1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.

24 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Liên hệ thực tiễn học tập của bản thân.
Tác giả Vũ Thị Hoa
Người hướng dẫn Vũ Phú Dưỡng
Trường học Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 83,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN.TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN TÊN TIỂU LUẬN Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN

TÊN TIỂU LUẬN

Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN LIÊN

HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN

Trang 2

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn chủ đề 4

2 Nhiệm vụ đề tài 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 5

5 Kết cấu của tiểu luận 5

PHẦN NỘI DUNG I CHƯƠNG 1 : Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 1 Khái niệm mối liên hệ 5

1.1 Khái niệm liên hệ 5

1.2 Khái niệm mối liên hệ 6

1.3 Nguyên lý về mối liên hệ 7

2 Tính chất của mối liên hệ 8

2.1 Tính khách quan 8

2.2 Tính phổ biến 9

2.3 Tính đa dạng, phong phú 10

2.4 Mối liên hệ phổ biến có tính cụ thể và điều kiện 11

3 Nguyên tắc toàn diện 12

4 Nguyên lý về sự phát triển 13

4.1 Khái niệm 13

4.2 Tính chất 13

4.3 Nội dung của nguyên lý về sự phát triển 14

4.4 Ý nghĩa phương pháp luận 14

4.5 Ý nghĩa quan điểm phát triển 14

5 Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 14

5.1 Quan điểm toàn diện 14

5.2 Quan điềm lịch sử 17

II CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN Nội dung liên hệ thực tiễn 20

PHẦN KẾT LUẬN 23

PHẦN CAM ĐOAN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 3

GỬI GIÁO VIÊN PHỤ TRÁCH GÓP Ý KIẾN

Họ và tên sinh viên: VŨ THỊ HOA

Tên tiểu luận: Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu nguyên lý về mối

liên hệ phổ biến Liên hệ thực tiễn học tập của bản thân

Đề tài tiểu luận được lấy từ nguồn: Theo yêu cầu của thầy Vũ Phú Dưỡng chia theo

từng nhóm làm bài tiểu luận

Kết cấu phần nội dung:

I Chương 1: Phân tích ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu nguyên lý về

mối liên hệ phổ biến

II Chương 2 : Liên hệ thực tiễn học tập của bản thân

Trang 4

tố trong chính bản thân nó Ngoài sự tác động của tự nhiên như các sự vật khác còntiếp nhận sự tác động của xã hội và của những người khác Chính con người và chỉ

có con người mới có thể tiếp nhận vô vàn mối quan hệ đó Vấn đề là con ngườiphải hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình giải quyếtcác mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích của xã hội và của bản thân

Sự vật, hiện tượng, nhận thức và tư duy con người có quan hệ như thế nào với thếgiới xung quanh ? Con người có khả năng nhận thức được thế giới hiện thực haykhông ? Mà khi con người nhận thức được thế giới xung quanh thì việc vận dụngcác hiểu biết đó vào thực tiễn như thế nào ? Để giải đáp được những câu hỏi đó,trong suốt quá trình hình thành của thế giới qua từng giai đoạn của lịch sử và trongtừng hoạt động thực tiễn củacon người, đã chứng minh được ta không thể phủ nhậnđược những mối ràng buộc về sự vật, hiện tượng, nhận thức và tư duy của conngười trên thế giới Chúng không tồn tại độc lập, ngẫu nhiên bên ngoài mà tồn tạitrong sự ràng buộc, quy định, liên kết và chuyển hóa lẫn nhau

Trong triết học Mác - Lênin, phép biện chứng duy vật được coi là phương phápluận chung nhất của mọi hoạt động thực tiễn, giúp con người nhận thức được thếgiới Bởi khi nghiên cứu các quy luật phát triển phổ biến của hiện thực khách quan

và nhận thức của khoa học thì phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sởmột hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biếnphản ánh đúng đắn hiện thực.Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất Chính vì vậy, vớinhững nhận thức đúng đắn của triết học Mác - Lênin nói chung và phép biện chứng

về mối liên hệ phổ biến nói riêng, em quyết định chọn đề tài: “ Ý nghĩa phươngpháp luận của việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến ”

2.Nhiệm vụ đề tài:

Trang 5

Khái quát được khái niệm, tính chất và ý nghĩa của phép biện chứng duy vật vềmối liên hệ phổ biến.

Nêu ra các giá trị vận dụng thực tiễn của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến củaphép biện chứng duy vật

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng: khái niệm, tính chất, ý nghĩa và giá trị vận dụng của nguyên lý về mốiliên hệ phổ biến

Phạm vi nghiên cứu: nội dung cơ bản và khái quát về khái niệm, tính chất, ý nghĩa

và nêu một số ví dụ giá trị vận dụng của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

4.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Đề tài có thể làm tài liệu khoa học để đưa vào giảng dạy và nghiên cứu thế giớiquan duy vật biện chứng và phương hiện thực khách quan và nhận thức của khoahọc thì nguyên lý về mối liên hệ được xây dựng trên cơ sở một hệ thống nhữngnguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắnhiện thực.Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sựphát triển là hai nguyên lý khái quát nhất

Chính vì vậy, với những nhận thức đúng đắn của triết học Mác - Lênin nói chung

và phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến nói riêng, em quyết định chọn đề tài: “

Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu nguyên lý mối liên hệ phổ biến.”

5 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, kết cấu tiểu luận gồm

PHẦN NỘI DUNG

I CHƯƠNG 1: Ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu nguyên lý

về mối liên hệ phổ biến

1.Khái niệm mối liên hệ

1.1 Khái niệm liên hệ

Trong khi cùng tồn tại, các đối tượng luôn tương tác với nhau, qua đó thể hiện cácthuộc tính và bộc lộ bản chất bên trong, khẳng định mình là những đối tượng thựctồn Là sự quan hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhấtđịnh làm đối tượng kia thay đổi; và trong một số trường hợp có thể làm nó biếnmất, chuyển hóa thành đối tượng khác Sự tồn tại của đối tượng thể hiện sự hiệnhữu các thuộc tính của nó phụ thuộc vào các tương tác giữa nó với các đối tượngkhác, chứng tỏ rằng, đối tượng có liên hệ với các đối tượng khác Công cụ laođộng liên hệ tới đối tượng lao động: Những thay đổi của công cụ lao động luôngây ra những thay đổi xác định trong đối tượng lao động mà các công cụ đó tácđộng lên Và ngược lại, sự biến đổi của đối tượng lao động sẽ gây ra những biến

Trang 6

đổi ở các công cụ lao động Ví dụ: Ở thời kì nguyên thủy, con người chỉ có thểsăn, bắt, hái, lượm nhưng đến khi công cụ lao động như cày, cuốc xuất hiện đã tácđộng mạnh làm thay đổi đối tượng lao động là đất đai Từ đó, con người bắt đầuhoạt động trồng trọt để tạo ra sản phẩm nông nghiệp phục vụ đời sống của mình.Khi đối tượng lao động bị biến đổi như đất đai khô cằn thì công cụ lao động cũngthay đổi phù hợp như xuất hiện máy cày, máy xới để phục vụ nông nghiệp Cácsinh vật đều có liên hệ với môi trường bên ngoài: Những thay đổi của các nhân tố

vô sinh (ánh sáng, nước, nhiệt độ, độ ẩm, không khí, ) của môi trường bên ngoài

sẽ làm các sinh vật có sự thay đổi tương ứng Ví dụ: Nhiệt độ cơ thể người luôn ởmức ổn định khoảng từ 36-37,5 độ C Khi thời tiết nóng, cơ thể con người sẽ toát

mồ hôi để khi chúng bốc hơi sẽ thu nhiệt độ từ cơ thể ra môi trường ngoài làm cho

cơ thể cảm thấy mát hơn Khi gặp thời tiết lạnh sẽ có hiện tượng run người, nổi da

gà, đây là phản xạ co cơ để sinh nhiệt làm cơ thể ấm hơn

1.2 Khái niệm mối liên hệ:

Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quyđịnh và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặcgiữa các đối tượng với nhau Mối liên hệ giữa cung và cầu (hàng hóa, dịch vụ trênthị trường cùng với những yêu cầu cần đáp ứng của con người có mối quan hệ sâusắc, chặt chẽ) Chính vì thế nên cung và cầu tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, từ đótạo nên quá trình vận động, phát triển không ngừng của cung và cầu Mối liên hệgiữa các cơ quan trong cơ thể con người, giữa đồng hóa và dị hóa mối quan hệ giữacác lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, trong một quốc gia và giữa các quốc giavới nhau

Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, chỉnhững mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới hay nói cách khácmối liên hệ phổ biến được dùng với hai nghĩa cở bản đó là: dùng để chỉ tính phổbiến của các mối liên hệ; dùng để chỉ sự khái quát những mối liên hệ có tính chấtphổ biến nhất Giữa tri thức cũng có mối liên hệ phổ biến: Khi làm kiểm tra Toán,

Lý, Hóa, chúng ta phải vận dụng kiến thức Văn học để phân tích đề bài, đánh giá

đề thi Đồng thời, khi học các môn xã hội, chúng ta phải vận dụng tư duy, lôgic củacác môn tự nhiên Mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung; nguyên nhân và kết quả;nội dung và hình thức, lượng và chất, các mặt đối lập => Sự vật nào chẳng có mốiliên hệ đó, những mối liên hệ đặc thù dù đa dạng, phong phú đến đâu thì cũng chỉnằm trong những mối liên hệ phổ biến đó

Hiểu một cách khái quát thì:

+ “sự quy định” là sự lệ thuộc vào nhau giữa các sự vật (hay hiện tượng) A và B.+ “tác động qua lại” là tác động hai chiều; A tác động vào B, đồng thời B cũng tácđộng vào A

Trang 7

+ “chuyển hóa lẫn nhau” là A “biến” thành một phần hay toàn bộ B và ngược lại.

Ví dụ 1: Trong thế giới động vật thì động vật hấp thụ khí O2 và nhả khí CO2, trongkhi đó quá trình quang hợp của thực vật lại hấp thụ khí CO2 và nhả ra khí O2

Ví dụ 2: Giữa tri thức cũng có mối liên hệ phổ biến Khi chúng ta làm đề kiểm tratoán, lý, hóa, chúng ta phải vận dụng kiến thức văn học để đánh giá đề thi

Khi giải đề lý, hóa, chúng ta phải vận dụng công thức toán học để tính toán Khihọc các kiến thức về môn xã hội, chúng ta phải vận dụng phương thức tư duy lôgíccủa các môn tự nhiên

- Ngược lại, cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng khi sự thay đổi của đốitượng này không ảnh hưởng đến các đối tượng khác, không làm chúng thay đổi.Chẳng hạn, sự biến đổi các nguyên tắc đạo đức không làm quỹ đạo chuyển độngcủa trái đất thay đổi, hay những thay đổi xảy ra khi các hạt cơ bản tương tác vớinhau cũng khó nằm trong các nguyên tắc đạo đức cơ bản

- Điều này không có nghĩa là một số đối tượng luôn liên hệ, còn những đối tượngkhác lại chỉ cô lập Trong các trường hợp liên hệ xét ở trên vẫn có sự cô lập, cũngnhư ở các trường hợp cô lập vẫn có mối liên hệ qua lại Mọi đối tượng đều trongtrạng thái vừa cô lập vừa liên hệ với nhau Chúng liên hệ với nhau ở một khía cạnh

và không liên hệ với nhau ở những khía cạnh khác, trong chúng có cả những biếnđổi khiến các đối tượng khác thay đổi, lẫn những biến đổi không làm các đối tượngkhác thay đổi Như vậy, liên hệ và cô lập thống nhất với nhau mà ví dụ điển hình làquan hệ giữa cơ thể sống và môi trường Cơ thể sống gắn bó với môi trường nhưngđồng thời cũng tách biệt, có tính độc lập tương đối Một số thay đổi nhất định củamôi trường làm cơ thể sống thay đổi, nhưng có những thay đổi khác mà không làm

nó thay đổi Chỉ những biến đổi môi trường gắn với hoạt động sống của cơ thể mớilàm ảnh hưởng đến cơ thể; còn thay đổi nào không gắn với hoạt động đó thì khônggây ra sự biến đổi Như vậy, liên hệ và cô lập luôn tồn tại cùng nhau, là những mặttất yếu của mọi quan hệ cụ thể giữa các đối tượng

1.3 Nguyên lý về mối liên hệ phố biến

Quan điểm siêu hình về sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới thườngphủ định mối liên hệ tất yếu giữa các đối tượng, được phổ biến rộng rãi trong khoahọc tự nhiên rồi lan truyền sang triết học Ở Tây Âu thế kỷ XVII – XVIII, trình độcủa khoa học tự nhiên còn nhiều hạn chế, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc sưu tầmtài liệu, nghiên cứu thế giới trong sự tác động rồi từng bộ phận riêng lẻ Điều này

đã làm nảy sinh quan điểm siêu hình, qua các sự vật, hiện tượng tồn tại tách rờinhau, cái này bên cạnh cái kia, hết cái này đến cái kia, giữa chúng không có mốiliên hệ ràng buộc quy định và chuyển hóa lẫn nhau, hoặc nếu có thì đó chỉ là mốiliên hệ có tính ngẫu nhiên, bên ngoài; giới vô cơ không có mối liên hệ với giới hữu

cơ, xã hội loài người chỉ là tổng số các cá thể riêng lẻ, nhận thức cảm tính và nhận

Trang 8

thức lý tính tách rời nhau Quan điểm này dẫn thế giới quan triết học đến sai lầm

là dựng lên ranh giới giả tạo giữa các sự vật, hiện tượng, đặc biệt đối lập các nghiêncứu khoa học chuyên ngành với nhau Vì vậy, quan điểm siêu hình không có khảnăng phát hiện ra những quy luật, bản chất và tính phổ biến của sự vận động, pháttriển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới

Trái lại, quan điểm biện chứng duy vật cho rằng, các sự vật, hiện tượng của thế giớitồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập, chuyểnhóa lẫn nhau, không tách biệt nhau Đó là nội dung của nguyên lý về mối liên hệphổ biến Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có những ý sau đây:

* Một là, mối liên hệ khách quan và phổ biến:

-Tính khách quan: mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là khách quan, vốn cócủa sự vật, không do ai gắn cho sự vật

-Tính phổ biến: mối liên hệ diễn ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy

*Hai là, bản chất của sự vật được hình thành,biến đổi và bộc lộ thông qua mối liênhệ:

-Bản chất của sự vật hình thành, biến đổi không chỉ do bản thân sự vật quy định màcòn phụ thuộc vào mối liên hệ phổ biến trong đó sự vật tồn tại

-Cùng là một sự vật nhưng tồn tại trong những mối liên hệ khác nhau có nhữngbiểu hiện về bản chất khác nhau

-Bản chất của sự vật chỉ bộc lộ thông qua mối liên hệ phổ biến

-Con người nhận thức được bản chất của sự vật thông qua những hiện tượng, thôngqua khái quát hóa, chiều tượng hóa từ những hiện tượng

* Ba là, mối liên hệ mang tính đa dạng, phong phú

-Mối liên hệ rất đa dạng, phong phú Có mối liên hệ bên trong - bên ngoài, mối liên

hệ tất nhiên - ngẫu nhiên,… mỗi mối liên hệ có ví trí khác nhau, tuy nhiên có thểchuyển hoá cho nhau

2.Tính chất của mối liên hệ phổ biến.

2.1 Tính khách quan.

Phép biện chứng duy vật khẳng định tính khách quan của các mối liên hệ, tácđộng trong thế giới Giữa các sự vật, hiện tượng vật chất với nhau, giữa các sự vậthiện tượng với các hiện tượng tinh thần và giữa các hiện tượng tinh thần với nhau.Chúng tác động qua lại, chuyển hoá và phụ thuộc lẫn nhau Đây là cái vốn có củabản thân sự vật, tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan hay nhậnthức của con người Sở dĩ mối liên hệ có tính khách quan là do thế giới vật chất cótính khách quan Các dạng vật chất (bao gồm sự vật, hiện tượng) dù có vô vàn, vô

kể, nhưng thống nhất với nhau ở tính vật chất Có điểm chung ở tính vật chất tức làchúng có mối liên hệ với nhau về mặt bản chất một cách khách quan Con người

Trang 9

chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn củamình Ví dụ: Mối liên hệ giữa con vật cụ thể (một cái riêng) với quá trình đồnghóa- dị hóa; biến dị - di truyền; quy luật sinh học; sinh – trưởng thành – già –chết -> (cái chung) -> cái vốn có của con vật đó, tách rời khỏi mối liên hệ đókhông còn là con vật, con vật đó sẽ chết Mối liên hệ đó mang tính khách quan,con người không thể sáng tạo ra được mối liên hệ đó, mà có thể nhận thức, tácđộng Nó là sự cố hữu của bản thân sự vật, không thể thay đổi bởi ý chí con người Như vậy nếu chúng ta xét theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ củacác sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sựquy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặctrong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ýchí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đótrong hoạt động thực tiễn của mình.

Trong thế giới vật chất, các sự vật, hiện tượng luôn có mối liên hệ với nhau, dùnhiều dù ít Điều này là khách quan, không lệ thuộc vào việc con người có nhậnthức được các mối liên hệ hay không

Sở dĩ mối liên hệ có tính khách quan là do thế giới vật chất có tính khách quan.Các dạng vật chất (bao gồm sự vật, hiện tượng) dù có vô vàn, vô kể, nhưng thốngnhất với nhau ở tính vật chất Có điểm chung ở tính vật chất tức là chúng có mốiliên hệ với nhau về mặt bản chất một cách khách quan

Có những mối liên hệ rất gần gũi ta có thể nhận thấy ngay Ví dụ như mối liên hệgiữa con gà và quả trứng

Nhưng có những mối liên hệ phải suy đến cùng, qua rất nhiều khâu trung gian, tamới thấy được Gần đây, chúng ta hay được nghe về lý thuyết “hiệu ứng cánhbướm” Lý thuyết này xuất phát từ quan điểm cho rằng những sự vật, hiện tượng ởrất xa nhau nhưng đều có liên quan đến nhau

2.2 Tính phổ biến

Tính phổ biến của các mối liên hệ thể hiện ở chỗ: Dù ở bất kỳ đâu, trong tự nhiên,

xã hội và tư duy đều có vô vàn các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ những vai trò, vịtrí khác nhau trong sự vận động, chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng Mối liên

hệ qua lại, quy định, chuyển hóa lẫn nhau không những diễn ra ở mọi sự vật, hiệntượng tự nhiên, xã hội,tư duy, mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quátrình của mỗi sự vật, hiện tượng.Ví dụ: Không gian và thời gian; sự vật, hiện tượng;

tự nhiên, xã hội, tư duy đều có mối liên hệ, chẳng hạn quá khứ, hiện tại, tương lailiên hệ chặt chẽ với nhau

2.3 Tính đa dạng, phong phú

Trang 10

Mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau thì mối liên hệ khác nhau; một sự vậthiện tượng có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong – bên ngoài, chủ yếu – thứyếu, cơ bản – không cơ bản ), chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại

và phát triển của sự vật, hiện tượng đó; một mối liên hệ trong những điều kiện hoàncảnh khác nhau thì tính chất, vai trò cũng khác nhau Như vậy, không thể đồng nhấttính chất và vai trò của các mối liên hệ khác nhau đối với những sự vật nhất định,trong những điều kiện xác định Tùy thuộc vào tính chất và vai trò của từng mốiliên hệ, ta có thể phân loại các mối liên hệ như sau:

- Mối liên hệ về mặt không gian và mối liên hệ về mặt thời gian giữa sự vật, hiệntượng

- Mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thếgiới

- Mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật, hiện tượng cụ thể

- Mối liên hệ phổ biến trực tiếp và mối liên hệ phổ biến gián tiếp

- Mối liên hệ về mặt không gian và mối liên hệ về mặt thời gian giữa sự vật, hiệntượng

- Mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thếgiới

- Mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật, hiện tượng cụ thể Việc phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối bởi vì các mối liên hệ của các đốitượng rất phức tạp, không thể tách chúng khỏi các mối liên hệ khác Các mối liên

hệ còn cần được nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi và phát triển cụ thể củachúng.Ví dụ: Mối liên hệ con người, con cá với nước khác nhau, cùng con ngườinhưng mỗi giai đoạn phát triển khác nhau nhu cầu về nước cũng khác, con ngườisống ở nơi lạnh, nơi nóng nhu cầu về nước khác nhau; cây xanh có cây cần nhiềunước, ánh sáng, cây cần ít nước, ánh sáng -> Mối liên hệ rất đa dạng, phong phú Các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động, phát triển củacác sự vật, hiện tượng Ta có thể nêu một số loại hình cơ bản sau:

– Liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài

Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, tác động lẫn nhau giữa các yếu tố, các

bộ phận, các thuộc tính, các mặt khác nhau… trong cùng một sự vật Nó giữ vai tròquyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật

Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau Nhìnchung, nó không có ý nghĩa quyết định Mối quan hệ này thường phải thông quamối liên hệ bên trong để phát huy tác dụng

– Liên hệ bản chất và không bản chất, liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên

Trang 11

Cũng có những tính chất, đặc điểm nêu trên Ngoài ra, chúng còn có tính đặc thù.Chẳng hạn, cái là ngẫu nhiên khi xem xét trong mối quan hệ này, lại là tất nhiêntrong mối quan hệ khác.

– Liên hệ chủ yếu và thứ yếu; liên hệ trực tiếp và gián tiếp

Cách phân loại này nói đến vai trò quyết định đối với sự vận động, phát triển của

sự vật

– Liên hệ bản chất và không bản chất; liên hệ cơ bản và không cơ bản

Cách phân loại này nói lên thực chất của mối liên hệ là gì

– Liên hệ bao quát toàn bộ thế giới và liên hệ bao quát một số hoặc một lĩnh vực Cách phân loại này vạch ra quy mô của mối liên hệ

-…v…v…

Sự phân loại các mối liên hệ có tính tương đối, vì ta phải đặt mỗi sự liên hệ vàomột tình huống, mối quan hệ cụ thể

Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hóa cho nhau Sự chuyển hóa như vậy là

do ta thay đổi phạm vi xem xét, phân loại hoặc do kết quả vận động khách quan củachính sự vật, hiện tượng

Phép biện chứng duy vật tập trung nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất trongthế giới khách quan, mang tính phổ biến Những ngành khoa học cụ thể (toán, lý,hóa…) nghiên cứu những kiểu liên hệ riêng biệt trong các bộ phận khác nhau củathế giới

2.4 Mối liên hệ phổ biến có tính cụ thể và tính điều kiện

Như chúng ta đã biết thì mối liên hệ phổ biến có tính điều kiện bởi vì mối liên hệgiữa các sự vật cụ thể Mối liên hệ phổ biến của mọi vật đều phải dựa vào nhữngđiều kiện nhất định Tính chất và phương thức của các mối liên hệ phổ biến sẽ thayđổi theo sự thay đổi của điều kiện

Để phân loại các mối liên hệ phải tùy thuộc vào tính chất và vai trò của từng mốiliên hệ Tuy vậy, việc phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối, bởi vì các mốiliên hệ của các đối tượng rất phức tạp, không thể tách chúng khỏi tất cả các mốiliên hệ khác Mối liên hệ còn cần được nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi và pháttriển cụ thể của chúng Như vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát toàncảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng Tính

vô hạn của thế giới,cũng như tính vô lượng các sự vật, hiện tượng đó chỉ có thể giảithích được trong mối liên hệ phổ biến, được quy định bằng các mối liên hệ có hìnhthức, vai trò khác nhau.Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tácđộng qua lại với nhau; do vậy, khi nghiên cứu đối tượng cụ thể cần tuân thủ nguyêntắc toàn diện

3 Nguyên tắc toàn diện

Trang 12

Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau;

do vậy, khi xem xét đối tượng cụ thể cần tuân theo nguyên tắc toàn diện Từ nộidung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quát thànhnguyên tắc toàn diện với những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động nhận thức vàthực tiễn như sau:

+ Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thểthống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên

hệ của chỉnh thể đó Ví dụ, khi đánh giá một sinh viên phải xem xét nhiều mặt (thểlực, trí lực, phẩm chất, học tập, đoàn thể ; nhiều mối liên hệ (thầy cô, nhân viên,bạn bè, chủ nhà trọ; gia đình -> Mối liên hệ con người với con người), mối liên hệvới tự nhiên, cơ sở vật chất của nhà trường -> Giữa các mặt, mối liên hệ đó tácđộng qua lại -> Phải có cái nhìn bao quát chỉnh thể đó -> Rút ra SV là người nhưthế nào

+ Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng

đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ có như vậy, nhậnthức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính,nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động qua lại của đối tượng.Ví dụ: Khi đánh giá vềcông cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, chúng ta phải đánh giá toàndiện những thành tựu (kết cấu hạ tầng, thu nhập, mức sống, giáo dục, y tế ) cùngnhững hạn chế (mặt trái của những yếu tố trên, đặc biệt là tệ nạn xã hội) -> Rút rađược thành tựu vẫn là cái cơ bản Trên cơ sở đó, chúng ta kết luận đổi mới là tấtyếu khách quan, phải phân tích chỉ ra được nguyên nhân dẫn tới hạn chế, nguyênnhân nào là cơ bản, chủ yếu -> Giải pháp khắc phục yếu kém đó -> Mỗi người cóniềm tin vào công cuộc đổi mới vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội

+ Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và vớimôi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp;trong không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên hệ củađối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó Ví dụ: Vẫn tiếp

ví dụ trên, chúng ta khi đã chỉ ra những hạn chế như tham ô, tham nhũng, lãng phí;con ông cháu cha, ma túy, cờ bạc, -> Chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân dẫnđến kết quả đó -> Có cả nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp, cơ bản và không cơ bản,chủ yếu và thứ yếu (đời sống kinh tế hiện tại; do quan niệm truyền thống, đặc biệt

là chủ nghĩa cá nhân, thói tham lam, ích kỷ ; hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn

kẽ hở, một số cán bộ thoái hóa biến chất tham ô, tham nhũng; công tác giáo dục,tuyên truyền; giám sát, có lúc xử lý chưa mạnh, tính răn đe chưa cao ) -> Có phântích nguyên nhân cơ bản, trực tiếp, chủ yếu dẫn đến kết quả đó -> Giải pháp phùhợp -> Tương lai những hiện tượng tiêu cực đó mới có thể bị xóa bỏ

Ngày đăng: 17/04/2023, 13:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w