1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình việt nam hội nhập WTO

97 559 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình Việt Nam hội nhập WTO
Tác giả Nhóm Tác Giả
Người hướng dẫn P. Ts. Nguyễn Văn A
Trường học Học viện Kỹ thuật Quân sự
Chuyên ngành Kỹ thuật Cơ khí và Công nghệ
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, ngành cơ khí không kịp chuyển đổi, các nhà hoạch định chính sách cũng chưa có các chính sách tạo động lực phát triển cho cơ khí, với tình hình nh

Trang 1

Bộ công thương

viện NGHIÊN CứU cơ khí

Báo cáo tổng kết đề tài

ĐIềU TRA, KHảO SáT, ĐáNH GIá TìNH HìNH THựC HIệN CHƯƠNG TRìNH SảN PHẩM CƠ KHí TRọNG ĐIểM CủA CHíNH PHủ Đề XUấT GIảI PHáP PHáT TRIểN PHù HợP TRONG QUá TRìNH VIệT NAM HộI NHậP WTO

Chủ nhiệm đề tài: THs ĐOàN HữU BảY

6864

14/5/2008

hà nội - 2007

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu .3

4 Nội dung đề tài 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGÀNH CƠ KHÍ VIỆT NAM 4

1.1 Tình hình phát triển cơ khí Việt Nam 4

1.2 Những thành tựu của ngành cơ khí Việt Nam 6

1.3 Những yếu kém 7

1.4 Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém 9

CHƯƠNG II TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH SẢN PHẨM CƠ KHÍ TRỌNG ĐIỂM 12

2.1 Chế tạo thiết bị toàn bộ 16

2.2 Cơ khí đóng tầu thuỷ 26

2.2.1 Thực trạng năng lực hiện nay của ngành cơ khí đóng tầu thuỷ 26

2.2.2 Dự báo nhu cầu đóng mới và sửa chữa tầu thuỷ của Bộ GTVT 27

2.2.3 Thị trường trong và ngoài nước của ngành công nghiệp tầu thuỷ Việt Nam 29

2.2.4 Chương trình hợp tác sản xuất, nội địa hoá sản phẩm 31

2.3 Cơ khí ô tô - cơ khí giao thông vận tải 34

2.3.1 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI 35

2.3.2 Hiện trạng của các Công ty trong nước 38

2.3.3 Hiện trạng về nội địa hoá trong công nghiệp ôtô 39

2.3.4 Các đặc điểm chung của ngành công nghiệp sản xuất ôtô Việt Nam 40

2.4 Công nghiệp chế tạo thiết bị kỹ thuật điện 43

2.4.1 Máy điện quay 44

2.4.2 Các sản phẩm khác 48

2.5 Cơ khí xây dựng 52

2.6 Máy động lực 57

2.7 Cơ khí phục vụ nông- lâm- ngư nghiệp và công nghiệp chế biến 62

2.8 Ngành máy công cụ 63

ĐÁNH GIÁ CHUNG 66

1 Về tình hình thực hiện các dự án đầu tư và đề án sản xuất 66

2 Những kết quả 66

3 Những hạn chế 67

4 Những khó khăn, vướng mắc 67

CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN 69

3.1 Các giải pháp về thị trường 69

3.2 Các giải pháp về khoa học công nghệ và môi trường 69

3.3 Các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 70

3.4 Các giải pháp về đầu tư 71

3.5 Các giải pháp về vốn 71

3.6 Các giải pháp về hợp tác quốc tế 72

3.7 Các giải pháp về thuế 72

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

CÁC PHỤ LỤC 75

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tớnh cấp thiết của đề tài

Quỏ trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ của cỏc quốc gia luụn gắn liền với

sự phỏt triển của ngành cơ khớ chế tạo mỏy, khụng cú ngành nào, lĩnh vực kinh

tế nào, kể cả trong đời sống xó hội lại khụng cú sự hiện diện của cơ khớ Trong

bộ Tư bản, C.Mỏc đó trỡnh bày rất chi tiết về lịch sử phỏt triển của mỏy múc từ thủ cụng lờn cơ khớ Lờnin cũng đó khẳng định: “Cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH chỉ cú thể là nền đại cụng nghiệp cơ khớ”

Nhận rừ tầm quan trọng của ngành cơ khớ đối với sự nghiệp CNH-HĐH nờn Bộ chớnh trị đó chỉ thị: “Phải coi cơ khớ là một ngành cụng nghiệp nền tảng,

cú vai trũ đặc biệt quan trọng trong việc phỏt triển kinh tế - xó hội, đảm bảo độc lập tự chủ về kinh tế, củng cố an ninh quốc phũng, gúp phần nõng cao đời sống nhõn dõn" Về phớa Chớnh phủ đó cú nhiều chớnh sỏch phục hồi và phỏt triển ngành cơ khớ, đặc biệt là Quyết định 186/2002/QĐ-TTg phờ duyệt chiến lược phỏt triển ngành cơ khớ Việt Nam đến 2010, tầm nhỡn tới 2020 với mục tiờu ưu tiờn phỏt triển một số chuyờn ngành và sản phẩm cơ khớ trọng điểm

Qua 5 năm thực hiện chương trỡnh sản phẩm cơ khớ trọng điểm của Chớnh phủ rất cần cú nghiờn cứu đỏnh giỏ đầy đủ và qua đú cú giải phỏp phỏt triển phự hợp trong quỏ trỡnh hội nhập sõu rộng vào nền kinh tế quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam đó là thành viờn của WTO

2 Mục đớch, nhiệm vụ, phạm vi nghiờn cứu của đề tài

* Mục đớch nghiờn cứu:

Mục đớch của đề tài là thụng qua việc điều tra khảo sỏt tỡnh hỡnh sản xuất cỏc sản phẩm cơ khớ trọng điểm của Việt Nam hiện nay để đề xuất một số giải phỏp giỳp cỏc cơ quan quản lý và hoạch định chớnh sỏch điều chỉnh chiến lược phỏt triển phự hợp, đồng thời giỳp cỏc doanh nghiệp cơ khớ nõng cao khả năng hợp tỏc, liờn kết phõn cụng lao động và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong quỏ trỡnh hội nhập

* Nhiệm vụ của đề tài:

- Đỏnh giỏ tỡnh hỡnh thực hiện cỏc nhúm sản phẩm cơ khớ trọng điểm dến năm 2007

- Đề xuất một số giải phỏp về: chớnh sỏch, thị trường, nghiờn cứu phỏt triển phự hợp với quỏ trỡnh Việt Nam hội nhập WTO

Trang 4

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu các kết quả của 8 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm và đề xuất một số giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình Việt Nam hội nhập WTO

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

* Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra khảo sát thu thập số liệu;

- Tổng hợp phân tích đánh giá kết quả;

- Hội thảo chuyên gia;

- Tổng kết đề xuất giải pháp

* Nguồn tài liệu

- Các Nghị quyết của Đảng

- Đề án phát triển ngành cơ khí của Bộ Công Thương

- Các công trình nghiên cứu, sách đã công bố

- Các tư liệu điều tra

4 Nội dung đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan ngành cơ khí Việt Nam

Chương II: Tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản

phẩm cơ khí trọng điểm

Chương III: Đề xuất các giải pháp phát triển

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGÀNH CƠ KHÍ VIỆT NAM

1.1 Tình hình phát triển cơ khí Việt Nam

Ngành cơ khí Việt Nam được hình thành từ thời kỳ Pháp thuộc Người

Pháp xây dựng ở Việt Nam một số cơ sở cơ khí nhằm phục vụ cho các nhu cầu

khai thác và đô hộ ở Việt Nam, thí dụ như các nhà máy để sửa chữa toa xe, các

phương tiện giao thông như tầu thuyền và một số cơ sở cơ khí sửa chữa nhỏ,

phục vụ cho nhu cầu trước mắt

Trong giai đoạn 9 năm kháng chiến chống Pháp, để phục vụ cho việc chế

tạo một số chủng loại vũ khí cho sự nghiệp kháng chiến, Nhà nước ta đã xây

dựng các cơ sở cơ khí nhỏ trong chiến khu cách mạng (nhà máy cơ khí Trần

Hưng Đạo v.v ) Các cơ sở cơ khí này mặc dù được trang bị hết sức thô sơ

nhưng đã thực sự có những đóng góp tích cực cho công cuộc kháng chiến của

dân tộc Các chủng loại vũ khí như bazoka, lựu đạn, mìn đã làm cho giặc Pháp

kinh hoàng

Cơ khí Việt Nam chỉ thực sự hình thành và phát triển sau khi hoà bình

được lập lại (1954) Đất nước bị chia cắt nên hình thành ở hai miền, hai nền cơ

khí khác nhau

Ở miền Bắc được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt là

Liên Xô (cũ) và Trung Quốc, cộng với sự nỗ lực của Nhà nước ta, một loạt các

cơ sở cơ khí đã được xây dựng như Cơ khí Hà Nội, Nhà máy dụng cụ cắt, Cơ

khí nông nghiệp Hà Tây, Diesel Sông Công, Cơ khí Duyên Hải

Trong nhiều năm trước đây, ngành cơ khí được coi là ngành công nghiệp

then chốt, đã phát huy tác dụng tích cực cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và

giải phóng miền Nam

Tuy nhiên đây là giai đoạn bao cấp, kế hoạch sản xuất được điều tiết từ cấp

vĩ mô, nên chưa phát huy hết được sức mạnh thực có của ngành cơ khí Việt

Nam Việc đầu tư các nhà máy cơ khí xuất phát từ các tư duy chủ quan, chưa

thật sự bám sát vào nhu cầu của thị trường, đầu tư lại dàn trải, nên đầu tư nhiều

song hiệu quả đầu tư không cao

Năm 1986, trước đổi mới, cả nước có 610 xí nghiệp quốc doanh Sau khi

sắp xếp, giải thể, sáp nhập còn lại 393 doanh nghiệp quốc doanh, (175 của quốc

doanh trung ương và 218 doanh nghiệp quốc doanh địa phương) chưa kể đến 30

doanh nghiệp cơ khí quốc phòng và các cơ sở sản xuất tập thể, doanh nghiệp tư

nhân và hàng vạn hộ sản xuất cá thể Tổng số lao động toàn ngành là 224.513

Trang 6

người (6/1988) bao gồm 71.169 lao động thuộc các doanh nghiệp quốc doanh trung ương và địa phương; 108.361 lao động cá thể; 26.582 lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 18.698 lao động trong các hợp tác xã, Công ty TNHH, Công ty cổ phần

Đến nay, tổng số vốn của ngành cơ khí quốc doanh có khoảng 500 triệu USD (năm 2000), giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành cơ khí năm 2000 gấp 2,26 lần so với năm 1995 Năm 1995 đạt 8.490 tỷ đồng đã tăng lên 19.175,5 tỷ đồng vào năm 2000, chiếm khoảng 10% giá trị sản xuất công nghiệp của công nghiệp cả nước Tốc độ tăng trưởng chung về giá trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành cơ khí trong giai đoạn 1996-2000 là 17,7%/năm (giá so sánh 1994) Đầu tư nước ngoài (FDI) vào ngành cơ khí có tổng vốn đăng ký vào khoảng 2,2 tỷ USD, trong đó hơn 50% vốn đầu tư tập trung vào lĩnh vực lắp ráp ôtô - xe máy và các mặt hàng tiêu dùng khác; các dự án đầu tư FDI thuộc ngành

tư liệu sản xuất máy nông nghiệp và máy móc cơ khí khác còn rất ít và nhỏ bé, trừ lĩnh vực sửa chữa và đóng tầu thuỷ

Chúng ta luôn nêu khẩu hiệu cơ khí là then chốt, song nếu nghiên cứu tổng

số vốn của toàn ngành cơ khí năm 2000 là khoảng 500 triệu USD nghĩa là chỉ tương đương với vốn để đầu tư vào gần 3 nhà máy xi măng lò quay 1,2 triệu tấn năm (Nhà máy xi măng Võ Nhai tổng số vốn đầu tư là khoảng 200 triệu USD) Điều này nói lên, cơ khí Việt Nam với tiềm lực như vậy thì không thể là then chốt trong nền kinh tế nước nhà và càng không thể là động lực phát triển của nền kinh tế cả nước

Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, ngành cơ khí không kịp chuyển đổi, các nhà hoạch định chính sách cũng chưa có các chính sách tạo động lực phát triển cho cơ khí, với tình hình như vậy nên cơ khí không đáp ứng được nhu cầu của đất nước và bị hàng ngoại chèn ép, kể cả những sản phẩm từng là thế mạnh hàng chục năm trước như: máy công cụ, máy động lực nhỏ, máy kéo nhỏ,

xe đạp, quạt điện, máy bơm nước v.v

Tuy nhiên mấy năm gần đây, cùng với sự hoàn thiện dần các chính sách của Nhà nước đối với ngành cơ khí và sự nỗ lực chủ quan của các doanh nghiệp

cơ khí, ngành cơ khí Việt Nam đã dần dành lại được vị thế của mình và đóng góp phần xứng đáng của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước

Trang 7

1.2 Những thành tựu của ngành cơ khí Việt Nam

- Về giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành cơ khí năm 2003 đã tăng gấp 4.68 lần so với năm 1995 Nếu như vào những năm đầu năm 1990, ngành cơ khí mới đáp ứng được khoảng 8-10% nhu cầu trong nước thì ở giai đoạn 2007 đã đáp ứng được trên 40% nhu cầu

- Về tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành cơ khí trong 6 năm 1995 –

2000 là 40,74% năm; trong giai đoạn 2001 – 2003 là 26,31%; giai đoạn 2004-

2007 khoảng trên 40%/ năm Giá trị xuất khẩu các sản phẩm cơ khí năm 2006 đạt 1,175 tỷ USD, năm 2007 đạt khoảng 2,0 tỷ USD Giá trị nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng năm 2000 là 4.781,5 triệu USD, năm 2001 là 4.949,0 triệu USD, năm 2002 là 6.314,6 triệu USD, năm 2003 là 8.257,37 triệu USD, năm 2004 là 9.000 triệu USD

- Về sản phẩm:

Công nghiệp đóng tàu, chúng ta đã có thể chế tạo được các loại tàu có chất lượng, đạt tiêu chuẩn quốc tế như tàu chở hàng tải trọng từ 6.500 tấn đến 53.000 tấn, các loại tàu cao tốc phục vụ cho an ninh, quốc phòng, các loại tàu chở hàng container, tàu chở dầu thô cỡ 115.000 DWT… Hiện ngành đóng tàu đã có thể hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu trong nước và đã ký được nhiều hợp đồng đóng tàu xuất khẩu cho các nước xuất khẩu khu vực Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Thiết bị toàn bộ ngành cơ khí cũng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể: Tổng công ty LILAMA đã trở thành nhà tổng thầu EPC đầu tiên của Việt Nam khi trúng thầu các gói thầu số 2 và 3 của Nhà máy lọc dầu Dung Quất, tiếp đến

là chế tạo và lắp đặt phần lớn các thiết bị chính của nhà máy nhiệt điện Na Dương, Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 3, 4; Tổng công ty cũng đã được Thủ Tướng Chính phủ giao làm nhà tổng thầu EPC dự án nhà máy nhiệt diện Uông

Bí mở rộng công xuất 300MW với tổng vốn đầu tư lên tới 300 triệu USD, Nhà máy điện Cà Mau công suất 750 MW…

Công nghiệp ôtô, xe máy: Chúng ta đang thực hiện Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 Hiện nay ngành công nghiệp ôtô trong nước đã có thể thỏa mãn nhu cầu trong nước

về các loại xe buýt với tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%, các loại xe tải nhẹ công suất dưới 5 tấn Ngành công nghiệp xe gắn máy đã có những tiến bộ vượt bậc trong khoảng 5 năm trở lại đây: Không những thỏa mãn nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu khoảng 150.000 xe/năm ( chủ yếu là các doanh nghiệp FDI) Tỷ

lệ nội địa hóa các loại xe gắn máy do trong nước sản xuất đạt khoảng 80 – 90%

Trang 8

Đối với các nhà máy thủy điện có công suất đến 300MW, trước đây chúng

ta vẫn phải nhập khẩu cả các thiết bị cơ khí thủy công thì nay toàn bộ phần này

có thể do cơ khí trong nước đảm nhận

Các ngành sản xuất cơ khí khác như sản xuất động cơ Diesel các loại, sản xuất xe đạp, máy bơm nước, các loại cần trục, cầu trục, cơ khí xây dựng

v.v…đều đạt được những thành tích đáng kể Ngành xe đạp với năng lực sản xuất trong nước khoảng 3,1 triệu xe/năm đã xuất khẩu sang thị trường Châu Âu trong giai đoạn 2001 – 2005 các sản phẩm với giá trị khoảng 760 triệu USD Chúng ta đã có sản phẩm động cơ Diesel nhỏ xuất khẩu sang các nước Trung

Đông, các nước ASEAN v.v…(xem Phụ lục 1,2)

1.3 Những yếu kém

1/ Tuy là một ngành công nghiệp quan trọng, nhưng ngành cơ khí chỉ được đầu tư chủ yếu trong thời bao cấp, vốn đầu tư thêm trong giai đoạn đầu đổi mới hầu như không đáng kể, không tương xứng với việc đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân

+ Những năm gần đây trong thời kỳ đổi mới, đầu tư thêm cho ngành cơ khí cũng không đáng kể: tổng vốn đầu tư cho toàn ngành cơ khí trong 5 năm 1990-

1995 chỉ có 180.000 tỷ đồng Thành phố Hồ Chí Minh trong 18 năm 1975-1993 đầu tư cho cơ khí có 0,687 triệu USD, Hà Nội trong năm 1991-1995 đầu tư thêm cho cơ khí quốc doanh địa phương có 2,3 triệu USD Tổng Công ty máy động lực và máy nông nghiệp (VEAM) được đầu tư khoảng 6 triệu USD Tổng Công

ty máy và thiết bị công nghiệp (MIE) khoảng 8 triệu USD trong giai đoạn

1991-1998

Riêng trong giai đoạn 1996-2000 các doanh nghiệp cơ khí thuộc Bộ Công nghiệp chỉ được đầu tư (bằng mọi nguồn vốn) thêm là 342 tỷ đồng, bằng 0,6% tổng vốn đầu tư của toàn ngành công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp

2/ Đầu tư quá phân tán, rải mỏng trong cả nước; khắp cảc tỉnh,thành phố, huyện đều có các nhà máy cơ khí Trong tổng số 393 xí nghiệp cơ khí còn lại chỉ

có 70 doanh nghiệp là đáng kể, trong đó chỉ có hơn 40 doanh nghiệp có tài sản trên 70 tỷ đồng và hơn một nửa là các doanh nghiệp cơ khí sửa chữa ôtô, máy kéo, tàu thuyền, máy móc xây dựng công trình

3/ Phần lớn công nghệ và thiết bị vạn năng cũ kỹ lạc hậu hàng 30 - 40 năm

so với khu vực và 50 - 60 năm so với thế giới, 95% là các thiết bị lẻ không đồng

bộ, không có chuyển giao công nghệ, hầu hết đã hết khấu hao

Trang 9

4/ Một nghịch lý đang diễn ra ở ngành cơ khí từ nhiều năm nay là mặc dù quy mô và đầu tư cho ngành cơ khí Việt Nam chưa lớn, nhưng ngành cơ khí Việt Nam vẫn thường xuyên thiếu công ăn việc làm, không có đơn hàng khai thác hết được năng lực Trong khi thị trường và nhu cầu sản phẩm cơ khí trong nước lại tăng rất nhanh về giá trị, chủng loại, cũng như số lượng các sản phẩm (từ các máy móc, thiết bị, đến các sản phẩm cơ khí tiêu dùng), năng lực nhàn rỗi nhưng ngành cơ khí Việt Nam lại chỉ mới khai thác được khoảng 10% nhu cầu của đất nước, đó là một trong những bất cập lớn nhất của Ngành cơ khí Việt Nam từ nhiều năm sau đổi mới

Giải thích nghịch lý này có thể đi từ cách bố trí của Ngành cơ khí trong tất

cả nền kinh tế quốc dân Cơ khí chúng ta đã bé nhỏ về mặt năng lực tiền vốn, lại đứng chơi vơi giữa cơ chế thị trường thì việc thiếu công ăn việc làm là điều khó tránh khỏi

Ở nước ta cơ khí phục vụ chung chung mà không nằm ở một phạm vi ngành nghề nào cả Kinh nghiệm ở Hồng Kông, Hàn Quốc thì việc tổ chức khác

ta, thí dụ cơ khí gia công gỗ thì nằm trong tập đoàn chế biến gỗ Tập đoàn chế biến gỗ, người ta có nhu cầu cơ khí để sửa chữa, chế tạo thiết bị để cung cấp cho

họ và để xuất khẩu thiết bị, do vậy người ta đầu tư vào cơ khí, với cách làm như vậy thì cơ khí có đầu ra và cơ khí gắn kết với thị trường, do vậy phát triển

Thực tế ở ta trước đây như Nhà máy Cơ khí trung tâm Cẩm Phả và Nhà máy Cơ khí Động lực là các ví dụ rất điển hình Trước đây các Nhà máy này nằm ngoài Tổng Công ty than, nên hầu như không có công ăn việc làm Từ khi các nhà máy được sáp nhập về Tổng Công ty than Việt Nam, thì hoạt động của Nhà máy được khởi sắc, do Nhà máy được gắn kết với nhu cầu cơ khí của ngành than Cách tổ chức các doanh nghiệp cơ khí của ta tách biệt với các Tổng công

ty sản xuất, thì việc điền đầy công ăn việc làm là điều không tưởng

5/ Việc tổ chức sắp xếp lại ngành cơ khí cả nước đã đề ra từ nhiều năm trước đây nhưng chưa làm được bao nhiêu, ngoài việc tổ chức một số Tổng công

ty chuyên ngành 90-91 Tổ chức sản xuất nhìn chung còn khép kín, thiếu chuyên môn hoá, mức độ hợp tác hoá còn thấp

Đây là một điều bất hợp lý, làm giảm đi tiềm năng sẵn có (vốn đã nhỏ bé) của ngành cơ khí Việt Nam

Công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) của Ngành cơ khí còn yếu mặc

dù đã có 12 Viện công nghiệp cơ khí chuyên ngành Vì nhiều lý do, các Viện này ít phát huy được tác dụng trong sản xuất và chưa phục vụ thiết thực cho sự phát triển của ngành cơ khí

Trang 10

Công tác tư vấn thiết kế, công nghệ, thiết bị còn yếu đã hạn chế nhiều đến khả năng làm chủ việc chế tạo các sản phẩm cơ khí phức tạp, có yêu cầu kỹ thuật cao, nhất là trong lĩnh vực thiết bị toàn bộ Một trong những nguyên nhân

là các Viện cơ khí lại không trực thuộc các Tổng Công ty chuyên ngành, thí dụ Viện Cơ khí làm về thiết bị xi măng, nhưng Viện đó lại không nằm trong Tổng Công ty xi măng Hay nói cách khác, Tổng Công ty xi măng lại không có Viện

Cơ khí để giải quyết vấn đề thiết kế và chế tạo thiết bị cho xi măng Điều này dẫn đến một hệ quả là cả về phía Viện và phía các Tổng công ty đều không phát huy được sức mạnh của mình, không chuyên môn hoá và không có một định hướng lâu dài, mặc dù lý thuyết là có Tình trạng này rất trì trệ khi giải quyết các vấn đề về thiết bị toàn bộ

Có thể nói đây là khâu yếu nhất của ngành cơ khí Việt Nam hiện nay và là một trong các nguyên nhân cơ bản làm giảm tốc độ phát triển của ngành cơ khí Nguồn nhân lực cho ngành cơ khí còn nhiều bất cập, số thợ giỏi có tay nghề cao giảm sút nhanh chóng, số người học nghề và học đại học ngành cơ khí cũng ít do bản thân ngành sa sút không còn hấp dẫn cho họ (tuy nhiên gần đây tình hình đào tạo công nhân và kỹ sư cơ khí đã được cải thiện hơn)

Mặc dù đi vào cơ chế thị trường một cách bị động, thiếu sự chuẩn bị trong khi tài sản và vốn của ngành cơ khí còn rất nhỏ bé, đầu tư thêm không đáng kể, nhưng ngành cơ khí vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng ở mức 12÷13%/năm là một cố gắng rất lớn Nhiều doanh nghiệp cơ khí đã kiên định đường lối phát triển công nghiệp của Đảng và Nhà nước, vươn lên tìm kiếm và mở rộng thị trường, dần dành lại thế đứng và làm chủ được thị trường nội địa, đẩy lùi hàng ngoại, bước đầu xuất khẩu và hội nhập vào thị trường thế giới

Như vậy, so với tiềm năng và cơ sở vật chất hiện có còn quá nhỏ bé của ngành cơ khí thì sự phát triển và thành quả của ngành cơ khí trong những năm gần đây là rất đáng khích lệ; nhưng vẫn là bất cập trước nhiệm vụ to lớn của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hoá- hiện đại hoá, đặc biệt về nhu cầu máy móc, thiết bị toàn bộ và hàng tiêu dùng cao cấp

1.4 Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém

- Nhận thức của các cấp, các ngành trong việc quán triệt các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển cơ khí còn chưa được triệt để, có lúc đã buông lỏng quản lý Quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp sang cơ chế thị trường còn có tư tưởng ngành cơ khí bị thả nổi hoàn toàn như các ngành công nghiệp khác

Trang 11

- Thiếu hoạch định chiến lược đi trước một bước, chưa quan tâm đúng mức đến chiến lược đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực cho phát triển

- Thiếu các chính sách để phát triển và bảo vệ thị trường sản phẩm cơ khí Đặc trưng lớn nhất trong những năm đổi mới đối với ngành cơ khí là: chính sách mở cửa không ban hành kịp thời với các chính sách phát triển và bảo vệ thị trường, đã làm cho ngành cơ khí mất thị trường và không có thị trường ngay trên đất nước mình

Chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung và bao cấp sang cơ chế thị trường, ngành cơ khí bị thả nổi hoàn toàn, như các ngành công nghiệp khác là không hợp lý vì đây là lĩnh vực đầu tư vốn lớn, nhưng lại thu hồi vốn chậm và quyết định đến sự phát triển bền vững của kinh tế đất nước

Chính vì các chính sách bảo vệ và phát triển thị trường của ngành cơ khí chưa đủ sức hấp dẫn, mà hiện nay nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào ngành cơ khí mới chỉ tập trung chủ yếu vào ngành Ôtô - xe máy, là ngành đang được bảo

vệ mạnh qua thuế, còn các dự án cho các ngành chế tạo máy mới khác có rất ít, mặc dù nhu cầu và thị trường không nhỏ

- Thiếu vốn đầu tư đổi mới công nghệ - thiết bị:

Như trên đã nói, ngành cơ khí Việt Nam chỉ được đầu tư chủ yếu trong thời bao cấp, bước sang giai đoạn đổi mới, đối mặt với cơ chế thị trường và cơ chế

mở cửa, yêu cầu đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực thiết bị - công nghệ đòi hỏi vốn lớn để đầu tư mới; nhưng cơ chế về cho vay vốn, thuế và các chính sách tài chính khác của Nhà nước đã hạn chế rất nhiều việc đầu tư mới, đẩy ngành cơ khí càng tụt hậu xa hơn về trình độ công nghệ so với các nước trong khu vực và trên thế giới Điều đó đã tạo điều kiện cho hàng ngoại tràn ngập và lấn chiếm hầu hết thị phần nội địa

Ngay cả các Quyết định Chính phủ đầu tư cho các dự án đã được phê duyệt thì việc giải ngân và triển khai rất chậm chạp

(Quyết định số 29/1998/QĐ-TTg ngày 9/2/1998 là Quyết định của Chính phủ về việc hỗ trợ vốn đầu tư cho ngành cơ khí; gồm 34 dự án của 5 chuyên ngành cơ khí đến năm 2002 mới giải ngân được 23% tổng vốn, vì việc triển khai

có nhiều thủ tục, mất nhiều thời gian, làm mất thời cơ để có thể mang lại hiệu quả thiết thực cho các dự án)

- Sự sa sút và khó khăn của ngành cơ khí diễn ra ở hàng trăm doanh nghiệp

cơ khí cả nước và kéo dài trong nhiều năm, nên việc tháo gỡ những khó khăn

Trang 12

cho ngành cơ khí không chỉ bằng những giải pháp ở cấp vĩ mô mà cả ở cấp vi

Trang 13

CHƯƠNG II TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH SẢN PHẨM CƠ KHÍ TRỌNG ĐIỂM

Mục tiêu của Chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm là ưu tiên phát triển một số chuyên ngành sau:

- Cơ khí đóng tàu thuỷ,

- Thiết bị kỹ thuật điện- điện tử,

- Cơ khí ôtô- cơ khí giao thông vận tải

Để thực hiện nhiệm vụ này, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 112/2003/QĐ-TTg ngày 09 tháng 6 năm2003 thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm do Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng làm Trưởng ban, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp làm phó ban và các thành viên là một số Thứ trưởng một số Bộ

Nhiệm vụ đặt ra của đề tài là: Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực

hiện Chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của Chính phủ Trên cơ sở

đó đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình Việt Nam hội nhập WTO Trong phạm vi đề tài, nhóm thực hiện đề tài sẽ đánh giá tình hình thực

hiện và đi sâu vào phân tích một số nhóm cụ thể Sự phân tích này dựa trên kết quả điều tra khảo sát thu thập số liệu và các tài liệu của các đề tài có liên quan [3], [4], [5], [6], [7] và đề xuất một số giải pháp phát triển

Theo các Báo cáo của Bộ Công nghiệp trình Ban chỉ đạo chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm về tình hình thực hiện các dự án ưu đãi đầu tư của ngành cơ khí có thể tóm tắt như sau:

- Đến cuối năm 1998 nước ta có 34 dự án đầu tư đã được phê duyệt theo QĐ29/TTg, ngày 09/02/1998 với tổng số vốn đầu tư là 1.138.755 triệu VNĐ (không kể phần vốn dùng cho đóng tầu 6500T)

- Có 27 dự án đầu tư đã được phê duyệt theo Quyết định TTg, ngày 10/10/2000 với số vốn đầu tư là 3.933.010 triệu VNĐ

Trang 14

117/2000/QĐ Có 52 dự án đã được Bộ Công nghiệp duyệt cho vay vốn đầu tư ưu đãi với tổng số là 3.485.583 triệu VNĐ [8]

Có thể nói: Công nghiệp cơ khí Việt Nam đã được Nhà nước dùng bàn tay hữu hình hỗ trợ cũng như các nước khác đã từng làm, cho nên mới chỉ trong thời hạn ngắn đã có những bước phát triển đáng ghi nhận

Một số sản phẩm cơ khí quan trọng đã được hình thành và từng bước có hiệu quả như Công nghiệp tàu thuỷ, Chế tạo máy động lực nhỏ, lắp ráp có nội địa hoá ô tô khách, ô tô Bus, chế tạo các cụm sản phẩm thiết bị đồng bộ, chế tạo thiết bị kỹ thuật điện, cơ khí xây dựng, giao thông, nông nghiệp,

Để tiếp tục tăng nội lực của công nghiệp cơ khí nước nhà, ngày 27/10/2003, tại công văn số 1457/CP-CN, Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng, trưởng Ban chỉ đạo đã đồng ý xem xét danh mục 24 dự án đầu tư thuộc các Sản phẩm cơ khí trọng điểm đã được Chính phủ lựa chọn đầu tư

Tiếp theo đó, tại cuộc họp ngày 02 tháng 02 năm 2005, Ban chỉ đạo chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm đã họp dưới sự chủ trì của Trưởng ban Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng để xem xét triển khai thực hiện 24 dự

án trọng điểm nói trên và nghe các doanh nghiệp cơ khí lớn đề xuất thêm một số

dự án đầu tư bổ sung

Chúng ta có thể điểm qua các dự án như sau:

- Dự án sản xuất động cơ Diesel công suất từ 100 HP đến 400 HP phục vụ cho lắp ráp ô tô, tầu thuỷ của Công ty Diesel Sông công:

+ Tổng số vốn đầu tư của dự án là 610 118 triệu đồng

+ Sản phẩm: các loại động cơ ô tô, động cơ thuỷ

Sản lượng 30.000 động cơ/ năm Tỷ lệ nội địa hoá trên 50%

- Dự án sản xuất động cơ Diesel của Công ty cơ khí Trần Hưng Đạo:

+ Tổng vốn đầu tư của dự án: 351.026 triệu đồng

+ Sản phẩm: 3000 hộp số động cơ thuỷ nhỏ và thiết bị nuôi trồng thuỷ sản; các máy công tác sau máy kéo: 1000 bộ /năm; máy kéo tân trang xuất khẩu:

2000 cái/ năm; Sản xuất động cơ ô tô cho xe tải nhẹ và xe tải nông dụng dưới 100 mã lực: 10.000 cái/ năm; Sản xuất các loại động cơ Diesel khác cho máy nông nghiệp, máy thuỷ: 30.000 cái/ năm; Sản xuất vỏ hộp số ô tô,

vỏ cầu xe: 20.000 cái/ năm; Lắp ráp tổng thành hộp số cầu xe: 20.000 cái/ năm; Sản xuất phụ tùng ô tô, sát xi cho xe nông dụng: 2000 cái/ năm; Sản

Trang 15

xuất các chi tiết chính cho động cơ Diesel như thân máy, qui lát, trục khuỷu động cơ 1 xi lanh, trục cam, tay biên, bánh đà

- Dự án đầu tư chiều sâu nâng cao năng lực sản xuất động cơ Diesel từ 5

HP đến 24 HP của Công ty máy nông nghiệp Miền Nam (VIKYNO):

+ Tổng vốn đầu tư của dự án: 134.000 triệu đồng

+ Sản phẩm: động cơ Diesel dưới 30 mã lực;

Sản lượng: 40.000 động cơ/ năm

- Dự án sản xuất bánh răng và trục động cơ Diesel, hộp số máy kéo, ô tô của Công ty phụ tùng ô tô số 1

+ Tổng vốn đầu tư của dự án: 137.500 triệu đồng;

+ Sản phẩm, sản lượng: 50.000 bộ bánh răng và trục dùng cho động cơ Diesel; 10.000 hộp số ô tô, máy kéo; 200.000 bộ phôi rèn bánh răng, trục hộp số động cơ ô tô, xe máy

- Dự án chế tạo thiết bị toàn bộ phục vụ cho các ngành xi măng, giấy, hoá dầu, chế biến thực phẩm hải sản, cung cấp nước sạch của Công ty Cơ khí và xây lắp công nghiệp (thuộc Tổng công ty bia –rượu nước giải khát Sài Gòn):

+ Tổng vốn đầu tư của dự án: 72.500 triệu đồng

+ Sản phẩm: các máy móc, thiết bị sử dụng trong các dây chuyền công nghệ: Công nghệ cắt, dập, nghiền sàng, phân loại, khuấy trộn; Công nghệ lên men, vi sinh, phân ly, trích ly; Công nghệ nhiệt: lò hơi, trao đổi nhiệt, thiết bị nấu, bốc hơi, cô đặc, kết tinh, sấy phục vụ các ngành công nghiệp; chế biến nông, lâm, hải sản và thực phẩm, dệt may, giấy và bột giấy, xi măng, vật liệu xây dựng, dầu khí Sản lượng: 2.400 tấn sản phẩm / năm

- Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ công suất 20.000 tấn sản phẩm/ năm của Xí nghiệp cơ khí Quang trung Ninh Bình:

+ Tổng vốn đầu tư của dự án: 439.044 triệu đồng;

+ Sản phẩm: Chế tạo phụ tùng, kết cấu thép, bánh răng, hộp giảm tốc cho các thiết bị nâng hạ với các chủng loại và số lượng sau:

• Cầu trục nhà xưởng các loại: 200 chiếc/ năm;

• Cổng trục 50/10 tấn: 10 chiếc/năm;

• Cổng trục 100/50 tấn: 5 chiếc/năm;

• Cổng trục 300/ 100 tấn: 2 chiếc/năm

Trang 16

• Các sản phẩm kết cấu thép các loại: 5.000- 6.000 tấn sản phẩm/ năm

Dự án có tính đến khả năng xuất khẩu sang các thị trường khu vực, tỷ lệ nội địa hoá của dự án đạt từ 80 đến 90 %

- Dự án đầu tư chiều sâu nâng cao năng lực sản xuất các loại bơm, van phục vụ công nghiệp, thuỷ lợi, công nghiệp chế biến và xuất khẩu của Công ty chế tạo Bơm Hải Dương (thuộc Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp):

+ Tổng vốn đầu tư của dự án: 28.938 triệu đồng

+ Sản phẩm và công suất: Các loại máy bơm, van, sản phẩm cơ khí khác được đúc bằng gang, thép hợp kim, Inox, kim loại mầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, và xuất khẩu

Sản lượng: 3000 tấn/năm

- Dự án đầu tư Nhà máy chế tạo thiết bị nâng chuyển của Công ty Cơ khí xây dựng và lắp máy điện nước tại Gia lâm (thuộc Tổng công ty Cơ khí Xây dựng): + Tổng vốn đầu tư của dự án: 99.841 triệu đồng;

+ Sản phẩm và công suất:

Các sản phẩm chính là cần trục tháp, cần trục chân đế, cầu trục, cổng trục, máy và thiết bị nâng khác, máy và thiết bị vận chuyển (băng tải, gầu tải, vít tải)

- Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 106/NĐ-CP, một số chủ đầu tư

đã chủ động vay vốn thương mại để thực hiện dự án mà không chờ các cơ chế

ưu đãi dành cho Chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm, cụ thể như sau:

- Dự án đầu tư nâng cao năng lực sản xuất máy biến thế điện của Công ty thiết bị điện (thuộc Tổng Công ty Thiết bị kỹ thuật điện)

- Dự án chế tạo thiết bị cơ khí thủy công cho 5 nhà máy thuỷ điện Pleikrong, A Vương, Buôn Kuôp, Quảng Trị và Bản Lả

Để kịp tiến độ, Bộ Công nghiệp đã có các Quyết định số NLDK; 06/QĐ-CLH-NLDK; 334/QĐ-CLH-NLDK; giao nhiệm vụ cho Liên danh 1 gồm Viện Nghiên cứu Cơ khí, Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam và Tổng công ty Máy và thiết bị công nghiệp (MIE) do Tổng công ty Máy

05/QĐ-CLH-và Thiết bị công nghiệp làm đầu mối thực hiện chế tạo thiết bị cơ khí thuỷ công cho 3 dự án Pleikrong, A Vương, Buôn Kuôp và giao nhiệm vụ cho liên danh 2 gồm Nhà máy cơ khí Yên Viên, Công ty cơ điện Thủ Đức, Công ty tư vấn điện lực 1 tham gia chế tạo thiết bị cơ khí thuỷ công cho 2 dự án Quảng Trị và Bản Lả

Trang 17

- Dự án đầu tư sản xuất hộp số, cầu sau ô tô của Công ty Cơ khí Ngô Gia

Tự Tổng vốn đầu tư 324 tỷ đồng

- Dự án đầu tư nhà máy chế tạo thiết bị số 2 của Tổng công ty lắp máy Việt Nam

- Dự án đầu tư nâng cao năng lực chế tạo thiết bị cho nhà máy thuỷ điện và công trình thuỷ lợi Tổng vốn đầu tư là 350 tỷ đồng Tổng công suất 11.920 tấn/năm

Điểm lại một số dự án nêu trên, đề tài muốn nêu lên sự khẳng định và quyết tâm của Chính phủ trong việc chỉ đạo các doanh nghiệp cơ khí, các cấp cùng nhau tham gia vào Chương trình các sản phẩm cơ khí trọng điểm

Nhóm đề tài đánh giá tình hình thực hiện ở các nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm như sau:

2.1 Chế tạo thiết bị toàn bộ

Thiết bị toàn bộ được hiểu là một dây chuyền đồng bộ hoàn chỉnh được thiết kế theo ý tưởng của một người hoặc nhóm người nhằm thực hiện một chức năng nhất định hoặc sản xuất ra một vài loại sản phẩm nhất định Do vậy thiết bị toàn bộ là một lĩnh vực rất rộng, thường có qui mô lớn được lắp đặt và làm việc trong một không gian tương đối lớn về cả chiều rộng chiều cao lẫn chiều sâu so với cốt không của mặt bằng nên giá trị của nó thường lớn

Thiết bị toàn bộ hầu hết làm việc trong một chế độ đồng bộ nghiêm ngặt phục vụ cho một ý tưởng công nghệ và tương thích với công nghệ chuyên ngành Do độ phức tạp của mình, thiết bị toàn bộ đòi hỏi phải có sự hợp tác rất rộng không chỉ trong phạm vi một ngành, một quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu Thiết bị toàn bộ là mảnh đất mầu mỡ cho sự phát triển của nhiều ngành: vật liệu mới, tự động hoá, chế tạo máy, năng lượng, nhiệt, xử lý môi trường và cả khoa học về quản trị kinh doanh Thiết bị toàn bộ có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân, nó chính là ngành sản xuất ra các nhà máy, là ngành nói nên sự hùng mạnh hay non yếu của nền công nghiệp nói chung và cơ khí nói riêng

Lần đầu tiên ở nước ta, khái niệm thiết bị toàn bộ được đưa vào văn kiện chính thức là Báo cáo chính trị tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV Đến cuối năm 2002, thiết bị toàn bộ mới được đưa vào văn kiện chính thức của Nhà nước với Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg ngày 26 tháng 11 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới năm 2020” Quyết định này ghi rõ ưu tiên phát triển một

Trang 18

số chuyên ngành và sản phẩm cơ khí trọng điểm, trong đó thiết bị toàn bộ được

đề cập đầu tiên trong 8 sản phẩm cơ khí trọng điểm Cho đến nay, không có công trình thiết bị toàn bộ nào trong các ngành năng lượng, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm sản, hoá chất, luyện kim, khai khoáng, mà không có

ít nhiều sản phẩm cơ khí do các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam chế tạo

Số liệu ước tính theo giá trị, tỷ lệ sản phẩm cơ khí Việt Nam có thể chế tạo cho các công trình thiết bị toàn bộ như sau:

Nhà máy gạch ngói nung 20-25 triệu viên/ năm 100%

Nhà máy xi măng 1,4 triệu tấn/ năm: 35-40%

Nhà máy giấy và bột giấy 60.000tấn/ năm: 50%

Nhà máy nhiệt điện (300MW): 30%

Nhà máy thuỷ điện: 25%

Nhà máy mía đường (công suất 8000 tấn mía/ ngày): 30 %

Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp cơ khí trong nước đã từng bước làm chủ được thiết kế, công nghệ chế tạo một số thiết bị trong dây chuyền thiết bị đồng bộ của các lĩnh vực công nghiệp trên và tiến tới làm tổng thầu EPC các công trình:

Đóng mới tầu biển trên 100.000 tấn

Nhà máy xi măng 0,9- 1,4 triệu tấn/ năm

Nhà máy bia đến 20 triệu lít/ năm

Nhà máy chế biến mủ cao su

Nhà máy thuỷ điện

Nhà máy phân bón NPK

Nhà máy sản xuất mía đường đến 1.500 tấn mía/ ngày

Tỷ trọng sản phẩm cơ khí tham gia vào các công trình thiết bị toàn bộ hoặc tổng thầu thiết bị toàn bộ của ngành cơ khí năm 2004- 2007 đạt khoảng 20% tương ứng với khoảng 450- 500 triệu USD/ năm

Trong 10 năm tới, nhu cầu về thiết bị toàn bộ của nền kinh tế sẽ phát triển không ngừng (dự kiến tốc độ tăng trưởng 17-18%/ năm) Sẽ có một số dự án, công trình lớn tầm cỡ quốc gia và quốc tế được xây dựng như:

- Nhà máy thuỷ điện Sơn la

Trang 19

- Tổ hợp công nghiệp Khí -Điện -Đạm Cà mâu

- Tổ hợp khai thác chế biến bauxite nhôm Đắc nông – Lâm đồng

- Tổ hợp khai thác và sản xuất gang- thép Thạch khê Hà tĩnh

- Các nhà máy xi măng công suất 0,9 –2,4 triệu tấn/ năm

Đối với các công trình thiết bị toàn bộ khổng lồ này, mục tiêu của ngành cơ khí chế tạo thiết bị toàn bộ là tham gia sâu hơn vào các việc cung cấp thiết bị tĩnh, thiết bị phi tiêu chuẩn, thiết bị nâng, vận chuyển, các thiết bị siêu trường, siêu trọng, kết cấu thép dầm thép, đường ống dẫn khí, vỏ lò, vỏ quạt công nghiệp, thiết bị lọc bụi Tuỳ theo từng công trình, tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm cơ khí có thể đạt từ 20 đến 40%

Từng bước làm chủ thiết kế, công nghệ và hợp tác thiết kế công nghệ, thiết

kế kỹ thuật, các doanh nghiệp cơ khí đang chuyển sang hình thức Tổng thầu EPC đối với các công trình có qui mô nhỏ hơn và cung cấp thiết bị vừa sức hơn như:

- Nhà máy xi măng đến 1,4 triệu tấn/ năm

- Nhà máy giấy và bột giấy đến 100.000 tấn/ năm

- Nhà máy chế biến mía đường, cao su, cà phê

- Nhà máy chế biến gỗ, ván sợi, ván dăm

- Nhà máy cấp nước sạch, xử lý chất thải rắn, xử lý nước thải

-Thiết bị khai thác, tuyển và chế biến khoáng sản

Trong những năm tới, ngành cơ khí chế tạo tham gia cung cấp thiết bị toàn

bộ cho các dự án xây dựng các nhà máy nhiệt điện, thuỷ điện, nhà máy sản xuất

xi măng đang được chú ý triển khai Vì tính đặc trưng chuyên ngành của rất nhiều dự án, và rất nhiều đơn vị tham gia như: Tổng công ty lắp máy Việt Nam LILAMA, Tổng công ty máy và thiết bị công nghiệp MIE, Tổng công ty cơ khí xây dựng COMA, Viện Nghiên cứu Cơ khí NARIME tham gia, nên để đánh giá năng lực thiết kế và khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp ở từng dự án

cụ thể thì đòi hỏi một khối lượng công việc rất lớn mà thời gian giới hạn của đề tài không cho phép

Đề tài tập trung vào phân tích các hoạt động của LILAMA qua đó thấy rõ

sự chuẩn bị đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực nhằm chiếm lĩnh mặt trận chế tạo thiết bị đồng bộ, nâng cao khả năng cạnh tranh, và năng lực thiết kế của các

Trang 20

doanh nghiệp cơ khí ở trong nước LILAMA cũng là đơn vị đi đầu trong viêc chế tạo thiết bị toàn bộ ở Việt Nam

Tổng công ty lắp máy Việt Nam LILAMA là doanh nghiệp nhà nước được thành lập năm 1960 cho nhiệm vụ khôi phục nền công nghiệp của đất nước sau chiến tranh Trong những năm từ 1975 LILAMA đã lắp đặt nhiều nhà máy như Thuỷ điện Thác Bà, Nhiệt điện Uông Bí, Ninh Bình, đến các nhà máy của khu công nghiệp công nghiệp Việt Trì, Thượng Đình v.v góp phần quan trọng trong việc xây dựng CNXH ở Miền Bắc

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, vượt lên muôn vàn khó khăn của kinh

tế hậu chiến trong cơ chế quản lý quan liêu bao cấp, tiếp đó là sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường những năm 90, LILAMA đã lắp đặt thành công và đưa vào sử dụng hàng nghìn công trình lớn nhỏ trên mọi lĩnh vực của nền kinh

tế như: Thuỷ điện Hoà Bình, Trị An, xi măng Bỉm Sơn, Kiên Lương, các trạm biến áp truyền tải điện 500kV Bắc-Nam

Cuối năm 1995, chuyển sang hoạt động theo mô hình Tổng công ty, LILAMA đã có những bước đột phá ngoạn mục sang lĩnh vực chế tạo thiết bị và kết cấu thép cho các công trình công nghiệp và đã thực hiện thành công các hợp đồng chế tạo thiết bị cho các nhà máy: xi măng ChinFong, Nghi Sơn, Hoàng Mai, với giá hàng trăm triệu USD

Bằng sự lớn mạnh về mọi mặt và những đóng góp xứng đáng trong những năm qua, năm 2000 Nhà nước đã tin tưởng giao cho LILAMA làm tổng thầu EPC thực hiện các dự án: Nhiệt điện Uông Bí 300 MW; Nhiệt điện Cà Mâu (chu trình hỗn hợp) 750 MW và thắng thầu gói 2 và 3 Nhà máy lọc dầu Dung Quất

từ khảo sát, thiết kế đến chế tạo thiết bị và tổ chức quản lý xây lắp Sự kiện này

đã đưa LILAMA lên tầm cao mới, trở thành nhà thầu EPC đầu tiên của đất nước giành lại ngôi vị làm chủ từ các nhà thầu nước ngoài Điều đó đã khẳng định khả năng cạnh tranh, cũng như năng lực thiết kế, điều hành, và trình độ của các doanh nghiệp trong nước mà LILAMA là đầu tàu trong việc chế tạo thiết bị đồng bộ

LILAMA đã khẳng định được khả năng này bằng việc đứng đầu các tổ hợp các nhà thầu quốc tế, đấu thầu và thắng thầu hợp đồng EPC dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất trị giá trên 230 triệu USD Và đặc biệt ngày 02/08/2003, Tổng giám đốc LILAMA đã được Bộ trưởng Bộ Công nghiệp giao nhiệm vụ là Nhóm trưởng nhóm thiết bị toàn bộ trong chương trình sản phẩm cơ

Trang 21

khí trọng điểm LILAMA đã tập hợp các doanh nghiệp cơ khí trong nước để

thiết kế, chế tạo và lắp đặt các công trình thiết bị toàn bộ

Với trọng trách cùng vai trò của Tổng công ty trong thời gian qua đã cố

gắng hết mình và đã đạt được nhiều thành công lớn trên mặt trận kinh tế thể hiện

qua số liệu sau:

Bảng 1 Giá trị SXKD và Tổng doanh thu trong giai đoạn 2003-2007 của LILAMA

2.389124%

4.815,74202%

6.121,61127%

7.470,0 122%

9.337,5125%

1.677,40(166%)

2.536,17(141%)

4.387,42(186%)

7.580,00(172%)

9.700,00(127%)

Kết quả SXKD trong 5 năm của LILAMA thể hiện sự tăng trưởng mạnh

mẽ từ năm trước thúc đẩy tạo tiền đề để năm sau phát triển cao hơn và đạt mức

tăng trưởng trung bình hàng năm là 40%, cao gấp đôi sự tăng trưởng của Ngành

công nghiệp cả nước nói chung Tổng doanh thu bình quân 5 năm tăng tới 58%

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đầy khó khăn của ngành cơ khí Việt

Nam, cùng với sự trượt giá thường xuyên hàng năm của vật tư sắt thép, năng

lượng, là những thách thức, áp lực lớn đè nặng lên vai những người làm cơ

khí

Nhưng qua những kết quả trên cho thấy LILAMA và các doanh nghiệp

khác đã vượt qua được những khó khăn là nhờ biết phát huy nội lực và đặc biệt

là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chủ trương và chính sách ưu đãi sau:

+ TCTy LILAMA đã nhận được sự hỗ trợ kịp thời và to lớn của các cơ chế

chính sách đặc thù của Đảng, Nhà nước dành cho ngành cơ khí Việt Nam, và

đặc biệt là Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm

Trang 22

nhìn đến năm 2020 theo quyết định số 186/2002/QĐ-TTg ngày 26 tháng 12

năm 2002, trong đó định hướng phát triển là:

• Nâng cao năng lực chế tạo thiết bị toàn bộ với công nghệ tiên tiến Sản xuất được thiết bị có độ phức tạp cao để thay thế sản phẩm nhập khẩu Nâng cao năng lực thiết kế thiết bị toàn bộ, gắn kết có hiệu quả với công nghệ của từng ngành công nghiệp

• Đầu tư có trọng điểm thiết bị và công nghệ vào các khâu cơ bản, như đúc, rèn, tạo phôi lớn để đồng bộ về thiết bị và công nghệ đáp ứng yêu cầu chế tạo chi tiết, cụm chi tiết lớn, phức tạp

• Tận dụng năng lực của các doanh nghiệp cơ khí trong cả nước tăng cường sự phối hợp trong việc phân công và hợp tác sản xuất thiết bị toàn bộ

• Phấn đấu đáp ứng 40% nhu cầu thiết bị toàn bộ trong nước vào năm

2010 Trước mắt tập trung cho các lĩnh vực sau: sản xuất bột giấy và giấy, sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng, sản xuất điện và dầu khí, cấp nước sạch và công nghiệp chế biến

+ Ngoài ra TCty LILAMA còn được hưởng các ưu đãi chung cùng với cả ngành cơ khí Đó là quyết định 52/1998/QĐ-TTg ngày 03/03/1998 về vay vốn

ưu đãi, các ưu đãi về thuế qui định trong Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Quyết định 29/1998/QĐ-TTg ngày 09/ 02/ 1998 và 37/2000/QĐ-TTg ngày 23/03/2000 về việc Ban hành chính sách hỗ trợ các sản phẩm công nghiệp trọng điểm; Nghị quyết 05/NQ-CP ngày 24/05/2001 về Bổ sung một số giải pháp điều hành kế hoạch kinh tế năm 2001; Quyết định 67/2000/QĐ-BCN ngày 20/11/2000 của Bộ Công nghiệp ban hành các danh mục các sản phẩm cơ khí được hưởng ưu đãi

+ Cơ chế EPC cơ chế tổng thầu (tư vấn thiết kế, cung cấp thiết bị, xây lắp vận hành) mà tiêu biểu là hợp đồng EPC Dự án Nhà máy nhiệt điên Uông Bí mở rộng, công suất 300MW do Thủ tướng Chính phủ chỉ định Tổng công ty lắp máy là nhà thầu chính theo quyết định số496/CP-CN ký ngày 21-4-2003 Đây là Công trình EPC đầu tiên của TCTy LILAMA cộng với quyết tâm vươn lên của tập thể cán bộ lãnh đạo và toàn thể công nhân viên TCTy cùng tinh thần cầu thị học hỏi thêm từ các chuyên gia nước ngoài do LILAMA tuyển dụng, đến nay Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng đã vận hành thử thành công và đã phát điện thương mại vào ngày 12 tháng 12 năm 2006

Trang 23

Cơ chế EPC tạo động lực ban đầu để hình thành những tập đoàn công nghiệp nặng về quản lý dự án, thiết kế kỹ thuật, công nghệ, tích luỹ kinh nghiệm, năng lực quản lý tiến tới tham gia dự thầu các dự án trong và ngoài nước Áp dụng cơ chế này cũng là một biện pháp để đầu tư cho ngành cơ khí chế tạo bởi sau khi nhận được tổng thầu, các doanh nghiệp mới có điều kiện để đầu tư trang thiết bị, xây dựng mới các nhà máy cơ khí, nâng cao tỷ trọng nội địa hoá sản phẩm cơ khí, đồng thời phát huy nội lực tối đa nhất, thu hút được lực lượng lao động lớn nhất kể cả lực lượng cán bộ kỹ sư và công nhân

Về lợi ích kinh tế, hiện LILAMA đang đảm nhận vai trò tổng thầu EPC ở các Dự án điện Uông Bí 1-2, Cà Mâu 1-2, xi măng Sông Thao, Đô Lương với tổng giá trị hợp đồng lên đến 1,5 tỷ USD Với vị thế này, giá trị sản xuất công nghiệp được tính là của Việt Nam, góp phần tăng trưởng GDP của cả nước Mặt khác phần lợi nhuận sinh ra đương nhiên là của phía Việt Nam chứ không chui vào túi nước ngoài như cách làm trước đây

Một lợi ích nữa của Tổng thầu EPC là tạo điều kiện để chúng ta quen với vị thế làm chủ, điều hành các nhà thầu phụ nước ngoài, làm thay đổi tư duy tự ty, phụ thuộc, làm thầu phụ cho nước ngoài vốn đã tồn tại rất lâu trong con người Việt Nam

Để đảm đương nhiệm vụ của một nhà thầu EPC, những năm gần đây LILAMA đã tạo ra một bước đột phá trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế các dự án bằng việc thành lập 2 Công ty tư vấn thuộc TCTy, 14 trung tâm tư vấn thuộc 14 Công ty thành viên tập hợp được một lực lượng trên 500 cán bộ làm công tác tư vấn thiết kế công trình, quản lý dự án và thiết kế, chế tạo thiết bị

Việc kết hợp giữa tư vấn nước ngoài và tư vấn của LILAMA được thực hiện dưới hình thức lập thành một tổ chức thiết kế và quản lý dự án chung đặt dưới sự điều hành của LILAMA cho các dự án mà LILAMA làm tổng thầu Với hình thức tổ chức này, trong những năm vừa qua, tư vấn LILAMA đã có một bước trưởng thành vượt bậc và vững chắc theo tiêu chuẩn quốc tế:

• Quản lý dự án: Đây là một trong những chìa khoá đạt đến sự thành

công của công tác tổng thầu EPC Thiếu công nghệ, thiếu thiết bị, thiếu chuyên gia kỹ thuật chúng ta có thể dễ khắc phục hơn vì chúng

ta có thể nhập khẩu, nhưng thiếu khả năng quản lý dự án thì vấn đề nhập khẩu không dễ dàng chút nào vì nhiệm vụ và trách nhiệm là ở trên vai của nhà tổng thầu xét về phương diện hài hoà của tất cả các lĩnh vực và là lợi ích thiết thực của doanh nghiệp Vì vậy cần phảinâng

Trang 24

cao khả năng của đội ngũ quản lý dự án bằng cách kết hợp giữa đào tạo nâng cao và tích luỹ kinh nghiệm qua việc thực hiện các dự án cụ thể

• Tư vấn thiết kế: Hiện nay ở Việt Nam nói chung, tư vấn thiết kế của

chúng ta thường dừng lại ở sơ đồ công nghệ và thiết kế kỹ thuật xây dựng Để có thể làm chủ được công nghệ kỹ thuật thực chất của nhà máy, vấn đề thiết kế công nghệ- kỹ thuật và chế tạo thiết bị là rất quan trọng Tuy vậy, để thực hiện được công việc này cần thiết phải có những Trung tâm nghiên cứu- phát triển (R&D) và các Phòng thí nghiệm tiêu chuẩn quốc tế Hướng phát triển dần dần của LILAMA là hoàn thiện khả năng thiết kế kỹ thuật- công nghệ, phát triển công tác nghiên cứu- phát triển (R&D) và liên doanh liên kết với các Tập đoàn công nghiệp mạnh của nước ngoài để nhằm nâng cao khả năng tư vấn thiết kế của TCTy Hiện nay LILAMA đang liên doanh với Công ty thiết kế về lọc dầu của Đài Loan (CTCI) cho các công trình về hoá dầu, lập cổ phần tư vấn với Mitsubishi Heavy Industries, Huyndai Engineering cho các công trình điện và các thể loại công trình khác, thiết lập tổ hợp với Viện thiết kế xi măng Thiên Tân cho các công trình xi măng

• Chế tạo thiết bị: Hiện nay LILAMA là một tổ hợp gồm hơn 20 công

ty thành viên, 02 trường kỹ thuật công nghệ và một Viện hàn, trải rộng khắp mọi miền đất nước có một lực lượng trên 22.000 CB-CNV trong

đó có gần 4000 kỹ sư và trên 3000 công nhân hàn có chứng chỉ quốc

tế Trên 10 nhà máy chế tạo thiết bị và kết cấu thép với các phân xưởng tiên tiến có thể chế tạo được các thiết bị của nhà máy xi măng, nhà máy điện, đóng tàu, và kết cấu thép phức tạp Đặc biệt TCTy còn

có một Công ty cơ giới tập trung với hàng trăm thiết bị máy móc phục

vụ lắp dựng hùng mạnh và tiên tiến nhất Việt Nam, trong đó có những thiết bị nâng siêu trọng đến 600 tấn, một Công ty thí nghiệm cơ điện với đầy đủ thiết bị để kiểm soát và đánh giá chất lượng của công tác chế tạo, lắp đặt

• Quản lý xây dựng: Quản lý trực tiếp công việc tại công trình là một

công việc rất khó khăn và vất vả Với kinh nghiệm trên 45 năm LILAMA đã có một đội ngũ chỉ huy và quản lý xây dựng rất hùng mạnh và chuyên nghiệp Tuy vậy việc áp dụng các giải pháp công

Trang 25

nghệ thông tin sẽ nâng cao hiệu quả hơn trong thực thi công việc xây

lắp

• Năng lực chạy thử vận hành: Hiện nay số lượng chuyên

gia chạy thử và vận hành vẫn còn thiếu và lực lượng này được đào tạo

trong thời gian trước đây qua việc hõ trợ các chuyên gia nước ngoài

vận hành, chạy thử các nhà máy lớn nhỏ của Việt Nam do nước ngoài

làm Tổng thầu Gần đây với vai trò Tổng thầu EPC, LILAMA đã nâng

cấp được lực lượng này và hiện họ đang đảm nhận công tác vận hành

và chạy thử Trong những năm tới, LILAMA cần đào tạo thêm nhiều

chuyên gia trong lĩnh vực này không chỉ qua các công trình trong

nước mà tham gia chạy thử và vận hành các công trình ở nước ngoài

Cho đến nay, TCty LILAMA đã thực hiện các dự án Tổng thầu EPC:

1/ Dự án Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng, công suất 300 MW:

Ngày 21/3/2001, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn 231/CP-CN chính thức

chỉ định LILAMA làm Tổng thầu EPC thực hiện dự án Nhà máy nhiệt điện

Uông Bí mở rộng với công suất 300MW và vốn đầu tư gần 300 triệu USD Đã

ký với Chủ đầu tư là EVN ngày 15/05/2003

2/ Dự án Nhà máy điện Cà mâu 1, công suất 750 MW: Dự án Nhà máy

điện Cà Mâu thuộc Công trình cụm Khí Điện Đạm Cà Mâu (Xã Khánh An,

Huyện U Minh, Tỉnh Cà Mâu), áp dụng công nghệ tuabin khí chu trình hỗn hợp

với công suất 750 MW Dự án này do Tổng công ty dầu khí Việt Nam làm Chủ

đầu tư, Tổng công ty lắp máy Việt Nam đựơc chỉ định là Tổng thầu EPC với

Tổng giá trị hợp đồng là 360.020.213 USD, ký ngày 11/11/2005

3/ Dự án Nhà máy điện Cà Mâu 2, công suất 750 MW ký ngày 14/2/2006

tại Hà Nội giữa Chủ đầu tư là Tổng công ty dầu khí và Nhà thầu EPC Việt Nam

LILAMA Cũng như Cà Mâu 1, Cà Mâu 2 cũng áp dụng công nghệ tuabin khí

chu trình hỗn hợp với công suất 750 MW Giá trị hợp đồng EPC xây dựng Nhà

máy là 330,3 triệu USD Hợp đồng có hiệu lực từ ngày 8/2/2006 Khác với dự

án Cà Mâu 1, Cà Mâu 2 sẽ không chia làm 2 giai đoạn Theo tiến độ dự kiến thì

Nhà máy Cà Mâu 2 sẽ hoàn thành chu trình hỗn hợp và phát điện vào tháng 3

năm 2008

4/ Hợp đồng gói 2 và 3 Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã được ký vào

ngày 20/3/2006 tại Hà Nội giữa Tổ hợp nhà thầu EPC Technip-TPC và Tổng

công ty lắp máy Việt Nam LILAMA Theo hợp đồng này, LILAMA sẽ cung cấp

Trang 26

toàn bộ phần kết cấu thép, các loại bồn áp lực thấp, sơn, bảo ôn cho thiết bị của gói 2 và gói 3; chế tạo và lắp đặt 50.000 tấn thiết bị và kết cấu thép trong đó bồn

bể 25.000 tấn, ống 17.000 tấn, 9.000 tấn kết cấu thép Công việc phải hoàn thành sau 30 tháng tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực (tháng 3 năm 2008)

Được biết, Nhà máy lọc dầu Dung Quất do Tổng công ty dầu khí Việt

Nam đầu tư xây dựng với tổng vốn 2,5 tỷ USD Dự án được chia làm 7 gói thầu Gói 1: Nhà máy chính; gói 2: khu vực bể chứa dầu thô; gói 3: Khu vực bể chứa sản phẩm, đường ống dẫn và cảng xuất sản phẩm- Hai gói này do LILAMA thi công; gói 4: cụm tiếp nhận dầu thô; gói 5: đê chắn sóng; gói 6: san lấp, giải phóng mặt bằng và xây dựng hệ thống tường rào; gói 7: nhà văn phòng điều hành và nhà máy cơ khí

5/ Hợp đồng Tổng thầu EPC Dự án nhà máy thuỷ điện An Điềm 2 giữa

Tổng công ty lắp máy Việt Nam và Công ty cổ phần thuỷ điện Sông Vàng đã được ký kết tại Hà Nội Theo đó, nhà thầu LILAMA sẽ “thiết kế, chế tạo, cung cấp và lắp đặt thiết bị Nhà máy thuỷ điện An Điềm 2” với tổng giá trị gần 100 tỷ đồng, thời gian thực hiện trong 14 tháng và sẽ bàn giao toàn bộ công trình vào cuối năm 2007

Nhận xét: Trên đây đã phân tích về các hoạt động Tổng thầu EPC của

LILAMA trong việc chế tạo thiết bị toàn bộ và thấy rằng: Nhờ có chủ trương của Nhà nước nên LILAMA cũng như các doanh nghiệp khác đã có rất nhiều đóng góp trong việc chế tạo các công trình thiết bị toàn bộ, từ đó dần khẳng định

vị thế của mình trong nền kinh tế nước nhà Đặc biệt trong quá trình này khả năng thiết kế, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm trong nước đã được khẳng định: Từ vị thế làm thuê chúng ta đang tiến lên vị thế làm chủ trong các công trình thiết bị toàn bộ của đất nước

+ Ngành cơ khí chế tạo và cung cấp thiết bị toàn bộ có bước phát triển khá cao Tổng công ty lắp máy Việt Nam đã chủ động đảm nhiệm vai trò làm tổng thầu chế tạo và cung cấp thiết bị toàn bộ cho các dự án đầu tư như: Xây dựng nhà máy điện Uông Bí với công suất 300MW, vốn đầu tư với 300 triệu USD, dây chuyền 2 nhà máy xi măng Hoàng Thạch, công suất 1,4 triệu tấn/năm với vốn đầu tư 100 triệu USD, hai gói thầu 2 và 3 nhà máy lọc dầu Dung Quất, giá trị gần 230 triệu USD Tổng công ty Máy và thiết bị công nghiệp đang có bước chuẩn bị để tham gia cung cấp thiết bị toàn bộ cho nhà máy xi măng công suất 1,2 – 1,4 triệu tấn/năm, dây chuyền sản xuất ván nhân tạo MDF đến 15.000m3/năm, dây chuyền sản xuất bột giấy công suất 60.000 tấn/năm (tương

Trang 27

đương nhà máy bột và giấy Bãi Bằng) Tổng Công ty Xây dựng Công nghiệp Việt Nam đang triển khai xây dựng nhà máy xi măng Thái Nguyên công suất 1,4 triệu tấn/năm với Tổng vốn đầu tư 2.700 tỷ VNĐ Dự báo về giá trị xuất khẩu thiết bị toàn bộ không kể tàu biển có thể tăng từ khoảng 25 triệu USD năm 2006 lên 100 triệu vào năm 2010

+ Tuy nhiên chuyên ngành cơ khí chế tạo thiết bị toàn bộ và thiết bị lẻ

của Việt Nam là một chuyên ngành mạnh ngay cả so với một số nước trong khu vực, nhưng trong thời gian vừa qua ta vẫn nhập ngoại hàng trăm dây chuyền thiết bị toàn bộ, hàng chục nhà máy đường mía, hàng trăm triệu USD cho thiết

bị xi măng và do đó ngành cơ khí Việt Nam vẫn bị đứng ngoài các đơn hàng

nhập ngoại hàng năm với giá trị hàng tỷ USD

2.2 Cơ khí đóng tàu thuỷ

Việt Nam là một nước có bờ biển trải dài theo đất nước, ngành đóng tàu đã

có từ ngàn xưa Qua quá trình phát triển, đến nay công nghiệp tàu thuỷ từng bước kế thừa và phát triển ngày càng mạnh và trở thành ngành công nghiệp cơ khí quan trọng nhằm thúc đẩy nhanh chương trình phát triển kinh tế biển nhằm tăng nhanh năng lực khai thác, nghiên cứu biển, xây dựng các công trình biển, vận tải biển, khai thác và dịch vụ cảng, thăm dò, khai thác tài nguyên biển, đánh bắt và chế biến hải sản, dịch vụ du lịch trên biển

Xuất phát từ tầm nhìn xa của lãnh đạo Đảng và Chính phủ cách nay hàng thập

kỷ, cho nên đã có quyết định hình thành Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (VINASHIN) cùng với một số cơ chế chính sách đầu tư tạo thành những yếu

tố quan trọng, cũng có thể nói đây là “cú hích” để thúc đẩy phát triển ngành đóng tàu thuỷ của đất nước Chính phú đã ban hành các quyết định ưu đãi đầu tư, tài chính, xuất nhập khẩu, khoa học công nghệ tạo cho công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam

để ngành công nghiệp non trẻ này từng bước hội nhập được với khu vực và quốc tế, tạo bước khởi động có hiệu quả, khảng định được khả năng đóng tàu của Việt Nam đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước, khu vực và thế giới

2.2.1 Thực trạng năng lực hiện nay của ngành cơ khí đóng tàu thuỷ

Hiện nay các Nhà máy đóng và sửa chữa tàu thuỷ ở Việt Nam, chủ yếu được phân bố tại Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam và một số tại các Nhà máy thuộc Bộ quốc phòng, Bộ Thuỷ sản và của một số tỉnh thành phố địa phương

Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam là đơn vị quản lý chủ yếu các Nhà máy đóng tàu tại Việt Nam với 16 Nhà máy đóng mới và sửa chữa; 4 liên

Trang 28

doanh với số cán bộ công nhân viên đang làm việc khoảng 70.000 người trong

đó có trình độ đại học trở lên khoảng 3.500 người, công nhân có tay nghề bậc

5-7 có 5.65-75 người, thợ hàn đạt tiêu chuẩn quốc tế có 425-7 người Tổng tài sản đã tăng đến 40.000 tỷ đồng

(Nguồn: Kế hoạch đầu tư các ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu của VINASHIN tại hội nghị đánh giá chiến lược phát triển ngành Cơ khí 8/12/2007)

Một số Nhà máy được thành lập lâu đời, có kinh nghiệm đóng mới và sửa chữa với chất lượng tương đối tốt như Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Nhà máy đóng tàu Hạ long, Nhà máy sửa chữa tàu biển Phà rừng, Nhà máy đóng tàu Bến Kiền, Nhà máy đóng tàu Sông cấm tuy nhiên cần phải đầu tư thêm trang thiết

bị, cơ sở hạ tầng để đáp ứng được nhu cầu của thị trường hiện tại và đón bắt được những thời cơ phát triển trong tương lai

Bên cạnh đó đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề còn thiếu, thời gian gần đây ngành đóng tàu và nhất là Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã chú trọng việc đào tạo và bổ sung đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề và trong một vài năm tới sẽ khắc phục sự thiếu hụt lao động

Tổng công ty công nghiệp tầu thuỷ đã xây dựng rất nhiều dự án đầu tư tăng cường năng lực là để khắc phục các hạn chế và yếu kém, tăng cường khả năng cạnh tranh, nhằm phát triển ngành đóng tầu Việt Nam một ngành đầy tiềm năng

và hứa hẹn và cũng là một trong những sản phẩm trọng điểm của nước nhà

2.2.2 Dự báo nhu cầu đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ của Bộ GTVT

- Nhu cầu vận tải trong nước:

Là một đất nước có lợi thế về giao thông trên biển cũng như hệ thống sông nội địa, từ lâu đã được khai thác, ngành vận tải cần có một đội tầu rất lớn để phục vụ cho việc chuyên chở người, phục vụ du lịch, vận chuyển hàng hoá, vật

tư, vật liệu, phục vụ dân sinh cũng như xây dựng đất nước và xuất khẩu Trước đây, ngoài những phương tiện nhỏ tự đóng, còn lại đều phải mua của nước ngoài, chưa kể các đội vận tải khép kín của các ngành như: xi măng, điện than,

Trang 29

Bảng 2 Dự báo khối lượng vận tải đường biển và đường sông

- Đường sông

Triệu tấn

Triệu tấn Triệu tấn Triệu tấn Triệu tấn Triệu tấn

49,37

3,37 46,00 9,20 36,80 24,70

177,00

18,00159,0063,0096,0063,40Vận tải hành khách Đường biển

Đường sông

Triệu HK Triệu HK

1,70 133,50

3,70206,30

Bảng 3 Dự báo số lượng của đội tầu

tính Năm 2005 Năm 2010

Tầu vận tải hàng hoá - Tầu biển xa

-Tầu ven biển(tầu trọng tải dưới10.000T)

-Tầu sông Trọng tải Công suất

Triệu tấn Triệu tấn

Triệu tấn Triệu tấn Triệu cv

1,30 0,10

0,40 0,80 0,16

9,00 1,600

2,00 2,10 0,420

Tầu chở khách -Tầu khách sông

-Tầu khách biển

Số ghế

Số ghế

0,30 0,02

0,40 0,200

- Nhu cầu vận tải viễn dương

Nước ta hiện nay có hơn mười doanh nghiệp vận tải viễn dương phục vụ cho xuất nhập khẩu, chở hàng thuê Đội ngũ vận tải này từ trước tới nay đều đóng mới

Trang 30

hoặc mua tầu cũ của nước ngoài về để khai thác Nhu cầu đóng tầu theo đơn đặt hàng của nước ngoài đang được thực hiện và có chiều hướng phát triển

Dự báo đến năm 2010 vận tải đường thuỷ nội địa tăng 6,8% và đạt 62 triệu tấn/ năm; vận tải biển (ven biển, xuất nhập khẩu) tăng bình quân 10%/ năm và đạt 140-145 triệu tấn/ năm; đến năm 2020 khối lượng vận tải trên tăng 1,5-2 lần

so với năm 2010, như vậy đội tầu vận tải cũng phải được phát triển tương xứng

Bảng 4 Dự báo nhu cầu đóng mới bổ sung, sửa chữa đến năm 2010

Chủng loại tầu Đóng mới

(chiếc)

Sửa chữa (lượt/chiếc)

Tầu biển 1,000-1000000 DWT 270 2.548

Phương tiện vận tải thuỷ nội địa 2.400 13.107

Tầu công trình (tầu nạo vét, cần

trục nổi, tầu dịch vụ dầu khí )

410 4.380

Tầu khách, tầu du lịch>100 chỗ 876 7.500 Tầu đánh bắt hải sản>100CV 1.500 2.050

2.2.3 Thị trường trong và ngoài nước của ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam

Qua điều tra khảo sát thấy, hiện nay công nghệ đóng tầu trong nước đã chế tạo được các loại tầu có chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế như tầu chở hàng 6.500 đến 53.000 DWT, các loại tầu cao tốc 30 hải lý/h Tổng công ty cũng đang triển khai đóng các loại tầu chở dầu 13.000 DWT, tầu chở Container 1060TEU

và có kế hoạch đóng các loại tầu PaNamax 50.000DWT- 70.000DWT và các loại tầu chở dầu thô, cỡ Aframax 100.000 DWT

Đặc biệt thời gian qua Tổng công ty đã đóng và xuất khẩu thành công chiếc tầu hút bùn 1000m³/h đầu tiên được chủ tầu đánh giá cao và tiếp tục thi công 2 chiếc tầu hút bùn 1.500 m³/h Bên cạnh đó, Công ty liên doanh Hyundai- Vinashin là nhà máy sửa chữa tầu biển lớn nhất khu vực Đông Nam Á trong thời gian qua đã sửa chữa rất nhiều loại tầu của các chủ tầu quốc tế với giá trị sửa chữa lớn, doanh thu khoảng 70 triệu USD/ năm

Tổng công ty công nghiệp tầu thuỷ đã:

Trang 31

- Hợp tác với Nhật Bản trong công tác thiết kế và cấp thiết bị đồng bộ loạt tầu chở hàng 6.500 tấn; 11.500 tấn; 22.500 tấn cho các chủ tầu trong và ngoài nước

- Ký hợp đồng đóng thêm 07 tầu chở hàng 53.000DWT cho chủ tầu Anh, nâng tổng số tầu được ký kết lên 17 chiếc

- Ký thoả thuận đóng mới 02 tầu container 1.700 TEU cho chủ tầu Đức, 02 tầu chở hàng 6.390 tấn xuất khẩu cho chủ tầu Nhật Bản; 08 tầu chở hàng rời 32.000DWT cho chủ tầu Anh

- Tiếp tục đàm phán với các chủ tầu Hy Lạp đóng các loại tầu chở hàng 6.500 DWT và tầu hàng 12.500 DWT; với Chủ tầu GOTLAN Thuỵ Điển đóng mới tầu dầu 13.500 tấn; với chủ tầu Noma Nhật Bản để đóng tầu 10.500DWT; với chủ tầu KANEMASU Nhật Bản về hợp đồng đóng mới 03 tầu hàng 14.000 DWT

Có thể nói Công nghiệp đóng tầu Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế của mình đối với thị trường trong nước và quốc tế

a/ Thị trường trong nước

Thị trường trong nước đang có nhu cầu các loại tầu sau:

- Các loại tầu chở dầu và tầu chở khí hoá lỏng LPG có công suất từ 3000 đến 30.000DWT cho các công ty vận tải dầu khí thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam

- Các loại tầu chở dầu thô cỡ 100.000DWT cho Tổng công ty dầu khí Việt Nam

- Các loại tầu chở xi măng cỡ từ 10.000DWT đến 25.000DWT cho Tổng công ty xi măng Việt Nam

- Các loại tầu chở quặng cỡ từ 5.000 đến 20.000DWT cho Tổng công ty than và các công ty vận tải

- Các loại tầu chở hàng có công suất từ 5.000 đến 30.000 DWT cho các công ty vận tải trong nước như Công ty vận tải biển Việt Nam, Tổng công ty hàng hải Việt Nam

- Các loại tầu hút bùn có công suất 1.000m³/h đến 5.000m³/h cho các Công

ty công trình thuỷ

- Các loại tầu đánh bắt và chế biến hải sản

Trang 32

- Các loại tầu chở khách cao tốc

- Các loại tầu tuần tra cao tốc

- Các loại tầu hút bùn có công suất trên 3.000m³/h đến 4.000m³/h, tầu dầu

có trọng tải từ 30.000 đến 80.000DWT, tầu chở khí hoá lỏng cho các nước Trung Đông, kết cấu thép, phương tiện nổi phục vụ thăm dò và khai thác dầu khí

- Sửa chữa các loại tầu cỡ lớn quốc tế từ 80.000 đến 400.000 DWT đến tải trọng lớn nhất cập cảng Việt Nam

- Gia công các phân đoạn vỏ tầu cho các nước có công nghệ đóng tầu tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ba Lan, Đức

2.2.4 Chương trình hợp tác sản xuất, nội địa hoá sản phẩm

Cơ khí tầu thuỷ cũng như nhiều ngành công nghiệp khác đang đứng trước vận hội thực thi chương trình CNH-HĐH đất nước, nhưng đồng thời cũng đứng trước những thách thức to lớn trong bối cảnh bắt buộc vào cuộc chơi hội nhập kinh tế quốc tế, do đó đầu tư phát triển công nghiệp tầu thuỷ cũng không thể chỉ tính toán để tách biệt đi lên mà cần thiết phải tính đến sự hợp tác chung của ngành cơ khí trong nước Đó là một trong những vấn đề mấu chốt tồn tại khách quan ngoài ý muốn của mỗi phân ngành cơ khí chúng ta

Để chủ động trong quá trình phát triển ngành công nghiệp tầu thuỷ Việt Nam, VINASHIN đã thực hiện lộ trình nội địa hoá bao gồm các dự án chính đến

2010 như sau:

Trang 33

• Chương trình đầu tư nguồn nhân lực hình thành trình độ thiết kế và

khoa học công nghệ tiên tiến

Để thực hiện những đơn đặt hàng với chủ tầu trong và ngoài nước, ngành đóng tầu đã chủ động xây dựng và có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc tại Viện khoa học công nghệ, Trung tâm thí nghiệm quốc gia và các doanh nghiệp đóng tầu trong cả nước sử dụng thành thạo phần mền thiết kế Autoship, Trebon, công nghệ thi công, lắp ráp áp dụng kỹ thuật hiện đại của Nhật Bản, Hàn Quốc trong đóng mới và sửa chữa tầu thuỷ Tuy nhiên công tác thiết kế mới được hình thành và phát triển nên một số thiết kế và công nghệ chế tạo các loại tầu cỡ lớn, hiện đại vẫn cần sự hợp tác với các công ty thiết kế nước ngoài để mua thiết kế cũng như chuyển giao công nghệ chế tạo, để từ đó tích luỹ kinh nghiệm, từng bước nắm bắt và tự triển khai thiết kế, chỉ đạo thi công từ khâu chuẩn bị mặt bằng, xây dựng qui trình công nghệ, đưa những công nghệ tiên tiến vào các công đoạn từ khâu phóng dạng, hạ liệu, tổ hợp lắp ráp thân, vỏ tầu, lắp phần động lực, bộ phận điều khiển, trang trí nội thất, tiến tới nội địa hoá 60-70%

• Chương trình sản xuất vật liệu và trang thiết bị

- Đầu tư chiều sâu: Nhằm tạo năng lực đóng mới các con tầu viễn dương có tải trọng trên 53.000 tấn, tại một số nhà máy đóng tầu tại Hải Phòng- Quảng Ninh đã đầu tư sản xuất dây hàn chất lượng cao, máy công cụ thế hệ mới

- Xây dựng nhà máy cán thép tấm đóng tầu: Để chủ động trong hoạt động sản xuất, ngành đóng tầu cần có kế hoạch hợp tác xây dựng nhà máy cán thép tấm cung cấp thép đóng tầu vì đây là nguồn cung cấp vật tư chủ yếu, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, tiến độ thi công công trình

- Đầu tư nhà máy lắp ráp động cơ thuỷ có công suất lớn: Hiện nay thiết bị động lực ngành đóng tầu chủ yếu vẫn nhập ngoại Ngành công nghiệp tầu thuỷ

đã thực hiện chương trình lắp ráp động cơ từ 300CV-30.000CV và đã xây dựng

lộ trình sản xuất các linh kiện, phụ kiện với mục tiêu nội địa hoá 30%

Các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam hiện có năng lực tham gia hợp tác sản xuất các bộ phận khác nhau của công nghiệp đóng tầu thuỷ:

- Chế tạo các chi tiết cơ khí như sản phẩm qui chế, thiết bị phi tiêu chuẩn

- Cung cấp vật liệu sơn: các nhà máy trong nước cung cấp được 60%, còn lại một số hoá chất, sơn đặc dụng vẫn phải nhập ngoại

Trang 34

- Cung cấp thiết bị điện: Trong nước có thể cung cấp cho ngành đóng tầu tới 50% từ sản phẩm của các Công ty:

+ Công ty CADIVI Bộ Công Thương

+ Công ty động cơ điện Việt Nam –Hungary

+ Cung cấp tủ bảng điện Công ty LG- VINA

+ Công ty thiết bị điện Đông Anh, các công ty cơ khí của Bộ quốc phòng

- Cung cấp các trang thiết bị phụ (máy neo, máy lái, hệ thống bốc xếp dỡ hàng, hệ thống nắp hầm hàng), thiết bị thuỷ lực, hệ thống cứu sinh (xuồng cứu sinh người và tầu dầu), thiết bị nội thất: các doanh nghiệp trong nước đủ khả năng thực hiện

+ Chế tạo thiết bị tời neo, cẩu trên tầu (về cơ khí) có các nhà máy sau:

• Nhà máy cơ khí Quang Trung, Ninh Bình

• Công ty cổ phần FORMACH

• Công ty cổ phần Hồng Nam

• Công ty LISEMCO -Tổng công ty LILAMA

• Liên doanh HAVICO

• Công ty cơ khí và xây lắp số 7 cung cấp các chi tiết đúc: neo tầu

• Công ty cơ khí, xây dựng và lắp máy điện nước: neo tầu, cần cẩu

• Nhà máy đúc thép của Công ty gang thép Thái Nguyên, Công ty thép Miền Nam, một số Nhà máy quốc phòng

+ Chế tạo thiết bị thuỷ lực:

• Bơm thuỷ lực và các loại tê, cút nối:

Nhà máy chế tạo Bơm Hải Dương và các Liên doanh

• Xi lanh: Tổng công ty cơ khí nông nghiệp thuỷ lợi, cơ khí quốc phòng

Nhận xét: Trên đây chúng tôi đã phân tích về các dự án, các công trình của

Tổng công ty công nghiệp tầu thuỷ Việt Nam, và thấy rằng: Ngành cơ khí đóng tầu thủy đã có bước nhảy vọt, đánh dấu bằng khả năng đóng mới xuất khẩu được các loại tầu có trọng tải 53.000T, đã triển khai đóng các loại tầu có trọng tải trên 100.000T và chuẩn bị đóng tầu trên 300.000T Sản phẩm tầu biển Việt Nam đã xuất khẩu sang Nhật Bản, Đức… năng lực thiết kế, năng lực công nghệ và thiết

bị, năng lực và quản lý và điều hành của ngành công nghiệp tầu thuỷ được đổi

Trang 35

mới và nâng cao Đặc biệt, Tổng công ty công nghiệp tầu thuỷ Việt Nam đã lắp ráp và hạ thủy thành công tầu container 1.700 TEU; đóng và đưa vào khai thác

ụ nổi 8.500 tấn, đóng thành công tầu khách cao tốc 200 ghế ngồi, tầu chở dầu 13.500T, tầu chờ khí hoá lỏng LPG 2.500m3 Trong mấy năm gần đây; tình hình thị trường đóng tầu thế giới có nhiều biến động, nhu cầu đóng tầu bùng nổ đã tạo một cơ hội và thách thức mới với ngành công nghiệp tầu thuỷ Việt Nam Để đáp ứng nhu cầu mới đó và để khẳng định được năng lực của ngành, Tổng công

ty Công nghiệp tầu thuỷ Việt Nam đang trình Thủ tướng Chính phủ “Đề án điều chỉnh phát triển Tổng công ty công nghiệp tầu thuỷ Việt Nam đến năm 2010, định hướng phát triển đến năm 2020 để thực hiện chiến lược xuất khẩu và tăng

tỷ lệ nội địa hoá” Theo đó, đến năm 2010, VINASHIN có thể đóng được tầu trên 300.000 tấn và từ nay đến năm 2010 phấn đấu xuất khẩu đạt giá trị 1,0 tỷ USD, sau 2010 mỗi năm xuất khẩu 1 tỷ USD, sản xuất lắp ráp động cơ Diesel công suất đến 24.000 HP và tăng tỷ lệ nội địa hoá đạt 70%

Công nghiệp tầu thuỷ Việt Nam đã có vị thế trên thị trường khu vực, vươn từ

vị trí thứ 11 năm 2005 trong số các nước đóng tầu vận tải lên thứ 7 năm 2006 và phấn đấu trở thành quốc gia đóng tầu thứ 4 trên thế giới sau năm 2015

Trong khoảng 10 năm qua, giá trị tổng sản lượng và tổng doanh thu của VINASHIN liên tục tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 30% Năm 2000, chỉ tính riêng VINASHIN, tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.271 tỷ đồng (doanh thu 1.010 tỷ đồng), năm 2006 đạt 17.549 tỷ đồng, tương đương hơn 1 tỷ USD (doanh thu 11.476 tỷ đồng), năm 2007 sản lượng vượt 1,5 tỷ USD Tỷ lệ nội địa hóa đạt khoảng 60% Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005 là 15 triệu USD, năm 2006 là 33 triệu USD, năm 2007 khoảng 195 triệu USD

Tuy nhiên ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ đóng tầu hiện nay chúng ta còn rất yếu và coi như chưa có Hầu hết toàn bộ máy móc, vật tư đóng tầu đều phải nhập khẩu dẫn đến khả năng cạnh tranh của ngành cơ khí đóng tầu thủy Việt nam chưa cao, giá trị gia tăng trong sản phẩm đóng tầu không lớn ( khoảng 30% giá trị con tầu) Ngành công nghiệp đóng tầu Việt Nam không thể tiến xa hơn nếu các ngành công nghiệp phụ trợ không được phát triển

2.3 Cơ khí ô tô - cơ khí giao thông vận tải

Công nghiệp ôtô là một ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Một số nước có nền kinh tế phát triển và đang phát triển trên thế giới và trong khu vực đều xem ngành này như một ngành mũi nhọn, cần được ưu tiên, đầu tư phát triển

Trang 36

Công nghiệp ôtô Việt Nam mới hình thành hơn 10 năm trở lại đây kể từ năm 1991, khi hai liên doanh vào Việt Nam Chúng tôi sẽ sơ bộ giới thiệu về tình hình hoạt động của hai loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước

2.3.1 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI

Đến nay, ở Việt Nam có hơn mười liên doanh FDI trong lĩnh vực sản xuất

và lắp ráp ôtô đang hoạt động (bắt đầu bằng 2 liên doanh ôtô MEKONG và VMC ra đời 1991) Có thể liệt kê ra đây các doanh nghiệp như sau: Cty ôtô ISUZU VN, Cty ôtô MEKONG, Cty ôtô VN Daewoo, LDSX ôtô Ngôi sao, Cty

LD Mercedes-Benz VN, Cty LD Daihatsu –Vieindo, Cty LD VN- Suzuki, Cty

LD Toyota VN, Cty LD Ford VN, Cty LD Hino Motors VN

Cho đến nay, tại Việt Nam có 02 loại hình doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ôtô: 14 doanh nghiệp FDI và hơn 35 doanh nghiệp trong nước (xem Phụ lục 3, 4)

Theo mô hình công suất lắp ráp theo thiết kế của riêng 34 doanh nghiệp đã được kiểm tra, hậu kiểm, trong đó có 25 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe tải và

18 doanh nghiệp lắp ráp xe khách đã cho thấy sản lượng theo công suất thiết kế của 2 chủng loại xe trên khoảng 54.000 xe khách và 125.000 xe tải các loại, vượt so với nhu cầu hiện tại và có thể đáp ứng sản lượng tiêu thụ dự kiến của quy hoạch vào năm 2010 (36.000 xe khách và 127.000 xe tải các loại)

Về tình hình sản xuất kinh doanh của các liên doanh trên có thể nhận xét như sau:

a/ Các kết quả đạt được

Nhờ những chính sách khuyến kích đầu tư chúng ta đã thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Sự hoạt động của các doanh nghiệp này đã cung cấp cho thị trường Việt Nam từ năm 2004, 2005, 2006, 2007 mỗi năm hàng trăm ngàn xe ô tô các loại, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động và tăng trưởng bình quân các năm trên 45%, mỗi năm nộp vào ngân sách hàng trăm triệu đô la Điều quan trọng hơn là đã tạo tiền đề để hình thành ở Việt Nam một nền công nghiệp ô tô Trong giai đoạn đầu tiên, do đầu tư lớn nhưng thị trường ô tô của Việt Nam nhỏ nên nhiều doanh nghiệp thua lỗ, tuy

nhiên trong thời gian gần đây các doanh nghiệp đã bắt đầu có lãi

Về mặt chất lượng, một số doanh nghiệp liên doanh đã được chứng nhận hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000 về quản lý chất lượng hoặc tương

Trang 37

đương với ISO 9001-2000 là TQM, QS 9000 như: TOYOTA (TQM), Ford (QS 9000), Vina Star Motor (ISO 9001-2000), Mercedes Benz (ISO 9001-2000) v.v Về môi trường cũng có khá nhiều liên doanh với nước ngoài đã được các tổ chức quốc tế và khu vực cấp chứng chỉ ISO 14000 như Ford VietNam, Toyota VietNam, Vindaco GM, VMC (vietNam motor Cop) Tuy nhiên vẫn còn có một

số doanh nghiệp FDI chưa đạt được các yêu cầu để được cấp chứng chỉ tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng và môi trường trên

Để phù hợp với sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô, chúng ta đã có trên 120 tiêu chuẩn Nhà nước và khoảng trên 80 tiêu chuẩn ngành (chủ yếu do

Bộ Công nghiệp và Bộ Giao thông vận tải ban hành) liên quan đến “Phương tiện giao thông đường bộ” trong đó gần 90% liên quan đến ôtô Một số ít các tiêu

chuẩn thuật ngữ định nghĩa, chi tiết, phụ tùng, số lớn là các hệ thống lái, phanh, chiếu sáng tín hiệu, âm thanh an toàn và môi trường v.v…Đặc biệt, đối với nhóm này, song song với dùng tài liệu ISO, tài liệu kỹ thuật Châu Âu (ECE) là tài liệu được dùng rất quan trọng thống nhất chung, đặc biệt trong giai đoạn thị trường mở hiện nay

Các tài liệu này đã tạo thành 01 bộ tài liệu khá đầy đủ và đã đáp ứng bước đầu việc quản lý chất lượng và kiểm tra chất lượng sản phẩm được sản xuất ra

b/ Các mặt chưa được

- Về sản phẩm: Hầu hết các loại ôtô của các liên doanh FDI đưa vào thị

trường Việt Nam, đều là các loại xe cao cấp, đắt tiền, sang trọng (vì đang được bảo hộ mạnh qua thuế) chỉ phù hợp với mức sống và thu nhập cao, cùng với điều kiện đường xá của các nước công nghiệp tiên tiến, mà đối tượng khách hàng chủ yếu là các cơ quan Nhà nước được mua xe từ nguồn ngân sách Nhà nước, các cơ quan và doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân, hoặc một số ít cá nhân có thu nhập cao, do đó chưa phù hợp với mức sống chung và hạ tầng cơ sở của Việt Nam

Mặc dù sản lượng xe sản xuất lắp ráp ở Việt Nam rất nhỏ kể cả năm 2003

là năm sản xuất có sản lượng khá lớn mới chỉ đạt 42.000 xe, nhưng số chủng loại xe, mẫu mã xe lại quá nhiều (50 loại xe thuộc 14 nhà sản xuất ôtô khác nhau trên thế giới)

Có loại xe chỉ sản xuất và ra đời vài ngàn, thậm chí vài trăm cái, đã ngừng sản xuất, để đưa ra loại xe mới khác Điều này làm phong phú thêm sản phẩm

Trang 38

cho khách hàng lựa chọn, nhưng làm cho số lượng xe quá nhỏ, khó tăng tỷ lệ nội địa hóa, khó có nhà cung cấp nào đáp ứng được

Việc cung cấp phụ tùng, linh kiện trở nên khó khăn vì hoàn toàn nhập ngoại, khách hàng dùng xe phải chịu mua phụ tùng thay thế bảo hành dưỡng xe với giá đắt

- Về thiết bị công nghệ:

Hầu hết các doanh nghiệp FDI về ôtô chỉ mới thực hiện phương thức lắp ráp CKD1 và CKD2 và đầu tư các dây chuyền công nghệ giống nhau, cho 3 công đoạn, với các dây chuyền sản xuất là:

+ Hàn, tất cả các doanh nghiệp là hàn tay, không có doanh nghiệp nào có người máy hàn

+ Tẩy rửa, sơn, (trong đó chỉ có một vài cơ sở trang bị dây chuyền sơn điện

ly như Toyota, Ford, Vinastar)

+ Lắp ráp và thiết bị kiểm tra cùng hệ thống đường thử

Riêng Toyota Việt Nam có thêm một phân xưởng dập một số tấm cạnh thân xe của một số loại xe tuy nhiên theo chúng tôi khảo sát thì thiết bị này quá lạc hậu so với thế giới, và sự hoạt động của thiết bị là không hiệu quả vì số lượng xe sản xuất một năm là quá thấp

- Về khai thác năng lực sản xuất:

Khai thác công suất của các cơ sở sản xuất của các liên doanh mới đạt trung bình khoảng (20-30)% so với công suất thiết kế Tỉ lệ này rất thấp so với đầu tư ban đầu của nhà sản xuất

Các thiếu sót là do các nguyên nhân:

- Về cơ chế chính sách: còn hạn chế, thiếu đồng bộ, biểu thuế nhập khẩu

hiện nay chưa đủ sức hấp dẫn các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng ôtô đầu tư vào việc làm và chưa căn cứ vào tính tỷ lệ nội địa hoá thực hiện Một số chính sách đã không còn phù hợp với yêu cầu thực tế như: quản lý hạn ngạch nhập khẩu, không có sự phân biệt giữa mức thuế nhập khẩu linh kiện để sản xuất cụm linh kiện, phụ tùng ôtô với phụ tùng hoàn chỉnh cho sửa chữa thay thế; việc cho nhập ôtô đã qua sử dụng

- Về cơ chế quản lý: theo qui định hiện hành, sau khi được cấp giấy phép,

các liên doanh đi vào hoạt động, các liên doanh này chỉ báo cáo hàng năm với

Trang 39

Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê và Vụ Quản lý dự án đầu tư nước ngoài (Bộ KHĐT) mà không có trách nhiệm báo cáo với Bộ Công Thương

- Về cơ cấu góp vốn liên doanh: Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp Việt

Nam tham gia liên doanh với các đối tác nước ngoài đều góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo tỷ lệ Việt Nam là 30%, phía nước ngoài 70% Tỷ lệ chênh lệch này đã hạn chế phía Việt Nam trong việc tham gia quyết định các chủ trương quan trọng về các hoạt động sản xuất kinh doanh của liên doanh

- Có nhiều nhà sản xuất lắp ráp ôtô với quá nhiều loại xe và nhãn mác khác nhau, lại được bảo hộ quá cao, đặc biệt là các loại xe dưới 12 chỗ Thị phần của mỗi nhà sản xuất quá nhỏ, do đó khó thực hiện chương trình nội địa hoá

2.3.2 Hiện trạng của các Công ty trong nước

a/ Tình hình hoạt động của một số doanh nghiệp chính trong nước

Hiện trong nước có hơn 30 doanh nghiệp (cả tư nhân) tham gia sản xuất lắp ráp ôtô mà chủ yếu là xe khách các loại, xe tải nhẹ và vừa với tổng công suất khoảng 220.000 xe/năm/ca, một số rất ít lắp ráp một số loại xe chuyên dùng Trong một hai năm trở lại đây nhìn chung sản lượng thực tế của các doanh nghiệp trong nước chế tạo khoảng 10.000 xe/ năm các loại tuỳ theo nhu cầu thực

là VEAM và Vinamotor) và Tổng Công ty Cơ khí Giao thông Sài gòn (Samco) Hiện nay có khoảng 45 dự án sản xuất, lắp ráp xe ôtô phổ thông và chuyên dùng có nhu cầu lớn ở thị trường nội địa được các doanh nghiệp đang triển khai hoặc xây dựng chờ Chính phủ phê duyệt Các dự án này có chế tạo khung bệ, sát xi, vỏ xe của một số loại ôtô tải, ôtô khách (ViNamotor); hai dự án Liên doanh với nước ngoài sản xuất lắp ráp một số loại xe tải và khách thông dụng, dự án sản xuất động cơ điezen từ (100-400) mã lực tại Công ty Diezen Sông Công, dự án xây dựng nhà máy lắp ráp ôtô tải nhỏ và ôtô thông dụng tại Thanh Hoá (VEAM) v.v

Trang 40

2.3.3 Hiện trạng về nội địa hoá trong công nghiệp ôtô

Theo Thông tư số 215 ngày 8/2/1995 của UBNN về hợp tác và đầu tư (nay

là Bộ KH & ĐT) và cũng được các liên doanh FDI cam kết thực hiện (trong các

dự án xin giấy phép đầu tư liên doanh sản xuất ôtô ở Việt Nam) là: “Chậm nhất

là từ năm thứ năm kể từ khi bắt đầu sản xuất, phải sử dụng linh kiện, phụ tùng sản xuất tại Việt Nam với tỷ lệ ít nhất là 5% giá trị xe và sẽ tăng dần theo từng năm để đến năm thứ 10 đạt tỷ lệ ít nhất 30% giá trị xe”

Tuy nhiên, mặc dù với cam kết như trên, nhưng thực tế việc thực hiện nội địa hóa rất chậm chạp và ít triển vọng Tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp FDI sản xuất xe con mới đạt cao nhất là 20%, thấp nhất là 2%, chủ yếu là hàn, sơn khung vỏ, sát xi và số ít phụ tùng đơn giản Lý do không thực hiện được các mục tiêu về nội địa hóa mà các liên doanh đưa ra là: thị trường ôtô Việt Nam nhỏ bé, thị phần quá nhỏ, vì quá nhiều nhà sản xuất, vì xe đã qua sử dụng vẫn được nhập…

Bức tranh chung về tình hình nội địa hóa trong công nghiệp ôtô Việt Nam

có thể mô tả như sau:

- Tỉ lệ nội địa hóa các doanh nghiệp FDI rất thấp Đối với xe con, chỉ đạt cao nhất khoảng 10% giá trị của xe, trong đó hầu hết sử dụng các chi tiết, phụ tùng đơn giản, chi phí đầu tư thấp, với qui mô sản lượng quá thấp: đặc trưng chủ yếu của nội địa hoá là hàn lắp khung xe, xử lý và sơn các loại (sơn tĩnh điện, sơn sấy v.v…); một số săm lốp, vành bánh, và bình điện; một số ít khung ghế và đệm ngồi; dụng cụ đồ nghề sửa chữa, một số nệm da, thảm lót, một số dây điện của Cattsete, ăng ten v.v

- Đối với các loại ôtô chở khách đến 25 chỗ ngồi và ôtô tải nhẹ, tỉ lệ nội địa hóa đạt khoảng 10% đến 20% song mới dừng ở sử dụng các loại phụ tùng, chi tiết đơn giản, có công nghệ thấp mà đặc trưng chủ yếu vẫn là công nghệ sơn sấy thân vỏ xe hoặc nhập nguyên vỏ xe đã sơn tĩnh điện, hàn nối khung giản đơn, chế tạo thùng vỏ, một số sử dụng phần nội thất trong nước, (ghế, đệm, thảm lót), bình điện v.v…

- Đối với các xe khách từ 25 chỗ ngồi trở lên, mức nội địa hoá đạt cao hơn,

có thể lên đến 25-35% giá trị xe như các doanh nghiệp công bố Ngoài các cụm,

bộ phận chi tiết nội địa hóa như của hai loại xe trên, các doanh nghiệp mới bắt đầu chế tạo một phần vỏ xe (từ cuối tháng 12 năm 2002) bằng thiết bị công nghệ dập tấm vỏ hiện đại; chế tạo một phần khung xe, khung xát xi bằng thiết bị chuyên dùng nhập đồng bộ từ nước ngoài (Công ty ôtô 1.5 – Tổng Công ty

Ngày đăng: 15/05/2014, 13:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Dự báo số lượng của đội tầu - Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ  đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình việt nam hội nhập WTO
Bảng 3. Dự báo số lượng của đội tầu (Trang 29)
Bảng 2. Dự báo khối lượng vận tải đường biển và đường sông - Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ  đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình việt nam hội nhập WTO
Bảng 2. Dự báo khối lượng vận tải đường biển và đường sông (Trang 29)
Bảng 10. Sơ lược nhu cầu máy điện quay của thị trường nội địa - Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ  đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình việt nam hội nhập WTO
Bảng 10. Sơ lược nhu cầu máy điện quay của thị trường nội địa (Trang 49)
Bảng 1. Sản lượng một số sản phẩm cơ khí chủ yếu của Việt Nam - Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ  đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình việt nam hội nhập WTO
Bảng 1. Sản lượng một số sản phẩm cơ khí chủ yếu của Việt Nam (Trang 78)
Bảng 2: Vị trí của sản phẩm cơ khí Việt Nam trên thị trường thế giới - Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ  đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình việt nam hội nhập WTO
Bảng 2 Vị trí của sản phẩm cơ khí Việt Nam trên thị trường thế giới (Trang 79)
Bảng 3: Sản lượng một số sản phẩm cơ khí chủ yếu - Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ  đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình việt nam hội nhập WTO
Bảng 3 Sản lượng một số sản phẩm cơ khí chủ yếu (Trang 80)
Bảng 5: Số lao động của một số DN lớn trong năm 2005, 2006 - Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ  đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình việt nam hội nhập WTO
Bảng 5 Số lao động của một số DN lớn trong năm 2005, 2006 (Trang 82)
Bảng 4: Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 và 2006 của một số doanh - Điều tra, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của chính phủ  đề xuất giải pháp phát triển phù hợp trong quá trình việt nam hội nhập WTO
Bảng 4 Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 và 2006 của một số doanh (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w