1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.

60 611 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.
Tác giả Ks. Trịnh Thanh Minh, Ks. Nguyễn Minh Hiệp, Ks. Đào Bùi Din, Ks. Nguyễn Văn Tiếp, Ks. Nguyễn Đức Thắng
Người hướng dẫn Ks. Trịnh Thanh Minh
Trường học Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường
Chuyên ngành Địa chất - Khoáng sản
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 701,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỊA TẦNG Trên diện tích vùng nghiên cứu phân bố rộng rãi các thành tạo trầm tích phun trào với các thành phần đa dạng được hình thành từ Proterozoi đến Kainozoi.. Các thành tạo thuộc hệ

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN

o0o

-BÁO CÁO THUYẾT MINH BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN

3 VÙNG: HÀM TÂN, PHONG THỔ VÀ NÔNG SƠN

TỶ LỆ 1/50.000 VÀ 1/10.000 THEO TỪNG VÙNG

6383-2

23/5/2007

Hà nội, 2005

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN

- o0o -

Tác giả chính: KS Trịnh Thanh Minh, KS Nguyễn Minh Hiệp,

KS Đào Bùi Din, KS Nguyễn Văn Tiếp,

KS Nguyễn Đức Thắng

Chủ nhiệm tiểu đề tài: KS Trịnh Thanh Minh

BÁO CÁO THUYẾT MINH BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN

3 VÙNG: HÀM TÂN, PHONG THỔ VÀ NÔNG SƠN

TỶ LỆ 1/50.000 VÀ 1/10.000 THEO TỪNG VÙNG

Hà nội, 2005

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ §ẦU 2

CH¦¥NG I §ẶC §IỂM §ỊA LÝ TỰ NHI£N, KINH TẾ, NH¢N V¡N 3

I.1 Vị trí địa lý 3

I.2 Địa hình .3

I.3 Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối 5

I.4.Khí hậu 5

I.5.Động vật và thực vật 10

I.6.Kinh tế xã hội 10

CH¦¥NG 2 §ẶC §IỂM §ỊA CHẤT KHOÁNG SẢN VÙNG PHONG THỔ, NÔNG S¥N VÀ HÀM TẦN 16

PHẦN 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHOÁNG SẢN VÙNG PHONG THỔ .16

I ĐỊA TẦNG 16

II MAGMA .21

III KIẾN TẠO 24

IV KHOÁNG SẢN 27

PHẦN 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT - KHOÁNG SẢN VÙNG NÔNG SƠN 30

I ĐỊA TẦNG 30

II- MAGMA .32

III CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT 33

IV KHOÁNG SẢN 34

PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHOÁNG SẢN VÙNG HÀM TAN .43

I ĐỊA TẦNG .43

II MAGMA .47

III KIẾN TẠO .48

IV KHOÁNG SẢN 49

KẾT LUẬN 54

Trang 4

MỞ ĐẦU

Vùng Phong Thổ tỉnh Lai Châu, Nông Sơn tỉnh Quảng Nam và Hàm Tân tỉnh Bình Thuận là các khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, vị thế quan trọng Đặc biệt đây là những vùng có tiềm năng về khoáng sản titan sa khoáng (ilmenit), than, fluorit đất hiếm Việc làm sáng tỏ các yếu tố địa chất cho 3 vùng Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân là hết sức cấp thiết, nhằm phục vụ cho công tác quy hoạch và bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế bền vững

Tập thể tác giả đã tiến hành thu thập, tổng hợp, xử lý tài liệu về địa chất khu vực

và dựa vào kết quả khảo sát, lấy mẫu của các nhóm thực địa trong đề tài năm

2005-2006, để xây dựng báo cáo chuyên đề địa chất khoáng sản cho 3 vùng Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận)

1 Cơ sở pháp lý

- Căn cứ vào hợp đồng số 10/2005/HĐ/ĐTĐL ngày 08/04/2005 giữa Bộ

Khoa học và Công nghệ, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và Liên đoàn Địa chất biển

- Căn cứ vào hợp đồng thuê khoán công việc số 88/HĐ-ĐTĐL-2005/10

ngày 23/08/2005 giữa Liên đoàn Địa chất biển và TS.Đào Mạnh Tiến chủ nhiệm đề tài với KS.Trịnh Thanh Minh chủ nhiệm tiểu đề tài

2 Mục tiêu, nhiệm vụ

a Mục tiêu

Xây dựng báo cáo chuyên đề Địa chất – Khoáng sản 3 vùng Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) tỷ lệ 1/50.000 và 1/10.000 theo từng vùng

b Nhiệm vụ

- Thu thập, tổng hợp, xử lý các tài liệu hiện có về địa chất, khoáng sản của

3 vùng Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận)

- Thành lập mặt cắt địa chất tổng hợp cho từng vùng

- Viết báo cáo thuyết minh

Báo cáo được trình bày trong 2 chương không kể phần mở đầu và kết luận:

Chương 1 Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế, nhân văn

Chương 2 Đặc điểm địa chất và khoáng sản

Báo cáo được hoàn thành với sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo Liên đoàn Địa chất biển, của các phòng chức năng, đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn bè đồng nghiệp trong và ngoài Liên đoàn Nhân dịp này tập thể tác giả xin trân trọng cảm ơn những giúp đỡ quí báu đó

Trang 5

CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ, NHÂN VĂN

I.1 Vị trí địa lý

Các vùng nghiên cứu bao gồm huyện Phong Thổ (Lai Châu), khu vực Nông Sơn (Quảng Nam), huyện Hàm Tân (Bình Thuận)

Vùng nghiên cứu Phong Thổ:bao gồm huyện Phong Thổ, Tam Đường và một

phần của thị xã Lai Châu mới Phía Bắc vùng tiếp giáp với Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp với huyện Sìn Hồ, phía Đông giáp với huyện Bát Xát và một phần huyện Sa Pa (Lào Cai))

Vùng nghiên cứuđược giới hạn:

Từ 22°16’22” đến 22°39’54” vĩ độ Bắc

Từ 103°15’00” đến 103°44’46” kinh độ Đông

Vùng nghiên cứu Nông Sơn bao gồm: các huyện Đại Lộc, Quế Sơn, Nam

Giang, Hiên (nay là huyện Đông Giang, Tây Giang) tỉnh Quảng Nam

Phía Bắc giáp huyện Nam Đông, Hòa Vang (Quảng Nam), phía Đông giáp huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình (Quảng Nam), phía Nam giáp huyện Phước Sơn, Hiệp Đức (Quảng Nam), phía Tây giáp Lào

Vùng nghiên cứu có diện tích 580km2 và được giới hạn:

Từ 15°38’12” đến 15°54’53” vĩ độ Bắc

Từ 107°33’04” đến 108°06’00” kinh độ Đông

Vùng nghiên cứu Hàm Tân bao gồm: toàn bộ lãnh thổ và một phần lãnh hải

(0-10m nước) huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận), một phần lãnh thổ, lãnh hải (0-10m nước) hai xã Tân Thành, Tân Thuận - huyện Hàm Thuận Nam (tỉnh Bình Thuận): đó

là dải ven biển và biển ven bờ (0-10m nước) từ Cửa Cạn đến mũi Kê Gà

Phía Bắc giáp huyện Tánh Linh, Bình Thuận; phía Đông giáp huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận); phía Tây giáp huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa -Vũng Tàu), huyện Xuân Lộc (Đồng Nai) và phía Nam giáp Biển Đông Diện tích nghiên cứu 1051km2 trong đó phần đất liền là 951km2 và phần biển ven bờ là 100km2

Vùng nghiên cứu được giới hạn:

Phần lớn các dãy núi kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam gần trùng với phương của các thành tạo địa chất, càng về phía Tây Bắc địa hình càng cao, về phía Đông Nam địa hình thấp dần Địa hình bị bào mòn và phân cắt bởi hệ thống sông suối

có phương Đông Bắc – Tây Nam và có thể chia ra các mức địa hình như sau:

Trang 6

- Địa hình núi cao trên 1500m: Phân bố ở phía Đông Bắc (sườn Tây Fan Si

Pan) có nhiều vách đá hiểm trở

- Địa hình núi cao 1000 - 1500m: Thường chạy dọc theo rìa các dãy núi có địa

- Địa hình cao nguyên và karst: Phân bố ở nhiều vị trí trong phạm vi vùng

nghiên cứu, tập trung chủ yếu ở các cao nguyên đá vôi Lang Nhị Thang, Tà Phìn, Sìn

Hồ và phía Tây Nam Phong Thổ

Vùng Nông Sơn

Đây là vùng địa hình cao, độ cao tuyệt đối từ 200-1050m, trung bình từ 900m Địa hình bị phân cắt bởi các hệ thống sông suối (sông Thu Bồn,Vu Gia) theo các hướng khác nhau

600-Phần thấp có độ cao từ 200-300m đỉnh núi tròn trong khi đó phần cao từ 400

đến hơn 1000m đỉnh có dạng sống trâu, kéo dài theo phương á kinh tuyến, sườn thường dốc 20-400, có nơi dốc hơn 500 Các sườn nơi gần suối thường có nhiều vách sạt lở khó đi lại

Vùng Hàm Tân

Vì vùng nghiên cứu bao gồm cả diện tích phần trên đất liền và biển nên các dạng địa hình: địa hình đồi núi thấp, địa hình đồng bằng ven biển và địa hình đáy biển ven bờ

Địa hình đồi núi thấp phân bố ở phía Bắc bao gồm: núi Bể, núi Mây Tào, núi

Nhọn, núi Giang Co, núi Lồ Ô Đây là các núi sót trên đồng bằng ven biển Đặc điểm của địa hình núi là sườn cong lồi, dốc, nhưng phát triển cân xứng, hầu hết chúng đều phát triển các đá magma xâm nhập thuộc phức hệ Đèo Cả, Định Quán, riêng ở núi Nhọn lộ các đá phun trào hệ tầng Nha Trang Các núi sót đều có độ cao tương đối lớn, dao động từ 400 đến 600m, với các đỉnh núi Bể cao 874m, núi Nhọn cao 569m Trên các sườn núi đá gốc lộ tốt, nhưng việc đi lại khó khăn vì khá dốc

Địa hình đồng bằng ven biển kéo dài dọc ven biển vùng nghiên cứu Độ cao

dao động 50÷100m ở ven chân núi, 1÷5m ở ven bờ biển, độ phân cắt sâu nhỏ Cấu thành đồng bằng là các trầm tích biển, sông-biển tuổi Đệ tứ Chúng phủ lên trên các thành tạo Mesozoi Nhìn chung móng Kainozoi đều cao hơn mực nước biển Vì vậy, dọc theo suối hoặc trên các đồi sót nhiều nơi lộ đá gốc Địa hình đồng bằng nghiêng thoải ra phía biển Phần tiếp giáp với biển phát triển hệ thống các dải cồn, đụn cát, các vũng, đầm lầy, lạch triều

Địa hình đáy biển vùng nghiên cứu nhìn chung tương đối thoải, độ dốc nhỏ,

riêng khu vực xung quanh mũi Kê Gà, mũi Núi Nham và Hòn Bà có địa hình khá dốc

Đường bờ biển khu vực nghiên cứu phần lớn có hướng Đông Bắc - Tây Nam, được cấu thành bởi các trầm tích bở rời và có xu hướng xói lở với tốc độ khác nhau, các khu vực được cấu thành bởi đá gốc cứng chắc (mũi Kê Gà, Hòn Bà ) đường bờ

ổn định, ít biến động

Trang 7

I.3 Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối

I.3.1 Vùng Phong Thổ

Vùng nghiên cứu có 2 mạng lưới sông suối chính sau:

Hệ thống Tây Bắc - Đông Nam: thường trùng với các đứt gãy lớn với lòng rộng, ít thác ghềnh, thuyền và canô có thể đi lại được như Nậm Na, Nậm So, Nậm Mạ

Hệ thống Đông Bắc - Tây Nam và á vĩ tuyến: thường cắt phương cấu trúc địa chất, các suối này thường ngắn, lòng hẹp, dốc, lắm thác như Than Theo Ho, Nậm Se, Nậm Tần, Nậm Ten, Nậm Ban

Đặc điểm chung của hệ thống sông suối này là hẹp và dốc (độ dốc trung bình từ 30-500) có nhiều thác, tiết diện chung của lòng suối thường có dạng chữ “V” Lưu lượng dòng chảy thay đổi theo từng mùa rõ rệt (mùa khô lưu lượng nước ít, mùa mưa lưu lượng nước lớn, chảy xiết, tốc độ dòng chảy mạnh gây lũ quét, gây khó khăn cho công tác thực địa)

I.3.2 Vùng Nông Sơn

Trong vùng nghiên cứu gồm các con sông lớn như sông Côn, sông Vu Gia, sông Vàng, sông Bung, sông Cái Các dòng sông về mùa mưa nước sông dâng cao, lưu lượng nước rất lớn, mùa khô dòng sông thu hẹp với nhiều thác ghềnh hiểm trở Theo tài liệu khí tượng thủy văn trạm Hội Khách đo trên sông Cái Mực nước thấp nhất từ tháng 2 đến tháng 9 từ 843 đến 871 cm mực nước cao nhất từ tháng 10 đến tháng 1 từ

931 đến 1782cm Lưu lượng mưa hàng năm các con sông như sau:sông Bung: mùa khô 35m3/s, mùa mưa 3350-370m3/s; sông Cái: mùa khô 493m3/s, mùa mưa 400-450m3/s

Hệ thống sông suối chủ yếu trong vùng gồm các sông suối có phương á kinh tuyến Trừ suối lớn nhất là suối Tamprang là nước chảy quanh năm, lưu lượng nước lớn, nhiều thác ghềnh, các suối nhánh thường là khe cạn, lòng suối sâu, nhiều bậc thác, rất dốc chỉ có nước vào mùa mưa

Ngoài ra còn một số suối nhỏ: suối Cô Kiều, suối Đá, suối Giao, suối Trạm có lưu lượng nước nhỏ

I.4.Khí hậu

I.4.1 Vùng Phong Thổ

Khu vực nghiên cứu có khí hậu đặc trưng của vùng núi cao, tuy nhiên vẫn mang đặc tính chung của khí hậu gió mùa chí tuyến Khí hậu vùng nghiên cứu có thể chia làm hai mùa rõ rệt

Trang 8

Chế độ nhiệt: mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ

thấp trung bình 10-150C có khi xuống tới 1-20C, độ ẩm không khí thấp Nhiệt độ thấp

nhất trong năm là vào tháng 12 và tháng 1 Trong mùa khô thường xảy ra những hiện

tượng thời tiết đặc biệt như sương muối vào các tháng 1 và 2 (Sìn Hồ, vùng cao huyện

Phong Thổ) Gió và dông thường xảy ra vào những ngày nóng và khô (tháng 3 và 4),

mưa đá xuất hiện vào cuối mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung

bình 20-250C,nhiệt độ có khi lên tới trên 300C

Chế độ mưa: tổng lượng mưa khoảng 2.500 mm/năm, tập trung từ tháng 6 đến

tháng 8 (chiếm 65-75% lượng mưa trong năm)

Độ ẩm: độ ẩm trung bình trên 80% Thường vào đầu mùa mưa, mưa to kèm gió

lốc và thỉnh thoảng có mưa đá còn những trận mưa cuối mùa thường là mưa nhỏ

nhưng kéo dài triền miên

Bảng 1.1 Thống kê các trị số khí hậu vùng Phong Thổ

Tháng

Nhiệt độ trung bình ( 0 C)

Lượng mưa trung bình (mm) Độ ẩm tương đối trung bình (%) Số giờ nắng trung bình

I.4.2 Vùng Nông Sơn

Khí hậu vùng Nông Sơn nói riêng và khu vực Trung-Trung Bộ nói chung chịu

ảnh hưởng của khí hậu miền núi ven biển nhiệt đới gió mùa

Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,80C, tháng 9-12 thường

có nhiệt độ thấp từ 10-150C), tháng 3-8 nhiệt độ trung bình từ 25-270C cao nhất 380C

Chế độ mưa: lượng mưa trung bình hàng năm 2208mm đặc biệt 1999 lượng

mưa đạt tới 3900mm các tháng 9, 10, 11 lượng mưa từ 390-1374mm những tháng này

thường gây lũ lụt, ách tắc giao thông việc đi lại, nghiên cứu địa chất gặp khó khăn Từ

tháng 12-5 lượng mưa ít từ 0-50mm, từ tháng 6-8 lượng mưa từ 160-204mm Các

tháng này nói chung ít mưa và thuận lợi cho công tác nghiên cứu địa chất

Độ ẩm: độ ẩm trung bình trong năm khoảng 62%, những tháng mưa nhiều độ

ẩm trung bình đạt 89% Các tháng nắng ráo độ ẩm hạ xuống 34% Độ ẩm không khí

cao nhất là vào tháng 10,11

Chế độ gió: phân thành 2 mùa: mùa khô kéo dài từ tháng 12- 8, mùa mưa từ

9-11

Mùa khô từ tháng 12-8 năm sau, hướng gió thịnh hành là Bắc và Đông Bắc

trong đó hướng Đông Bắc đóng vai trò chủ yếu, chiếm tần suất trên 60% đặc biệt là

Trang 9

tháng 1 tần suất gió Đông Bắc chiếm trên 70% Tốc độ gió trung bình là khoảng

1,5-2m/s

Mùa mưa từ tháng 9-11, hướng gió thổi là hướng Tây Nam, Đông Nam, Tây

Hướng Tây Nam chiếm tần suất cao nhất, cực đại vào tháng 7 đạt xấp xỉ 60% Các

hướng khác nhau như Tây,Đông Nam chiếm 20% Tốc độ gió trung bình từ

1,2-2,2m/s Gió mạnh nhất vào mùa này do ảnh hưởng của bão

Bảng 1.2 Thống kê các trị số khí hậu vùng Nông Sơn Tháng

Nhiệt độ trung bình ( 0 C)

Lượng mưa trung bình (mm)

Độ ẩm tương đối trung bình (%)

Số giờ nắng trung bình

Thổ nhưỡng : Dọc hai bên bờ sông là đất đỏ vàng trên phiến sét và đất xói mòn

trơ sỏi đá, xen kẽ là đất đỏ vàng trên đá magma axit Phần thượng nguồn là đất mùn

vàng đỏ trên núi Đất dốc phần lớn trên 200, tầng đất mỏng có nhiều đá lộ ra

I.4.3 Vùng Hàm Tân

Khí hậu vùng nghiên cứu có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai

mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô

bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Chế độ nhiệt: vùng nghiên cứu có nhiệt độ trung bình hàng năm 26÷27°C, biên

độ nhiệt 3,5°C Sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa không nhiều Tổng nhiệt độ trung

bình trong mùa khô đạt 4.653°C; trong mùa mưa đạt 4.862°C Tháng nóng nhất là

tháng 6 (trung bình 28,7°C) Tổng giờ nắng trung bình hàng năm đạt 2.873 giờ

Chế độ mưa: trong vùng có lượng mưa không lớn, trung bình hàng năm

1.583,3mm Số ngày mưa trung bình trong năm đạt 80,9 ngày Lượng mưa giữa hai

mùa có sự chênh lêch nhau rất lớn Tổng lượng mưa trung bình trong mùa mưa

1.471,2mm, trong mùa khô trung bình 112,2mm Vì vậy, về mùa khô thường thiếu

nước sinh hoạt và phục vụ cho việc phát triển kinh tế của nhân dân trong vùng; nước

trong các sông suối thường cạn kiệt, nên việc khảo sát thực địa vào thời gian này lại

thuận lợi

Độ ẩm: chỉ số ẩm ướt trung bình trong vùng hàng năm 1,63 (mùa mưa 3,87,

mùa khô 0,19); nghĩa là vào mùa mưa lượng mưa gấp 3,87 lần lượng bốc hơi, mùa khô

lượng mưa bằng 0,19 lần lượng bốc hơi

Trang 10

Chế độ gió: trong vùng có 2 mùa gió là mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông

Bắc Mùa gió Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Hướng gió chủ yếu từ hướng

Tây Nam Tốc độ trung bình 1,5÷2,2m/s, tốc độ gió lớn nhất 14÷20m/s Mùa gió Đông

Bắc bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Hướng chủ yếu là từ hướng Đông, Đông

Bắc Tốc độ trung bình 2÷2,9m/s, tốc độ gió lớn nhất 12÷18m/s

Chế độ thủy triều: Vùng biển khu vực Hàm Tân, thuỷ triều có tính chất bán

nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng quan trắc thấy hai lần nước lên và

hai lần nước xuống nhưng không đều về biên độ và thời gian Độ cao mực nước triều

cường có thể đạt 2,0-3,5 m

Sóng biển: Trong khu vực nghiên cứu, các đặc trưng của sóng thay đổi theo hai

mùa Tuy nhiên, các đặc trưng của sóng và các thời kỳ khác nhau cũng rất khác nhau

Có thể chia sóng biển trong vùng nghiên cứu thành 3 thời kỳ trong năm như sau:

- Từ tháng 1 đến tháng 4, sóng biển có hướng thịnh hành là Đông Bắc - Đông, độ

cao trung bình khoảng 0,9-1,0 mét

- Từ tháng 5 đến tháng 9, hướng sóng thịnh hành là Tây - Tây Nam, độ cao trung

bình khoảng 1,0-1,1 mét

- Từ tháng 10 đến tháng 12, hướng sóng thịnh hành là Đông - Bắc, độ cao sóng

trung bình xấp xỉ 1,2 mét

Độ cao sóng cực đại thường đo được vào lúc thời tiết xấu, cực đại trung bình

trong năm là 3,5 mét Trong bão, độ cao sóng có thể đạt tới 7-8m, thậm chí 10-12m

Tuy nhiên, khu vực nghiên cứu cũng ít chịu ảnh hưởng của bão so với các vùng biển

khác Địa hình đường bờ và đáy biển thường bị thay đổi trong thời gian thời tiết xấu,

bão to và gió lớn

Chế độ dòng chảy: Vào mùa Đông dòng chảy có hướng Tây Nam chảy dọc theo

đường bờ biển, với tốc độ khá lớn (có thể tới 50cm/s) Về mùa hạ, do ảnh hưởng của

gió mùa Tây Nam dòng có hướng Bắc-Đông Bắc với tốc độ dưới 25cm/s

Chế độ bão: trong vùng nghiên cứu bão thường xảy ra vào tháng 9 đến tháng 11

và nhiều nhất vào tháng 11

Bảng 1.3 Thống kê các trị số khí hậu vùng Hàm Tân

Tháng Nhiệt độ trung bình ( 0 C) trung bình (mm) Lượng mưa

Độ ẩm tương đối trung bình (%)

Số giờ nắng trung bình

Trang 11

Thổ nhưỡng: Dựa theo bảng phân loại đất Việt Nam của Hội Khoa học Đất Việt

Nam trên diện tích nghiên cứu có các loại đất sau:

Loại đất nâu đỏ: phân bố trên địa hình cao nguyên chiếm diện tích nhỏ ở khu

vực phía Tây huyện Hàm Tân Loại đất này phát triển trên đá bazan phong hóa màu đỏ

thẫm, tầng đất dày, giàu mùn Đất nâu đỏ là loại đất quí, rất phù hợp với loại cây công

nghiệp và cây ăn trái có giá trị

Loại đất cồn cát trắng-vàng: phân bố dọc theo đường bờ biển trên diện tích

khoảng 100km2 Chúng sử dụng chủ yếu trồng cây phi lao chắn gió Những cồn cát

thấp sử dụng trồng cây hoa màu, họ đậu, rau và cây ăn trái

Loại đất cồn cát đỏ: phân bố chủ yếu phía Đông Bắc vùng Hàm Tân chiếm

khoảng 200km2 Loại đất này được sử dụng cho nông, lâm nghiệp: bông, cây họ đậu,

rau màu và trồng rừng

Loại đất sét-cát-mùn thực vật màu xám đen: phân bố dọc theo các thung lũng

sông, suối được nhân dân khai thác trồng lúa và hoa màu

Bảng 1.4 Tình hình sử dụng đất huyện Hàm Tân (đơn vị: ha)

700

16.943

2.746 13.268

929

17.131

2.691 13.503

937

b Cây lâu năm

- Cây công nghiệp lâu năm

- Cây ăn quả

- Cây lâu năm khác

8.711

4.668 4.014

26

9.169

4.371 4.770

27

10.070

5.987 4.055

30.283

16.911 13.367

32.335

17.65914.670

428

2.210

239 1.113

421

2.310

256 1.155

158 2.259

33.065

7.330 22.129

192

378

29.569

4.736 20.476

158 1.943

Trang 12

(Theo Niên giám thống kê huyện Hàm Tân năm2002)

I.5.Động vật và thực vật

I.5.1 Vùng Phong Thổ

Hiện nay rừng chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 19% diện tích vùng nghiên cứu, phát triển chủ yếu trên địa hình các vùng núi cao trên 1500m ở phía Tây Fan Si Pan, vùng núi đá vôi, đá phun trào ở phía Đông Nam Sìn Hồ, các thượng lưu sông Nậm Tần, Nậm Ten, Nậm Ban Thảm thực vật phong phú và đa dạng từ các loại cây nhóm gỗ quý (lát, dổi, sa mu ) đến các loại cây thân đốt, leo

Động vật tập trung khá nhiều loại từ các thú dữ như hổ, báo, gấu, cho đến các loại khác như hươu, nai, lợn rừng, khỉ, trăn chúng thường sống ớ các sườn núi cao, rừng rậm nhưng hiện nay do phát nương, làm rẫy nên diện tích rừng bị thu hẹp dần và các loại gỗ quý hiếm cũng đang biến mất, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm có số lượng giảm hoặc chúng đã di chuyển sang vùng khác

I.5.2 Vùng Nông Sơn

Đây là khu vực có nhiều khu rừng với nhiều loại gỗ quý như: Lim, sến, chò Có nhiều động vật quý như gấu, hươu nai, lợn rừng

Hiện nay phần lớn rừng còn lại vẫn đang bị khai thác bừa bãi hoặc đốt làm nương rẫy Một số khu vực phát triển rừng tái sinh chủ yếu là cây dây leo, cỏ tranh, lau sậy Các loài động vật quý ít dần, chúng tập trung chủ yếu chỉ còn nơi núi cao, rừng rậm Hiện tượng săn bắn thú rừng và khai thác gỗ trái phép vẫn tiếp tục hoạt động Lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương rất khó khăn trong việc kiếm soát được các hoạt động này

I.5.3 Vùng Hàm Tân

Rừng hiện nay chiếm diện tích nhỏ, phát triển trên địa hình núi, diện tích rừng

tự nhiên đến nay còn khoảng 17659 ha và 14670 ha rừng trồng các loại Trong khi đó diện tích đồi núi là 50275 ha tập trung chủ yếu ở phía Bắc vùng Thảm thực vật chủ yếu gồm những loại cây mọc tái sinh, các loại gỗ quí đã bị khai thác cạn kiệt chỉ còn lại các loại như: cây dầu, bằng lăng, tre, cọ, buông v.v

Do diện tích rừng ngày càng thu hẹp, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm không còn hoặc chúng đã di chuyển sang vùng khác Trên diện tích đất liền hiện nay chỉ gặp: lợn rừng, cầy hương, chồn, sóc, gà rừng Động vật nuôi có trâu, bò,

I.6.Kinh tế xã hội

I.6.1 Vùng Phong Thổ

Dân cư: Vùng nghiên cứu thuộc vùng núi Tây Bắc Việt Nam, dân cư thưa thớt,

mật độ dân cư phân bố không đồng đều, tập trung thành những bản nhỏ dọc các con suối, khe hẻm, thung lũng giữa núi Các điểm dân cư tập trung đông đúc là thị xã Lai Châu, thị trấn Phong Thổ, Tam Đường Dân cư vùng nghiên cứu gồm nhiều dân tộc chung sống như Lừ, H'mông, Cùi Chu, Dao, Dáy, Hà Nhì, Lô Lô, Mảng, Thái, Thổ, Nhắng, Kinh Mật độ dân số 69 người/km2

Trong những năm gần đây, hầu hết các xã trong huyện đều có trường cấp 1, phần lớn thanh niên trong vùng đã biết đọc, biết viết và nói tiếng phổ thông Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Tam Đường đã có trường cấp 2, cấp 3 Trạm y tế đã được xây dựng phục vụ việc khám chữa bệnh cho nhân dân trong vùng nhưng số lượng còn ít Ở thị

xã Lai Châu, thị trấn Phong Thổ, Tam Đường đã có điện lưới quốc gia, một số nơi có máy phát điện hoặc thuỷ điện nhỏ phục vụ sinh hoạt Nhờ có điện đời sống văn hoá ngày càng được nâng cao Tuy nhiên ở các bản làng xa xôi hẻo lánh người dân còn gặp

Trang 13

nhiều khó khăn Đồng bào dân tộc ít người còn nhiều người mù chữ, tệ nạn, mê tín dị đoan còn phổ biến Nhìn chung trình độ dân trí và trình độ nghề nghiệp của người lao động thấp hơn so với các địa phương khác trong cả nước

Bảng 1.5 Bảng thống kê diện tích và dân số vùng Phong Thổ

STT Huyện tự nhiên (km Diện tích 2 ) (người) Dân số Mật độ dân số (người/km 2 ) xã phường Tổng số

Giao thông:Vùng nghiên cứu được nối với vùng khác của miền Bắc bởi các

tuyến đường chính sau:

Hệ thống đường ôtô: Trong vùng nghiên cứu có đường quốc lộ 4D nối liền với các tỉnh lộ 12 đi thị xã Lai Châu và thị trấn Sa Pa (Lào Cai), tỉnh lộ 32 đi thị trấn Than Uyên (Lào Cai)

Hệ thống đường sắt :

Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai (từ Lào Cai đi ôtô đến Sa Pa – Tam Đường)

Ngoài các tuyến đường chính còn có các tuyến đường Phong Thổ-Dao San, Phong Thổ-Then Sin-Tam Đường, Phong Thổ-Mường So, dọc sông Nậm

Na, Sìn Hồ nhưng việc đi lại trong vùng nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, đường mòn chật hẹp, khá dốc, di chuyển chủ yếu bằng ngựa hoặc đi bộ Về mùa mưa, đường trơn, lầy lội rất khó khăn trong việc đi lại Tuy nhiên từ các mỏ (Nậm Xe, Đông Pao) tới thị trấn, thị xã trong vùng việc đi lại dễ dàng hơn do được nối liền bởi đường đất, ôtô có thể đi lại được

Đường thuỷ có con sông Nậm Na chạy dọc phía Tây, sông Nậm Ma chạy dọc phía Đông vùng nghiên cứu

Còn nhiều xã chưa có đường ô tô xuống trung tâm xã Sự xuống cấp của hệ thống giao thông vận tải cùng với sự lạc hậu của mạng lưới thông tin bưu điện, bưu chính viễn thông, hệ thống cấp điện, cấp nước đang là những trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế của vùng nghiên cứu Tuy nhiên hiện nay một số tuyến đường giao thông quan trọng đã được nâng cấp như Chiềng Chăn - Sìn Hồ; Lai Châu - Mường Tè

- Bom Lót - Suối Lư

Nông nghiệp: Trên 80% lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông

nghiệp Diện tích lúa nương chiếm tỷ trọng lớn xấp xỉ 55% diện tích nông nghiệp, một năm trồng 1 vụ, ngoài ra còn trồng các loại nông sản phụ khác như ngô, sắn, đậu nhưng do diện tích đất trồng trọt hẹp nên kết quả thu hoạch không cao Nghề chăn nuôi trong vùng đang được chú ý Thị trấn Tam Đường đã có các nông trường, lâm trường quốc doanh (trồng chè, nuôi bò sữa)

Lâm nghiệp: Trong vùng đang triển khai chương trình giao đất lâm nghiệp để

trồng các loại cây lấy gỗ, gây lại các diện tích rừng đã bị khai thác và chặt phá

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

trong vùng nghiên cứu chưa phát triển mạnh Ở thị trấn Phong Thổ có vài cơ sở sản xuất thủ công, chủ yếu là sản xuất và sửa chữa công cụ thô sơ phục vụ sản xuất nông nghiệp Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Tam Đường có các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như chế biến lâm sản, xí nghiệp điện máy, xí nghiệp cơ khí

Du lịch: Vùng nghiên cứu là một khu vực có phong cảnh thiên nhiên hữu tình,

giàu tiềm năng du lịch Nơi đây còn có những bản làng dân tộc với nhiều phong tục tập quán vẫn nguyên sơ có thể triển khai các tuyến du lịch sinh thái để đón du khách trong và ngoài nước

Trang 14

Khai thác khoáng sản: Trong những năm qua khu mỏ Nậm Xe, Đông Pao đã

được nhiều đơn vị khai thác quặng fluorit, đất hiếm Quặng được khai thác lộ thiên, tuyển quặng bằng phương pháp thủ công và vận chuyển tập trung ở khu vực Tam Đường, Phong Thổ chờ chuyển đến các đơn vị sử dụng và chế biến khoáng sản

Khu mỏ Thèn Sin-Tam Đường có các điểm vàng gốc và sa khoáng, cộng sinh với các mạch vàng gốc có chứa hàm lượng các nguyên tố phóng xạ Những năm gần đây dân địa phương và một số người ở nơi khác đến tiến hành đào bới, khai thác vàng gây ô nhiễm nước, phá vỡ hệ sinh thái môi trường và sản xuất nông nghiệp tại vùng này Hiện nay chính quyền địa phương đã ngăn chặn được hoạt động khai thác vàng tự

do này

Hoạt động khai thác khoáng sản (quặng fluorit, đất hiếm, vàng ) trong vùng thiếu quy hoạch đã làm thay đổi môi trường sinh thái và cân bằng tự nhiên: rừng đầu nguồn bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, hàng năm gây ra lũ ở vùng hạ nguồn của các dòng sông, đặc biệt ô nhiễm phóng xạ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong vùng

Tóm lại: Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế-xã hội của vùng nghiên cứu tương

đối thuận lợi cho việc phát triển các ngành lâm nghiệp, du lịch.Tuy nhiên, điều kiện địa hình núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, đời sống kinh tế và văn hoá còn thấp sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thực địa

I.6.2 Vùng Nông Sơn

Dân cư: Trong vùng tương đối thưa, chủ yếu tập trung ở ven đường giao thông

và ven sông, suối lớn Người Kinh tập trung ở các xã vùng thấp sống bằng nghề trồng lúa và buôn bán nông-lâm sản Người Cà tu sống ở xã Cà Dăng bằng nghề phát nương làm rẫy và khai thác lâm sản Nói chung đời sống kinh tế của nhân dân trong vùng rất khó khăn

Bảng 1.6 Bảng thống kê diện tích và dân số

vùng nghiên cứu Nông Sơn

STT Huyện tự nhiên (km Diện tích 2 ) (người) Dân số Mật độ dân số (người/km 2 ) xã phường Tổng số

Giao thông: giao thông trong vùng chưa phát triển mạnh, chỉ có đường quốc lộ

14 nối liền với đường 14B, 606, còn phần lớn đường trong vùng là đường đất chỉ có đường lên mỏ than Nông Sơn, Khe Cao,An Điềm, Ngọc Kinh là có đường ô tô để phục

vụ việc đưa máy khoan lên núi, địa hình phân cắt, việc đi lại rất khó khăn Trong vùng

có các con sông Thu Bồn, Vu Gia nhưng việc đi lại bằng đường thủy không thuận lợi

do độ dốc các con sông khá lớn, hệ thống sông suối có thể cung cấp nước cho sinh hoạt và dẫn nước tưới cho nông nghiệp và trồng trọt, ngoài ra dân có thể đào giếng hai bên sườn đồi lấy nước sinh hoạt Tại vùng mỏ than Nông Sơn, An Điềm và các khu vực có dị thường phóng xạ nằm gần các nguồn nước sinh hoạt, không đảm bảo vệ sinh cho ăn uống

Nông nghiệp: Trong vùng kém phát triển, nghề trồng lúa và làm nương rẫy cho

năng suất thấp Những năm gần đây dân trồng dứa cho thu nhập khá hơn Đây là loại cây công nghiệp được trồng nhiều ở nhà vườn, trong vài năm trở lại đây phát triển

Trang 15

mạnh được trồng trên vườn đồi, trang trại, rẫy cho năng suất cao, thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Các cây công nghiệp, lâm nghiệp

Công nghiệp: trong vùng có nhà máy thủy điện An Điềm đã phát điện hòa vào

mạng lưới điện quốc gia Còn nhà máy thủy điện khác đang trong giai đoạn xây dựng nhà máy Đã triển khai xây dựng các khu công nghiệp trong vùng nghiên cứu như: Khu công nghiêp Đại Hiệp Nằm ở xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, dọc quốc lộ 14B, cách sân bay quốc tế Đà Nẵng 10km và cách cảng Tiên Sa 15km về phía Đông với diện tích quy hoạch 40 ha; Khu Công nghiệp Đông Quế Sơn thuộc xã Quế Cường, huyện Quế Sơn, nằm ngay sát quốc lộ 1A, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hay 40km về phía Tây (diện tích quy hoạch 160 ha) Ở các huyện Quế Sơn, Đại Lộc các ngành công nghiệp sản xuất chất khoáng phi kim loại, chế biến thực phẩm, chế biến gỗ, khai thác sỏi, cát đã và đang được đầu tư phát triển nhằm đem lại hiệu quả kinh tế

Khai thác khoáng sản: Hoạt động khai thác khoáng sản đáng chú ý nhất tại khu

vực này là khai thác công nghiệp tại mỏ than Nông Sơn Trong các vỉa than, nóc vỉa than Nông Sơn chứa urani sẽ gây ô nhiễm môi trường dưới hai hình thức: thứ nhất urani trong than và xỉ than sau khi sử dụng sẽ gây ô nhiễm môi trường tại những nơi tiêu thụ sử dụng than Loại ô nhiễm này rất khó kiểm soát Loại ô nhiễm thứ hai đó là đất đá thải trong quá trình khai thác lộ thiên sẽ di chuyển đá có xạ đi xa hơn vị trí vốn

có (nơi khai thác) Hiện nay dân địa phương tiếp tục tiến hành đào lò than thổ phỉ làm chất đốt tại khu vực Ngọc Kinh, đã làm thay đổi môi trường rất nhiều đặc biệt mất an toàn lao động cho những người trực tiếp tham gia khai thác trong lò Nồng độ khí phóng xạ (Radon) trong lò không được thông gió rất caok gây suất liều xạ chiếu trong rất cao cho những người trực tiếp sản xuất không hiểu biết an toàn về bức xạ Ngoài ra hoạt động khai thác vật liệu xây dựng đá granit rải đường cũng tham gia nâng cao mức phông trong khu vực

Du lịch: khu vực nghiên cứu nằm trong địa bàn tỉnh Quảng Nam có thị xã Hội

An và thánh địa Mỹ Sơn là di sản văn hóa đã được thế giới công nhận Vì vậy du lịch đang là thế mạnh của tỉnh nhằm tạo thu nhập và công việc lớn cho người dân trong tỉnh và các vùng kế cận

I.6.3 Vùng Hàm Tân

Dân cư: trong vùng phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các thị trấn, thị xã

và dọc theo các trục lộ giao thông chính Theo thống kê, dân số toàn huyện năm 2002

là 164.551 người, mật độ dân số 174,78 người/km2 Riêng vùng Núi Bể với diện tích 250km2 không có dân cư sinh sống Dân tộc Kinh chiếm đa số, tiếp đến là người Hoa Nhân dân trong vùng sống chủ yếu bằng nghề nông, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Mạng lưới điện Quốc gia đã tỏa sáng khắp các làng, xã Các trường học, bệnh viện, trạm xá, bưu điện, chợ đã và đang được xây dựng phục vụ đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao

Bảng 1.7 Bảng thống kê diện tích và dân số vùng Hàm Tân

STT Huyện tự nhiên (km Diện tích 2 ) (người) Dân số Mật độ dân số (người/km 2 ) xã phường Tổng số

Giao thông: Mạng lưới giao thông trong vùng công tác khá thuận lợi và đa

dạng gồm: đường bộ, đường sắt, đường thủy

Đường bộ tương đối phát triển và phân bố đều trên toàn vùng Đường quốc lộ

IA chạy qua phần phía Bắc của vùng với chiều dài khoảng 28km Từ tuyến đường này

Trang 16

nối liền với các đường giao thông liên tỉnh như đường số 708, 709, 710 có thể đi đến các huyện, tỉnh lân cận vùng công tác Các tuyến đường chính trong huyện đã được nhựa hóa Đường giao thông nối liền các xã trong vùng cũng khá phát triển, nên việc

đi lại trong vùng khá dễ dàng và thuận lợi Riêng vùng Núi Bể, giao thông kém phát triển, dân cư thưa thớt, nên việc khảo sát thực địa gặp nhiều khó khăn

Đường sắt chạy song song với quốc lộ IA (chiều dài chạy qua vùng công tác khoảng 17km), việc vận chuyển mẫu, thiết bị ra Hà Nội bằng đường sắt phải ga Mương Mán (cách xa trung tâm huyện Hàm Tân khoảng 80km)

Giao thông đường biển khá phát triển với các cảng La Gi, Cửa Cạn thuận lợi cho tàu

bè nhỏ ra vào lấy hàng và trú đậu

Nông nghiệp: hoạt động nông nghiệp trong vùng chủ yếu là nghề trồng lúa, cây

ăn trái, cây công nghiệp (điều, hồ tiêu, cà phê ) Ở nông thôn phát triển mô hình V.A.C (kinh tế vườn, ao, chuồng) nên đời sống vật chất của nhân dân làm nông nghiệp trong vùng khá ổn định Tổng giá trị sán xuất nông nghiệp toàn huyện năm 2002 đạt 308.619 triệu đồng trong đó trồng trọt chiếm 70%, chăn nuôi 24%, dịch vụ nông

nghiệp 6%

Ngư nghiệp: Với điều kiện thuận lợi: ngư trường rộng lớn, cảng cá lớn La Gi

với hàng ngàn ghe thuyền và cả các tàu lớn có công suất đến 600CV nên đây là nơi cung cấp hải sản biển cho thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và các vùng lân cận, theo số liệu thống kê năm 2002 riêng huyện Hàm Tân đã khai thác 37.584 tấn thuỷ sản các loại, với 1200 tàu thuyền, tổng công suất lên tới 61.600 CV Đó là chưa kể tới các hoạt động của các tàu thuyền của các nơi khác đến khu vực hoạt động, thông thương

và trung chuyển hàng hoá

Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở khu vực phát triển mạnh trong những năm gần đây với tốc độ tăng trưởng nhanh, đặc biệt là hoạt động nuôi tôm Diện tích nuôi tôm huyện Hàm Tân khoảng 243 hecta (năm 2003), tập trung ở các xã Tân Hải, Tân Bình, Tân Thắng Hình thức nuôi là cả nuôi đầm và nuôi lồng với quy mô từ nuôi thâm canh tới bán thâm canh và quảng canh

Bảng 1.8 Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các xã ven biển (ha)

Nguồn: Kết quả điều tra kinh tế - xã hội khu vực khu vực ven biển Phan Thiết - Hồ Tràm năm 2004

Công nghiệp: chủ yếu là các ngành như công nghiệp khai thác, chế biến,

Ngoài ra ở thị trấn La Gi còn có các trạm sửa chữa cơ khí nhỏ gia công các nông cụ sản xuất nông nghiệp, phương tiện vận tải, đáp ứng kịp thời cho việc phát triển kinh tế của địa phương Bên cạnh các cơ sở sửa chữa và đóng tàu thuyền phục vụ cho việc đánh bắt cá, huyện Hàm Tân còn có các xí nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, các xí nghiệp chế biến thực phẩm đông lạnh

Trang 17

Theo số liệu thống kê năm 2002 tại huyện Hàm Tân có 1172 cơ sở sản suất công nghiệp ngoài Quốc doanh, thu hút khoảng 3797 người lao động Tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các cơ sở này trong toàn huyện đạt trên 92 tỉ đồng

Khai thác khoáng sản: Công nghiệp khai khoáng đang phát triển (khai thác đá

xây dựng ở mỏ Tân Hà, mỏ Núi Le, mỏ Hòn Vung; cát xây dựng ở mỏ Tân Thắng, mỏ Sông Dinh Đặc biệt mỏ Ilmenit Hàm Tân đang được khai thác và hàng năm đã thu được hàng triệu USD Nhà máy khoáng sản của Công ty Liên doanh khoáng sản quốc

tế Hải Tinh (Việt Nam - Trung Quốc) tại xã Tân Hải đã được hoàn tất vào tháng 11 năm 2004 nay đã đi vào sản xuất với vốn đầu tư giai đoạn 1 là 2 triệu USD, hàng năm chế biến 5.000 tấn zircon, 1.000 tấn rutin chất lượng cao, doanh thu dự kiến đạt 5 triệu USD/năm; giai đoạn hai vốn đầu tư tăng lên 10 triệu USD và giai đoạn 3 là 50 triệu USD để tiến tới thành lập các nhà máy sản xuất sứ cao cấp, gạch chịu lửa, que hàn cao cấp Cùng với việc thành lập liên doanh trên là việc mở rộng quy mô và sản lượng khai thác mỏ Hàm Tân

Du lịch: Vùng nghiên cứu có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, những

kiến trúc cổ, các lễ hội truyền thống, các kho tàng văn hoá - nghệ thuật dân gian Đây

là điểm đến của khách du lịch đến tham quan, thưởng ngoạn Đặc biệt tại đây có các bãi cát trắng mịn, nắng ấm, nước xanh trong quanh năm hấp dẫn du khách đến đây tắm biển Trong giai đoạn hiện nay, ngành du lịch khu vực đang phát triển rất mạnh và được nhận định là ngành kinh tế mũi nhọn Các điểm du lịch ở đây đều có cảnh quan thiên nhiên đa dạng, nằm ở vị trí thuận lợi không cách quá xa các trung tâm đô thị lớn Hoạt động du lịch phát triển mạnh ở khu vực Đồi Dương, Cam Bình, Dinh Thầy Thím,

Kê Gà và hiện nay tại khu vực Phò Trì – Sơn Mỹ (xã Tân Thắng) hoạt động này bắt đầu được khai thác

Tóm lại, trong vùng nghiên cứu có các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển các ngành: ngư nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch

Trang 18

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHOÁNG SẢN VÙNG PHONG

THỔ, NÔNG SƠN VÀ HÀM TẦN PHẦN 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHOÁNG SẢN VÙNG PHONG THỔ

I ĐỊA TẦNG

Trên diện tích vùng nghiên cứu phân bố rộng rãi các thành tạo trầm tích phun trào với các thành phần đa dạng được hình thành từ Proterozoi đến Kainozoi Chúng gồm các phân vị sau:

GIỚI PROTEROZOI, THỐNG HẠ - TRUNG

1.1 Hệ tầng Suối Chiềng (PRsc 2)

Nguyễn Xuân Bao (1969) đã xác lập và mô tả hệ tầng Suối Chiềng theo mặt cắt điển hình tại Suối Chiềng Hệ tầng phân bố ở Đông Nam vùng nghiên cứu tạo thành một dải kéo dài hình thước thợ, kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Thành phần mặt cắt và đặc điểm biến chất các đá của hệ tầng ít thay đổi theo đường phương và đồng đều trên diện tích phân bố Hệ tầng Suối Chiềng được chia làm 2 tập, nhưng

vùng nghiên cứu chỉ lộ ra tập 2 (PRsc 2): thành phần của tập 2 gồm: đá phiến biotit - epidot - sphen, amphibolit - epidot, xen những lớp mỏng đá phiến felspat thạch anh mica và đá phiến hai mica Chiều dày tập này là 1.400m

1.2 Hệ tầng Sinh Quyền (PR 1-2sq)

Hệ tầng Sinh Quyền do Tạ Việt Dũng và n.n.k xác lập năm 1963 Trong vùng nghiên cứu hệ tầng này lộ ra thành một dải liên tục ở phía Bắc - Đông Bắc vùng nghiên cứu có chiều dài khoảng 25km, chiều rộng khoảng 2-2,5km Ranh giới phía Đông Bắc của hệ tầng là các đá xâm nhập thuộc phức hệ Ye Yen Sun và phía Tây Nam là đứt gãy sâu Bản Lang - Nậm Xe (F11)

Thành phần đất đá của hệ tầng được mô tả từ dưới lên như sau:

- Phần dưới gồm plagiogneis, amphibol - biotit, amphibolit, đá phiến thạch anh felspat mica, các đá bị ép, phân phiến, cấu tạo dải và dạng gneis, đôi chỗ có migmatit Các đá thuộc phần dưới của hệ tầng thường cắm về phía Tây Nam Chiều dày của phần dưới đạt tới 150m

- Phần giữa: là các đá gneis biotit, plagiogneis hai mica, đá phiến thạch anh felspat mica, xen các lớp mỏng amphibolit - biotit Nhìn chung đá có màu xám, xám sáng, cấu tạo dải, dạng gneis, chúng cắm về phía Tây Nam, dốc 50-700, chiều dày đạt đến 450m

- Phần trên phân bố dải rác dọc theo bờ phải suối Nậm Xe và phía Đông Nam bản Nậm Xe gồm đá phiến mica, đá phiến sericit, đá vôi bị hoa hóa màu trắng, phân lớp dày, các lớp quarzit biotit màu xám nâu phân lớp mỏng từ một vài mm đến 5-10cm, ở phía Đông Nam Nậm Xe các lớp quarzit bị uốn nếp rất đẹp, chiều dày của phần trên đạt tới 350m

Tổng chiều dày của hệ tầng là 950m

GIỚI PALEOZOI

HỆ DEVON

Trang 19

HỆ DEVON THỐNG HẠ - TRUNG

1.3 Hệ tầng Bản Páp (D 1-2bp)

Hệ tầng Bản Páp do Nguyễn Xuân Bao và n.n.k xác lập năm 1969 Các thành tạo thuộc hệ tầng lộ ra ở hai khu vực phía Bắc và phía Tây vùng nghiên cứu (Đông Bắc-Đông Nam Bản Lang và phía Tây Nam bản Nậm Pập) Đặc điểm mặt cắt của

hệ tầng được chia làm hai tập:

- Tập 1: đá vôi hạt nhỏ màu xám đen phân lớp mỏng xen các lớp đá vôi silic, đá vôi chứa sét khi phong hóa có màu vàng nâu, dày 260m

- Tập 2: đá vôi kết tinh màu xám đến xám sáng, phân lớp dày kẹp giữa là lớp đá vôi silic màu xám đen Đá vôi màu xám đến xám sáng bị hoa hóa yếu, dày 200m

HỆ PERMI

HỆ PERMI THỐNG HẠ - TRUNG Loạt Bản Diệt: các trầm tích loạt Bản Diệt do Tô Văn Thụ xác lập và mô tả năm

1996 trên cơ sở hệ tầng cùng tên của Phan Cự Tiến (1977) với hai hệ tầng chuyển tiếp

là hệ tầng Si Phay (P1-2sp) và hệ tầng Na Vang (P2nv)

1.4 Hệ tầng Si Phay (P 1-2sp)

Hệ tầng Si Phay lộ ra thành một dải ở phía Bắc - Đông Bắc vùng nghiên cứu Ranh giới phía Đông Bắc là đứt gãy Bản Lang - Nậm Xe Đan xen trong các thành tạo này là các thành tạo thuộc hệ tầng Na Vang Tại mặt cắt Na Vang của hệ tầng được chia làm hai tập:

+ Tập 1: - Đá phiến màu xám đen gồm vật chất hữu cơ xen ít đá phiến silic, bột kết, cát kết và đá phiến sét có các vảy nhỏ muscovit

- Đá phiến sét xen bột kết màu xám đen, cát kết đá khoáng

- Đá phiến sét vôi, sét vôi và thấu kính đá vôi

- Đá phiến sét màu đen xen bột kết

Chiều dày tập 1 đạt tới 490m

+ Tập 2: - Đá phiến sét silic màu đen

- Đá phiến sét màu đen, xen ít bột kết màu xám đen

- Đá phiến sét silic phân lớp mỏng, cấu tạo dải màu nâu Các đá này chuyển tiếp lên hệ tầng Na Vang

Chiều dày tập 2 đạt tới 220m

Tổng chiều dày của hệ tầng Si Phay 710m

Trong hệ tầng này có rất nhiều các đai mạch nằm dải rác thuộc phức hệ Phong Thổ có liên quan đến khoáng sản đất hiếm (mỏ đất hiếm Nậm Xe)

Chiều dày tầng 120m

Trang 20

GIỚI MEZOZOI

HỆ TRIAT

HỆ TRIAS THỐNG HẠ BẬC INDI

1.6 Hệ tầng Viên Nam (T 1ivn)

Hệ tầng Viên Nam do Phan Cự Tiến xác lập năm 1975

Các thành tạo phun trào mafic trong vùng tương đương với hệ tầng Viên Nam có tuổi Permi muộn - Trias sớm đã được Bùi Phú Mỹ phân chia (1978) Chúng phân bố rộng ở trung tâm vùng nghiên cứu, từ Bản Khoang Thèn, Vàng Pheo đến Van Hồ, Đông Phong thành một dải dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam và có đặc điểm cấu trúc giống nhau Thành phần mặt cắt tại đây gồm: đá bazan, bazan olivin, bazan hạnh nhân và andezitrachyt Chúng được chia làm 2 phần:

- Phần dưới là bazan hạnh nhân, bazan olivin và các lớp tuf của chúng

- Phần trên chủ yếu là bazan dạng khối màu xám đen, không thấy có cấu tạo hạnh nhân mà phổ biến là cấu tạo định hướng và có kiến trúc porphyr

Thành phần của mặt cắt gồm:

- Dưới là đá phiến sét, bột kết chứa vôi màu xám xanh, vàng nhạt

- Trên là đá vôi xen kẽ với các đá phiến sét vôi màu xám, chúng chuyển tiếp lên

đá vôi phân lớp dày của hệ tầng Đồng Giao

Thành phần mặt cắt đặc trưng của hệ tầng là các đá carbonat gồm 2 tập:

- Tập 1: đá vôi, đá sét vôi phân lớp mỏng, đôi chỗ là đá phiến carbonat, sericit và

đá vôi sét có màu xám đến xám đen, hạt mịn có chứa silic

- Tập 2: đá vôi phân lớp dày đến dạng khối, màu xám đến xám sáng ít nhiều bị đolomit hóa ở mức khác nhau

Trang 21

Tổng chiều dày của hệ tầng ở đây đạt 850m

HỆ TRIAS THỐNG TRUNG BẬC LADIN

1.9 Hệ tầng Mường Trai (T 2 lmt)

Hệ tầng Mường Trai do Trần Đăng Tuyết xác lập (1977) Hệ tầng phân bố ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu có dạng dải hẹp, kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam với chiều rộng khoảng 1km từ bản suối Thầu, Sữ Thàng, Thèn Thẩu đến bản Nà Sẳng Thành phần mặt cắt gồm: cát kết tuf, bột kết, đá sét vôi, đá phiến sét và đá vôi Đặc điểm thạch học của hệ tầng ở mạt cắt bản Bầu Ban gồm:

- Phần dưới là đá phiến sét xen kẹp các lớp hoặc thấu kính đá vôi và các lớp mỏng cát kết, dày 350-400m

- Phần trên gồm: đá phiến sét xen bột kết màu xám đen, chiều dày 300-460m

Hệ tầng Mường Trai phủ trực tiếp không chỉnh hợp lên trên hệ tầng Viên Nam (T1ivn) và tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Nậm Mu ở trên Hệ tầng bị xuyên cắt bởi các

thể xâm nhập nhỏ phức hệ Pu Sam Cap

Chiều dày của hệ tầng 400-450m

HỆ TRIAS THỐNG THƯỢNG BẬC CARNI

1.10 Hệ tầng Nậm Mu (T 3 cnm)

Hệ tầng Nậm Mu được Dovjikov A.E., Bùi Phú Mỹ phân chia (1965) Trên diện tích vùng nghiên cứu hệ tầng Nậm Mu phân bố thành hai dải ở Tây Bắc và Đông Nam vùng nghiên cứu Dải thứ nhất phân bố ở phía Đông Bắc thị trấn Phong Thổ (mới), dải thứ hai nằm ở Đông Nam mỏ Đông Pao

Thành phần gồm: đá phiến sét màu đen xen các lớp mỏng bột kết và cát kết hạt nhỏ màu xám có chứa các dạng Pelecpoda phổ biến ở Carni

Chiều dày quan sát được 600-700m

Hệ tầng Nậm Mu tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Suối Bàng và

bị xuyên cắt bởi các thể magma phức hệ Pu Sam Cap, phức hệ Nậm Xe - Tam Đường

HỆ TRIAS THỐNG THƯỢNG BẬC NORI-RET

1.11 Hệ tầng Suối Bàng (T 3 n-rsb)

Do Dovjikov A.E và n.n.k xác lập (1965) Các trầm tích chứa than hệ tầng Suối Bàng phân bố ở phía Tây Bắc và Đông Nam vùng nghiên cứu Thành 2 dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam Dải Tây Bắc thuộc phía Đông Bắc - Tây Nam bản Huồi Luông Dải Đông Nam kéo dài từ bản Chiềng Là đến bản Nậm Đích

Mặt cắt của hệ tầng gồm 2 tập:

- Tập 1: đá phiến sét xen các lớp mỏng bột kết Chiều dày quan sát được 260m

- Tập 2: được phân biệt với tập 1 do có sự gia tăng của cát kết trong thành phần mặt cắt Bao gồm: cát kết xen kẽ cát bột kết và đá phiến sét than màu xám đen

Hệ tầng Suối Bàng có quan hệ kiến tạo với các hệ tầng Nậm Mu, hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Đồng Giao và bị các thể xâm nhập phức hệ Nậm Xe - Tam Đường, đá mạch minet phức hệ Pu Sam Cap xuyên cắt

Trang 22

Chiều dày của hệ tầng là 560m

HỆ CRETA THỐNG THƯỢNG

1.12 Hệ tầng Yên Châu (K 2yc)

Hệ tầng Yên Châu do Nguyễn Xuân Bao và Từ Lê xác lập năm 1964 Hệ tầng phân bố ở phía Tây vùng nghiên cứu thành một dải rộng kéo dài theo phương Tây Bắc

- Đông Nam Ranh giới phía Đông Bắc của hệ tầng giáp với hệ tầng Đồng Giao Hệ tầng được chia thành 3 tập Thành phần thạch học gồm:

- Tập 1: cuội kết, sỏi kết đa khoáng, phân lớp dày đến dạng khối, thành phần chủ yếu là thạch anh xen ít cát kết dạng quarzit và phiến silic, chuyển lên trên là sạn kết, cát kết thạch anh màu xám vàng, chứa cuội hoặc những ổ hay thấu kính cuội kết đa khoáng màu xám vàng Trên cùng là cát kết hạt thô màu xám sáng phân lớp dày đến dạng khối, thường phân lớp xiên, thỉnh thoảng xen lớp mỏng cát bột kết màu xám, dày 500m

- Tập 2: bột kết màu nâu đỏ phân lớp trung bình đến dày, có các ổ nhỏ thạch cao, xen kẽ với cát kết hạt vừa màu vàng nhạt, phân lớp trung bình, dày 380m

- Tập 3: cuội dăm vôi, cuội kết vôi hoặc cuội tảng kết vôi, thành phần chủ yếu là đá vôi của hệ tầng Đồng Giao, một phần là cát kết dạng quarzit, xen trong cuội kết, thỉnh thoảng gặp cát kết, sạn kết hạt thô màu đỏ nhạt, dày 400m

Chiều dày của hệ tầng khoảng 1.280m

HỆ PALEOGEN

1.13 Hệ tầng Pu Tra (Ept)

Hệ tầng Pu Tra được Trần Đức Lương và Nguyễn Xuân Bao xác lập (1989), trên

cơ sở quan sát mô tả của Bùi Phú Mỹ (1971) Các đá của hệ tầng lộ ra ở Đông Nam vùng nghiên cứu thành 2 khối, thuộc khu vực bản Sin Câu, một khối nhỏ lộ ra ở bản Thẳm

Thành phần thạch học của hệ tầng gồm chủ yếu là tuf dăm, tuf, cát sạn kết và tuf

đá tảng có thành phần là đá phun trào trachyt màu nâu gụ, màu đỏ và trachyt porphyr với chiều dày khoảng 350m

GIỚI KAINOZOI

HỆ ĐỆ TỨ Các thành tạo trầm tích Đệ tứ phân bố hạn chế dọc theo các thung lũng dưới dạng các bãi bồi, bậc thềm, trũng giữa núi gồm có:

Trầm tích pleistoxen

1.14 Trầm tích Pleistoxen trung (aQ 1 2 )

Trầm tích Pleistocen trung (aQ12), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng khá rộng ở vùng bản Mường Mới Thành phần trầm tích từ dưới lên trên gồm: cuội, sỏi, cát, tảng, ít cát bột Thành phần đa khoáng, chiều dày 2-3m

1.15 Trầm tích pleistocen thượng (aQ 1 3 )

Trang 23

Trầm tích Pleistocen thượng (aQ13), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng tương đối rộng ở vùng bản Mường Mới, Vàng Bâu, thành phần trầm tích gồm: cuội, cát, tảng Thành phần đa khoáng, chiều dày 1-2m

Trầm tích Holocen 1.16 Trầm tích Holocen, hạ - trung (aQ 2 1-2 )

Trầm tích Holocen, hạ - trung (aQ21-2) có nguồn gốc sông, phân bố thành các bậc thềm, thềm cao và phát triển nơi đoạn vách thung lũng mở rộng như ở phía Tây Nam bản Mương Mới Thành phần trầm tích gồm:

- Các tích tụ dọc thung lũng suối đều thể hiện hai phần: dưới là tướng lòng sông, trên là tướng bãi bồi mịn hơn, mặt cắt thường có hai phần:

+ Dưới là cuội sỏi, cát lẫn đá tảng, không gắn kết

+ Trên là cát sạn, sét màu xám vàng

Chiều dày 6-8m

1.17 Trầm tích Holocen thương (a,apQ 2 3 )

Trầm tích Holocen thương (a,apQ23), có nguồn gốc sông, sông lũ, phân bố thành các bãi bồi, thềm thấp và phát triển nơi đoạn thung lũng mở rộng, cát bồi trũng lòng chảo karst chiều dày khoảng 500m và dài tới 2-3km Như ở thung lũng bản Vàng Bâu

- bản Hồng Ngài, Bản Giang và dọc suối Nậm So Thành phần trầm tích gồm: cuôi, tảng, sạn, cát, bột, sét màu xám vàng, chiều dày từ 1-5m

II MAGMA

Theo kết quả khảo sát nghiên cứu của các nhóm tờ bản đồ 1/50.000 (nhóm tờ Lào Cai và Phong Thổ) đã xác định được sự có mặt của 8 phức hệ magma có tuổi từ Paleozoi giữa đến Kainozoi Ngoài ra còn tồn tại một số thành tạo magma xâm nhập ở dạng đai, mạch chưa xác định được thời gian thành tạo

Thành tạo xâm nhập Paleozoi giữa

2.1 Phức hệ Mường Hum (aG/PZ 2mh)

Các thành tạo thuộc phức hệ phân bố thành một khối nhỏ ở ngọn suối Nậm Che phía Đông Nam vùng nghiên cứu với diện tích khoảng 8km2 (khối Chu Va) Thành phần chủ yếu là: granit kiềm, ít hơn là granosyenit kiềm, syenit kiềm và syenitdiorit

Thành tạo xâm nhập Creta 2.2 Phức hệ núi lửa Ngòi Thia (R p/Knt)

Phức hệ do Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Cự Tiến xác lập (1977) và được đề cập đến trong nhiều công trình của các tác giả khác (Đào Đình Thục 1980, )

Phức hệ được xác định bởi các đá thuộc tướng á núi lửa, chủ yếu là ryolit, porphyr

Phức hệ núi lửa Ngòi Thia phân bố ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu thành dải không liên tục, kéo dài khoảng 20km từ Bắc Bình Lư đến Thân Thuộc theo phương Tây Bắc - Đông Nam với diện tích khoảng 18km2 Phía Tây Nam phức hệ có quan hệ kiến tạo với hệ tầng Mường Trai (T2lmt) bởi đứt gãy chính Bình Lư -Thân Thuộc Phía

Đông Bắc phức hệ có quan hệ không rõ ràng với granitoid á núi lửa của phức hệ Phu

Sa Phìn (Gp-Syp/Kpp) và được vẽ quan hệ xuyên cắt giả định

Trang 24

Thành phần thạch học chủ yếu của phức hệ là ryolit porphyr, chiếm khoảng 95% diện tích phân bố Các đá còn lại chỉ chiếm khoảng 5% diện tích và gồm có: porphyr thạch anh, ryodacit, tuf ryolit Quan hệ giữa các đá trên mang tính phân dị

Phức hệ núi lửa Ngòi Thia trong vùng bao gồm 3 tướng đá:

1 Tướng phun nổ: có diện tích phân bố hẹp (khoảng 2% diện tích) và chỉ gặp

một diện nhỏ ở khu vực Huổi Ke với thành phần là tuf của ryolit

2 Tướng phun trào: chiếm khoảng 70% diện tích và phân bố ở phía Tây Bắc của

dải đá, bao gồm các đá ryolit porphyr và ryodacit porphyr với lượng ban tinh trong đá chiếm 3-14%

3 Tướng á núi lửa: chiếm khoảng 28% diện tích và phân bố ở phía Đông Nam

của dải, bao gồm các đá ryolit porphyr và porphyr thạch anh với lượng ban tinh trong

đá 18-37% Các thành tạo này phần lớn tạo nên các thể lấp đầy khe nứt và trồi lên trên mặt dưới dạng các vòm nghiêng và nằm dọc theo đứt gãy Trong các đá này có chứa các nguyên tố phóng xạ như K, U, Th

Thành tạo xâm nhập Trias 2.3 Phức hệ Phu Sa Phìn (G p -Sy p/Kpp)

Phức hệ Phu Sa Phìn được Izokh E.P (1965) phân chia bao gồm các đá xâm nhập

á núi lửa, các đá thuộc phức hệ núi lửa phân bố trong vùng nghiên cứu thuộc phần Tây Bắc của khối Nậm Khê - Đông Tam Đường với diện tích khoảng 110km2 Phía Tây Nam khối vẽ giả định xuyên cắt các thành tạo núi lửa phức hệ Ngòi Thia (Rp/Knt) Phía Đông Bắc khối có quan hệ kiến tạo với granitoid phức hệ Ye Yen Sun (G/Eys)

Trong granit phức hệ Ye Yen Sun còn chứa thể tù syenit porphyr phức hệ Phu Sa Phìn Bên trong có nhiều khối nhỏ và các thân dạng tường syenit kiềm, granosyenit kiềm

của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent), granitbiotit hạt nhỏ, đá mạch granit

aplit của phức hệ Ye Yen Sun Ngoài ra xung quanh khối còn có quan hệ kiến tạo với phức hệ Mường Hum (aG/PZ2mh), hệ tầng Suối Chiềng (PRsc), hệ tầng Viên Nam

(T1vn), hệ tầng Mường Trai (T2lmt)

Thành phần thạch học của khối gồm: syenit porphyr, granosyenit porphyr, syenit porphyr thạch anh, granit dạng porphyr, granit granophyr, granit felspat kiềm Một phần các đá của phức hệ kết tinh tương đối đều hạt, không có kiến trúc porphyr Quan

hệ giữa các đá trong khối mang tính phân dị, chuyển tiếp từ syenit qua các đá trung gian là syenit thạch anh và granosyenit đến granit felspat kiềm

2.4 Phức hệ Ba Vì (Gb/T 1bv)

Trong hệ tầng Viên Nam phức hệ Ba Vì lộ ra thành 6 chỏm nhỏ phân bố với diện tích khoảng 0,3km2, ở gần trung tâm vùng nghiên cứu Thành phần gồm: gabrodiabas, gabro Trong các đá này hàm lượng các nguyên tố phóng xạ thấp

Thành tạo xâm nhập Paleogen

2.5 Phức hệ Ye Yen Sun (G/Eys)

Phức hệ Ye Yen Sun do Izokh E.P thành lập (1965) Các thành tạo thuộc phức

hệ phân bố trên toàn bộ Đông Bắc vùng nghiên cứu, đây là phần rìa Tây Nam của thể batolit rất lớn của sườn Đông dãy Fan Si Pan với diện tích thuộc vùng nghiên cứu khoảng 130km2

Phía Tây Nam phức hệ có quan hệ xuyên cắt với hệ tầng Suối Chiềng (PRsc),

phức hệ Mường Hum, phức hệ Phu Sa Phìn và quan hệ kiến tạo với hệ tầng Na Vang,

hệ tầng Si Phay, hệ tầng Viên Nam, phức hệ Nậm Xe - Tam Đường Phía Đông Bắc

Trang 25

phức hệ có quan hệ xuyên cắt với hệ tầng Suối Chiềng, hệ tầng Bản Páp, phức hệ Mường Hum Trong khối Ye Yen Sun còn gặp các thể syenit kiềm, granit kiềm của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường

Nhìn tổng thể trong khối nhận thấy ở trung tâm khối đá thường kết tinh hạt vừa, còn rìa khối đá kết tinh hạt nhỏ Các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng aplit, pegmatit vag granit pegmatit xuyên cắt các đá trong khối và hầu hết các thành tạo vây quanh

Phức hệ Ye Yen Sun được hình thành bởi 2 pha xâm nhập:

- Pha 1: granit biotit, granit biotit - amphibol và các đá lai tính granodiorit, granosyenit, syenit

- Pha 2: các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng aplit, pegmatit và granit pegmatit

2.6 Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent)

Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường do Izokh.E.P phân chia (1965) Các thân xâm nhập của phức hệ này thường có kích thước nhỏ hơn 2km2, phân bố chủ yếu ở nửa Đông Nam vùng nghiên cứu (gồm 10 khối nhỏ với diện tích 10,5km2) Chúng thường

có dạng khối nhỏ hoặc đai mạch xuyên cắt các đá granitoid phức hệ Ye Yen Sun, phức

hệ Phu Sa Phìn hoặc các trầm tích lục nguyên, lục nguyên - carbonat, carbonat của các

hệ tầng: Đồng Giao (T2ađg), Mường Trai (T2lmt), Nậm Mu (T3cnm)

Thành phần thạch học của các thể xâm nhập thường khác nhau, thay đổi từ syenit kiềm, granosyenit kiềm đến granit kiềm Có lẽ là do quá trình phân dị kết tinh các hợp phần thạch anh và felspat phân bố không đều đá hình thành các loại đá khác nhau trong một không gian hẹp

Các thể xâm nhập nhỏ của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường thường phát triển dọc theo đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam và dọc các đứt gãy giữa các trầm tích Trias

từ Tam Đường qua Bình Lư đến Thân Thuộc, các thân xâm nhập kiềm phân bố trong các thung lũng kín hẹp

2.7 Phức hệ Pu Sam Cáp (aSy p/Epc)

Phức hệ Pu Sam Cáp do Izokh.E.P thành lập năm 1965 Trong vùng nghiên cứu phức hệ này gồm các khối bản Suối Thầu, Tam Đường, Đông Pao và các đai mạch, thể tường minet… với tổng diện tích phân bố khoảng 12,7km2

Quan hệ giữa các khối với đá vây quanh như sau: khối Đông Pao xuyên cắt và gây hoa hóa đá vôi hệ tầng Đồng Giao, khối Tam Đường xuyên cắt và gây sừng hóa các đá phiến sét và cát kết hệ tầng Suối Bàng (T3n-rsb) Các đá syenitoid của phức hệ

Pu Sam Cáp luôn luôn gần gũi về không gian với phun trào trachyt và tuf của chúng

Hệ thống các đá mạch của phức hệ phân bố chủ yếu ở khu vực phía Tây Bắc của vùng nghiên cứu, thành phần của chúng rất phong phú và đa dạng, bao gồm từ minet, shonkinit, syenit aplit đến bostonit Chúng xuyên cắt các đá granitoid của phức hệ Ye Yen Sun, syenitoid pha 1 của phức hệ Pu Sam Cáp, phun trào của hệ tầng Pu Tra và các phân vị địa tầng tuổi Mesozoi từ Trias đến Kreta có mặt trong vùng

Phức hệ Pu Sam Cáp được hình thành bởi 2 pha xâm nhập:

- Pha 1 gồm 2 tướng:

+Tướng ven rìa: syenit porphyr và granosyenit porphyr

+ Tướng trung tâm: syenit hạt nhỏ đến hạt vừa và syenit thạch anh

Trang 26

- Pha 2: các đá mạch minet, shonkinit, syenit aplit và bostonit

Các thành tạo quặng đất hiếm phóng xạ có quan hệ mật thiết với phức hệ Pu Sam Cáp, toàn bộ hệ thống mỏ Đông Pao nằm trên khối Bản Thẳm

2.8 Phức hệ Phong Thổ (aSy/Ept)

Phức hệ Phong Thổ được Bùi Minh Tâm và Tô Văn Thụ xác lập khi đo vẽ và thành lập nhóm tờ bản đồ Phong Thổ bao gồm các đai mạch minet, shonkinit, cocit…Các mạch cacbonatit, đai cơ và xâm nhập dạng họng nhỏ có thành phần từ mafic - trung tính kiềm kali có thể tương ứng với kiểu lamproid thấp titan, cao nhôm kiểu Địa Trung Hải Phân bố rải rác trong hệ tầng Viên Nam, Si Phay và dọc theo suối Nậm So Chúng được phân chia thành 2 nhóm chính:

- Nhóm lamproid: các đá mafic, trung tính cao magie và kali

- Nhóm cacbonatit

2.9 Thành tạo xâm nhập chưa rõ tuổi

Ngoài những phức hệ nêu trên và những đai mạch đã xác định được tuổi, còn một

số đá mạch xâm nhập chưa rõ tuổi như đai mạch lamprophyr (L) Diện phân bố chủ yếu ở gần trung tâm vùng nghiên cứu Các thể xâm nhập này thường có dạng khối nhỏ kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, thậm chí còn có hình dạng tựa như thấu kính, chúng xuyên cắt các đá biến chất của hệ tầng Sinh Quyền và hệ tầng Viên Nam, đôi lúc chúng còn có kiến tạo với một số phân vị khác Ranh Giới giữa xâm nhập này

và đá vây quanh không rõ ràng

III KIẾN TẠO

Trên cơ sở tổng hợp tài liệu điều tra lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1/50.000 của hai nhóm tờ Lào Cai và Phong Thổ liên quan đến diện tích vùng nghiên cứu có kết hợp với các tài liệu nghiên cứu cấu trúc khu vực của các nhà địa chất khác đã xác lập các đới kiến trúc và hệ thống đứt gãy trong vùng Vùng nghiên cứu gồm hai đới kiến trúc, mỗi đới được cấu thành bởi các tổ hợp thạch kiến tạo (THTKT) Mỗi THTKT được hình thành trong bối cảnh kiến tạo riêng

3.1 Các đới kiến trúc:

Vùng nghiên cứu thuộc miền kiến tạo Tây Bắc bao gồm một phần diện tích của 2 đới kiến trúc lớn là đới Fan Si Pan và đới Sông Đà Các đứt gãy sâu là ranh giới phân chia giữa hai đới Trong đó đới sụt lún Sông Đà được lấp đầy trầm tích lục nguyên và carbonat Đây là miền cấu trúc địa chất phức tạp với nhiều hệ thống đứt gãy, uốn nếp, các thành tạo magma, kèm theo nhiều hoạt động tạo khoáng

- Đới kiến trúc Fan Si Pan: đới này phân bố ở Bắc - Đông Bắc vùng nghiên

cứu Đới phân cách với đới kiến trúc Sông Đà ở phía Tây Bắc bằng đứt gãy sâu Bản Lang - Nậm Xe (F11) kéo dài khoảng 25km và ở phía Đông Nam bằng đứt gãy sâu Bình Lư - Thân Thuộc (F12) với chiều dài ở vùng nghiên cứu khoảng 35km Đới kiến trúc này được cấu thành bởi các THTKT sau:

+ THTKT Proterozoi sớm - giữa gồm các đá lục nguyên, phun trào mafic bị biến

chất tướng anmandin - tremonit thuộc hệ tầng Suối Chiềng (PRsc 2), hệ tầng Sinh Quyền (PR1-2 sq)

+ THTKT Paleozoi giữa (PZ2) gồm các thành tạo granit phức hệ Mường Hum (aG/PZ2mh)

Trang 27

+ THTKT Mezozoi muộn Kainozoi bao gồm các thành tạo của phức hệ granitoid

Ye Yen Sun, Phu Sa Phìn, các thành tạo núi lửa của phức hệ Ngòi Thia

- Đới kiến trúc Sông Đà: đây là miền sụt lún được hình thành bởi các THTKT

+ THTKT Kainozoi (KZ) bao gồm các thành tạo phun trào và lục nguyên của các

hệ tầng Pu Tra (Ept) và các thành tạo bở rời Đệ tứ, các phức hệ xâm nhập Ye Yen Sun (G/Eys), Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent) và Pu Sam Cáp (aSyp/Epc)

3.2 Cấu trúc nếp uốn

Trên các đới kiến trúc phát triển những cấu trúc nếp uốn Cơ sở cho việc xác lập các cấu trúc nếp uốn trên diện tích nghiên cứu là phức hệ vật chất kiến trúc, sự khống chế trong không gian của các loại đứt gãy Trong đó các đứt gãy cấp II giữ vai trò quan trọng Những cấu trúc nếp uốn dạng tuyến kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam

có các đối tượng cụ thể sau:

- Nếp uốn dạng đơn nghiêng

Nếp uốn Mu Sang: phân bố dạng tuyến, phương trục Tây Bắc - Đông Nam, nằm

ở phươngần cánh phía Bắc của đới Sông Đà, phức hệ vật chất kiến trúc có mặt trong nếp uốn này là các thành tạo lục nguyên cả, thành tạo phun trào mafic Nói chung các

đá đều có thế nằm đơn nghiêng về phía Tây Nam, góc dốc từ 50-600 Nếp uốn có diện tích khoảng 200-300km2, khống chế trong không gian bởi hai đứt gãy Bản Lang - Nậm

Xe (F11) ở phía Đông và đứt gãy Mường So - Thèn Sin (F21) ở phía Tây, là các thể xâm nhập granitoid thuộc phức hệ Ye Yen Sun, Pu Sam Cáp và phức hệ đai mạch Phong Thổ

- Phức hệ nếp vồng Lang Nhị Thang

Phân bố dạng tuyến phương trục Tây Bắc - Đông Nam, dài khoảng 35-40km, rộng 16-18km Ranh giới phía Tây Bắc, Tây Nam là đứt gãy Nậm Mạ (F12), phức hệ vật chất kiến trúc được tạo lập bởi các trầm tích lục nguyên carbonat Đá phiến sét, tuf,

đá vôi (hệ tầng Tân Lạc - Đồng Giao), đá phiến sét (hệ tầng Nậm Mu), đá phiến sét chứa than, cát bột kết (hệ tầng Suối Bàng); cuội kết, sạn kết, cát kết, bột kết màu nâu

đỏ (hệ tầng Yên Châu) và các đai mạch, khối xâm nhập granitoid (Pu Sam Cáp, Phong Thổ) có mặt trong nếp vồng thường có thế nằm cắm về phía Tây Nam hoặc Đông Bắc, góc dốc 40-600, ở gần đứt gãy độ dốc lên tới 70-800 Ở phức nếp vồng này đã xác lập được 3 nếp vồng và 1 nếp võng nhỏ như sau:

+ Nếp vồng Lang Nhị Thang

+ Nếp vồng Nam Mường So

Trang 28

- Đứt gãy Bình Lư - Thân Thuộc (F12): phân bố theo dạng kéo dài từ bản Bình Lư đến bản Thân Thuộc theo phương Tây Bắc - Đông Nam dài khoảng 35km trong vùng nghiên cứu Đứt gãy này cũng là đường phân chia ranh giới giữa hai đới kiến trúc Fan

Si Pan với đới kiến trúc Sông Đà, cắm nghiêng về phía Tây Nam, với góc dốc 60-700,

có lẽ được hình thành vào Proterozoi sớm - giữa (hệ tầng Sinh Quyền) Do đó đã tạo nên một số đới dập vỡ mạnh mẽ thuận lợi cho các hoạt động phun trào (hệ tầng Viên Nam) trong phạm vi ảnh hưởng của đứt gãy đã phân định được nhiều biểu hiện quặng hóa, đất hiếm, xạ, molybden, đồng, pyrit, chì, kẽm, vàng

- Đứt gãy Nậm Mạ (F3

1): phát triển dọc theo khu vực suối Nậm Mạ kéo dài theo hướng Đông Nam (dọc thung lũng Nậm Mạ) dài khoảng 12km lộ ra trong vùng nghiên cứu, phát triển như một đứt gãy thuận, giữ vai trò là đường ranh giới phân chia đới kiến trúc Sông Mã với đới kiến trúc Sông Đà, cắm nghiêng về phía Đông Bắc với góc dốc 600 - 700 Đứt gãy được xác định có phương 300 - 400 và có á kinh tuyến 150 - 200 Đứt gãy có lẽ được hình thành và hoạt động rõ rệt trong Trias sớm tạo đới dập vỡ mạnh mẽ thuận lợi cho các hoạt động phun trào (hệ tầng Viên Nam) Đôi chỗ còn phát hiện được di chỉ của một số họng núi lửa Vào Mezozoi muộn tái hoạt động theo cơ chế dồn ép tạo bồn trũng dọc theo sườn phía Đông, Đông Nam tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ các thành tạo lục nguyên chứa than (hệ tầng Suối Bàng)và phức hệ vật chất vụn thô màu nâu đỏ (hệ tầng Yên Châu) Đứt gãy này khống chế diện phân bố các thể granitoid và các đai mạch, dọc đứt gãy đã khoanh định được nhiều diện tích có tiềm năng quặng hóa: đồng, chì, kẽm, vàng

3.3.2 Các đứt gãy cấp II

Vùng nghiên cứu đã phân định được nhiều đứt gãy có quy mô cấp II (F2), chúng

là những đứt gãy phân nhánh tựa vào đứt gãy cấp I (F1) và thường có độ dài từ 15km, có thể thuộc các phương khác nhau song chủ yếu là phương Tây Bắc - Đông Nam và á vĩ tuyến Vai trò là đường ranh giới cho các cấu trúc uốn nếp địa phương bao gồm các đứt gãy Nậm So - Thèn Sin (F12), Nam Mường So (F22), đứt gãy Mu Sang (F32) v.v…

10-Ngoài những đứt gãy cấp I, cấp II đã được mô tả ở trên còn có các đứt gãy nhỏ, nhánh Tất cả chúng đã góp phần làm phức tạp thêm cấu trúc chung của vùng nhưng mặt khác chúng là nhân tố quan trọng vào việc tạo khoáng của toàn vùng nghiên cứu

Trang 29

IV KHOÁNG SẢN

Trong vùng nghiên cứu có khá nhiều loại hình khoáng sản như: vàng, chì - kẽm,

xạ - đất hiếm (K, U, Th) và vật liệu xây dựng (đá vôi, cuội sỏi cát, sét gạch ngói), nước nóng, nước khoáng Trong đó các loại khoáng sản chính gồm vàng, chì, kẽm, đất hiếm

Ngoài vàng Tà Lèng trong vùng nghiên cứu còn một số vùng có biểu hiện khoáng sản vàng như ở Yên Thang, Thèn Sin, Suối Thầu và Đông Nam Sin Chải

- Vàng sa khoáng: có ở nhiều nơi nhưng qui mô nhỏ, ít có ý nghĩa

4.2 Chì - kẽm

Phát hiện ở nhiều nơi với đặc điểm quặng hóa khá đa dạng ở Si Phay chì kẽm đi cùng với vàng - bạc; ở bản Lang, bản Nậm Khan, Sin Chải chì kẽm đi cùng với đất hiếm, barit, flourit… Phần lớn biểu hiện quặng chì kẽm phân bố trong đá vôi của hệ tầng Bản Páp, Đồng Giao và một ít trong đá lục nguyên có chứa các thấu kính carbonat của hệ tầng Si Phay Hàm lượng quặng thay đổi trong khoảng rộng từ rất nghèo đến giàu Nói chung biểu hiện quặng chì kẽm cần được đầu tư nghiên cứu cùng với vàng bạc ở khu vực Si Phay và lấy kèm khi khai thác mỏ đất hiếm Bắc Nậm Xe

Mổ thuộc xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

Quặng đất hiếm chứa kim loại phóng xạ phân bố chủ yếu nằm trong các đá phiến sét, đá phiến silic, đá vôi, đá hoa thuộc hệ tầng Si Phay (P1-2sp) và hệ tầng Na Vang

(P2nv) Trong đá carbonat thường có dạng ổ, túi, thấu kính với mức độ tập trung khác

nhau từ xâm tán thưa đến đặc sít Còn trong phiến sét, đá phiến silic thường có dạng mạch, mạng mạch xâm tán thưa Thành phần khoáng vật của quặng chủ yếu gồm: carbonat (60-80%) như canxit, barizit, basnezit, ít hơn là khoáng vật apatit, magnetit,

Trang 30

barit, pyrit, galenit, biotit, microclin Hàm lượng tổng oxit đất hiếm thay đổi từ vài phần nghìn đến 34%, trung bình đạt 4-6% TR2O3 Ngoài quặng gốc còn gặp quặng thứ sinh trong vỏ phong hóa với hàm lượng TR2O3 thay đổi từ 0,01% đến 28%, trung bình

là 4% Tổng tài nguyên dự báo:

Mạch quặng kéo dài từ 200-1000m và dày 2,5m, thường bị phân nhánh phức tạp

và đôi khi thay đổi kích thước khá đột ngột Theo kết quả tìm kiếm đã khống chế được

4 thân quặng Dài từ 450-1030m, chiều dày 0,2-1,75m, thường dài từ 530-800m và dày từ 0,2-1,35m

Quặng đất hiếm ở mỏ Nam Nậm Xe cũng thuộc loại nhóm nhẹ Thành phần khoáng vật của quặng tương đối đơn giản, gồm chủ yếu là barit, parizit, ankerit, calcit, biotit ít pyrit, galenit, sphalerit, magnetit, fluorit và thạch anh Hàm lượng tổng oxit đất hiếm thay đổi từ 0,8-36,2%, trung bình 10,6% Ngoài những thân quặng kể trên, ở mỏ Nam Nậm Xe còn có một thể đá carbonat chứa quặng đất hiếm dưới dạng xâm tán với hàm lượng TR2O3 0,4-1%

Trữ lượng cấp B+C1= 199.168 tấn TR2O3

Tài nguyên dự báo: 3 triệu tấn TR2O3

Các kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy các mỏ đất hiếm Nậm Xe có nguồn gốc nhiệt dịch

c Mỏ Đông Pao

Có tọa độ: 22018’12” vĩ độ Bắc

103032’52” kinh độ Đông

Thuộc xã Bản Hon, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Kết quả tìm kiếm đánh giá

đã xác định được 60 thân quặng đất hiếm - barit - fluorit có dạng mạch, dạng thấu kính

và đới mạch phức tạp Quặng phân bố chủ yếu theo hệ thống khe nứt của đá syenit kiềm, syenit porphyr thuộc phức hệ Pu Sam Cáp và một số phân bố trong đá vôi hệ tầng Đồng Giao tại gần nơi tiếp xúc với syenit Các thân quặng được khống chế bởi hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam và Á vĩ tuyến

Tập hợp khoáng vật ở Đông Pao gồm: fluorit, barit, batnhezit…, đất hiếm do phong hóa, lantanit, monazit và xenotim Quặng cấu tạo khối tinh thể, dạng mạch ổ xâm tán dày và dạng đất bở rời Hàm lượng quặng gồm: đất hiếm TR2O3 = 0,3-12%; BaSO4 = 20-70%; CaF2 = 10-60% Quặng đất hiếm - barit - fluorit - uran - thori ở đây

có nguồn gốc nhiệt dịch, nguồn gốc nhiệt dịch cacbonatit

Trữ lượng quặng như sau: TR2O3 cấp C1+C2 = trên 500.000 tấn

cấp P1+P2 = trên 10.000 tấn

Ngày đăng: 11/05/2014, 17:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Ngô Quang Toàn và Nguyễn Thành Vạn và nnk, 2000. Vỏ phong hoá và trầm tích Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1:1000.000. Lưu trữ Địa chất – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vỏ phong hoá và trầm tích Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1:1000.000
Tác giả: Ngô Quang Toàn, Nguyễn Thành Vạn, nnk
Nhà XB: Lưu trữ Địa chất – Hà Nội
Năm: 2000
4. Hà Quốc Hùng, 1988. Kết quả nghiên cứu địa chất mặt móng bể than Nông Sơn bằng phương pháp trọng lực tỷ lệ 1/50.000. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu địa chất mặt móng bể than Nông Sơn bằng phương pháp trọng lực tỷ lệ 1/50.000
Tác giả: Hà Quốc Hùng
Nhà XB: Lưu trữ Địa chất, Hà Nội
Năm: 1988
5. Nguyễn Văn Hoai, năm 1990, Đánh giá tiềm năng Urani và một số Nguyên liệu khoáng, phục vụ cho công nghiệp năng lượng nguyên tử trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Lưu trữ Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng Urani và một số Nguyên liệu khoáng, phục vụ cho công nghiệp năng lượng nguyên tử trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hoai
Nhà XB: Lưu trữ Liên đoàn Địa chất Xạ Hiếm
Năm: 1990
12. Cát Nguyên Hùng, năm 1996, Địa chất và Khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Hội An - Đà Nẵng, Lưu trữ Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam, Thành phố HCM.* Khu vực Hàm Tân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất và Khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Hội An - Đà Nẵng
Tác giả: Cát Nguyên Hùng
Nhà XB: Lưu trữ Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam
Năm: 1996
1. Nguyễn Xuân Bao và nnk -1981. Báo cáo kết quả đo vẽ và tìm kiếm khoáng sản Nam Việt Nam tỷ lệ 1:500.000. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đo vẽ và tìm kiếm khoáng sản Nam Việt Nam tỷ lệ 1:500.000
Tác giả: Nguyễn Xuân Bao, nnk
Nhà XB: Lưu trữ Địa chất, Hà Nội
Năm: 1981
3. Nguyễn Văn Nam, năm 1984, Tìm kiếm Titan ven biển thuộc vùng hoạt động liên đoàn 5. Lưu trữ Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm kiếm Titan ven biển thuộc vùng hoạt động liên đoàn 5
Tác giả: Nguyễn Văn Nam
Nhà XB: Lưu trữ Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam
Năm: 1984
4. Nguyễn Viết Thắm -1984. Báo cáo tìm kiếm đánh giá triển vọng cát trắng và sa khoáng dọc ven biển từ Hòn Gốm đến Vũng Tàu tỷ lệ 1:200.000. Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tìm kiếm đánh giá triển vọng cát trắng và sa khoáng dọc ven biển từ Hòn Gốm đến Vũng Tàu tỷ lệ 1:200.000
Tác giả: Nguyễn Viết Thắm
Nhà XB: Lưu trữ Liên đoàn BĐĐCMN
Năm: 1984
7. Lê Như Lai và nnk -1986. Tân kiến tạo thềm lục địa Trung Việt Nam. Các công trình nghiên cứu địa chất và địa vật lý biển. Tập II, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân kiến tạo thềm lục địa Trung Việt Nam
Tác giả: Lê Như Lai, nnk
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 1986
8. Đào Thanh Bình, năm 1988, Tham dò sơ bộ mỏ sa khoáng Ilmenit - Zircon Hàm Tân, Thuận Hải, Lưu trữ Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham dò sơ bộ mỏ sa khoáng Ilmenit - Zircon Hàm Tân, Thuận Hải
Tác giả: Đào Thanh Bình
Nhà XB: Lưu trữ Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam
Năm: 1988
9. Phạm Văn Năm -1994. Lập bản đồ tìm kiếm nước dưới đất vùng Hàm Tân - Bình Thuận. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập bản đồ tìm kiếm nước dưới đất vùng Hàm Tân - Bình Thuận
Tác giả: Phạm Văn Năm
Nhà XB: Lưu trữ Địa chất
Năm: 1994
1. Bùi Phú Mỹ và nnk, 1972 và hiệu đính năm 2000. Địa chất và khoáng sản tờ Kim Bình- Lào Cai tỷ lệ 1:200.000, Lưu trữ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và một số Liên đoàn Địa chất khác Khác
2. Những vấn đề địa chất Tây Bắc Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1977 Khác
3. Phan Cự Tiến và nnk, 1978. Bản đồ địa chất vùng Tây Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 kèm chuyên khảo thuyết minh. Lưu trữ Địa chất – Hà Nội Khác
4. Lê Văn Trảo và nnk, 1982. Bản đồ khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 và thuyết minh. Lưu trữ Địa chất – Hà Nội Khác
5. Trần Đức Lương và nnk, 1988. Bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 và thuyết minh. Lưu trữ Địa chất – Hà Nội Khác
6. Đỗ Tuyết và nnk, 1993. Báo cáo nghiên cứu địa chất karst vùng Tây Bắc. Lưu trữ Địa chất – Hà Nội Khác
7. Mai Thế Truyền và nnk, 1996. Địa chất và khoáng sản nhóm tờ Phong Thổ tỷ lệ 1:50.000, Lưu trữ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và một số Liên đoàn Địa chất khác Khác
8. Tô Văn Thụ, 1996. Địa chất và khoáng sản nhóm tờ Phong Thổ, tỷ lệ 1/50.000. Lưu trữ Địa chất – Hà Nội Khác
10. Một số công trình báo cáo khoa học về địa chất, khoáng sản, địa chất thủy văn, tai biến địa chất liên quan đến lãnh thổ tỉnh Lai Châu. Lưu trữ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và một số Liên đoàn Địa chất khác.*Khu vực Nông Sơn Khác
1. Đoàn 206 và phòng Địa vật lý Liên đoàn Bản đồ,1979, Tìm kiếm chi tiết quặng phóng xạ ở mỏ than Nông Sơn. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống  kê các trị số khí hậu vùng Phong Thổ  Tháng - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.
Bảng 1.1. Thống kê các trị số khí hậu vùng Phong Thổ Tháng (Trang 8)
Bảng 1.3. Thống  kê các trị số khí hậu vùng Hàm Tân - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.
Bảng 1.3. Thống kê các trị số khí hậu vùng Hàm Tân (Trang 10)
Bảng 1.6. Bảng thống kê diện tích và dân số - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.
Bảng 1.6. Bảng thống kê diện tích và dân số (Trang 14)
Bảng 1.7. Bảng thống kê diện tích và dân số vùng Hàm Tân - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.
Bảng 1.7. Bảng thống kê diện tích và dân số vùng Hàm Tân (Trang 15)
Bảng 1.8. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các xã ven biển (ha) - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.
Bảng 1.8. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của các xã ven biển (ha) (Trang 16)
Bảng 1.4. Tính chất vật lý các thành tạo trầm tích và phun trào - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.
Bảng 1.4. Tính chất vật lý các thành tạo trầm tích và phun trào (Trang 48)
Bảng 1.5. Tính chất vật lý các đá magma xâm nhập - nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.
Bảng 1.5. Tính chất vật lý các đá magma xâm nhập (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w