1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên

92 669 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Nhóm nghiên cứu, Trần Anh Tuấn, Phan Huy Chi, Nguyễn Văn Bản, Đỗ Thái Hưng, Nguyễn Thị An Hằng, Phạm Đức Nghiệm, Thái Quang Hải, Tạ Thị Thu Hương, Phan Lệ Nga, Nguyễn Văn Trung, Đàm Công Huỳ, Nguyễn Trọng Thanh
Trường học Trường Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế học, Phát triển kinh tế, Khoa học công nghệ
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 637,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những đặc điểm nêu trên, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đề xuất một số mô hình ứng dụng khoa học - công nghệ phát triển nông nghiệp, nông t

Trang 1

Trung tâm nghiên cứu và phát triển vùng

Báo cáo tổng hợp

Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện Chuyển đổi cơ cấu kinh tế và Một số

mô hình ứng dụng khoa học công nghệ Tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên

6390 29/5/2007

Hà Nội, 5/2007

Trang 2

vµ mét sè m« h×nh øng dông khoa häc c«ng nghÖ

t¹i huyÖn Phó B×nh, tØnh Th¸i Nguyªn

Chñ tr×:

TrÇn Anh TuÊn

C¸c thµnh viªn tham gia:

KS Phan huy chi

KS NguyÔn V¨n B¶n

TS §ç Th¸i H−ng ThS.NguyÔn thÞ an H»ng

Trang 3

Phần thứ nhất: cơ sở lý luận của việc chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ở quy mô cấp huyện

II vận dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện ở nước ta 5

Phần thứ hai: điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên phục

vụ phát triển kinh tế – xã hội huyện phú bình

Phần thứ ba: đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh

tế huyện phú bình giai đoạn 2001 - 2005

II đánh giá thực trạng phát triển các ngành kinh tế. 24

2 Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng 31

III đánh giá thực trạng phát triển các lĩnh vực văn hoá - xã hội. 36

IV đánh giá thực trạng phát triển lĩnh vực kết cấu hạ tầng. 41

V Đánh giá tổng quát thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 44

VI lợi thế so sánh và hạn chế của huyện phú bình trong quá trình

Phần thứ tư: định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện

phú bình giai đoạn 2006 – 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

II mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2006 - 2010. 47

Trang 4

2006 - 2010 48

1 Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ 55

2 Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các ngành kinh tế 56

Phần thứ năm: đề xuất những giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện phú bình

V giải pháp về tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật. 74

VII đề xuất một số mô hình, dự án góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh

Trang 5

1 BVTV Bảo vệ thực vật

2 CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

3 FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 6

Lời nói đầu

Sự cần thiết của đề tài

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế được nhiều nước khu vực Đông Nam á áp dụng đã cho thấy: do những điều kiện kinh tế xã hội và điều kiện phát triển khác nhau nên việc tiến hành chuyển dịch kinh tế và kết quả đạt được ở các nước cũng khác nhau Nhưng nhìn chung việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều theo xu hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ thương mại để thúc

đẩy sự tăng nhanh GDP Đồng thời việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành không chỉ tăng về lượng và chiều rộng mà phải tăng cả về chất và chiều sâu

ở nước ta, trong những năm gần đây, nền kinh tế đã có bước phát triển, tốc

độ tăng bình quân GDP xếp thứ hai ở châu á, sau Trung Quốc Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy còn chậm nhưng đã có bước phát triển theo hướng tích cực

Về chiến lược phát triển kinh tế ở nước ta trong thế kỷ 21, một số nhà nghiên cứu cho rằng khi kinh tế ở vùng đồng bằng, đặc biệt các vùng kinh tế trọng điểm đã đạt mức phát triển ổn định thì sẽ phải khai thác tối đa hai hướng tăng trưởng đó là kinh tế miền núi và kinh tế vùng biển Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã coi miền núi là hòn ngọc của đất nước thì hiện nay, mai sau sự đánh giá đó mãi mãi đúng vì ý nghĩa kinh tế, quốc phòng và môi trường của miền núi đối với cả nước

Tỉnh Thái Nguyên là một trong các tỉnh khó khăn, huyện Phú Bình lại là một trong những huyện khó khăn của tỉnh Thực hiện đề tài này góp phần xác lập cơ sở khoa học cho việc phát triển nhanh về kinh tế, ổn định về xã hội tạo tiền đề bền vững về môi trường huyện Phú Bình Đồng thời cũng là thực hiện ý kiến chỉ

đạo trực tiếp của các đồng chí Lãnh đạo Bộ về việc triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – hội các tỉnh khó khăn

Với những đặc điểm nêu trên, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đề xuất một số mô hình ứng dụng khoa học - công nghệ phát triển nông nghiệp, nông thôn cho huyện Phú Bình là hết sức cần thiết

để góp phần phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của người dân, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Đó cũng là chủ trương lớn và cơ hội mới để Thái Nguyên có điều kiện đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, bắt nhịp phát triển chung của đất nước Nhưng để thực hiện quyết định này cần có sự nghiên cứu và đề xuất những giải pháp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mô hình cấp huyện nhằm rút ra cơ sở khoa học và thực tiễn trong quá trình triển khai khi mở rộng ra ngoài diện

Trang 7

Trên cơ sở đó, ngày 12/09/2005 Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

giao cho Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng thực hiện đề tài: "Nghiên

cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đề xuất một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên"

Huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 20 xã và 1 thị trấn, trong đó có 7 xã thuộc diện xã miền núi Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của huyện giai đoạn 2001 - 2005 đạt 6,82%, thấp hơn bình quân chung của toàn tỉnh Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng tốc độ chuyển dịch chậm Độ mở của nền kinh tế rất thấp, nền kinh tế vẫn mang nặng tính thuần nông Chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế còn thấp, hiệu qủa trong sản xuất kinh doanh còn chưa cao, sản xuất hàng hoá chưa phát triển mạnh, chưa tạo ra

được những sản phẩm, hàng hoá đặc trưng, mũi nhọn và chưa tạo được vùng sản xuất hàng hoá tập trung

Nhiều tiềm năng chưa khai thác một cách hiệu quả đặc biệt là tiềm năng

về phát triển thuỷ sản Nằm ở cửa ngõ giao lưu giữa các huyện miền núi và các huyện đồng bằng, từ Phú Bình đi Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn và Thành phố Thái Nguyên rất thuận lợi Tuy nhiên, ngoài một số mặt hàng nông sản – chủ yếu là lúa, Phú Bình không có sản phẩm nào tạo được ưu thế về số lượng và chất lượng trên thị trường nội tỉnh và các vùng lân cận Kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật chưa phát triển, đặc biệt là đường giao thông nên mặc dù có vị trí địa lý thuận lợi nhưng lượng hàng hoá lưu chuyển trên địa bàn rất thấp

Kinh tế tập thể phát triển kém, kinh tế nhà nước trên địa bàn quá nhỏ bé, kinh tế tư nhân phát triển chưa mạnh, không đồng đều, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn ít Thiếu các định hướng chính sách để thức đẩy kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân phát triển Còn nhiều tồn tại như tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi; ngành nghề nông thôn phát triển chậm, giải quyết việc làm cho nông thôn còn nhiều hạn chế, cơ cấu lao động phân công chưa hợp lý; chất lượng tay nghề kỹ thuật của người lao động và tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp Đời sống của một bộ phận nông dân gặp nhiều khó khăn Đầu tư của Nhà nước vào các lĩnh vực để phát triển kinh tế – xã hội còn nhỏ so với yêu cầu (nhu cầu đầu tư của huyện năm 2005 là 200 tỷ đồng nhưng tổng thu ngân sách trên

địa bàn là 7 tỷ đồng)

Với những đặc điểm nêu trên thì việc nghiên cứu giải pháp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả ở huyện Phú Bình là hết sức cần thiết góp phần phát

Trang 8

triển sản xuất, nâng cao đời sống của người dân, thực hiện công nghiệp hoá, hiện

đại hoá nông nghiệp, nông thôn

Mục tiêu của đề tài:

1 - Bổ sung cơ sở khoa học cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình - Thái Nguyên

2 - Xây dựng được các phương án và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế

có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn của huyện Phú Bình - Thái Nguyên và

có tính khả thi cao

3 - Đề xuất một số mô hình, dự án ứng dụng khoa học công nghệ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; thực hiện từng bước công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên

Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Nội dung 1: Cơ cở lý luận chung của đề tài

- Nội dung 2: Phân tích và đánh giá hiện trạng kinh tế - x∙ hội huyện Phú Bình

- Nội dung 3: Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình giai đoạn 2006 – 2010 và tầm nhìn 2020

- Nội dung 4: Đề xuất những giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Phú Bình

- Nội dung 5: Đề xuất các chương trình, dự án ưu tiên và triển khai thử nghiệm mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nuôi thuỷ sản có giá trị kinh tế cao tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên/

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng đã được các cơ quan và các

đồng chí lãnh đạo của đơn vị cũng như các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật ở Trung

ương, Tỉnh và Huyện phối hợp, giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài Trong báo cáo Đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, còn cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ đề cập tới trong một phạm vi hẹp Tuy nhiên, do còn có những giới hạn khách quan và chủ quan nên không tránh khỏi những thiếu sót trong nghiên cứu và tổng kết Rất mong

được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của các cơ quan và các đồng chí

Xin trân trọng cảm ơn /

Trang 9

Phần thứ nhất

cơ sở lý luận của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ở quy mô cấp huyện

I - khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là tỷ lệ của các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ) và của các nhân tố sản xuất (nguồn lợi tự nhiên, vốn và lao động) có tác dụng thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá Kuznets (1959) là người đầu tiên nghiên cứu vấn đề này một cách hệ thống Ông định nghĩa "Cơ cấu là một khung có mạch lạc của các bộ phận có quan hệ với nhau mà mỗi một phần có vai trò riêng biệt nhưng lại có mục tiêu chung"

Cơ cấu kinh tế ở nước ta thường được đề cập đến các lĩnh vực: cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế theo vùng và cơ cấu thành phần kinh tế Các bộ phận hợp thành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quyết định Cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu thành phần kinh tế

đều phải chỉ rõ làm cái gì và sản xuất bao nhiêu là có hiệu quả kinh tế nhất

Việc lựa chọn cơ cấu kinh tế, không hợp lý sẽ dẫn đến hậu quả là hiệu quả kinh tế thấp, sức cạnh canh của nền kinh tế yếu, thậm chí gây tổn thất cho nền kinh tế và nghiêm trọng hơn sẽ làm cho nền kinh tế bị khủng hoảng Chính vì vậy, việc lựa chọn một cơ cấu kinh tế, hợp lý là một việc làm rất cần thiết và quan trọng

Trong lịch sử kinh tế và kinh tế phát triển người ta chú ý đến sự quan trọng tương đối của các ngành và các khu vực kinh tế về mặt sản lượng và sử dụng các nhân tố sản xuất (nguồn lợi tự nhiên, vốn và lao động) Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển được gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng cụm từ chuyển đổi thay cho cụm từ chuyển dịch, bởi vì chuyển dịch thể hiện sự tịnh tiến mà không thể hiện sự cách mạng trong cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nghĩa là biến một nền kinh tế phát triển một cách tự phát, với cơ cấu tuỳ tiện thành một nền kinh tế có cơ cấu hợp lý,tính hiệu quả cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và có sản lượng hàng hoá lớn,

có tính cạnh tranh trên thị trường thế giới Như thế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là giải pháp để biến nền kinh tế hiệu quả thấp thành nền kinh tế có hiệu quả cao mà trọng tâm của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế phải thực hiện công nghiệp hoá Nếu hiểu theo nghĩa cơ cấu kinh tế là thành phần của một tổng

Trang 10

hợp, nó tác động đến các thành phần khác thì thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá

là để thoả mãn nhu cầu nông lâm nghiệp và dịch vụ thương mại

Theo H Chenery (1998) chuyển dịch cơ cấu kinh tế là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và cơ chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của sản phẩm quốc dân (GDP) bao gồm: sự tích luỹ của vốn (vật chất và con người), sự chuyển đổi nhu cầu sản xuất công nghiệp, thương mại, nông nghiệp và việc làm Các quá trình như đô thị hoá, chuyển động dân số, thay đổi trong thu nhập sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Theo M, Syrquin (1998) chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cơ chế, nhờ đó mà có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của một quốc gia là một trong những bộ phận có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển ổn định của một đất nước Mục tiêu của sự phát triển ổn định của một đất nước phải đảm bảo cho dân giàu, nước mạnh, xã hội ổn định và văn minh

II - Vận dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện ở nước ta

II.1 - Nhiệm vụ và và bước đi đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Mặc dù những năm gần đây, đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế và ổn định xã hội Song nước ta vẫn là một trong các nước nghèo của thế giới và cần tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế

Hơn nữa, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá lại có điểm xuất phát rất thấp từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu, cơ sở vật chất

kỹ thuật yếu kém, nền kinh tế bao cấp kế hoạch hoá tập trung bên cạnh những mặt được đã để lại nhiều vấn đề tồn tại cần được khắc phục Do đó, muốn có nền kinh tế phát triển chỉ còn một con đường phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng sản xuất hàng hoá và xuất khẩu

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ đơn giản là thay đổi tốc độ và

tỷ trọng của mỗi lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, mà là phải tạo ra

sự thay đổi về chất trong cơ cấu và trình độ phát triển của mỗi ngành

Nông nghiệp phải chuyển từ sản xuất chủ yếu là lúa gạo sang đa dạng cây trồng và vật nuôi có sản phẩm hàng hoá ngày càng lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao Công nghiệp phải chuyển từ khai thác và sơ chế là chủ yếu sang một nền công nghiệp đa ngành, trong đó công nghiệp điện tử, công nghiệp vật liệu mới sẽ được phát triển nhanh, tạo ra nhiều việc làm, khai thác và

sử dụng ngày một tốt tài nguyên của đất nước Phải chuyển ngành dịch vụ -

Trang 11

thương mại từ nhỏ bé, lạc hậu, manh mún và tự phát sang một nền dịch vụ - thương mại phát triển có hệ thống, theo hướng văn minh, hiện đại

Trong 5 năm qua 2000 - 2005 nền kinh tế nước ta đã có nhiều chuyển biến: tổng sản phẩm nội địa tăng 1,89 lần Tích luỹ nội bộ nền kinh tế từ mức không

đáng kể, đến năm 2005 đạt khoảng trên 30% GDP Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội phát triển nhanh Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống còn 20,89%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 41,03%, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 5 năm là 16,2%

Riêng trong nông lâm nghiệp ở nước ta trong 5 năm gần đây (2000-2005)

đã có những chuyển biến sâu sắc thể hiện ở các mặt:

- Diện tích sản xuất lương thực giảm, nhưng năng suất, sản lượng tăng đảm bảo an ninh lương thực, tăng khối lượng và giá trị xuất khẩu Diện tích gieo trồng lúa giảm nhưng năng suất sản lượng tăng đảm bảo an ninh lương thực, tăng khối lượng và giá trị xuất khẩu Diện tích gieo trồng lúa năm 2005 giảm 340 ngàn ha

so với năm 2000, năng suất tăng từ 42,4 tạ/ha lên 48,9 tạ/ha Sản lượng tăng từ 32,5 triệu tấn lên 35,7 triệu tấn

- Cây công nghiệp xuất khẩu tăng cả diện tích và sản lượng: cao su 480,2 ngàn ha tăng 68,2 ngàn ha Sản lượng mủ khô 468,6 ngàn tấn, tăng 177,8 ngàn tấn Điều đạt 328 ngàn ha, tăng 128,8 ngàn ha, sản lượng 232 ngàn tấn tăng 164,4 ngàn tấn Hồ tiêu 50 ngàn ha, tăng 21,2 ngàn ha, sản lượng 77 ngàn tấn, tăng 37,8 ngàn tấn Chè 118,4 ngàn ha, tăng 30,7 ngàn ha, sản lượng 534,2 ngàn tấn, tăng 219,5 ngàn tấn

- Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 21,1% năm 2002 lên 33,4% năm 2005 Trong đó đàn bò tăng 6,6%, lợn tăng 23%, gia cầm tăng 30%, sản lượng thịt hơi tăng 28%

- Tỷ lệ che phủ của rừng tăng từ 33,2% năm 2000 lên khoảng 37,4% năm

2005 Chương trình 5 triệu ha rừng đến nay đã giao khoán bảo vệ rừng 2,7 triệu

ha trồng mới 1,7 triệu ha

- Công nghiệp, ngành nghề dịch vụ ở nông thôn tăng 11% về giá trị sản lượng Hiện nay có 1,35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn, thu hút 10 triệu lao

động, góp phần cải thiện đời sống nông dân

- GDP nông nghiệp nhìn chung có tăng: 2001 tăng 2,98%, 2002 tăng 4,06%, năm 2005 tăng trên 4%

Đẩy mạnh hơn nữa việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong các nội dung quan trọng để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta Đối với các tỉnh

Trang 12

miền núi nói chung và các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn nói riêng, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn có ý nghĩa để giảm dần khoảng cách phát triển kinh tế văn hoá - xã hội giữa vùng miền núi với các vùng khác của đất nước

Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, một cách có hiệu quả:

- Phải đảm bảo đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao

- Phải phát huy đồng bộ sức mạnh tổng hợp, lợi thế so sánh của các ngành,

lĩnh vực kinh tế, các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế

- Phải khai thác và phát huy đầy đủ nội lực, cần kiệm để CNH - HĐH đất

nước, trong đó yếu tố lao động sáng tạo có vai trò quyết định để tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội bền vững

- Phải hướng mạnh về xuất khẩu, khuyến khích thu hút vốn và công nghệ

của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Nâng cao hiệu quả hợp tác và sức mạnh cạnh tranh ở khu vực và quốc tế

Các bước đi cần thiết để chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả trong quá trình CNH - HĐH bao gồm:

- Mô hình kinh tế có hiệu quả hơn trong quá trình phát triển kinh tế là mô

hình kinh tế thị trường có điều tiết theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH phải chủ động

sản xuất hàng hoá, dịch vụ thay thế nhập khẩu hướng tới xuất khẩu

- Cần tập trung đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển ở những vùng

kinh tế thuận lợi, có hiệu quả kinh tế cao để xây dựng thành các vùng trung tâm thu hút, lôi cuốn thúc đẩy các vùng khác phát triển Đồng thời chú ý

đúng mức đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các vùng khó khăn, nghèo đói để từng bước xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho sự ổn định chính trị, xã hội Trên cơ sở đó, dùng sức mạnh của các vùng khá, giàu, ngân sách Nhà nước, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước để chuyển dịch cơ

cấu kinh tế ở các vùng khó khăn

- Bước đi đầu tiên là ưu tiên phát triển các ngành vốn đầu tư ít nhưng tạo

nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh Sau đó phát triển các ngành yêu cầu hàm lượng chất xám cao hơn Theo cách này, cần tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng phát triển mạnh công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, phát triển nông nghiệp để thúc đẩy mạnh xuất khẩu, bảo đảm an toàn lương thực, có đủ nguyên liệu cho công

Trang 13

nghiệp Phát triển mạnh các ngành kinh tế dịch vụ, coi trọng các ngành công nghiệp nặng phục vụ công nghiệp chế biến và nông nghiệp

II.2 - Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Việc xây dựng mô hình cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng CNH - HĐH dựa trên những quan điểm, phương hướng chủ yếu sau:

- Quan điểm phát triển toàn diện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Phải coi trọng quan điểm phát triển toàn diện về kinh tế, xác định hợp lý

tỷ lệ phát triển của các ngành một cách đồng bộ, cân đối Khắc phục tình trạng phân tán, trong phân bổ vốn đầu tư Vấn đề quan trọng là khai thác nội lực để tập trung cho những ngành, những vùng trọng điểm nhằm đạt tới sự phát triển nhanh nền kinh tế Theo quan điểm này việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo phù hợp với nền kinh tế thị trường, trong đó khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với công nghiệp hoá, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và hàng hoá của Việt Nam

Tiến hành hiện đại hoá các ngành sản xuất, trên cơ sở tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật, áp dụng quy trình hoạt động theo lối công nghiệp trong các ngành sản xuất và trong mọi lĩnh vực Về công nghiệp, phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế biến, thúc đẩy các ngành công nghiệp có lợi thế của huyện Đối với ngành sản xuất nông lâm nghiệp, phải đổi mới quy trình sản xuất, thực hiện thâm canh, hình thành những vùng sản xuất có khối lượng hàng hoá lớn và chất lượng cao Đối với ngành tiểu thủ công nghiệp, kết hợp các công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại để tạo nên những sản phẩm có vị trí xứng đáng trên thị trường

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đạt được các mục tiêu hiệu quả kinh tế, xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh

Bảo đảm tốc độ tăng trưởng khá, kinh tế xã hội phát triển ổn định và bền vững dựa trên cơ sở năng suất, chất lượng cao, chi phí thấp, giá thành hạ để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh Do đó, đòi hỏi phải đẩy nhanh hơn nữa công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại nhằm đạt được những mục tiêu kinh

tế - xã hội

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo dân chủ, công bằng

Trang 14

II.3 - Thực hiện phát triển kinh tế mở và hướng về xuất khẩu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn

II.3.1 - Cơ cấu kinh tế nông thôn

Cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm nhiều bộ phận hợp thành, kết hợp chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, các bộ phận hợp thành có quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định tạo thành một hệ thống kinh tế trong nông thôn

Kinh tế nông thôn được phân biệt với kinh tế thành thị không đơn thuần ở

đặc trưng ngành kinh tế mà ở đặc trưng vùng lãnh thổ Kinh tế nông thôn bao gồm các hoạt động sản xuất và dịch vụ được thực hiện trên địa bàn nông thôn bất kể đó

là nông nghiệp hay phi nông nghiệp Như vậy quan điểm đồng nhất kinh tế nông nghiệp với kinh tế nông thôn là không hợp lý Tất nhiên khi nói kinh tế nông thôn thì nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản là những bộ phận chủ yếu, song điều đó không có nghĩa là kinh tế nông thôn không bao gồm công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Nếu như trước đây, nông nghiệp là đặc trưng cơ bản của kinh tế nông thôn thì ngày nay với sự phát triển của khoa học - công nghệ và phân công lao

động xã hội, tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn đang có xu hướng giảm dần, một cơ cấu kinh tế mới đang hình thành chi phối quá trình vận

động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông thôn Do vậy khi xem xét cơ cấu kinh tế nông thôn phải thấy được tính chất tổng hợp trong các yếu tố cấu thành hệ thống trên các mặt chủ yếu sau:

+ Cơ cấu ngành sản xuất và dịch vụ

+ Cơ cấu các thành phần kinh tế

+ Cơ cấu vùng lãnh thổ

Quá trình xác lập cơ cấu kinh tế nông thôn là quá trình giải quyết các mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận cấu thành dưới sự tác động của các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất giữa tự nhiên và con người trong những điều kiện

cụ thể về thời gian và không gian Do vậy cơ cấu kinh tế nông thôn là thước đo trình độ phát triển của nền kinh tế ở mỗi địa phương và trong một chừng mực nhất định còn phản ánh tính chất văn minh của xã hội Cho nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải được đặt trong tổng thể kinh tế xã hội chung của tỉnh

và đất nước

Trang 15

II.3.2 - Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Trong điều kiện nước ta hiện nay, đặt vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cần phải chú ý đến những định hướng quan trọng sau đây:

- Chuyển kinh tế nông thôn từ chỗ mang nặng tính tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá

- Chuyển cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang cơ cấu kinh tế kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp - công nghiệp và dịch vụ

- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải gắn phát triển kinh

tế với phát triển văn hoá xã hội, nâng cao dân trí, bảo vệ và sử dụng tài nguyên hợp lý, cải thiện môi trường sinh thái, xây dựng nông thôn mới

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế nông thôn phải đi đôi với mở rộng và phát triển thị trường Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học Từ đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường hướng tới xuất khẩu

II.3.3 - áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

áp dụng nhanh chóng và có hiệu quả tiến bộ khoa học và công nghệ vào tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ

- Nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật và đổi mới công nghệ trong tất cả các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, nhằm tạo ra nhiều hàng hoá và dịch vụ với chất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn, lợi nhuận cao hơn, tạo ra nhiều việc làm

- Kết hợp kỹ thuật và công nghệ nhiều trình độ theo hướng: sử dụng tốt kỹ thuật và công nghệ hiện có, hiện đại hoá kỹ thuật và công nghệ truyền thống, đi tắt

đón đầu kỹ thuật và công nghệ hiện đại

- Chú trọng áp dụng công nghệ có hiệu quả về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường Đó là những công nghệ đầu tư vốn không cao nhưng lại tạo được nhiều việc làm, không làm ảnh hưởng đến môi trường

- Trong quản lý quá trình phát triển kinh tế - xã hội thực hiện cải tiến phương pháp tổ chức sản xuất và lao động

II.3.4 - Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn:

Yêu cầu cho bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế huyện như sau:

Tỷ trọng ngành trong cơ cấu kinh tế - Nông nghiệp giảm dần

- Công nghiệp - xây dựng tăng nhanh

- Thương mại - dịch vụ tăng

Trang 16

Lao động: Tạo việc làm

- Lao động nông nghiệp giảm

- Lao động phi nông nghiệp tăng

- Lao động nông thôn chủ yếu có việc làm tại chỗ Một bộ phận rời ra đô thị, thị trấn, thị tứ

Đô thị hoá - Vừa xây dựng tập trung vừa phân tán

Thông thường giữa tăng trưởng của khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp tương quan chặt chẽ: khu vực nông nghiệp tăng trưởng 1% thì khu vực phi nông nghiệp tăng trưởng 4%

Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn được thể hiện ở việc đa dạng hoá sản xuất, phát triển nông nghiệp toàn diện để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng lên của xã hội và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, nhằm rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp, nông thôn và tăng thu nhập cho hộ nông dân

II.4 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở quy mô cấp huyện

II.4.1 Vai trò của cấp huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, huyện được xác định là một cấp kinh tế Lúc ấy, chủ trương của Bộ chính trị phải xây dựng Huyện trở thành 400 pháo đài vững chắc, đảm bảo kinh tế phát triển, chính trị ổn định, có an ninh quốc phòng

Sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về chuyển đổi cơ chế quản lý trong hợp tác xã và sau 1985 thực hiện xoá bỏ bao cấp, huyện chỉ còn là một cấp hành chính trung gian giữa xã và tỉnh, mà thực chất

Từ 1990 trở lại đây, thực tế đã chứng minh bỏ qua cấp huyện để tỉnh quản

lý trực tiếp nền kinh tế đến cơ sở là một điều khó thực hiện, cần trả lại vị trí cấp huyện không chỉ là một cấp hành chính mà còn là một cấp quản lý ngân sách và chỉ đạo phát triển kinh tế

Trang 17

II.4.2 - Đặc điểm cấp huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Là cấp hành chính, huyện quản lý Nhà nước trên phần lãnh thổ đã được hoạch định về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng Riêng về kinh tế, trên địa bàn của huyện có những đặc điểm chung và riêng chi phối hoạt động của huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế Những đặc điểm đó là:

- Nền kinh tế ở các huyện miền núi, nhất là các huyện miền núi đặc biệt khó khăn nông lâm nghiệp còn có tỷ trọng lớn, khoảng 90-92% số dân sống ở nông thôn Vì vậy huyện có vai trò rất quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Trong đó:

+ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự chuyển đổi từ lượng đến chất trong từng lĩnh vực của nông nghiệp Quy tụ lại là chuyển từ sản lượng sang giá trị sản lượng trong trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp

+ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là sự chuyển đổi về tỷ trọng giữa các ngành trồng trọt – chăn nuôi – lâm nghiệp và dịch vụ Trong quá trình chuyển dịch này, xu hướng phải giảm dần tỷ trọng trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi, đặc biệt phải tăng nhanh dịch vụ nông nghiệp, hiện nay tỷ trọng này còn quá thấp khoảng 2-4% Kinh tế nông thôn phải phát triển mạnh công nghiệp gia công, chế biến các ngành nghề thủ công truyền thống và không truyền thống

để từng bước có sự chuyển dịch nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn Trong quá trình chuyển dịch này, nhiều nông thôn từng bước thành thị hoá, cơ cấu nông lâm nghiệp cũng không còn là vai trò chủ đạo

Như vậy, trên địa bàn huyện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn tác động và hỗ trợ lẫn nhau tạo ra sự chuyển dịch tổng thể kinh tế trên

địa bàn huyện

- ở các huyện miền núi có những điểm giống nhau song cũng có những điểm khác nhau về sinh thái, mức độ phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, dân tộc, dân trí Nên trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện phải dựa theo các quy luật phát triển chung của một nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phải căn cứ vào thực tiễn của huyện để lựa chọn và định ra bước đi thích hợp, không thể có sẵn một mô hình kinh tế có thể rập khuôn cho tất cả các huyện

- Trên địa bàn huyện có hoạt động của các đơn vị kinh tế: Trung ương, tỉnh, huyện và nước ngoài Những đơn vị kinh tế này chịu sự quản lý trực tiếp của ngành nhưng lại có mối quan hệ về cấp đối với huyện hoặc không trực thuộc ngành cấp nào như các đơn vị có vốn đầu tư của nước ngoài Đó là sự hoạt động kinh tế đa dạng trong tổng thể kinh tế trên địa bàn huyện Sự chuyển dịch của tổng

Trang 18

thuộc chức năng quản lý của huyện Sự phân định này làm cho việc hoạch định nội dung và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa bàn huyện trở nên phức tạp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng và theo ngành thì cấp huyện chỉ hoạch định được phần kinh tế của địa phương

II.4.3 - Nhân tố chi phối chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cấp huyện

Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các huyện miền núi có một số nhân tố mới tạo ra thời cơ để có thể đẩy nhanh tốc độ phát triển đó là:

+ Vấn đề rừng được nhìn nhận rõ hơn, nhất là chủ trương phát triển đa dạng cây rừng có giá trị kinh tế cao, tạo ra hướng mới trong kinh doanh và làm giầu từ rừng Các chương trình 5 triệu ha rừng, định canh - định cư trở thành chất xúc tác cho quá trình phát triển rừng

+ Cơ sở hạ tầng ở các huyện miền núi được Đảng và Nhà nước quan tâm

đầu tư thông qua chương trình 135, 186 và các dự án khác đã và đang làm thay

đổi bộ mặt nông thôn miền núi, cải thiện mạng lưới giao thông là cơ sở để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển xã hội

+ Việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng không thể không hoạch định trên cơ sở những nhân

tố mới về các yếu tố thị trường, các loại thị trường Kinh tế trên địa bàn vượt qua giới hạn địa giới hành chính của huyện để vươn tới thị trường mở cửa, hội nhập với thị trường chung của cả nước và hướng ra xuất khẩu

Như vậy, ở các huyện miền núi khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể gặp không ít khó khăn song cũng có những nhân tố mới hết sức thuận lợi, cần khai thác triệt để những nhân tố này tạo ra những nét khởi sắc kinh tế ở cấp huyện

II.4.4 – Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong và ngoài nước

* Một số kinh nghiệm trong nước

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo an ninh lương thực và phát triển giao thông ở huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

Quản Bạ là một trong những huyện vùng cao của tỉnh vùng cao Hà Giang,

có địa danh Cổng Trời ở độ cao 1.500 m so với mặt biển Là một huyện thuộc vùng núi đá, đất nông nghiệp chỉ chiếm 10% diện tích tự nhiên Những năm trước đây, nhân dân trong huyện luôn luôn trong tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng Việc vận chuyển lương thực từ đồng bằng lên gặp nhiều trở ngại

do đường đến thôn, xã ở vùng cao còn nhiều khó khăn

Do nhận thức về tầm quan trọng số một của vấn đề lương thực và giao thông

đối với đời sống kinh tế xã hội trong huyện nên Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân và

Trang 19

uỷ ban nhân dân huyện Quản Bạ đã đặt mục tiêu phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện theo hướng đảm bảo an ninh lương thực cho 38 nghìn dân và tất cả các xã đều có đường ô tô vào tới trung tâm xã

Bằng những biện pháp tận dụng đất đai, đẩy mạnh thâm canh, thực hiện xen canh, tăng vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nên mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực trong huyện đã được thực hiện với nhiều kết quả trong vài năm gần đây Năm 2003 sản lượng lương thực bình quân của huyện đạt hơn 300 kg/người; tỷ lệ

hộ nghèo đói giảm từ 40% năm 1996 xuống còn 19% năm 2003

Mục tiêu về giao thông xã cũng đã đạt được bởi từ năm 2002, trong 13 xã

và thị trấn của huyện đều đã có đường ô tô, một thành tựu mà nhiều thập kỷ qua không làm nổi

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tại huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận

Đại hội Đảng bộ huyện Hàm Thuận Bắc lần thứ VIII đề ra chủ trương

“chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp; tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ” Sau hai năm thực hiện chủ trương trên, huyện đã thu được một số kết quả tích cực

* Xoá bỏ dần tình trạng độc canh cây lúa nước theo phương thức quảng canh để chuyển mạnh sang thâm canh, luân canh, đa dạng hoá các loại cây trồng phù hợp

* Phát triển ngành nghề phi nông nghịêp, giảm dần hộ thuần nông

Dựa vào kết quả phát triển nông nghiệp, nhiều hộ đã có thu nhập khá hơn Huyện khuyến khích các hộ đầu tư phát triển các ngành nghề thích hợp Năm

2003 trong huyện đã có 37 doanh nghiệp hoạt động thương mại, 1.650 hộ làm dịch vụ, 304 trang trại và 5.191 hộ làm kinh tế vườn kết hợp kinh doanh tổng hợp với tổng vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng

Trong thời gian tới, huyện chú trọng vào việc khuyến khích phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp để kinh tế trên địa bàn đi vững chắc hơn trên 3 chân: nông nghiệp, dịch vụ, công nghiệp

* Một số kinh nghiệm nước ngoài

Kinh nghiệm trên thế giới về chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa bàn lãnh thổ cấp huyện tuy có những vấn đề không giống như ở Việt Nam nhưng cách làm lại gợi mở nhiều kinh nghiệm có thể tham khảo trong công tác nghiên cứu Dưới

đây giới thiệu tóm tắt một vài kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế cấp huyện ở

Trang 20

Ví dụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thị trấn LICH thuộc huyện Ginsen (Cộng hoà liên bang Đức) Thị trấn có tổng diện tích tự nhiên là 7.700 ha, trong đó: 10% dành làm khu bảo tồn thiên nhiên, 55% là đất nông nghiệp, 33% là đất xây dựng

Trước đây 10 năm, cơ sở hạ tầng của thị trấn chỉ phục vụ được khoảng 10 nghìn lượt người đến du lịch và ngủ qua đêm tại thị trấn hàng quí; nay thị trấn đã

đủ sức nâng số đó lên gấp 3 lần Trong tổng thu ngân sách của thị trấn thì thu từ nông nghiệp chiếm 2 - 3%, thu từ công nghiệp 60 - 65%, thu từ thương mại dịch

vụ 32 - 38%

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn các xã và thị trấn trong huyện Ginsen cũng có những diễn biến tương tự thị trấn Lich nhưng với qui mô và nhịp

độ khác nhau Điểm chung nhất của sự chuyển dịch này là: ngành công nghiệp

và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế trên địa bàn xã, thị trấn trong huyện Sự chuyển dịch này phần quan trọng là do người dân được tự

do lựa chọn việc đầu tư vào các ngành nghề có lợi từ các quan hệ thị trường tạo

ra, mặt khác có những tác động nhiều mặt của chính quyền xã, thị trấn Phương thức tự quản của cấp xã, thị trấn đã đem lại sự uyển chuyển trong lựa chọn cơ cấu kinh tế của từng địa bàn xã, thị trấn trong huyện

Một ví dụ khác tại Trung Quốc: cơ cấu kinh tế nông thôn ở Trung Quốc đã

có những chuyển dịch mạnh mẽ trong quá trình cải cách và mở cửa từ năm 1978 Trong khi cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp phát triển ổn định thì cơ cấu của các ngành sản xuất phi nông nghiệp đã có những bước phát triển đột phá làm thay

đổi hẳn cơ cấu kinh tế nông thôn Trung Quốc Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trung Quốc đã diễn ra với qui mô lớn và dưới nhiều hình thức Một trong những

điểm thành công lớn trong lĩnh vực này chính là việc Trung Quốc đã coi trọng sự chuyển dịch này ở cấp cơ sở (xã, thôn) và đã sáng tạo ra một loại hình kinh tế thích hợp trong bước đi ban đầu (xí nghiệp hương trấn) Mặc dù ngay từ năm

1996, Trung Quốc đã thấy rõ nhiều nhược điểm của mô hình xí nghiệp hương trấn (đặc biệt là các xí nghiệp thuộc ngành công nghiệp với kỹ thuật công nghệ lạc hậu và khả năng làm ô nhiễm môi trường rất lớn), nhưng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc thì chưa có loại hình kinh tế nào

tỏ ra hữu hiệu hơn loại hình xí nghiệp hương trấn

Tóm lại, kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước cho thấy những đặc điểm kinh tế – xã hội khác nhau nên việc tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế khác nhau, do đó hiệu quả kinh tế – xã hội đạt được cũng khác nhau Tuy nhiên sự đồng nhất là việc tăng nhanh GDP được quyết định bởi sự tăng trưởng công nghiệp – dịch vụ trong cơ cấu kinh tế

Trang 21

Phần thứ hai

Điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên phục vụ phát

triển kinh tế – xã hội huyện Phú bình

I - Vị trí địa lý

Phú Bình là huyện trung du, nằm ở phía nam tỉnh Thái Nguyên, trung tâm huyện lỵ cách Thành phố Thái Nguyên 28 km và cách thị xã Bắc Ninh 30km; phía bắc giáp huyện Đồng Hỷ, phía tây bắc giáp huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang), phía tây nam giáp huyện Phổ Yên

Huyện Phú Bình có toạ độ địa lý: 21023’33”' - 21035’22”' vĩ độ Bắc và

103051' - 106002' kinh độ Đông

Huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 20 xã và 1 thị trấn trong đó có 7 xã thuộc diện xã miền núi Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là: 24.937 ha, dân số năm 2005 là 142.218 người

Huyện Phú Bình có điều kiện giao lưu gần gũi với trung tâm hai tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, với Thủ đô Hà Nội và gần các khu công nghiệp lớn của Hà Nội nên có điều kiện giao lưu hàng hoá dễ dàng và có khả năng phát triển nền kinh tế của huyện theo xu hướng công nghiệp hoá và đô thị hoá Cùng với hệ thống giao thông phát triển cả về đường bộ và đường sông,… nên có thế mạnh để

mở rộng thị trường, phát triển giao lưu thương mại và dịch vụ, xây dựng một nền kinh tế hàng hoá đa dạng hội nhập dễ đàng với thị trường trong và ngoài nước

II - tài nguyên thiên nhiên

II.1 – Tài nguyên đất

Tổng quỹ đất huyện Phú Bình có 24.936,91 ha, trong đó diện tích đất dùng cho nông nghiệp có 12.035,37 (chiếm 48,26% tổng tích tự nhiên) Địa hình của huyện có chiều hướng dốc từ đông bắc xuống đông nam với độ dốc 0,04%,

độ chênh cao trung bình là 1,1m/km dài Độ cao so với mặt nước biển trung bình

là 14m (xã Dương Thành), đỉnh cao nhất 250 m (Đèo Bóp thuộc xã Tân Thành)

Nhìn chung địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, vùng đồi núi chủ yếu

là đồi núi bát úp thoải và thấp có độ cao dưới 100m Diện tích đất có độ dốc < 8ochiếm đa số (16.848 ha, chiếm 67,56% tổng diện tích tự nhiên), đây là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây lương thực

Trang 22

Đặc điểm tài nguyên đất:

- Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét: Có diện tích

lớn nhất 9.930,5 ha, chiếm tỷ lệ 39,82% tổng diện tích tự nhiên Loại đất này có tỷ

lệ sét cao, khả năng giữ nước và giữ ẩm tốt, phân bố chủ yếu ở các xã vùng đồi

- Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ sa thạch: Loại đất này nằm

xen kẽ rải rác ở các xã vùng đồi với tổng diện tích khoảng 4.165,5 ha, chiếm tỷ

lệ 17% diện tích tự nhiên Đất có thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém, tỷ lệ mùn thấp dưới 1% và các chất NPK nghèo

- Đất feralit nâu vàng phát triển trên mẫu chất phù sa cổ: Đất này phân

bố chủ yếu ở các xã dọc triền sông, suối, có địa hình dạng sóng thoải Đất có độ phì cao, khả năng giữ ẩm và chất dinh dưỡng tốt Diện tích loại đất này không lớn, chỉ có 696 ha

- Đất phù sa sông Cầu được bồi hàng năm: Đất này được hình thành do

quá trình bồi đắp phù sa hàng năm của sông Cầu Đất có thành phần cơ giới nhẹ,

có khả năng giữ nước và ẩm tốt, được xếp vào loại đất canh tác tốt nhất trong huyện, có diện tích 1.538,6 ha, chiếm tỷ lệ 6,3% diện tích tự nhiên

- Đất lúa nước trên sản phẩm dốc tụ: Phân bố rải rác ở các chân sườn dốc,

các thung lũng, lòng chảo đã được khai phá để trồng lúa nước, có diện tích 5.785,61 ha, chiếm tỷ lệ 23,7% diện tích tự nhiên

- Đất bạc màu: Có tỷ lệ cát thô cao, mức độ thấm nước theo chiều sâu

mạnh, đất xấu, năng suất cây trồng thấp kém, có diện tích 1.618,5 ha, chiếm tỷ

lệ 6,6% diện tích tự nhiên

Ngoài 6 loại đất chủ yếu nói trên, Phú Bình còn có một số loại đất khác như: đất cát gio, đất thung lũng, đất lầy thụt,… các loại đất này chiếm diện tích không đáng kể

Nhìn chung tài nguyên đất huyện Phú Bình phân bố không tập trung, đất

có cấu tượng xấu, khả năng giữ nước và giữ ẩm kém, mùn tổng số thấp: từ 0,5 – 0,7%, độ chua cao pH từ 4 đến 5, nghèo các chất dinh dưỡng

Trang 23

Bảng 1 – đặc điểm thổ nhưỡng huyện Phú Bình

Đặc điểm chính Loại đất phát sinh Diện tích

(ha)

Độ dày tầng đất (cm)

Tỷ lệ đá

lẫn (%)

Nguồn nước

1 Đất phiến thạch sét (Fs) 9.930,5

Trong đó: Loại đất FsX 202,5 > 120 < 10 Tự chảy

Loại đất FsY 553,0 50 – 120 < 10 Tự chảy

Loại đất FsZ 9.175,0 < 50 10 – 30 Tự chảy

2 Đất vàng đỏ trên nền đá cát (Fq) 4.165.5

Trong đó: Loại đất FqX 254,5 > 120 10 – 30 Tự chảy

Loại đất FqY 545,0 50 – 120 10 – 30 Tự chảy

Loại đất FqZ 3.366,0 < 50 > 30 Tự chảy

3 Đất vàng đỏ trên nền phù

Trong đó: Loại đất FpX 52,0 > 120 < 10 Tự chảy

Loại đất FpY 18,0 50 – 120 < 10 Tự chảy

Loại đất FpZ 626,0 < 50 < 10 Tự chảy

Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Phú Bình đến năm 2010

Trong những năm qua tình hình sử dụng đất của Phú Bình không có biến

động lớn, trong đó có một số loại đất hầu như không biến đổi Sự biến động lớn

nhất tập trung ở đất nông nghiệp, giảm hơn 800 ha và đất chưa sử dụng giảm 880

ha trong 4 năm qua Mặc dù đã có những cố gắng nhiều trong việc chỉ đạo phát

triển sản xuất thâm canh tăng vụ nhưng diện tích gieo trồng trên toàn huyện

cũng không tăng đáng kể, hệ số sử dụng đất mới đạt khoảng từ 2 – 2,1 lần Tiềm

năng đất có thể đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp còn khoảng 500 ha

Hiện nay đất trồng cây hàng năm đặc biệt là đất lúa, đất vườn và đất mặt

nước nuôi trồng thuỷ sản đã sử dụng hầu như không còn khả năng mở rộng

thêm

Trang 24

Bảng 2 – Biến động đất đai thời kỳ 2000 – 2005

Đơn vị: ha

2000 2005 Diện tích Cơ cấu Diện tích Cơ cấu

Tổng diện tích tự nhiên 24.936,91 100,0 24.963,91 100,0

- Đất cây hàng năm 10.088,14 40,46 10.154,18 40,72

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phú Bình 2005

II.2 – Khí hậu, thuỷ văn

Do nằm ở bắc chí tuyến trong vành đai bắc bán cầu nên khí hậu huyện

Phú Bình mang tính chất nhiệt đới gió mùa: mùa nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến

tháng 10; mùa lạnh mưa ít từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Khí hậu Phú Bình

mang đặc điểm của khí hậu miền núi trung du Bắc bộ lại thuộc vùng Đông bắc

nên gió mùa xâm nhập dễ dàng

- Nhiệt độ trung bình năm từ 23,1oC – 24,4 oC, nhiệt độ chênh lệch giữa

tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9 oC) với tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2 oC) là 13,7

oC Tổng tích ôn khoảng 8000 oC

- Lượng mưa trung bình năm khoảng 2000 – 2500 mm, lượng mưa cao

nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1

- Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1206 – 1570 giờ, được phân bố

tương đối đều cho các tháng trong năm, lượng bức xạ 155 Kcal/cm2

- Độ ẩm trung bình cả năm 81 – 82% Độ ẩm cao nhất vào các tháng 6,

tháng 7 và tháng 8; thấp nhất vào tháng 11, tháng 12 hàng năm

- Gió: mùa hè có gió Đông nam thịnh hành, mùa đông có gió Đông bắc

nên thời tiết lạnh và khô nên sản xuất gặp khó khăn

- Sương mù bình quân xuất hiện 5 ngày trong một năm, sương muối ít

Trang 25

Về thuỷ văn: Nguồn nước của huyện Phú Bình khá phong phú do sông Cầu cung cấp là chủ yếu

- Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực 3.480 km2, bắt nguồn từ Chợ Đồn chảy theo hướng Bắc - Đông nam Lưu lượng nước mùa mưa

là 3500 m3/s, về mùa khô 6,3 – 6,5 m3/s

- Đoạn sông Cầu chảy qua địa phận huyện Phú Bình có chiều dài 29 km, lòng sông rộng 120 m, độ chênh cao 0,4 m/km, có lưu lượng trung bình về mùa mưa 580 – 610 m3/s, về mùa khô 6,3 – 6,5 m3/s

- Với chiều dài của đoạn sông Cầu chảy qua huyện Phú Bình là điều kiện thuận lợi cho giao thông đường sông và cung ứng nguồn nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp

- Sông Đào với chiều dài 33 km chảy qua xã Đồng Liên, Bảo Lý, Hương Sơn, Tân Đức và đổ vào sông Thương ở Bắc Giang

- Phú Bình còn có 3 dòng suối chính bắt nguồn từ phía Đông bắc huyện chảy qua các xã Bàn Đạt, Đào Xá, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành và đổ ra sông Cầu

- Song song với hệ thống sông Cầu, Phú Bình còn có hai hệ thống kênh mương hữu ngạn sông Cầu, sông Đào

Do điều kiện thời tiết thuận lợi nên huyện Phú Bình có thể bố trí nhiều vụ gieo trồng trong năm, tuy nhiên do có sự phân hoá của điều kiện khí hậu thuỷ văn (mưa tập trung và lượng mưa lớn, chế độ thuỷ văn không đều) nên thường gây ra ngập úng, lũ lụt, xói mòn, rửa trôi đất

II.3 – Tài nguyên rừng

Là một huyện có cấu trúc địa hình gồm những vùng núi và đồi thấp cộng với khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao, mưa nhiều nên Phú Bình có thảm thực vật rất phong phú, đa dạng, có nhiều thuận lợi để phát triển ngành sản xuất lâm nghiệp

Những năm trước đây rừng Phú Bình bị chặt phá nhiều tạo ra những vùng

đồi trơ trụi, độ che phủ thấp, chủ yếu là cây bụi, đất bị xói lở và thoái hoá, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái Thời gian gần đây rừng đã được bảo vệ và phong trào trồng cây gây rừng phủ xanh đất trống, đồi trọc đã phát triển mạnh

mẽ ở khắp các xã trong huyện

Hiện nay trên địa bàn của huyện có 6.105,35 ha rừng, chiếm 24,5% tổng diện tích tự nhiên trong đó chủ yếu là rừng trồng Các xã có nhiều rừng là: Tân Khánh, Tân Hoà, Nga My, Điềm Thuỵ, Bàn Đạt, Tân Đức, Tân Thành, Thượng

Đình và Kha Sơn

Trang 26

Tính đến nay huyện đã giao đất, giao rừng được 4.156 ha, chiếm 65,6%

diện tích đất lâm nghiệp, huyện cũng đã tiến hành cấp sổ lâm bạ để quản lý rừng

và đất lâm nghiệp Trên địa bàn huyện đã hình thành một số mô hình sản xuất

lâm nghiệp theo hướng nông – lâm kết hợp mở ra một hướng mới cho việc khai

thác sử dụng đất lâm nghiệp có hiệu quả

Để tạo nên sự cân bằng sinh thái, tăng tỷ lệ che phủ của thảm thực vật, tận

dụng đất trống, đồi núi trọc, trong quy hoạch tới cần tăng cường mở rộng diện

tích đất lâm nghiệp và đất trồng cây lâu năm

III - dân số và nguồn nhân lực

Ngoài các yếu tố về nguồn lực tự nhiên, các yếu tố về nguồn nhân lực có

vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế – xã hội

Phú Bình là huyện trung du với 21 đơn vị hành chính (20 xã và 1 thị trấn)

Tính đến 31/12/2005 toàn huyện có 142.218 người, trong đó nam có 69.544

người (chiếm 48,9%) và nữ 72.674 người (chiếm 51,1%) Tỷ lệ tăng dân số tự

nhiên năm 2005 là 0,63%

Trên địa bàn huyện có 14 dân tộc cùng chung sống, trong đó chủ yếu là dân tộc

Kinh (chiếm 93,95%), dân tộc Nùng (chiếm 3,39%), dân tộc Sán Dìu (chiếm 1,72%)

và một số dân tộc khác như: Tày, Hoa, Thái, Khơ me, Mường, Dao,…

Dân số nông thôn năm 2005 có 133.684 người, chiếm 94% tổng dân số tự

nhiên Dân số thành thị trong những năm qua (2000 – 2005) hầu như ít biến đổi

chỉ dao động trong khoảng 5 – 5,8% tổng dân số Đây là chỉ tiêu phản ánh trình

độ đô thị hoá của huyện còn ở mức thấp

Bảng 3 - Tình hình dân số huyện Phú Bình

thời kỳ 2000 - 2005

Đơn vị: người

2000 2002 2005 Chỉ tiêu

Trang 27

Lao động nông thôn năm 2005 là 86.866 người, chiếm 61,08% dân số tự nhiên Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động khoảng 73%

Đánh giá chung về trình độ dân trí huyện Phú Bình đạt loại trung bình khá của tỉnh Thái Nguyên và ở mức trung bình so với cả nước Dự báo với tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân ở giai đoạn 2001 – 2005; 0,6%/năm ở giai đoạn

2006 – 2010 và khoảng 0,5 – 0,55% ở giai đoạn 2011 – 2020 (trong đó tăng cơ học khoảng dưới 0,05%)

Đây là nguồn nhân lực dồi dào để tăng cường phát triển kinh tế – xã hội huyện, song đồng thời cũng là một sức ép lớn về mặt tạo công ăn việc làm, cũng như đào tạo kỹ năng cho người lao động, nhất là lao động nông thôn tiếp cận

được với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, hội nhập với thế giới và khu vực Cùng với sự gia tăng dân số, lượng lao động sẽ ngày càng tăng Trong cơ cấu lao động theo các ngành sản xuất số lượng lao

động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, nó thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện còn chưa mạnh, mức độ phát triển đô thị còn hạn chế trong những năm qua

Về chất lượng lao động: Lao động phổ thông là chủ yếu, số lao động được

đào tạo hiện nay chỉ chiếm khoảng 15 - 16% số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với huyện, đó là phải có kế hoạch đào tạo lại, đào tạo mới nguồn lao động thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá của cả nước nói chung và huyện Phú Bình nói riêng

Trang 28

Phần thứ ba

đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế

huyện Phú bình giai đoạn 2001 - 2005

I – tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong giai đoạn 2001 - 2005 dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân

dân; Đảng bộ và nhân dân Phú Bình đạt được nhiều thắng lợi trên các lĩnh vực

khác nhau trong phát triển kinh tế – xã hội của huyện Nhịp độ tăng trưởng kinh

tế bình quân đạt 7,09%/năm ở cả thời kỳ 2001 - 2005

Các ngành kinh tế đã phát triển theo chiều hướng tích cực, trong những

năm gần đây Phú Bình đã tập trung phát triển mạnh công nghiệp và các ngành

dịch vụ khác Hàng năm các ngành sản xuất đều đạt vượt chỉ tiêu kế hoạch và

phát triển năm sau cao hơn năm trước

Bảng 4 - Giá trị tổng sản phẩm nội huyện

thời kỳ 2001 – 2005 (Giá so sánh 1994)

Nguồn: Cục Thống kê Thái Nguyên

Cơ cấu kinh tế huyện trong những năm qua đã chuyển biến theo hướng

tích cực Huyện đã chỉ đạo việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các ngành và

các lĩnh vực sản xuất, cùng với việc phát triển sản xuất nông nghiệp huyện đã

chú trọng phát triển dịch vụ và công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Tính toàn

bộ GDP trên địa bàn thì đến năm 2005, ngành nông lâm ngư nghiệp chiếm 65%,

công nghiệp - xây dựng chiếm 13,94%; dịch vụ chiếm 21,06% Thu nhập bình

Trang 29

quân đầu người từ 1,97 triệu đồng tăng lên 3,2 triệu đồng năm 2005 Bình quân lương thực đầu người ổn định ở mức 477 kg/người/năm

Bảng 5 - Cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình

Nguồn: Cục Thống kê Thái Nguyên

Trong những năm qua cơ cấu kinh tế của huyện đã từng bước chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ lệ của ngành nông nghiệp, tuy nhiên mức độ chuyển dịch còn chưa cao Trong thời gian tới huyện cần có sự chỉ đạo mạnh mẽ để đẩy mạnh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành theo chiều hướng tích cực

II – Đánh giá thực trạng phát triển các ngành kinh tế

II.1 – Ngành nông – lâm – ngư nghiệp

Sản xuất nông nghiệp của huyện Phú Bình trong những năm qua đã phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá, cơ cấu sản xuất của ngành đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Ngành chăn nuôi và thủy sản đã từng bước trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp Năm 2005 giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp đạt 509,1 tỷ đồng (giá thực tế) trong đó ngành chăn nuôi 246,9

tỷ đồng Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, ngành nông lâm nghiệp của huyện Phú Bình liên tục phát triển, giá trị sản xuất bình quân hàng năm của ngành đạt tốc độ tăng 7,5%/năm Năm 2005 giá trị tổng sản phẩm nội huyện do ngành nông lâm ngư tạo ra đạt 181,5 tỷ đồng (giá so sánh 1994), gấp 1,26 lần so với năm 2001, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,07%/năm và tổng sản lượng lương thực tăng bình quân 3,06%/năm (năm 2001 đạt 58.075 tấn, năm 2005 đạt 67.000 tấn)

Trong chăn nuôi, mặc dù gặp một số khó khăn như: dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, giá vật tư biến động biến động gây bất lợi cho người sản xuất song đàn gia súc, gia cầm vẫn phát triển mạnh, thuỷ sản có bước phát triển mới; sản lượng thịt xuất chuồng tăng mạnh (đàn trâu cơ bản ổn định, đàn

bò tăng, đàn lợn và đàn gia cầm tăng nhanh)

Trang 30

Kinh tế đồi rừng có bước phát triển, trong 5 năm diện tích trồng rừng

nguyên liệu đạt 1.032,4 ha, diện tích trồng cây ăn quả đạt 960 ha (đưa diện tích

cây ăn quả toàn huyện đến nay đạt 3.007 ha)

Công tác ứng dụng, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời

sống được triển khai tích cực, hoạt động khoa học – công nghệ có những chuyển

biến mới

Chương trình phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã được triển khai thực

hiện Đến nay trên toàn huyện có: 35 hợp tác xã và 8 tổ hợp tác nhưng nhìn

chung các hợp tác xã hoạt động đang gặp khó khăn, hiệu quả không cao, một số

hợp tác xã chỉ là hình thức, không hoạt động như: hợp tác xã dâu tằm tơ ở xã úc

Kỳ, hợp tác xã vận tải ở Xuân Phương

Công tác khuyến nông được tăng cường chỉ đạo các xã, thị trấn triển khai

kế hoạch sản xuất xuống xóm, đội thực hiện gieo cấy hết diện tích; Tổ chức tập

huấn quy trình kỹ thuật gieo cấy các loại cây trồng theo mùa vụ

Bảng 6 – một số chỉ tiêu chủ yếu của ngành nông lâm ngư

thời kỳ 2001 – 2005 theo giá hiện hành

Trong thời kỳ 2001 - 2005 ngành trồng trọt đã đạt được những kết quả khá

tốt, diện tích gieo trồng và năng suất cây trồng đã tăng qua từng năm Các tiến

bộ khoa học kỹ thuật đã được áp dụng một cách tích cực, nhiều loại cây trồng –

vật nuôi có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào sản xuất Giá trị sản xuất của

Trang 31

ngành trồng trọt đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu cây trồng và mùa vụ luôn

được huyện chỉ đạo theo hướng đi vào sản xuất hàng hoá

Do khắc phục được tình hình thời tiết khô hạn nhờ đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, khác tốt các công trình thuỷ lợi hiện có, tu sửa và làm mới một số trạm bơm, tận dụng nguồn nước, mở rộng diện tích các cây trồng vụ đông nên đã tăng hiệu quả sử dụng đất, tạo ra được khối lượng hàng hoá nông sản lớn, tăng thu nhập cho người lao động Năm 2005 giá trị tổng sản phẩm của ngành trồng trọt

đạt 179 tỷ đồng (theo giá thực tế) tăng gấp 1,3 lần so với năm 2001 và chiếm 63% trong cơ cấu của ngành nông lâm ngư nghiệp

- Tình hình phát triển cây lương thực: Là một huyện nông nghiệp cho nên

trong những năm qua Phú Bình đã tập trung phát triển ngành nông nghiệp một cách toàn diện, trong đó lấy phát triển ngành trồng trọt làm trọng tâm

Năm 2005, tổng sản lượng lương thực (cây có hạt) đạt 66.698 tấn, tăng hơn 10.000 tấn so với năm 2001 Diện tích trồng lúa của huyện đã giảm 462 ha

so với năm 2001 (năm 2001 diện tích lúa cả năm của huyện có 13.528 ha, đến năm 2005 diện tích lúa cả năm của huyện còn 13.066ha Cùng với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ, Phú Bình đã đã chú trọng vào việc đẩy mạnh áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất, tăng tỷ lệ giống mới Cơ cấu giống lúa được thay đổi qua mỗi vụ sản xuất và ngày càng phù hợp hơn với điều kiện đất đai, khí hậu của huyện Các giống lúa mới năng suất cao được thay thế dần cho các loại giống cũ, các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến được

áp dụng một cách rộng rãi góp phần làm tăng năng suất bình quân từ 38,5 tạ/ha (năm 2001) lên 43,5 tạ/ha (năm 2005) Sản lượng lưong thực tăng gần 10.000 tấn

so với năm 2001 Một số xã có năng suất lúa cao như Nhã Lộng, Thị trấn Hương Sơn, úc Kỳ, Lương Phú,…do đưa các giống mới vào sản xuất có hiệu quả như: Khang Dân, Bao thai nguyên chủng và tổ chức sản xuất một số loại giống cung ứng ngay trên địa bàn

Nhờ sản lượng lương thực có hạt tăng lên đáng kể, bước đầu đã khắc phục tình trạng thiếu lương thực Bình quân lương thực đầu người năm 2005 đạt 477

kg tăng hơn 50 kg so với năm 2001 Tuy mức lương thực bình quân đầu người đã

đạt được khá cao nhưng an ninh lương thực vẫn chưa vững chắc vì không đồng

đều ở các xã Theo kết quả điều tra, xã nào cũng có những hộ vẫn thiếu lương thực, có hộ bình quân chỉ đạt trên 180 kg/người/năm

Trang 32

Bảng 7 – diện tích và sản lượng cây lương thực có hạt

2001 2002 2003 2005 Chỉ tiêu DT

(ha)

SL (tấn)

DT (ha)

SL (tấn)

DT (ha)

SL (tấn)

DT (ha)

SL (tấn)

Nguồn: Niêm giám Thống kê huyện Phú Bình 2005

- Cây có củ của huyện phát triển chậm và không ổn định, sản phẩm sản

xuất ra chưa được chế biến mà chủ yếu dùng trực tiếp cho chăn nuôi Khả năng

mở rộng diện tích trồng cây vụ đông của huyện còn rất lớn Cây sắn và khoai

lang là cây trồng chủ yếu, về khoai lang đây là cây có củ có diện tích gieo trồng

lớn mỗi năm khoảng trên dưới 3000ha nhưng hiện nay diện tích đã giảm chỉ còn

2.691ha năm 2005 và sản lượng đạt 14.622 tấn Sở dĩ khoai lang là sản phẩm chủ

yếu phục vụ chăn nuôi nên giá trị kinh tế không cao, do vậy trong thời gian tới

Phú Bình cần tích cực chuyển đổi một phần diện tích trồng khoai lang sang trồng

các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn

- Cây công nghiệp ở Phú Bình được trồng không nhiều chủ yếu tập trung ở

một số loại cây công nghiệp ngắn ngày như: lạc, đậu tương,… với diện tích gieo

trồng mỗi năm khoảng 1700 – 2000 ha Do huyện đã sử dụng những giống cây

có năng suất phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương vì vậy năm 2005

tổng sản lượng lạc đạt 1459 tấn tăng so với năm 2001 là 171 ha và đậu tương đạt

790 tấn tăng 322 tấn so với năm 2001

Về cây công nghiệp dài ngày, Phú Bình là huyện trung du có nhiều vùng

đồi nên rất thích hợp với việc phát triển cây chè Tuy nhiên trong những năm gần

đây, kinh tế đồi rừng và vườn rừng được chú trọng phát triển song diện tích chè

vẫn ổn định ở mức khoảng 70 – 80 ha Năng suất chè chưa cao, bình quân mới

đạt 26 tạ/ha Trong thời gian tới cần mở rộng diện tích chè lên gấp đôi và thâm

canh tăng năng suất để có sản lượng chè hàng hoá đáng kể

- Cây hoa màu: Trong những năm qua diện tích cây rau xanh của huyện

luôn ổn định ở mức 900 – 1.000ha, trong huyện đã hình thành nhiều khu vực

Trang 33

trồng rau mang tính sản xuất hàng hoá, về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng của người dân và một phần cung cấp cho khu vực lân cận Đến năm 2005 diện tích rau xanh đạt 890 ha và sản lượng đạt 7.254 tấn

- Cây ăn quả cũng không ngừng được lên khoảng trên 2000 ha năm 2005 Hầu hết số diện tích này là vườn tạp, trồng nhiều các loại cây ăn quả khác nhau, các loại cây ăn quả chủ yếu: vải, na, hồng,…Hiện nay mô hình trồng cây ăn quả trên

đồi đã bước đầu phát triển, phong trào cải tạo vườn tạp với nhiều giống cây có giá trị kinh tế cao đang trở thành nguồn thu nhập cơ bản cho nhiều hộ dân

Tóm lại, trong những năm qua, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong ngành trồng trọt đã diễn ra tích cực theo hướng đa dạng hoá sản phẩm và chuyển dần từ nền sản xuất độc canh lương thực mang tính tự túc - tự cấp sang sản xuất hàng hoá Tuy nhiên sự chuyển dịch này còn chậm Nguyên nhân của tình trạng này là do chưa chú trọng áp dụng kỹ thuật thâm canh mới vào thực tiễn sản xuất Việc sản xuất của người dân vẫn còn thể hiện những hạn chế như: không bón phân hoặc bón không cân đối như chỉ có bón đạm, thiếu lân, kali hoặc không bón lót phân chuồng dẫn đến ở nhiều diện tích năng suất thấp, sâu bệnh phát sinh gây hại trên diện rộng

II.1.2 – Ngành chăn nuôi

Chăn nuôi của huyện trong những năm qua đã phát triển khá nhanh, năm

2005 giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi đạt trên 246 tỷ đồng Trong thời kỳ

2001 - 2005 ngành chăn nuôi đã phát triển mạnh cả về chất và lượng Quy mô của ngành được mở rộng, chủng loại sản phẩm ngày càng đa dạng, chất lượng sản phẩm được nâng cao Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngày càng mạnh mẽ

Đến năm 2005 giá trị tổng sản phẩm của ngành đạt 105,1 tỷ đồng (theo giá thực tế), tăng gấp 1,7 lần so với năm 2001 và chiếm 35,8% trong cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp

Phú Bình là huyện nông nghiệp có điều kiện tốt để phát triển đàn lợn và

đàn trâu bò, trong những năm qua tốc độ tăng của đàn lợn đạt từ 16,6%/năm, đàn

bò tăng bình quân 16,7%/năm Lượng sản phẩm hàng hoá xuất ra ngoài huyện của ngành chăn nuôi chưa nhiều, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu phục vụ tiêu dùng trong nội bộ huyện

- Chăn nuôi lợn: Năm 2001 tổng đàn lợn của huyện đạt 82.727 con, sản

lượng thịt hơi đạt 8.425 tấn Đến năm 2005 tổng đàn lợn đã tăng nhanh và đạt số lượng 105.200 con, trong đó nái sinh sản có 28.981 con, sản lượng thịt hơi đạt

Trang 34

dụng, trong huyện chưa có cơ sở chế biến thức ăn gia súc, chất lượng đàn lợn nái chưa cao cho nên hiệu quả chăn nuôi thấp

Trên điạ bàn huyện Phú Bình, chăn nuôi lợn được phát triển khá rộng trong các xã, hiện nay có một số xã có đàn lợn nuôi khá lớn như: Thưọng Đình, Tân Hoà, Kha Sơn, Nga My,…

- Chăn nuôi trâu, bò: Cũng như các địa phương khác trong vùng, quá trình

cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển do vậy việc phát triển trâu, bò lấy sức kéo không còn mạnh như trước Tuy nhiên trong những năm gần đây đàn trâu, bò ở huyện Phú Bình vẫn tăng nhanh, đặc biệt là đàn bò

đã tăng mạnh vào năm 2003 và 2004

Đàn bò của huyện từ 7.866 con (năm 2001) tăng lên 12.500 con vào năm

2004, các xã nuôi bò nhiều nhất là: Đồng Liên, Thượng Đình, Nga My,… Chương trình cải tạo đàn bò và chăn nuôi bò thịt theo hướng thâm canh đã và đang phát huy hiệu quả, toàn huyện có 860 bò nái lai Sind và 1.734 bê lai Sind Mô hình chăn nuôi bò sữa tại xã Nhã Lộng đang gặp khó khăn bởi kỹ thuật quy trình chăm sóc hạn chế, thức ăn chăn nuôi tăng mạnh trong khi đó sản phẩm sữa giá rẻ và chưa có thị trường tiêu thụ

- Chăn nuôi gia cầm: Huyện đã chủ động triển khai thực hiện công tác

phòng chống dịch cúm gia cầm trên địa bàn ngay từ đầu năm, nghiêm túc chấp hành chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnh về các biện pháp cấp bách để phòng chống dịch cúm gia cầm Thực hiện triệt để các biện pháp phòng chống dịch với phương châm hạn chế thấp nhất những thiệt hại do dịch gây ra

II.1.3 – Nhận xét chung về ngành nông nghiệp

Trong những năm gần đây, mặc dù điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, hạn hán kéo dài vào mùa khô, lũ lụt vào mùa mưa nhưng do việc chỉ đạo chặt chẽ từ huyện đến cơ sở, đã áp dụng rộng rãi những tiến bộ khoa học công nghệ mới về giống cây trồng, vật nuôi vào sản xuất, cung ứng giống ngay tại địa bàn, chủ động về vật tư kỹ thuật, không ngừng nâng cao trình độ thâm canh và từng bước thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, không ngừng mở rộng diện tích cây trồng nên sản xuất nông nghiệp ổn định và phát triển theo hướng tích cực Đời sống của nông dân đã giảm bớt khó khăn và dần được cải thiện

Tuy sản xuất lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày có tiến bộ đáng kể, tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tăng đều qua các năm song chỉ mới giải quyết được cho nhu cầu lương thực – thực phẩm tiêu dùng tại chỗ cho nhân dân trong huyện là chính, ít có nông sản hàng hoá xuất ra ngoài huyện

Trang 35

Ngành trồng trọt nhìn chung có nhiều thuận lợi, diện tích trồng trọt ngày càng tăng, năng suất và sản lượng các cây trồng đạt khá, lương thực bình quân

đầu người tương đối cao Tuy vậy để giữ vững và ổn định sản xuất cần đầu tư nhiều về khâu thuỷ lợi, cụ thể là cần phải củng cố các trạm bơm dầu, bơm điện, bảo vệ giữ gìn hệ thống hồ đập, nâng cấp hệ thống kênh mương, hoàn chỉnh và xây mới một số kênh, đập để có nước tưới trong mùa khô, thoát nước tiêu úng trong mùa mưa lũ

Về chăn nuôi có nhiều tiềm năng phát triển, có thị trường tiêu thụ lớn ở thủ đô Hà Nội, thành phố Thái Nguyên và các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn, lại có nguồn thức ăn dồi dào tại chỗ (ngô, khoai, sắn với diện tích và sản lượng cao) Tuy nhiên để phát triển chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính cần phải xây dựng các cơ sở chế biến thức ăn tốt đồng thời cần phải có sự đầu tư thích đáng cho khâu giống và mạng lưới thú y huyện

Hoạt động dịch vụ nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc

đáp ứng yếu cầu của ngành nhưng trong những năm qua hoạt động này vẫn chưa

đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu của sản xuất

Về tiêu thụ sản phẩm: Hiện nay trên địa bàn huyện chưa có những đầu mối lớn để làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm Hầu hết các sản phẩm của ngành đều

do người sản xuất tự đứng ra tiêu thụ trên địa bàn hoặc các vùng lân cận

Các nguồn tài nguyên chưa được khai thác tốt để phát triển sản xuất nông nghiệp Việc thiếu nước ngọt để phục vụ sản xuất là một khó khăn của huyện

Quan hệ sản xuất từng bước phát triển, các HTX đã chuyển đổi theo luật nhưng hoạt động chưa có hiệu quả

Cơ sở vật chất để phục vụ sản xuất nông nghiệp còn thiếu, huyện chưa tìm

được thị trường tiêu thụ ổn định cho các sản phẩm nông nghiệp

II.1.4 – Ngành thuỷ sản

Trong những năm qua ngành thuỷ sản đã có bước phát triển mạnh ở lĩnh vực nuôi trồng so với dự kiến nhưng vẫn manh mún, nhỏ lẻ, các hộ nông dân tự phát là chính chưa có những định hướng, chỉ đạo của các cơ quan chuyên môn do đó tính bền vững chưa cao, chưa có quy hoạch cụ thể

Là huyện có tiềm năng lớn về nuôi trồng thuỷ sản, hiện nay các khu vực

đang được đầu tư lớn để phát triển các mô hình nuôi công nghiệp Đến năm 2005 diện tích nuôi trồng thuỷ sản của huyện đạt 512,8 ha, vẫn còn 637,7 ha có tiềm năng nhưng chưa được đưa vào sử dụng Sản lượng thuỷ sản năm 2005 đạt 359 tấn Giá trị tổng sản phẩm của ngành năm 2005 đạt trên 1,8 tỷ đồng

Trang 36

Hiện nay trên địa bàn huyện đã có một số hộ gia đình tiến hành nuôi các loại thuỷ sản mang lại hiệu quả kinh tế cao như: cá chép, trôi, trắm, rô phi đơn tính tuy nhiên mô hình này còn rất ít, quy mô nhỏ bé, chưa có sự đầu tư thích

đáng về vốn, giống, công nghệ

II.1.5 – Ngành lâm nghiệp

Diện tích rừng hiện có trên địa bàn huyện là 6.105,35 ha, chiếm 24,48 % tổng diện tích tự nhiên trong đó chủ yếu là rừng trồng Giá trị tổng sản phẩm ngành lâm nghiệp huyện Phú Bình năm 2005 là 1,6 tỷ đồn,

Tuy giá trị kinh tế mà ngành lâm nghiệp tạo ra không đáng kể trong những năm qua nhưng ngành lâm nghiệp lại đóng một vai trò khá quan trọng trong việc phòng hộ, bảo vệ cảnh quan môi trường, góp phần giữ cân bằng sinh thái ở khu vực

Độ che phủ của rừng trên địa bàn toàn huyện còn thấp, khoảng trên 30% Hướng quy hoạch tới cần tích cực trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, nâng cao độ che phủ tự nhiên của rừng để đảm bảo môi trường sinh thái bền vững

Hiện nay ở Phú Bình đã có hàng trăm hộ phát triển kinh tế đồi rừng, vườn rừng, cho thu nhập từ 10 – 20 triệu đồng/năm, nhiều mô hình trang trại đã xuất hiện Công tác quản lý đất đai đã đi vào nề nếp, việc giao đất giao rừng cho các

đơn vị và cá nhân đang được thực hiện một cách tích cực

II.2 – Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

II.2.1 – Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của địa phương đã có những bước phát triển mới cả về quy mô và hiệu quả kinh tế Giá trị sản xuất công nghiệp năm

2005 đạt 72.692 triệu đồng (giá thực tế), tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 16,2%/năm Các ngành khai thác vật liệu xây dựng, đúc kim loại và mộc dân dụng, chế biến lương thực thực phẩm, các ngành nghề đã được khôi phục phát triển mạnh Số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn đã tăng liên tục, năm

2001 trên toàn huyện có 1.001 cơ sở, đến đầu năm 2005 đã có 1.235 cơ sở với tổng số trên 3000 lao động, thu nhập bình quân mỗi lao động đạt khoảng 4,3 triệu đồng/năm Các ngành nghề và lĩnh vực sản xuất đã đa dạng và phong phú hơn nhiều so với những năm trước đây Phần lớn các cơ sở sản xuất của huyện thuộc ngành công nghiệp chế biến

Giá trị tổng sản phẩm của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tạo ra ở năm 2005 đạt 30.253 triệu đồng (giá so sánh 1994), tăng gấp 2,5 lần so với năm 2001 Tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2001 – 2005 đạt 7,49%/năm Trong những năm qua sự đóng góp của sản xuất công nghiệp - tiểu

Trang 37

thủ công nghiệp vào phát triển kinh tế chung của huyện chưa lớn chiếm khoảng 16% trong giá trị tổng sản phẩm của các ngành trong huyện

Ngành tiểu thủ công nghiệp như hàng dệt, thêu, đan lát, mây tre, mộc, sửa chữa rèn mới chỉ phát triển lẻ tẻ chủ yếu là tự sản xuất trong hộ gia đình, chưa trở thành sản phẩm hàng hoá cung cấp cho thị trường Cơ cấu chủng loại sản phẩm còn ít, khối lượng và chất lượng sản phẩm nhìn chung còn thấp, chủ yếu phục vụ thị trường nội huyện Việc tổ chức, quản lý, hoạt động sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chưa được chặt chẽ, thiếu đồng bộ Các ngành cơ khí, chế biến nông sản - thực phẩm chưa đáp ứng được các yêu cầu sản xuất và

đời sống Việc xây dựng các làng nghề và phát triển các làng nghề mới còn yếu

Về trình độ công nghệ của ngành hiện nay còn hạn chế rất nhiều, hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc huyện quản lý đều là các đơn vị thủ công nghiệp, kỹ thuật thô sơ, lạc hậu, trang bị đơn giản, cũ kỹ lạc hậu, tình trạng sản xuất mang nặng tính nhỏ lẻ, phân tán Hiện nay có một số cơ sở cần đầu tư để thay đổi dây chuyền công nghệ, thiết bị, song nguồn đầu tư còn rất khó khăn

do vậy đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình đi lên của ngành

Đánh giá chung sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở huyện Phú Bình phát triển còn chậm, chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế, chưa tương xứng với tiềm năng, ngành nghề chưa được mở rộng nhất là ở khu vực nông thôn Vì vậy chưa thu hút được lao động dôi dư trong nông nghiệp

Trong thời gian tới đây công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của huyện cần phát triển theo hướng tập trung vào công nghiệp chế biến nông lâm sản với quy mô vừa và nhỏ ở các địa bàn Mở rộng các làng nghề truyền thống, triệt để khai thác thế mạnh của địa phương về sản xuất gạch ngói, khai thác cát, sỏi, đồ mộc dân dụng, mây tre đan,… Khuyến khích các ngành nghề có quy mô lớn để thu hút lao động, tạo ra sản phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân

II.2.2 – Xây dựng

Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, huyện đã chỉ đạo công tác xây dựng cơ bản theo đúng phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm: Nhân dân làm, nhà nước hỗ trợ

Trong xây dựng cơ bản, huyện đã sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước, huy động nội lực của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng, tập trung đầu tư

có trọng điểm, ưu tiên xây dựng các công trình thiết thực phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, đổi mới công tác quản lý đầu tư xây dựng, khắc phục tình trạng

Trang 38

Trong những năm gần đây ngành xây dựng của huyện đã phát triển mạnh,

đáp ứng được yêu cầu phục vụ phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân trong huyện, có khá nhiều các công trình xây dựng do các đơn vị của huyện thực hiện đạt chất lượng tốt Việc đẩy mạnh công tác quản lý Nhà nước về xây dựng cơ bản đã được chú ý, các dự án, các công trình do huyện làm chủ đầu tư đều

được tổ chức triển khai thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước, đảm bảo

đúng tiến độ, thời gian, chất lượng

Công tác XDCB đã đi vào nề nếp, đảm bảo thủ tục XDCB từ khâu chuẩn bị

đầu tư đến kết thúc đầu tư Những công trình hoàn thành đưa vào sử dụng đảm bảo chất lượng, công tác kiểm tra giám sát được tăng cường Trong giai đoạn 2001 -

2005, hoạt động của ngành xây dựng đã phát triển mạnh tăng trưởng kinh tế của ngành đạt 16 - 17%/năm Cơ sở hạ tầng trong huyện đã từng bước được đổi mới, hàng năm có hàng trăm công trình, dự án được triển khai sửa chữa, xây dựng mới trên các lĩnh vực về giao thông, điện, y tế, trường học, trụ sở làm việc,…

II.3 – Ngành dịch vụ

Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng đã góp phần thúc

đẩy sản xuất phát triển mạnh, thị trường được mở rộng đến các điểm dân cư Vì vậy các hoạt động dịch vụ của huyện, đặc biệt khối dịch vụ thương mại đã có những bước đầu phát triển, giá trị sản xuất của ngành dịch vụ đã tăng bình quân 10,57%/năm Trong thời gian qua hoạt động dịch vụ trên địa bàn huyện đã bước

đầu phát triển không những về quy mô mà còn phát triển về chất lượng, hiệu quả trong hoạt động Tính đến năm 2005, giá trị tổng sản phẩm của ngành dịch vụ trên địa bàn đã đạt khoảng 72 tỷ đồng (giá thực tế) Đến nay ngành dịch vụ đã

đóng góp 21% trong tổng giá trị sản phẩm các ngành kinh tế trên địa bàn huyện

Là một huyện có nền nông nghiệp lâu đời nên dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở đây khá phát triển, hàng năm hoạt động dịch vụ đã cung cấp hàng nghìn tấn đạm, lân, kali và hàng chục tấn thuốc BVTV phục vụ sản xuất Dịch vụ giống cây trồng và vật nuôi trên địa bàn huyện cũng phát triển mạnh với hàng trăm lao động làm dịch vụ cung cấp giống cây trồng và vật nuôi cho nhân dân trong huyện Ngoài ra các dịch vụ tưới tiêu, dịch vụ làm đất, dịch vụ tuốt lúa cũng đã được phát triển mạnh với hình thức các tổ, các hộ Tuy nhiên các hoạt

động này vẫn chưa xứng đáng với vai trò là một bộ phận quan trọng phụ trợ giúp sản xuất nông nghiệp phát triển

II.3.1 – Dịch vụ thương mại – du lịch

Trong thời kỳ 2001 - 2005 ngành thương mại Phú Bình đã có nhiều cố gắng vươn lên trong việc phục vụ đời sống nhân dân của huyện, làm động lực

Trang 39

thúc đẩy nông nghiệp và công nghiệp phát triển Đời sống của nhân dân ngày một được cải thiện do vậy lượng hàng hoá bán lẻ trên địa bàn đã tăng khá mạnh,

đến năm 2005 chỉ tiêu này chiếm khoảng 25% tổng giá trị sản xuất của ngành Hoạt động thương mại trên địa bàn đã được đổi mới sắp xếp phù hợp với cơ chế thị trường, tham gia tích cực trong việc điều tiết thị trường, hoạt động thương mại đã linh hoạt hơn, không những phát triển mạnh thị trường tại huyện mà còn vươn ra thị trường Thành phố và thị trường các tỉnh lân cận Một số trung tâm dịch vụ đã và đang hình thành phát triển ở các khu vực nông thôn, lượng hàng hoá ngày càng phong phú Công tác kiểm tra, kiểm soát đã được tăng cường hoạt

động; góp phần đảm bảo trật tự, ổn định giá cả, chất lượng hàng hoá, hạn chế các hoạt động gian lận thương mại Cơ cấu các thành phần kinh tế tham gia thị trường đã có sự biến đổi mạnh Số đơn vị kinh doanh thương mại ngoài quốc doanh tăng nhanh Hoạt động thương mại của Phú Bình hiện nay chủ yếu vẫn do tư nhân nắm vai trò chủ yếu Đến cuối năm 2005 có trên 1.150 cơ sở kinh doanh thương mại trên địa bàn huyện

Phú Bình là một huyện có nền sản xuất hiện nay là nông - lâm nghiệp, công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, các hoạt động dịch vụ khác chưa phát triển mạnh Hàng hoá chủ yếu tập trung phục vụ tiêu dùng trong

đó các mặt hàng tiêu dùng thường xuyên như: lương thực, thực phẩm, vải, muối, dầu hoả và các loại đồ dùng gia đình khác, Các mặt hàng này chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng hoá bán lẻ, các mặt hàng cao cấp như điện tử, điện lạnh đã

có nhưng tỷ lệ còn rất thấp

Cũng như các vùng nông thôn khác, chợ nông thôn là một nét đặc trưng của huyện Phú Bình đây là nơi kinh doanh tổng hợp các loại sản phẩm sản xuất

từ nông nghiệp và các loại hàng hoá tiêu dùng khác phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân nông thôn Về cơ sở vật chất của tất cả các chợ trong huyện đã xuống cấp và lạc hậu, để đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu của sản xuất và

đời sống, trong thời gian tới các chợ cần được đầu tư nâng cấp và quy hoạch lại

Do sự phát triển của ngành thương mại còn hạn chế cho nên số lao động thu hút vào đây không cao, năm 2005 tổng số người kinh doanh dịch vụ thương mại - du lịch có khoảng 1.450 người

Tuy đạt được một số những thành tựu như vậy nhưng nhìn chung hoạt

động dịch vụ – thương mại của huyện vẫn còn nhiều hạn chế Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ – thương mại đạt khá nhưng vẫn chưa đồng đều, mới chỉ tập trung ở thương mại, kinh doanh phục vụ đời sống sinh hoạt, các mặt dịch vụ phát triển chưa mạnh, thị trường tiêu thụ còn hạn chế ảnh hưởng đến tốc độ phát triển

Trang 40

Hoạt động mang tính chất tự phát, tập trung ở một số trung tâm còn nhỏ lẻ, định hướng cho phát triển còn chưa rõ nét, đầu tư hạn chế, sản phẩm chủ yếu là phục

vụ đời sống sinh hoạt, chưa có sản phẩm hàng hoá phục vụ sản xuất Quản lý về dịch vụ - thương mại còn nhiều yếu kém, việc tổng hợp, điều tra phân tích chưa

được chú trọng, thiếu cơ sở dữ liệu khoa học

II.3.2 – Dịch vụ vận tải

Hoạt động kinh doanh vận tải đã có chuyển biến tích cực, bước đầu đáp ứng luân chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân Các cơ sở kinh doanh vận tải, phương tiện vận tải hầu hết đều do tư nhân quản lý nên còn nhiều hạn chế về đầu tư vốn và quy mô kinh doanh, số lượng phương tiện vận tải trên địa bàn huyện còn rất ít, phần lớn do các đơn vị dịch vụ vận tải của các địa bàn khác hoạt động trên địa bàn huyện, hàng hoá từ ngoài vào huyện đều do các phương tiện vận tải

từ nơi khác chở đến Hàng năm số lượng lao động được thu hút vào các hoạt

động của ngành vận tải trung bình mỗi năm có khoảng 500 – 1.000 lao động Khối lượng hành khách vận chuyển thực hiện năm 2005 đạt trên 800.000 lượt hành khách Khối lượng hành khách luân chuyển trên địa bàn chủ yếu luân chuyển bằng đường bộ

II.3.3 – Dịch vụ tài chính – ngân hàng

Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành tài chính - chi cục thuế và các ngành chức năng trong quá trình thực hiện Chỉ đạo, đôn đốc, tăng cường biện pháp tổ chức thu ngân sách Hàng năm thu ngân sách của huyện đã đạt kết quả tốt Công các quản lý ngân sách có nhiều tiến bộ và từng bước đi vào nề nếp theo Luật Ngân sách, chi ngân sách phục vụ tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các hoạt

động quản lý Nhà nước Thực hiện tốt công tác thu thuế trực tiếp qua kho bạc, tăng cường công tác đảm bảo tuyệt đối an toàn về tiền và tài sản của Nhà nước

Hoạt động tín dụng ngân hàng - kho bạc; đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của ngành, mở rộng phương thức cho vay theo cơ chế linh hoạt, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo việc cho vay đúng đối tượng, sử dụng đúng mục đích đáp ứng được một phần nhu cầu về vốn vay trên địa bàn góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của huyện

Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn, đổi mới phương thức kinh doanh, bảo toàn vốn, mở rộng các hình thức cho vay xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, có giải pháp tích cực giảm nợ quá hạn Trong quá trình hoạt động đã có nhiều đổi mới như: phương thức huy động vốn, thanh toán vốn, nền nguồn huy động vốn, thanh toán vốn nên nguồn huy động và số dư nợ trong các năm đều tăng Dư nợ bình quân tăng 49,29%/năm, vốn huy động tăng

Ngày đăng: 15/05/2014, 13:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 – đặc điểm thổ nh−ỡng huyện Phú Bình - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 1 – đặc điểm thổ nh−ỡng huyện Phú Bình (Trang 23)
Bảng 2 – Biến động đất đai thời kỳ 2000 – 2005 - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 2 – Biến động đất đai thời kỳ 2000 – 2005 (Trang 24)
Bảng 3 - Tình hình dân số huyện Phú Bình - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 3 Tình hình dân số huyện Phú Bình (Trang 26)
Bảng 5 - Cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 5 Cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình (Trang 29)
Bảng 6 – một số chỉ tiêu chủ yếu của ngành nông lâm ng− - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 6 – một số chỉ tiêu chủ yếu của ngành nông lâm ng− (Trang 30)
Bảng 7 – diện tích và sản l−ợng cây l−ơng thực có hạt - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 7 – diện tích và sản l−ợng cây l−ơng thực có hạt (Trang 32)
Bảng 8 – kết quả phát triển giáo dục - đào tạo giai đoạn - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 8 – kết quả phát triển giáo dục - đào tạo giai đoạn (Trang 42)
Bảng 5 - Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện phú bình thời kỳ 2005 - 2020 - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 5 Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện phú bình thời kỳ 2005 - 2020 (Trang 58)
Bảng 6 - Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện phú bình thời kỳ 2005 - 2020 - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 6 Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện phú bình thời kỳ 2005 - 2020 (Trang 59)
Bảng 13 - Nhu cầu vốn đầu t− - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 13 Nhu cầu vốn đầu t− (Trang 77)
Bảng 14 - Dự báo cơ cấu đầu t− đến năm 2020 - nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và một số mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tại huyện phú bình, tỉnh thái nguyên
Bảng 14 Dự báo cơ cấu đầu t− đến năm 2020 (Trang 77)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w