc cơ quan thanh tra, kiểm tra
- Chuyển sổ BHXH, thẻ BHYT đã được in, sổ BHXH đã được chốt cho Bộ phận một cửa để chuyển trả đơn vị lưu trữ
- Hàng tháng in sổ theo dõi tình hình sử dụng phôi sổ BHXH, phôi thẻ BHYT, thời hạn sử dụng thẻ BHYT để lưu
- Hàng năm in tờ rời sổ BHXH xác nhận thời gian đã đóng BHXH, BHTN năm trước ( đến 31/12) để gửi cho người tham gia BHXH bắt buộc
Bộ phận kế hoạch tài chính:
Nhận chứng từ chuyển tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN của đơn vị, người tham gia Cập nhật dữ liệu vào chương trình quản lý thu số tiền đã thu BHXH, BHYT, BHTN của đơn vị, người tham gia Hàng tháng đối chiếu biên lai thu tiền và số tiền đã thu với Bộ phận thu
Quy trình thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT được thể hiện rõ qua sơ đồ như sau:
Trang 28-Tiếp nhận
tờ khai, danh sách tham gia -Viết giấy hẹn
và sử dụng theo chế độ tài chính của Nhà nước, bảo đảm chi ổn định, lâu dài các chế độ BHXH, giảm dần sự cấp phát từ ngân sách Nhà nước
Tạo lập mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH
BHXH, thẻ BHYT -Xác nhận thời gian tham gia
Đối chiếu
số phải thu
và số đã thu
In thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN
-Sổ BHXH
-Thẻ
BHYT
-Sổ BHXH -Thẻ BHYT
Trang 29Thực hiện nguyên tắc “có đóng, có hưởng”, đảm bảo sự công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ Góp phần khắc phục các tiêu cực trong giải quyết chế độ chính sách BHXH
- Phương thức thu:
Có thể phân loại ra 3 phương thức:[[13]]
Thu trực tiếp từ NLĐ: Được áp dụng ở những nước sử dụng hệ thống tài khoản cá nhân Thông qua phương thức này NLĐ đăng ký với cơ quan BHXH, hàng tháng nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH bằng hình thức đăng ký chuyển khoản tự động, tài khoản sẽ tự động in ra một bảng thông báo tới NLĐ về số tiền đã đóng, số tiền nợ Nếu có vướng mắc trong quá trình chuyển khoản, tài khoản sẽ tự động gửi thông báo tới cơ quan BHXH, ngay lập tức sẽ có bộ phận kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện phát hiện những sai lệch hệ thống
Thu gián tiếp thông qua hệ thống thuế: Được áp dụng ở những nước
có đánh thuế thu nhập và có chương trình BHXH phổ cập Việc thu BHXH qua cơ quan thuế sẽ đảm bảo hiệu quả của công tác thu, góp phần làm giảm tình trạng trốn đóng BHXH Đây là phương thức thu tiết kiệm chi phí, song nhận thức của người đóng BHXH sẽ bị sai lệch, coi đóng góp BHXH là một loại thuế
Thu gián tiếp qua đại lý (qua người SDLĐ):
Người SDLĐ sẽ thu BHXH từ NLĐ sau đó chuyển toàn bộ đóng góp BHXH của cả NLĐ và người SDLĐ cho cơ quan BHXH Đây là phương thức phổ biến nhất, được áp dụng với các trường hợp có đối tượng tham gia BHXH
là người làm công ăn lương cụ thể là
Hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, người SDLĐ đóng BHXH trên quỹ tiền lương, tiền công của những NLĐ tham gia BHXH, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng của từng NLĐ theo mức quy định để đóng cùng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
Trang 30- Các chủ thể liên quan đến thu BHXH:[[11]]
a NLĐ khi tham gia BHXH có quyền và trách nhiệm:
Được cấp sổ BHXH, nhận sổ khi không còn làm việc, nhận lương hưu
và trợ cấp BHXH, hưởng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) khi ốm đau, nằm viện, phẫu thuật; ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp, khiếu nại tố cáo về BHXH và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật Có trách nhiệm kê khai trung thực, đúng sự thật thông tin theo mẫu của cơ quan BHXH
và chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự kê khai này
b Người SDLĐ có quyền và trách nhiệm:
Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về BHXH; khiếu nại, tố cáo về BHXH Có trách nhiệm: Đóng BHXH cho NLĐ hàng tháng; lập hồ sơ để NLĐ được cấp sổ, thẻ BHYT, đóng và hưởng BHXH; bảo quản sổ BHXH, cấp thẻ BHYT cho NLĐ trong thời gian NLĐ làm việc và trả
sổ, thu hồi thẻ BHYT của NLĐ khi NLĐ không làm việc; hàng tháng đối chiếu quỹ lương với cơ quan BHXH để làm căn cứ trích nộp BHXH
c Cơ quan BHXH:
Có quyền tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản như mọi cơ quan Nhà nước Khiếu nại và kiến nghị với Nhà nước các vấn đề về BHXH; kiểm tra việc đóng BHXH và chi trả các chế độ BHXH; kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BHXH cũng như về chế độ, chính sách BHXH Có trách nhiệm: Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách pháp luật của Nhà nước về BHXH; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ BHXH đối với NLĐ, người SDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH; thực hiện thu BHXH, quản lý và sử dụng quỹ BHXH; tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ BHXH; trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho các đối tượng được hưởng…
d Cơ quan quản lý khác:
Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BHXH; Bộ Lao động -
Trang 31Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về BHXH; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về BHXH; Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về BHXH trong phạm vi địa phương (Quốc hội
2006, Luật BHXH)
e Quản lý thu BHXH:
- Khái niệm về quản lý thu BHXH:
Công tác quản lý thu BHXH là một khái niệm phức hợp, bao gồm các định hướng, chủ trương, phương pháp và biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu BHXH
- Vai trò của quản lý thu BHXH:
Tham gia BHXH là nhiệm vụ, nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng lao động nhằm thực hiện quyền lợi cho NLĐ nhằm thực hiện quyền lợi cho NLĐ Việc đóng góp vào quỹ BHXH của các bên tham gia BHXH là tất yếu vì nguyên tắc có đóng có hưởng Vậy thu từ đóng góp của những người tham gia BHXH là nguồn thu chủ yếu quan trọng nhất cho quỹ BHXH ở hầu hết các quốc gia Trên cơ sở nhiệm vụ của công tác thu là phải thu đúng, thu đủ, tức
là thu đúng đối tượng và rõ ràng minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và quyền lợi giữa những người tham gia BHXH Bên cạnh đó cần phải tổ chức theo dõi, ghi chép kết quả đóng BHXH của từng người, đơn vị để làm cơ sở cho việc tính mức hưởng BHXH theo quy định Hơn nữa, công tác thu BHXH
Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai pham, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ vốn tiền thu BHXH
Trang 32Do vậy, công tác quản lý thu BHXH cũng là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của ngành BHXH Để công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có quy trình quản lý thu chặt chẽ hợp lý, khoa học nhất là trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay Vì vậy, công tác quản lý thu BHXH phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất trong cả hệ thống từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả đặc biệt là quản lý tiền thu quỹ BHXH…
Trong quá trình tiến hành công tác thu với phương châm là thu đúng đối tượng, đúng phạm vi thu và quan trọng hơn nữa là thu được đủ số tiền đóng BHXH từ các đối tượng tham gia BHXH thì việc tăng cường công tác quản lý thu BHXH là vấn đề được các cơ quan quản lý và mọi người rất quan tâm Để hình thành nên một kế hoạch thu, một chính sách thu BHXH thích ứng với cơ chế quản lý kinh tế đang trong quá trình đổi mới, đòi hỏi phải nghiên cứu, giải quyết hàng loạt vấn đề cả về lý luận và thực tiễn
- Quy trình quản lý thu BHXH:
Quy trình quản lý thu BHXH là toàn bộ các khâu liên hoàn từ đầu đến cuối trong tác nghiệp thu và công tác quản lý thu BHXH theo loại đối tượng tham gia và hưởng các chế độ BHXH Hiệu quả và kết quả thu BHXH chính
là thước đo cho một quy trình thu hoàn thiện, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của công tác thu BHXH Như vậy, quy trình quản lý thu BHXH chính là biện pháp nhằm đảm bảo cho công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao nhất Quy trình quản lý thu BHXH được thực hiện theo các bước:
Sơ đồ 1.2: Quy trình quản lý thu
Lập kế hoạch thu BHXH: Cơ quan BHXH các cấp lập kế hoạch thu BHXH hàng năm, hàng quý, và hàng tháng trên cơ sở đối chiếu đối tượng thu
và mức thu
Lập kế hoạch hàng năm: Cơ quan BHXH cấp huyện lập kế hoạch thu cho năm kế tiếp, sau khi đã đối chiếu kiểm tra tổng số lao động, quỹ lương, Lập kế hoạch Tổ chức thực hiện Thanh tra, kiểm tra
Trang 33mức đóng BHXH năm trước của các đơn vị SDLĐ gửi cho cơ quan BHXH cấp tỉnh Cơ quan BHXH cấp tỉnh tổng hợp kế hoạch của cơ quan BHXH cấp huyện cùng với kế hoạch thu theo phân cấp của mình để lập báo cáo lên cơ quan BHXH cấp Trung ương
BHXH cấp Trung ương: Dựa vào báo cáo của cơ quan BHXH cấp tỉnh
sẽ tiến hành kiểm tra đối chiếu và lập kế hoạch thu tổng thể Kế hoạch thu tổng thể này sẽ được giao cho BHXH cấp tỉnh để kiểm tra lại và cân đối tình hình kinh tế- xã hội thực tế của tỉnh để có những điều chỉnh hợp lý Sau khi điều chỉnh thì dự toán thu BHXH mới được giao trở lại cho BHXH cấp tỉnh
Tổ chức thực hiện thu BHXH: là một quá trình phức tạp, liên hoàn giữa các bộ phận có liên quan trong toàn bộ hệ thống, nhằm đạt được mục tiêu đề ra Để thực hiện thu BHXH hệu quả cần tiến hành phân cấp quản lý chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, nhằm đảm bảo tính gắn kết trong toàn bộ
hệ thống, đồng thời phải rang buộc được quyền hạn, trách nhiệm từng bộ phận trong hệ thống
BHXH cấp Trung ương: chịu trách nhiệm toàn diện, gồm: tổng hợp và phân loại các đồi tượng tham gia, hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thu BHXH, cấp
sổ BHXH; kiểm tra đối chiếu tình hình lập kế hoạch thu nộp của BHXH cấp tỉnh và thẩm định số thu BHXH trên phạm vi cả nước
BHXH cấp tỉnh: tổ chức thực hiện chỉ đạo BHXH cấp huyện thu đóng BHXH theo phân cấp; thực hiện lập và giao kế hoạch thu, kiểm tra, giám sát hoạt động của BHXH cấp huyện
BHXH cấp huyện và phòng Thu: chịu trách nhiệm tác nghiệp hàng ngày về thu nộp BHXH; thực hiện kiểm ra đối chiếu tổng hợp đối tượng thu
và mức thu để lập kế hoạch thu; hướng dẫn cho người SDLĐ đăng ký và nộp BHXH Đồng thời phân công cụ thể từng cán bộ để quản lý, theo dõi, đôn đốc
Thanh tra, kiểm tra: Căn cứ chức năng nhiệm vụ của từng bộ, ngành, địa phương, mà công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp
Trang 34luật về BHXH được tiến hành định kỳ hoặc đột xuất, nhằm phát hiện những sai phạm về BHXH, từ đó xử lý nghiêm các vi phạm và có giải pháp khắc phục
- Nội dung quản lý thu BHXH:
Quản lý đối tượng tham gia: là một phần quan trọng trong công tác quản lý thu của cơ quan BHXH, đặc biệt là nguồn thu từ NLĐ và NSDLĐ làm việc trong cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp
Đối với NSDLĐ: NSDLĐ căn cứ vào số lao động đang làm việc tại đơn vị để đóng, nộp BHXH cho NLĐ theo quy định của pháp luật Về nguyên tắc đăng ký, tất cả các chủ sử dụng lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc phải đăng ký đóng BHXH cho NLĐ Sau khi hoàn chỉnh thủ tục đăng
ký, chủ sử dụng lao động sẽ được cấp một mã số đăng ký đồng thời phải lập
hồ sơ liên quan đến hồ sơ pháp lý của DN và NLĐ NSDLĐ căn cứ hồ sơ, lý lịch của NLĐ, đối chiếu tờ khai với hồ sơ, lý lịch gốc mà đơn vị đang quản lý Nếu đúng, thủ trưởng đơn vị xác nhận theo quy định
Đối với NLĐ: Những người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc phải
kê khai các nội dung liên quan đến thân nhân và quá trình làm việc có đóng BHXH vào tờ khai cấp sổ BHXH đúng quy định Mỗi NLĐ được cơ quan BHXH cấp một mã số cá nhân ( số định danh) nhằm mục đích quản lý và theo dõi (Quốc hội 2006, Luật BHXH)
Quản lý tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH:[5]
Người lao động hưởng lương theo chế độ tiền lương của Nhà nước thì tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là tiền lương theo ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phục cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiền lương này tính trên mức lương cơ sở
Người lao động thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH là mức tiền lương tiền công ghi trong hợp đồng lao động Từ 01/01/2016, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật lao động Trường hợp NLĐ có tiền lương, tiền công tháng ghi trên HĐLĐ bằng ngoại tệ
Trang 35thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc được tính bằng tiền đồng Việt Nam trên cơ sở tiền lương, tiền công bằng ngoại tệ được chuyển đổi bằng Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm ngày 02 tháng
01 cho 6 tháng đầu năm và ngày 01 tháng 07 cho 6 tháng cuối năm NLĐ là người quản lý doanh nghiệp thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc là mức tiền lương do Điều lệ công ty quy định
Mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc không thấp hơn
mức lương tối thiểu chung hoặc lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng Người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp dạy nghề) thì tiền lương, tiền công đóng BHXH bắt buộc phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng, nếu làm công việc nặng nhọc, độc hại thì cộng thêm 5% Mức tiền công, tiền lương tháng mà cao hơn 20 lần lương cơ sở thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH bắt buộc bằng 20 lần lương cơ
sở tại thời điểm đóng
Quản lý tiền thu BHXH: [[6]]
Người SDLĐ có thể nộp BHXH bằng tiền mặt, Séc, chuyển khoản ngân hàng Trong quá trình thu nộp BHXH, cơ quan BHXH phải đảm bảo thủ tục thanh toán, ngăn chặn hiện tượng gian lận, lạm dũng quỹ BHXH Chậm nhất vào ngày cuối tháng, đơn vị SDLĐ phải chuyển toàn bộ số tiền theo qui định vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH, nếu số tiền này không được chuyển đúng kỳ hạn sẽ được xem là nợ BHXH và số tiền nợ BHXH sẽ
được tính lãi theo qui định
Để thực hiện nguyên tắc trên các đơn vị BHXH cấp tỉnh , cấp huyện được mở các tài khoản chuyên thu BHXH ở hệ thống Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước để thu tiền nộp BHXH ở khu vực quản lý của mình và định kỳ chuyển số tiền thu lên BHXH cấp Trung ương BHXH cấp tỉnh, cấp huyện không được sử dụng tiền thu BHXH vào mục đích khác, nhằm tránh thất thoát tiền thu và rủi ro xảy ra
Trang 36Phối hợp giữa các bộ phận có liên quan trong quản lý thu BHXH:
Sự phối hợp giữa cơ quan BHXH với cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH: Cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH có vai trò hoạch định chính sách, tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của cơ quan BHXH Ngược lại, cơ quan BHXH là đơn vị thực hiện có vai trò phản hồi những thông tin liên quan kịp thời, chính xác để phát hiện và khắc phục những sai lệch Mối liên hệ này càng chặt chẽ thì hệ thống BHXH hoạt động càng hiệu quả
Công tác thu và quản lý thu hiểu quả sẽ làm giảm tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH của các chủ thể tham gia BHXH, đồng thời góp phần đảm bảo sự an toàn, bền vững của quỹ BHXH cũng như đảm bảo các mục tiêu của ASXH đất nước
1.2 Vấn đề nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội:
a Khái niệm nợ đọng và trốn đóng BHXH:
- Nợ đọng BHXH là việc các đơn vị SDLĐ, NLĐ chậm đóng BHXH cho NLĐ so với thời gian quy định của pháp luật BHXH
- Trốn đóng BHXH là việc các đơn vị SDLĐ, NLĐ không tham gia BHXH theo các quy định của pháp luật về BHXH bắt buộc (không đóng, đóng không đúng mức quy định, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc)
b Các hình thức nợ đọng và trốn đóng BHXH:
1 Các hình thức nợ đọng BHXH:
- Phân loại theo thời gian:
Nợ đọng BHXH ngắn hạn (nợ gối đầu) là chậm đóng BHXH dưới 3 tháng so với thời gian quy định
Nợ đọng BHXH dài hạn là chậm đóng BHXH từ 3 tháng trở lên so với thời gian quy định
Việc phân loại này giúp cho cơ quan BHXH xác định rõ những đơn vị SDLĐ nợ dài hạn cần phải tập trung đôn đốc thu, những đơn vị SDLĐ thuộc
Trang 37diện khó thu hồi để có thông tin phản hồi với cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH và có biện pháp xử lý để hạn chế số lượng đơn vị nợ đọng dây dưa, khó thu hồi
- Phân loại theo quy mô:
Đơn vị nợ BHXH với số tiền ít (dưới 100 triệu đồng)
Đơn vị nợ BHXH với số tiền lớn (trên 100 triệu đồng)
Việc phân loại này giúp cho cơ quan BHXH xác định được quy mô nợ của từng đơn vị, từ đó đưa ra các biện pháp xử lý khác nhau Trước hết xử lý các đơn vị nợ BHXH với số tiền lớn, bởi tại những đơn vị đó quyền lợi của NLĐ bị ảnh hưởng lớn và thu hồi được nợ của những đơn vị này sẽ góp phần tăng thu nhiều hơn cho quỹ BHXH
- Đóng không đúng mức quy định: Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu tiền đóng và quỹ BHXH Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện BHXH, cố tình không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH
Kê khai giảm số lao động, mức lương thấp hơn trong hợp đồng lao động để giảm chi phí BHXH phải nộp dù tiền công phải trả cao hơn rất nhiều Xây dựng phương án trả lương không rõ ràng, thang bảng lương không phù hợp
+ Cố tình kéo dài thời gian thử việc, hợp đồng lao động dưới ba tháng
để không đóng BHXH, thỏa thuận hợp đồng lao động không thành văn
+ Chấm dứt hợp đồng với NLĐ đã làm việc lâu năm, có mức tiền lương cao, thay thế bằng lực lượng lao động mới để giảm chi phí tiền lương, trốn
Trang 38đóng BHXH
- Sử dụng tiền đóng và quỹ BHXH trái quy định của pháp luật: Hiện nay, khi Nhà nước giao quyền cho người SDLĐ chủ động trích tỷ lệ % tiền lương tháng của NLĐ để đóng BHXH, mặc dù người SDLĐ đã chiết trừ hết phần đóng góp BHXH của NLĐ nhưng người SDLĐ vẫn chưa chịu chuyển tiền đóng góp này cùng với phần đóng góp thuộc trách nhiệm của họ cho tổ chức BHXH Như vậy có nghĩa là người SDLĐ lừa gạt, chiếm dụng số tiền đóng BHXH của NLĐ Và mặc dù NLĐ đã tuân thủ thực hiện nghĩa vụ của mình song quyền hưởng BHXH của họ có thể bị tước đoạt do hành vi vi phạm của NSDLĐ Đây được coi là các hình thức phổ biến trên thị trường hiện nay, việc trốn đóng BHXH xuất phát từ lợi ích của chủ SDLĐ, sự hiểu biết của NLĐ, công tác quản lý của cơ quan BHXH Vấn đề này đã làm thất thoát vốn không nhỏ của Nhà nước, tính công bằng của hệ thống ASXH ở mỗi quốc gia không được đảm bảo
- Thực hiện đôn đốc, thu nợ: Hàng tháng, cơ quan BHXH gửi thông báo kết quả đóng đến chủ sử dụng lao động về số tiền đã đóng, số tiền nợ…
để thực hiện đôn đốc việc đóng, nộp BHXH, BHYT Trường hợp đơn vị không đóng cử cán bộ chuyên quản đến đơn vị hoặc mời đơn vị lên làm việc, lập biên bản xác nhận nợ và yêu cầu đơn vị cam kết lộ trình trả số tiền nợ BHXH, BHYT Nếu đơn vị tiếp tục nợ thì cơ quan BHXH thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng Trường hợp đơn vị nợ có dấu hiệu chây ỳ,
Trang 39cố tình chiếm dụng tiền đóng BHXH, BHYT, thành lập tổ công tác liên ngành tiến hành thanh tra, kiểm tra và yêu cầu thanh toán dứt điểm số tiền nợ hoặc
xử lý vi phạm hành chính, sau đó lập hồ sơ khởi kiện ra tòa Đối với những đơn vị bị rút giấy phép kinh doanh hoặc đang làm thủ tục giải thể, phá sản hoặc bị phong tỏa, phát mãi tài sản thực hiện việc báo cáo cấp ủy, UBND các cấp và gửi các cơ quan cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, tòa
án, ngân hàng… đề nghị phong tỏa tài khoản, tài sản, phối hợp trong việc thu hồi nợ BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ khởi kiện đơn
vị Đối với những đơn vị mất tích không còn giao dịch, cơ quan BHXH tiếp tục theo dõi và phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan để thu hồi nợ BHXH, BHYT Đồng thời, báo cáo với các ngành công an, tòa án… để xác minh tồn tại của đơn vị nợ; thông tin danh sách đơn vị nợ lên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc gửi sang Sở Kế hoạch – Đầu tư và cơ quan Thuế để phối hợp giải quyết…[[6]]
- Thực hiện thanh tra, kiểm tra: Các tổ công tác thu hồi nợ trực tiếp đơn vị nợ BHXH, BHYT để kiểm tra, đôn đốc và xử lý theo thẩm quyền Trường hợp, vượt quá thẩm quyền thì kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thanh tra, kiểm tra, xử phạt theo quy định Qua công tác thanh tra, kiểm tra cho thấy, đối với các đơn vị nợ BHXH, BHYT mang tính chiếm dụng tiền thì sau khi thanh tra, kiểm tra đã chấp hành nghiêm túc, còn lại các donah nghiệp thực sự khó khăn thì tiếp tục nợ BHXH, BHYT
- Thực hiện khởi kiện
Ngoài ra còn có các giải pháp đề xuất để hạn chế tình trạng nợ đọng
và trốn đóng BHXH như sau: “Cần có chế tài xử phạt mạnh hơn”
- Giao chức năng thanh tra cho tổ chức BHXH VN, nhằm thanh tra, kiểm tra việc đóng BHXH của DN sẽ tạo thuận lợi để khắc phục triệt để hơn những tồn tại hiện nay đối với việc chấp hành pháp luật BHXH
- Đề nghị bổ sung vào Bộ luật Hình sự tội trốn đóng BHXH, tội chiếm dụng tiền BHXH của người lao động đối với trường hợp trích tiền đóng
Trang 40BHXH của người lao động, nhưng không nộp cho cơ quan BHXH trong thời gian dài, đã bị xử phạt hành chính, nhưng tiếp tục vi phạm
- Cơ quan BHXH cũng kiến nghị Chính phủ giao các bộ, ngành xây dựng trình Chính phủ văn bản quy định về quản lý và xử lý nợ BHXH, BHYT đối với các đơn vị nợ BHXH, BHYT, nhằm giải quyết quyền lợi cho người lao động, giải quyết các khoản nợ của các đơn vị thuộc diện mất tích, giải thể, hoặc DN không còn tài sản để thu hồi…
Từ thực tế tình hình khó khăn chung của nền kinh tế - xã hội, một
số DN đề xuất Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách cần nghiên cứu điều chỉnh các chính sách của Nhà nước có liên quan đến BHXH, BHYT và các hình thức bảo hiểm bắt buộc khác mà DN phải thực hiện để bảo đảm quyền lợi cho người lao động Các cơ chế, chính sách này cần phải được tính toán hợp lý, trên cơ sở nghiên cứu khoa học, đồng thời phải căn cứ vào tình hình kinh tế và sức khỏe của DN để đưa ra chính sách hợp lý, tạo điều kiện cho DN vừa trả được nợ BHXH, BHYT, vừa tiếp tục sản xuất, kinh doanh, tránh việc đưa ra các quyết định không phù hợp, thiếu cơ sở và tạo thêm sức
ép cho DN
- Cần sớm hoàn thiện cơ chế chính sách, tạo điều kiện cho các DN phát triển và phát huy đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong việc bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, đồng thời bảo đảm tính bình đẳng về chính sách BHXH, BHYT trong cơ chế thị trường; quy định chế tài xử lý vi phạm BHXH mạnh,
có tính răn đe, để DN chủ động thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT
- Cùng với nỗ lực của các cơ quan Nhà nước, cần có sự vào cuộc của các
tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và đông đảo nhân dân; phát huy vai trò của chính quyền nhân dân; vai trò, chức năng giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích người lao động của các tổ chức công đoàn, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ tham gia BHXH, BHYT cho người lao động