Theo Công ước về Đa dạng sinh học năm 1993 tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững, đa dạng sinh học được định nghĩa là toàn bộ sự phong phú của các thế giới sống
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
XAY NHA LẶC LASY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở KHU BẢO TỒN
QUỐC GIA NẠM ÉT PHU LƠI (NEPL) TỈNH LUANG PHA BĂNG, NƯỚC CHDCND LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
XAY NHA LẶC LASY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Ở KHU BẢO TỒN
QUỐC GIA NẠM ÉT PHU LƠI (NEPL) TỈNH LUANG PHA BĂNG, NƯỚC CHDCND LÀO
Ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 8 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Lan
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Xay Nha Lặc Lasy
Học viên cao học khóa 25
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Niên khóa: 2018 - 2019
Tại: Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học Tôi xin cam đoan:
- Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện - Số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực
- Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng ai công bố trong các nghiên cứu khác
- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên
Thái nguyên, ngày tháng năm 2019
NGƯỜI CAM ĐOAN
Xay Nha Lặc Lasy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo cao học khoá 25 trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới Ban lãnh đạo và cán
bộ Ban quản lý Khu bảo tồn quốc giaNEPL và Sở Nông Lâm NghiệpTỉnh Luang Pra băng, Nước CHDCND Lào ; Dụ án Lens2 và WCS lào, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; và đặc biệt là Cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu, làm việc để hoàn thiện luận văn song
do hạn chế về mặt thời gian và trình độ, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cám ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Xay Nha Lặc Lasy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3.1 Ý nghĩa khoa học: 3
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Điều kiện tự nhiên đất nước Lào 5
1.2 Cơ sở pháp lý 7
1.3 Một số khái niệm liên quan đến ĐDSH và bảo tồn đa dạng sinh học 7
1.3.1 Khái niệm về ĐDSH 7
1.3.2 Bảo tồn ĐDSH 8
1.4 Nghiên cứu về bảo tồn Đa dạng sinh học ở thế giới và CHDCND Lào 10
1.4.1 Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH trên thế giới 10
1.4.2 Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH ở Nước CHDCND Lào 14
1.4.3 Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH tại khu vực nghiên cứu(NEPL) 17
1.4.3 Những nguyên nhân sự suy giảm của đa dạng sinh học 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượngnghiên cứu 26
2.2 Phạm vi nghiên cứu 26
Trang 62.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.4.2.Phương pháp điều tra, phỏng vấn 34
2.4.4 Phương pháp tổng hợp so sánh số liệu thu thập được 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
3.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở khu bảo tồn NEPL 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
3.1.2 Điều kiện Kinh tế xã hội 39
3.1.3 Diễn Biến Tài Nguyên rừng tại khu vực Nghiên cứu 40
3.2 Hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học 41
3.2.1 Đặc điểm động vật có xương sống ở cạn tại khu vực nghiên cứu 50
3.2.2 Đặc điểm đa dạng các loài chim 52
3.3 Nguyên nhân suy giảm ĐDSH ở khu bảo tôn quốc gia NEPL Tỉnh Luang pha băng, Nước CHDCND Lào 55
3.3.1 Nguyên nhân trực tiếp 55
3.3.2 Nguyên nhân gián tiếp 58
3.4 Thực trạng quản lý bảo tồn ĐDSH tại tỉnh LuangPhabang 62
3.4.1 Hệ thống cơ cấu tổ chức quản lý, nguồn lực và cơ sở hạ tầng 62
3.4.2 Thực trạng quản lý bảo tồn ĐDSH tại tỉnh Luang Pha băng 62
3.4.3 Công tác đào tạo, phát triển du lịch sinh thái và giáo dục bảo tồn 64
3.4.4 Ảnh hưởng của các chương trình, chính sách đếnquản lý, bảo tồn ĐDSH trong khu vực nghiên cứu 66
3.4.5 Mối quan hệ giữa chủ rừng với các bên liên quan trong công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH 67
3.5 Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học và Phân tích ma trân SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH tại khu vực nghiên cứu: 71
Trang 73.5.1 Phân tích ma trân SWOT 71
3.5.2 Mục tiêu quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn NEPL: 72
3.5.3 Các giải pháp quản lý, bảo tồn đa dạnh sinh học: 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
1 KẾT LUẬN 75
2 KIẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Diễn biến diện tích rừng và độ che phủ rừng tại khu vực nghiên cứu 40
Bảng 3.2 Diễn biến diện tích rừng tại khu vực nghiên cứu 40
Bảng 3.3 Diện tích các kiểu rừng ở khu vực nghiên cứu năm 2019 44
Bảng 3.4 Thành phần thực vật rừng khu vực nghiên cứu năm 2018 48
Bảng 3.5 So sánh thực vật của khu vực nghiên cứu với các khu vực khác 49
Bảng 3.6 Thành phần các loài động vật có xương sống tại khu vực nghiên cứu 50
Bảng 3.7 So sánh động vật ở khu vực nghiên cứu và các khu vực khác 51
Bảng 3.8 Thành phần loài thú tại khu vực nghiên cứu 51
Bảng 3.9 Mười loài thú nguy cấp, quý hiếm tại khu vực nghiên cứu 52
Bảng 3.10 Thành phần khu hệ Chim ở khu vực nghiên cứu 53
Bảng 3.11 Sự phân bố về cấu trúc thành phần loài chim theo các dạng sinh cảnh 54
Bảng 3.12 Các loài Chim nguy cấp, quý hiếm tại khu vực nghiên cứu 55
Bảng 3.13 Các loài cây gỗ người dân thường khai thác ở khu vực nghiên cứu 56
Bảng 3.14.Tình trạng săn bắt và sử dụng động vật 57
hoang dã ở khu vực nghiên cứu 57
Bảng 3.15 Tổng hợp thực thi pháp luật ở khu vực nghiên cứu 60
Bảng 3.16 Tổng hợp nguồn lực cán bộ công nhân viên trong khu vực 62
Bảng 3.17 Phân tích mối quan hệ giữa chủ rừng và các bên liên quan 68
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình2.1: Hình ảnh Vết cào và dấu chân đã gặp tại KBT NEPL 31
Hình2.2 : Điều tra, Phong vẫn các Ngườn Dân xung quanh tại KBT NEPL 34
Hình 3.1 Rừng kínthường xanh mùa mưa ở địa hình thấp 42
Hình ảnh3.2: Homestay hình Tròn cho khách du lịch tại KBT NEPL 65
Hình ảnh 3.3: Dụ án ủng hộ các xã đặc biệt khó khăn trồng Cà Phê tại KBT NEPL 66
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) được coi là vấn đề chung của toàn cầu Theo Công ước về Đa dạng sinh học năm 1993 tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững, đa dạng sinh học được định nghĩa là toàn bộ sự phong phú của các thế giới sống và các tổ hợp sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong và giữa các loài và sự đa dạng của các hệ sinh thái Đa dạng về loài là - tính đa dạng của các loài trong một vùng Đa dạng di truyền - là sự đa dạng về gen trong một loài Đa dạng hệ sinh thái - là sự đa dạng về môi trường sống của các sinh vật thích nghi với điều kiện tự nhiên của chúng ta ĐDSH luôn thay đổi cùng sự tiến hóa của sinh vật trong quá trình xuất hiện đột biến gen và từ đó hình thành loài mới
Đa dạng sinh học (ĐDSH) có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển và thịnh vượng của loài người Từ bao đời nay, con người sống phụ thuộc vào các hệ sinh thái, các loài và nguồn gen của chúng.Tuy nhiên, cũng chính con người đã gây
ra những tác động làm biến đổi một cách sâu sắc các hệ sinh thái, nhiều loài bị tuyệt chủng hoặc du nhập nhiều loài ngoại lai xâm hại ảnh hưởng lớn đến quyền lợi và sự thịnh vượng của các thế hệ mai sau
Những nguyên nhân chính chủ yếu dẫn đến sự suy giảm ĐDSH là: môi trường sống đang bị hủy hoại nghiêm trọng; sự gia tăng dân số cùng với những nhu cầu ngày càng cao của con người; sự xây dựng hạ tầng của đất nước; sức ép nặng nề của phát triển kinh tế đến việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên quá mức Theo thống kê hiện nay trên trái đất có khoảng 30 - 40 triệu loài thực vật và động vật, song người ta mới chỉ kiểm kê được 1,7 triệu loài Trong khi đó tỷ lệ diệt vong gây
ra do con người lớn gấp hàng nghìn lần so với tỷ lệ diệt vong tự nhiên Con người
đã tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp làm tuyệt chủng khoảng 120 loài động vật
có vú, 187 loài chim, 13 loài bò sát, 8 loài lưỡng cư và khoảng 30 ngàn loài cá Bên cạnh đó, sự chăn thả, săn bắn quá mức và sự du nhập vào địa phương những loài ngoại lai xâm hại cũng là nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của không ít các loài
Trang 12sinh vật trên trái đất Việc mất đi một mắc xích trong chuỗi thức ăn, sự hủy diệt loài sinh vật đều ảnh hưởng sâu sắc đến sự tồn tại của những loài khác
Do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên và ĐDSH của Nước CHDCNH Lào đã và đang bị suy giảm đặc biệt là Đông Dương Tiger (panther tigris) Năm 2007, NPP của khu bảo tồn quốc gia NEPL và nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần
Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng
và là trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã làm cho
đa dạng sinh học (ĐDSH) bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại, nhiều loài động thực vật bị đe dọa và nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý Do
đó, việc quản lý tài nguyên và bảo tồn ĐDSH là thực sự cần thiết và cấp bách
Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của ĐDSH, năm 1993 Nước CHDCND Lào đã phê chuẩn công ước quốc tế về bảo tồn ĐDSH Năm 1995, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Kế hoạch hành động ĐDSH ở Lào” Năm 2007, “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” được xây dựng và phê duyệt triển khai (Laos, 2012)
Khu bảo tồn Quốc gia Nặm Ét - Phù Lơi (NEPL) hỗ trợ một số giải pháp và bảo tồn đa dạng sinh học ở khu bảo tồn NEPL nói chung, nói riêng là quản lý các động vật sắp tuyệt chủng có tầm quan trọng quốc tế Những người sống trong và xung quanh NPA dựa vào động vật hoang dã để kiếm sống Đáng buồn, cách họ tiêu thụ động vật hoang dã là không bền vững, dẫn đến phá hủy quy mô lớn trong toàn bộ khu bảo tồn đa dạng sinh học dẫn đến khả năng mất đi các loài quan trọng Hai mối đe dọa chính đối với loài này là giết hại trực tiếp hổ để buôn bán và săn bắt con hổ (Guar, Sambar Deer, Serow, Muntajts và lợn) đối với thực phẩm và thương mại(Johnson, A, Venevongphet, và Vongkhamheng, C, 2008) Hai mối đe dọa này
ở mức cao đến mức sẽ không thể chấp nhận được đối với hổ, loài săn mồi và các loài khác
Trang 13Tổ chức NPPL và Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dã (WCPL) cho rằng chúng ta không thể cho phép phá hủy các loài này để tiếp tục ở mức này vì nó sẽ dẫn đến sự tuyệt chủng của các loài toàn cầu quan trọng, đặc biệt là Đông Dương Tiger (panther tigris) Năm 2007, NPP của NEPL đã tổ chức một cuộc họp các bên liên quan nhằm thu thập các ý kiến đóng góp và ý tưởng để giúp giảm thiểu các mối
đe dọa đối với loài Kết quả của cuộc họp này trình bày ba chiến lược: Thực thi pháp luật, Bảo tồn Giáo dục và Tiếp cận, và Giám sát sinh thái Thi hành Luật pháp giúp giải quyết các vấn đề cấp bách và giảm thiểu sự phá hủy quy mô lớn; trong khi Bảo tồn Giáo dục và Tiếp cận thu hút cộng đồng để hiểu xu hướng các mối đe dọa đối với các loài và do đó giúp NPA giảm nguy cơ Cuối cùng Giám sát Sinh thái có vai trò đánh giá nếu hai can thiệp làm việc bằng cách so sánh số lượng loài trên từng năm
Trước yêu cầu bảo vệ, bảo tồn, phục hồi, phát triển và sử dụng bền vững
ĐDSH, đề tài : “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu
quả của công tác bảo tồn Đa dạng sinh học ở khu bảo tôn Quốc gia Nạm Ét Phu Lơi (NEPL) Tỉnh Luang pha Băng, Nước CHDCND Lào” được triển khai với
mục tiêu đưa ra được các đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách, kế hoạch hành động cụ thể nhằm khai thác, sử dụng hợp lý các thành phần của ĐDSH và quản lý NEPL là thực sự cần thiết nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu hiện trạng giá trị tài nguyên ĐDSH và ĐDST, các hệ sinh thái, các loài động vậtchủng loại thưc vật ở khu bảo tồn quốc gia NEPL
- Chỉ ra được nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học; các yếu tố tác động đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học của khu vực nghiên cứu Từ đó đề xuất một số giải pháp kinh tế - kỹ thuật - môi trường và chính sách để nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học:
- Cung cấp số liệu hiện trạng ĐDSH, nguồn lực và nhân lực để quản lý, bảo
tồn ĐDSH tại Khu Bảo tồn NEPL tỉnh Luang Pha băng
Trang 143.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Tư liệu của luận văn góp phần vào công tác quản lý, sử dụng, phát triển bền
vững tài nguyên ĐDSH tại tỉnh Luang Pha băng
- Kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của người dân
về bảo vệ tai nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học
- Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhận thức của người dân về các loài đọng vật và thực vật
- Đưa các giải pháp bảo vệ môi trường, tai nguyên thiên nhiên và bảo tôn đa dạng sinh học cho Khu bảo tồn nói riêng và khu vực tỉnh Luang Pha Băng nói chung
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Điều kiện tự nhiên đất nước Lào
CHDCND Lào nằm ở trung tâm bán đảo Đông Dương, ở Đông Nam Á Vĩ
độ từ 14 đến 23 độ bắc và kinh độ 100 đến 108 độ Đông; Lào là một đất nước không có biển Phía Bắc giáp tỉnh có biên giới dài 505 km với Trung Quốc về phía Bắc, cách biên giới Campuchia về phía Nam 435 km, cách biên giới Việt Nam về phía đông 2.069 km, cách biên giới Thái Lan về phía tây khoảng 1.835 km và biên giới dài 236 km với Myanmar Phía tây bắc Quốc gia trải dài 1.700 km từ bắc xuống nam, với chiều rộng phía đông-tây rộng hơn 500 km ở độ rộng nhất, chỉ cách điểm hẹp nhất 140 km Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào bao gồm tổng cộng
236.800 km vuông, trong đó ba phần tư là núi và cao nguyên
Đất nước có ba vùng riêng biệt Miền Bắc bị chi phối bởi các ngọn núi có độ cao trung bình 1.500 mét so với mực nước biển Đỉnh cao nhất ở Lào là 2.800 mét (Phù Bia thuộc tỉnh Xieng Khouang) Phù Luang (Annamite Chain) trải dài từ phía đông nam của Cao nguyên Phouane đến biên giới Campuchia Nó có ba cao nguyên lớn: cao nguyên Phouane thuộc tỉnh Xieng Khouang, cao nguyên Nakai thuộc tỉnh Khammuan, và cao nguyên Boloven ở miền nam Lào Vùng đồng bằng bao gồm cả những vùng phẳng và lớn dọc theo sông Mê Công Lớn nhất trong số này là đồng bằng Vientiane, ở hạ lưu của lưu vực sông Nam Ngum Đồng bằng Savannakhet, ở
hạ lưu của các con sông Xe Bàng Fai và Xê Băng Hiền, và đồng bằng Champasak nằm trên sông Mêkông trải dài giữa biên giới Thái Lan và Campuchia Phước cho đất màu mỡ, những đồng bằng này đại diện cho một phần tư tổng số vùng đất có thể tưới được và là "kho thóc" của đất nước
Khu Bảo tồn Quốc gia Nam Et - Phou Louey (NEPL) là NPA lớn nhất trong
cả nước, bao gồm khoảng 500.000 ha rừng thường xanh hỗn giao và rừng rụng lá ở
độ cao từ 400m đến 2257m (Johnson, A January 2009), với hơn 60% diện tích đất cao trên 1000 m và 91% diện tích nằm cơ độ dốc lớn hơn 12% Lượng mưa hàng năm dao động từ 1400-1800mm; nhiệt độ dao động trong khoảng 5-30°C, trong khi tháng 3 và tháng 4 nóng và khô trước gió mùa, tiếp theo là thời tiết khô mát từ
Trang 16tháng 11 đến tháng 2 Được thành lập vào năm 1993, NPA bao gồm hai khu vực
được bảo vệ tiếp giáp (Nam Et và Phou Louey), bao gồm bốn huyện ở Tỉnh Luang
Prabang (Pác Xeng, Phôn thòng, Viêng khàm và Phonxay), bốn huyện thuộc
tỉnh Houaphan (Viengthong, Huamuang, Xamneua, và Xiengkhor) , và một huyện thuộc tỉnh Xieng Khuang (Phoukoud) NPA giáp biên giới phía Bắc Việt Nam (Johnson 2009) 300.000 ha là vùng lõi và hành lang, đây là khu vực bị cấm là rừng
và đất lâm nghiệp có nơi sinh sống, sinh sống và sinh sản cho động vật và sự giàu
có của các loài thực vật, nơi có hoạt động lâm nghiệp, thu hái lâm sản, bao gồm việc loại bỏ các loài động vật và thực vật nghiêm cấm trừ khi được Bộ Nông nghiệp
và lâm nghiệp đặc biệt uỷ quyền (GoL)
Hình ảnh: Diện tích của khu bảo tồn NEPL Trong khi 300.000 ha là khu vực sử dụng trong thôn là các khu rừng hoặc đất
rừng liền kề hoặc các khu vực hạn chế lân cận mà người dân chỉ được sử dụng trong việc khai thác gỗ, thu hái lâm sản và săn bắn Dân số trước đây cư trú trong khu rừng dự trữ có thể thực hiện các hoạt động khác nhau và sử dụng tài nguyên rừng theo các quy định, kế hoạch quản lý và các quy định cụ thể nhằm đảm bảo sử dụng
Trang 17bền vững tài nguyên rừng ở các khu vực đó và bảo tồn hiệu quả rừng phòng hộ Cảnh quan có lịch sử lâu dài về sự định cư của con người, được đặc trưng bởi những khu rừng thứ sinh, các lâm phần tre và các đồng cỏ nhân tạo thường xuyên bị
đốt cháy để săn bắt và chăn thả gia súc(Johnson, 2009)
1.2 Cơ sở pháp lý
Theo Luật sửa đổi của Chính phủ CHDCND Lào số 15 / QHL ngày 13 tháng
5 năm 2016 về quản lý khai thác gỗ và kinh doanh gỗ
Theo Luật Lâm nghiệp số 06 / QHL, ngày 24 tháng 12 năm 2007 về cấm
khai thác động hoang dã vật và cây gỗ
Theo đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường số 8496 / BTM ngày 29 tháng 12 năm 2014 về Phát triển và tăng thêm sự đa dạng sinh học và hệ sinh thái
toàn bộ rừng
Theo Luật số 07 / QHL ngày 24 tháng 12 năm 2007vềquản lý động vật và
động vật hoang dã trong khu bảo tôn quốc gia của Nước CHDCND Lào
Nghị định số 134 / CPL, Thủ đô Viêng Chăn ngày 13 tháng 5 năm
2015vềQuẩn Lý vàbảo vệ khu bảo tôn quốc gia
Nghị địnhsố 333/TTL, Viêng Chăn ngày 19 tháng 7 năm 2010về Quẩn Lý
vàbảo vệ rừng phòng hộcủa Nước CHDCND Lào
1.3 Một số khái niệm liên quan đến ĐDSH và bảo tồn đa dạng sinh học
1.3.1 Khái niệm về ĐDSH
Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa: “ĐDSH là
sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường’’ ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: Đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST Trong đó, đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, và cả sự khác biệt của mối tương tác giữa chúng với nhau(IUCN, UNEP, WWF, 1996)
Trang 18Theo Công ước đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt, và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái (đa dạng HST) Nói cách khác ĐDSH là sự
đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp (Bộ Nông lâm nghiệp và Phát triển nông thôn, 1998)
Theo luật Nông Lâm Nghiệp năm 2007, ĐDSH là sự phong phú về nguồn gen, các loài sinh vật và HST trong tự nhiên(Laos, 2008)
ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên trái đất, từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất, từ Vi sinh vật, Nấm, Thực vật, Động vật, các HST và môi trường chúng sinh sống
ĐDSH trực tiếp phục vụ đời sống của con người trong phát triển kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo… Những giá trị trực tiếp đó là giá trị sử dụng, tiêu thụ,
và sản xuất ra các mặt hàng phục vụ nhu cầu của con người ĐDSH và cảnh quan là nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động bất lợi do biến đổi khí hậu hiện nay(Hồ Văn Cử, 2003);(IUCN, UNEP, WWF, 1996)
1.3.2 Bảo tồn ĐDSH
Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại
và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau
Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,… (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2004):(Bộ Tài nguyên và môi trường, 2005);(Bộ Tài nguyên và môi trường, 2010); (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2010);(Bộ Tài nguyên và môi trường, Tổng cục môi trường, 2009);(Eken, G., Bennun, L., Brooks, T M., , 2004);(Wilson, E O.ed, 1988).Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau:
Trang 19- Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation):
Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản
lý phù hợp (Bộ Tài nguyên và môi trường , 2004); (Bộ Tài nguyên và môi trường , 2005)
- Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation):
Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2004); (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2005);(Primack Richard B., Phạm Bình Quyền, Võ Quý, Hoàng Văn Thắng, 1999) Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống…
- Phục hồi (Rehabilitation):
Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có (Bộ Tài nguyên
và môi trường, 2004); (Primack Richard B., Phạm Bình Quyền, Võ Quý, Hoàng Văn Thắng, 1999) Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc bảo tồn sinh học là bảo vệ các đại diện của HST và các thành phần của ĐDSH Ngoài việc xây dựng các BT cũng cần thiết phải giữ gìn các thành phần của sinh cảnh hay các hành lang còn sót lại trong khu vực mà con người đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, và
Trang 20bảo vệ các khu vực được xây dựng để thực hiện chức năng sinh thái đặc trưng quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH
1.4 Nghiên cứu về bảo tồn Đa dạng sinh học ở thế giới và CHDCND Lào
1.4.1 Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH trên thế giới
a Xác lập thứ bậc ưu tiên bảo tồn trên phạm vi toàn cầu
Trên thực tế, các nguồn lực giành cho công tác bảo tồn còn hạn chế, vì vậy
để phân bổ các nguồn lực một cách phù hợp và thiết thực, cần phải xác định được thứ tự ưu tiên, xây dựng chiến lược và lập kế hoạch trong bảo tồn một cách hiệu quả Nhiều tổ chức phi Chính phủ (NGO) đã tham gia vào quá trình này nhằm xác định được các khu vực mà họ muốn hướng các nguồn đầu tư của mình vào đó (Hồ Văn Cử, 2003); (UNEP, Cục bảo vệ môi trường, 2000); (Wilson, E O ed, 1988);
có thể gộp thành 3 nhóm như sau:
Bảo tồn dựa trên các sinh cảnh đại diện: Hình thức này đã được một số tổ chức bảo tồn như Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), tổ chức bảo tồn tự nhiên (TNC), sử dụng (Hồ Văn Cử, 2003) Trong đó, WWF đã xác định được 867 vùng sinh thái trên toàn cầu Khái niệm này được Tổ chức bảo tồn tự nhiên (TNC) sử dụng như một phương pháp tiếp cận chủ đạo cho các hoạt động của mình, sau đó phát triển
thành “Global 200” nhằm kết hợp các kiểu sinh cảnh đặc trưng nhất trên phạm vi toàn
thế giới
Bảo tồn dựa trên các tiêu chí về loài: như mức độ phong phú của loài (Species richness) và số lượng các loài đặc hữu (Endemic species) được Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (CI - Conservation International) và Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc
tế (BirdLife International) sử dụng Phương pháp tiếp cận về loài được tổ chức bảo tồn quốc tế CI sử dụng nhằm tập trung các nguồn lực vào các khu vực có tính ĐDSH cao nhất, có mối đe dọa lớn nhất, đồng thời đưa ra khái niệm các điểm nóng về ĐDSH (Conservation International, Washington, DC, USA, 2005); (Myer, N,1998);(Myer, N Mittermeier, R A., Mittermeier, C G., De Fonseca, G
A B and Kent, J, 2000) và những vùng còn nguyên vẹn được xem là vùng có giá trị ĐDSH cao(Olson, D M., Dinerstein, E., Wikramanayake, E D., Burgess,D N., Powell, 2001)
Trang 21BirdLife cũng đưa ra khái niệm về các vùng chim đặc hữu (EBA: Endemic Bird Area) để áp dụng cho những nơi có ít nhất hai loài phân bố hẹp (RRS: Ranger - restricted species), loài phân bố hẹp là loài có phạm vi phân bố trên toàn
cầu nhỏ hơn 50.000 km2 Bên cạnh đó BirdLife còn đưa ra khái niệm về các vùng chim quan trọng(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2004), đó là những vùng có tầm quan trọng quốc tế về bảo tồn chim, được xác định dựa trên tiêu chí
về loài như: sự hiện diện của các loài đe dọa, các loài phân bố ở một khu vực có diện tích hẹp, hoặc là nơi tụ tập của nhiều loài(Eken, G., Bennun, L., Brooks, T M., 2004), Từ đó, Tổ chức bảo tồn quốc tế (CI), BirdLife và Plant Life đã phối hợp nghiên cứu và đưa ra khái niệm các vùng ĐDSH chính(Inskipp, T., N Lindsey and J.W Duckworth, 1996)
Bảo tồn dựa trên tiêu chí về các mối đe dọa: để xác định các mức đe dọa tối thiểu hoặc các vùng biệt lập, được Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã Quốc tế (FFI) và Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) sử dụng (Olson, D M., Dinerstein, E.,2001)
b Xác định các cảnh quan để bảo tồn
Thuật ngữ “cảnh quan” (landscape) mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo
mục đích cụ thể Theo mục đích bảo tồn, thì cảnh quan có thể hiểu là: “Một vùng đất rộng lớn bao gồm nhiều đặc trưng khác nhau và được xem như là kết quả của một quá trình hình thành và biến đổi lâu dài” Đến nay vẫn chưa có giải thích cụ thể nào về qui mô của cảnh quan, cũng như chưa có định nghĩa nào về việc xác định ranh giới của cảnh quan Tuy nhiên, các nhà qui hoạch bảo tồn đã xác định ranh giới của cảnh quan dựa trên các yếu tố tự nhiên như: lưu vực, vùng núi, ngọn núi, phạm
vi phân bố của một loài hoặc nhóm loài (Sanderson, E W., Redford, K H., Vedder, A., Coppolillo, 2000)
Cho dù chưa có định nghĩa rõ ràng về cảnh quan, nhưng việc xác định các cảnh quan trong ưu tiên bảo tồn đã giúp cho việc bảo vệ và duy trì các chức năng sinh thái của nó, đồng thời giúp cho việc xác định và thực thi các chiến lược về bảo tồn Theo cách này, WWF (2004) đã đưa ra khái niệm về tầm nhìn ĐDSH nhằm xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn trong phạm vi một vùng sinh thái WCS (2004)
Trang 22cũng đưa ra khái niệm về loài đại diện cho một vùng cảnh quan nhằm bảo vệ các giá trị ĐDSH trong từng vùng (Osiek, E R and Morzer Bruyns, M F.,1981)
c Xác định các khu vực để triển khai các hoạt động bảo tồn
Bảo tồn thông qua việc thiết lập hệ thống các KBT là ý tưởng đầu tiên xuất hiện ở Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX bằng việc thành lập VQG Yellowstone ngày 01 tháng
03 năm 1872 (Myer, N Mittermeier, R A., Mittermeier, 2000)
Bảo tồn ngày càng được chú trọng, mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thế giới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thế kỷ XX; vấn đề đào tạo chuyên sâu
về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã được quan tâm; các giải pháp bảo tồn ĐDSH, các chương trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác nhau như hưởng lợi từ động vật hoang dã, con người và sinh quyển cũng đã được triển khai Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG và KBT được tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các KBT đến việc chú ý nhiều đến các KBT ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ của các tổ chức bảo tồn và các Chính phủ tại các hội nghị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng như cơ hội để các nước có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn Càng về sau, hội nghị càng chú trọng nhiều đến tình hình thực tiễn của hoạt động bảo tồn, cụ thể là tại hội nghị lần V hiệp ước Durban về biến đổi khí hậu toàn cầu và kế hoạch hành động được thông qua (Ý Lâm, 2011)
Có thể nói rằng, đến nay trên thế giới mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng bảo tồn ĐDSH đã được quan tâm một cách toàn diện Công tác quản lý bảo tồn ĐDSH không chỉ tập trung bảo vệ tài nguyên, xây dựng hệ thống các khu bảo tồn mà còn chú trọng đến giáo dục về quản lý và nâng cao hiệu quả trong điều hành cũng như nhận thức bảo tồn, chú ý đến khía cạnh xã hội nhân văn trong bảo tồn như phối hợp bảo tồn, bảo tồn dựa vào cộng đồng, chia sẻ lợi ích từ bảo tồn nhằm hướng đến đích cuối cùng là sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH, chia sẻ các lợi ích có được từ việc sử dụng các nguồn tài nguyên di truyền, một cách bình đẳng và công bằng
d Phương thức tiếp cận được áp dụng trong quản lý bảo tồn ĐDSH
Nhằm đảm bảo phát triển bền vững (PTBV), nhiều ngành, nhiều tổ chức liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên đang hình thành và xây dựng những
Trang 23phương thức tiếp cận mới về quản lý, đó là: (1) Quản lý hệ sinh thái, (2) Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, (3) Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, (4) Bảo tồn và phát triển tổng hợp, (5) Phát triển bền vững
Các phương thức tiếp cận nêu trên đều giống nhau trong việc nỗ lực tìm kiếm một số giải pháp tối ưu để giải quyết mâu thuẫn và chia sẻ quyền lợi trong việc sử dụng các nguồn TNTN, mà những quyền lợi này có thể là giữa bảo tồn và phát triển, giữa cộng đồng địa phương và một quốc gia, hoặc giữa các nhóm người
có liên quan trong xã hội Điểm nổi bật trong các phương thức tiếp cận này là nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương cũng như những nhóm người trong xã hội có liên quan đến TNTN (những người hưởng lợi, những người bị tác động) Các phương thức tiếp cận này đang được hình thành và phát triển nhằm khắc phục những hạn chế trong cách quản lý áp đặt từ trên xuống theo cách quan liêu bao cấp
và đẩy mạnh cách thức quản lý TNTN từ dưới lên
Những điểm khác biệt cơ bản giữa các phương thức tiếp cận là sự nhìn nhận vấn đề, điểm trung tâm là tính ưu tiên của các phương pháp cụ thể được ứng dụng
Ví dụ: phương pháp tiếp cận hệ sinh thái quan tâm trước tiên là tính toàn vẹn của HST và nhìn nhận con người là một bộ phận của HST Vì vậy muốn đạt được mục đích cơ bản trên thì phải tuân thủ các nguyên tắc của phát triển bền vững Vì thế, phương pháp tiếp cận là làm sao tận dụng được mọi thế mạnh của cộng đồng trong việc sử dụng và bảo vệ TNTN, để có thể chia sẻ lợi ích một cách công bằng cho cộng đồng địa phương được quan tâm trước tiên, nhưng tất nhiên đều phải gắn chặt với quyền lợi bảo tồn thiên nhiên để đảm bảo sự hài hoà Trong khi đó, phương pháp tiếp cận đồng quản lý có nhiều đặc điểm giống với phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, nhưng mang ý nghĩa rộng hơn, tức là quan tâm đến mọi đối tác, mọi nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tài nguyên, để đạt được mục đích
là chia sẻ quyền lợi công bằng đồng thời không làm suy thoái TNTN và bảo vệ ĐDSH
Trên thế giới, phát triển bền vững, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng là vấn đề được chú trọng trong quản lý, sử dụng ĐDSH ở dải núi đá vôi nói riêng Đây
là điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thay đổi cần thiết cho sự phát triển của xã hội sinh thái học bền vững Thực tế tại New Zealandcho thấy,vào những năm 1980,
Trang 24mạng lưới các VQG ở nước này bắt đầu phát triển và liên tục, vừa bảo vệ các vùng nhỏ, vừa tạo ra các khu giải trí cho cộng đồng
Ngoài ra, phục hồi rừng nghèo trên núi đá vôi như: Viện khoa học Quảng Tây và Quảng Đông - Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt là nghiên cứu
đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi: Toona sinensis, Delavaya toxocarpa, Chukrasia tabularis, Excentrodendron tonkinensis,…trong thời kỳ 1985
-1998 (Bộ Nông lâm nghiệp và Phát triển nông thôn, 1998) Những nghiên cứu đó
đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của Trung Quốc, bên cạnh đó các hướng dẫn về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng, gồm một số nguyên lý: Là một trong những HST rất nhạy cảm, có sự cân bằng mỏng manh và điều kiện sống rất khắc nghiệt; Tốc độ tăng trưởng của cây trên núi đá vôi rất chậm (trữ lượng gỗ bình quân 1 ha rừng nguyên sinh trên núi đá vôi chỉ bằng 1/2 trữ lượng gỗ bình quân rừng nguyên sinh trên đất); HST núi đá vôi có tính chống chịu cao; HST núi đá vôi có khả năng phục hồi rất khó vì thiếu các yếu
tố lập địa cần thiết (Việt Nam, 2003) Tuy nhiên, những nguyên lý phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác gặp rất nhiều khó khăn
1.4.2 Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH ở Nước CHDCND Lào
Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vẫn còn có một quần thể động vật phong phú, với nhiều quần thể loài và môi trường sống của chúng có lẽ ít bị cạn kiệt
ở Lào hơn so với một số nước khác trong khu vực Mặc dù có một áp lực săn bắn đáng kể ở nước này, sự phong phú về nơi cư trú tương đối và, ở một số khu vực, khoảng cách xa các khu định cư của con người đã bảo vệ một phần động vật hoang
dã của đất nước
Có 247 loài động vật có vú đã được báo cáo ở Lào, trong đó hơn một trăm con được xếp loại là "động vật lớn" Tuy nhiên, một tổng số chính xác các loài đã được xác nhận cho đến nay đã không có ý nghĩa như tốc độ xác nhận thêm các loài khác và việc điều tra đang tiến hành đối với các nhóm phân loại không chắc chắn (đặc biệt là lorises, langurs, lợn, con và sóc) bất kỳ con số nào đã lỗi thời trong vài tháng sau khi xuất bản
Trang 25Khảo sát đã ghi nhận gần 90 loài dơi, trong đó có 51 loài được coi là loài quan trọng Có khoảng 700 loài chim đã được ghi nhận từ Lào, với khoảng 100 loài chim khác có khả năng xảy ra Có một số loài bò sát và lưỡng cư ở Lào, bao gồm cả
cá sấu Xiêm; Sông Agamid Lizard của Sông Phú Wua, gần như là loài đặc hữu của Lào với hơn 95% diện tích của nó ở trong nướcmà là hoàn toàn đặc hữu cho Lào
Chương trình Bảo tồn Động vật Hoang dã tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được thành lập năm 1994 đã hỗ trợ các cộng đồng và các cơ quan Chính phủ bảo vệ động vật hoang dã và môi trường sống tự nhiên trên toàn quốc thông qua việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị động vật hoang dã, và xây dựng nền tảng về năng lực nguồn nhân lực và kiến thức về bảo tồn WCS Lào hiện đang làm việc tại bốn khu vực chính ở vùng Trường Sơn bao gồm Phong cảnh Bolikhamxay, Khu bảo tồn Quốc gia Nakai Nam Theun, Khu Bảo tồn Quốc gia Nam Et-Phou Louey và Phong cảnh Savannakhet
Chương trình WCS Lào gắn bó sâu sắc với REDD + thông qua hỗ trợ cho quá trình chính sách REDD + quốc gia và tham gia vào một dự án trình diễn REDD + tại tỉnh Houaphan cùng với Dự án CliPAD của Chính phủ Lào-Đức về Bảo vệ Khí hậu Thông qua việc tham gia WCS này dự kiến sẽ chứng minh làm thế nào để REDD + có thể được sử dụng như một nguồn tài chính bền vững vì lợi ích của việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế ở Lào Chương trình WCS Lào cũng
đã bắt đầu khảo sát những tác động của biến đổi khí hậu đối với các cảnh quan của
nó để có thể xây dựng các kế hoạch quản lý thích ứng nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài của các loài dễ bị tổn thương và sinh kế
+khí hậu thay đổi
Một số nghiên cứu ở cấp khu vực và cấp quốc gia cho thấy Lào sẽ trải nghiệm nhiệt độ tăng, lượng mưa không dự đoán được và các sự kiện thời tiết thất thường hơn do biến đổi khí hậu Ngược lại, điều này sẽ ảnh hưởng đến các quá trình sinh thái duy trì hệ sinh thái, loài và sinh kế của cộng đồng địa phương Để giúp giảm nhẹ sự thay đổi khí hậu, WCS chủ động hỗ trợ các hoạt động thí điểm REDD + và các hoạt động thí điểm thể hiện các biện pháp bảo vệ rừng có thể liên kết với các cơ chế khuyến khích dựa trên cơ sở quốc tế WCS cũng hỗ trợ cả chính phủ Lào
Trang 26và cộng đồng địa phương hiểu được những rủi ro do biến đổi khí hậu gây ra và xây dựng các chiến lược thích ứng thích hợp để bảo vệ sinh kế và đa dạng sinh học
+ Sức khoẻ động vật hoang dã
Tỷ lệ buôn bán động vật hoang dã ở Lào và mối đe dọa đáng kể đối với động vật hoang dã có nghĩa là ưu tiên của đội chăm sóc động vật hoang dã là lấy và sử dụng thông tin về các bệnh ở động vật hoang dã, vật nuôi và con người để giảm thương mại Điều này có thể đạt được bằng cách sử dụng các nghiên cứu về căn bệnh khoa học để thông báo chính sách quốc gia và tăng cường ý chí chính trị cũng như để chống lại những niềm tin truyền thống về các lợi ích sức khoẻ của việc tiêu thụ động vật hoang dã.Giấy truyền bệnh giữa động vật và quần thể động vật hoang
dã dễ bị tổn thương có thể một mối đe dọa thực sự đối với động vật hoang dã tại các địa điểm cảnh quan Cần làm việc để kiểm tra và chống lại mối đe dọa này
Nhóm Y tế Động vật Hoang dã WCS tham gia vào một số dự án ở Lào Chủ yếu, nhóm nghiên cứu đang làm việc cho dự án PREDICT, một phần của Chương trình Thảm hại Đại dịch Mới nổi Dự án này nhằm mục đích xác định các bệnh nhiễm khuẩn ở động vật hoang dã được buôn bán có thể có tiềm năng đại dịch và do
đó sức khoẻ con người nghiêm trọng và các tác động kinh tế Mục tiêu là sử dụng thông tin để chứng minh những ảnh hưởng nghiêm trọng của thương mại động vật hoang dã và để hỗ trợ thực thi tốt hơn đối với buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu thăm các chợ động vật hoang dã trên khắp đất nước và thử nghiệm các động vật hoang dã có nguy cơ cao đối với bệnh truyền nhiễm (động vật linh trưởng, dơi, loài gặm nhấm và cầy hương) Trong khi ở chợ, các cuộc điều tra được tiến hành, ghi chép các loài, khối lượng và giá trị của động vật hoang dã được buôn bán Dữ liệu này sẽ được sử dụng để giúp xây dựng bức tranh về quy mô thương mại động vật hoang dã ở Lào và mối đe doạ đối với các loài được bảo vệ Các mẫu này sau đó được xử lý tại phòng thí nghiệm Tổ chức Động vật hoang dã HealthTeam đang giúp xây dựng năng lực tại một phòng thí nghiệm của chính phủ ở Lào, với mục đích để chẩn đoán tiến bộ như vậy có thể được thực hiện ở nước này trong tương lai
Trang 27Nhóm cũng tham gia đào tạo nhân viên tại các khu bảo tồn quốc gia trong các phương pháp giám sát dịch bệnh động vật hoang dã Việc đào tạo được lồng ghép vào một dự án đào tạo giảng viên quy mô lớn, nhằm mục đích tạo ra một nhóm nhân viên NPA chính có thể chuyển giao kỹ năng cho các lực lượng kiểm lâm trên mặt đất Việc đào tạo bệnh sẽ được thông qua cho kiểm lâm, người sẽ ghi lại các động vật hoang dã đã chết và bệnh trong các NPAs, giúp xây dựng cơ sở dữ liệu
cơ bản về tử vong của động vật hoang dã và theo dõi sự bùng phát dịch bệnh
WCS xây dựng dựa trên hàng thập kỷ kinh nghiệm tại hiện trường để tập trung vào bốn thách thức toàn cầu: Các bệnh về động vật hoang dã đang nổi lên, biến đổi khí hậu, sự gia tăng nguồn tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng địa phương và sự mở rộng của các ngành khai thác Là một phần trong sứ mệnh của chúng tôi để bảo vệ động vật hoang dã và những nơi hoang dã, chúng tôi ủng hộ các lợi ích của con người địa phương thông qua việc thúc đẩy sinh kế bền vững - sự cân bằng cần thiết cho sự thành công của việc bảo tồn lâu dài
1.4.3 Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH tại khu vực nghiên cứu(NEPL)
Khu Bảo tồn Quốc gia Nam Et - Phou Louey (NEPL NPA) nằm ở phía đông bắc của Lào ở các tỉnh Hoaphan, LuangPrabang và XiengKouang và là khu bảo tồn lớn thứ hai trong cả nước với khoảng 595.000 héc ta Địa hình chủ yếu là núi rừng nguyên sinh còn lại ở nhiều vùng và mức độ đa dạng sinh học cao bao gồm hổ, bò rừng, hươu Sambar, rái cá và vượn đen Khu vực này đại diện cho phần phía bắc của dãy núi Trường Sơn và có nhiều môi trường sống khác nhau, từ các khu rừng rụng lá hỗn hợp của núi Phou Louey (2.257 m) đến các khu rừng núi thấp của sông Nam Et Nhiều cộng đồng sống xung quanh NEPL là người Khmu và Hmong và nhận được khoảng một nửa số lương thực của họ bằng cách thu hoạch các loài thực vật hoang dã và động vật từ vùng sử dụng có kiểm soát của khu bảo tồn NEPL cung cấp một trong những cơ hội duy nhất ở Lào cho khách du lịch để xem động vật hoang dã
• NEPL là khu vực được bảo vệ lớn thứ hai ở Lào
• Khoảng một nửa diện tích được bảo vệ được quản lý đồng bộ với các cộng đồng địa phương để trồng cây và khai thác cây thu hoạch bền vững và thực hành nông nghiệp truyền thống
Trang 28• NEPL có một trong những quần thể cọp ở Đông Dương
• Có thêm 5 loài khác ngoài hổ bao gồm báo, báo cháy, mèo Asiangolden, mèo cẩm thạch và mèo báo
• NEPL có số lượng lớn nhất là vượn cáo trắng má trắng, chỉ có ở Việt Nam
và Lào
• NEPL có mật độ gấu cao nhất theo khảo sát gần đây
• Chó rừng (Dhole) là một loài nguy cấp có trong NEPL, cần gấp 5 lần diện tích của một con hổ
• Chuột bò là một loài nguy cấp có trong NEPL là con mồi ưa thích của con hổ
• Có 299 loài chim trong loài NEPL
NEPL nằm ở một số huyện nghèo nhất trong cả nước và có 98 cộng đồng và 30.000 người dựa vào tiền thưởng thiên nhiên để nuôi dưỡng Việc khai thác quá mức động thực vật hoang dã, xâm lấn đất nông nghiệp và tiềm năng khai thác khoáng sản và thủy điện trong vùng lõi của NPA đe dọa sự bền vững lâu dài của khu vực để hỗ trợ người dân Thiếu hệ thống quản lý tài nguyên thiên nhiên trong các khu vực sử dụng có kiểm soát và sự hiểu biết thấp giữa người dân về lợi ích lâu dài của bảo tồn đang làm suy yếu tính bền vững của nó Do đó, thách thức là xây dựng hệ thống quản lý và nâng cao nhận thức của người dân về bảo tồn để cải thiện việc thu hoạch bền vững các loài thực vật hoang dã để sử dụng tại địa phương và cung cấp cho người dân sự an toàn về lương thực
Nhóm NPA đã chuẩn bị một dự thảo quy định NPP của NEPL và gửi cho các bên liên quan trong chính phủ để lấy ý kiến Dự thảo cuối cùng của Quy chế Quản
lý Khu bảo tồn và Quản lý Động vật hoang dã tại Khu Bảo tồn Quốc gia Nam Phou Louey (GoL 2008) đã được bốn Thống đốc của huyện thông qua vào tháng 1 năm 2008 Khoảng 2000 bản quy định NPA được in để phân phối và được sử dụng trong trưởng thôn và tập huấn quân sự Quy chế Quản lý Khu bảo tồn và Quản lý Động vật hoang dã ở Khu Bảo tồn Quốc gia Nam Et-Phou Louey thuộc Luật Lao động Quốc gia Lào 07; Ngày 24 tháng 12 năm 2007 (GoL 2007) và lệnh của tỉnh về Quy chế Quản lý Khu bảo tồn và Quản lý Động vật hoang dã tại Khu Bảo tồn Quốc gia Nam Et-Phou Louey (GoL 2007) Nhóm tiếp cận đã tổ chức hai cuộc họp ở hai
Trang 29Et-huyện để phổ biến quy chế cho trưởng thôn và thôn dân làng từ 64 làng Những cuộc họp có sự tham gia này cho phép các trưởng thôn khám phá các quy định mà không được thông báo về các quy định Cách tiếp cận tự khám phá này được sử dụng để giảm căng thẳng giữa các cộng đồng và các quy định không thể chuyển nhượng được áp đặt bởi chính quyền tỉnh Quy chế này hiện đang được dịch sang tiếng Việt cho bất kỳ khách du lịch hoặc thường trú nào từ Việt Nam Ý tưởng của quy định là cung cấp chính sách chi tiết về loài và hình phạt: Các loài được quản lý, những loài này được phép săn bắn trong khu vực sử dụng trong thôn bên ngoài vùng lõi trong mùa cụ thể và các dụng cụ để ăn, chứ không phải để bán và các loài
bị cấm các loài không được phép đi săn theo mùa vụ cho bất kỳ mục đích nào
Nhóm tiếp cận của WCS và NPPL NPPL đã tổ chức cuộc họp với các nhà cung cấp, đàn ông và phụ nữ kinh doanh, và chính quyền địa phương để phổ biến các quy định về động vật hoang dã của huyện 329 người từ Viengthong, Viengkham và Houa Muang đã tham dự các cuộc họp này Từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 5 năm 2008, nhóm tiếp cận đã tiến hành các hoạt động tại 35 làng, 4 trường học, 8 trại lính và 2 đồn cảnh sát tiếp tục công tác tiếp cận để giảm nguy cơ
hổ và con mồi Trước và sau thử nghiệm đã được thực hiện ở 35 làng để đo mức độ hiểu biết để tạo ra mối liên hệ giữa hành vi trước và sau Những nỗ lực này đảm bảo rằng người dân quanh vùng lõi của NPA đã nhận thức được diện tích sử dụng của thôn và ranh giới khu vực lõi Nhóm tiếp cận đã làm việc với các cộng đồng để thương lượng ranh giới giữa vùng lõi và các khu vực sử dụng trong thôn Các nhân viên NPA đã tạo ra 150 biển báo vùng lõi để thông báo thêm cho công dân địa phương về ranh giới này Thêm vào đó, đã phát hành 10.000 bản poster khu vực sử dụng trong thôn bản để mô tả những lợi ích của quản lý tốt trong khu vực sử dụng của thôn và các hoạt động bất hợp pháp trong vùng lõi Khoảng 2.710 hộ gia đình ở
35 làng thuộc NPA đã nhận được áp phích và tham gia vào các hoạt động tiếp cận cộng đồng mô tả những ưu và khuyết điểm của việc quản lý tài nguyên tốt trong vùng lõi và khu vực sử dụng
WCS đã làm việc với Chính phủ Lào trong Dự án Bảo tồn Cọp của NEPL từ năm 2002 Tầm nhìn chung của dự án là bảo tồn hệ sinh thái Nam Et-Phou Louey
Trang 30và các chức năng của nó như một mô hình quản lý cảnh quan ở Châu Á Để đạt được tầm nhìn này, mục tiêu của chúng tôi là tăng dân số hổ ở vùng lõi 3000 km2 tối thiểu là 50% vào năm 2015 Do mức độ và chất lượng của môi trường sống, chúng tôi ước tính rằng về lâu dài vùng lõi sẽ bám lên đến 25 con cái và khoảng từ 75-90 con hổ hoặc khoảng 3 con / 100 km2 Hiện tại, đường cơ sở cho sự phong phú của con hổ ở khu vực này bắt nguồn từ việc lấy mẫu bẫy máy ảnh chuyên sâu vào vùng lõi trong năm 2003-2004, ước tính mật độ hổ ở mức từ 0,2-0,7 / 100 km2 với tối thiểu là bảy và có thể lên tới 23 con hổ (Johnson 2009)
WCS tăng cường sử dụng hai biện pháp can thiệp - thực thi pháp luật và tiếp cận cộng đồng - để giảm các mối đe dọa quan trọng Với sự hỗ trợ của Tigers Forever và các đối tác, chúng tôi thành công:
• Lập bản đồ các ranh giới của khu lõi Phou Louey 3000 km2 và các khu vực
sử dụng làng dọc theo nửa nam của khu vực lõi
• Xây dựng chiến lược bảo vệ động vật hoang dã, tập huấn và triển khai 43 kiểm lâm viên tại 7 trạm tuần tra xung quanh khu vực lõi
• Đã được đào tạo và đưa ra ba nhân viên thực thi tại một điểm kiểm soát trên đường từ NPA tới Việt Nam
• Đã đào tạo và đưa ra mười lăm cán bộ thực thi trong ba đội di động đang tuần tra thị trường và nhà hàng, và quản lý các rào chắn trên đường để kiểm tra xe tải và xe buýt để vận chuyển trái phép động vật hoang dã trái phép
• Đã tổ chức ba cuộc họp của các cơ quan chính phủ cấp huyện và các nhà cung cấp để phổ biến các quy định về buôn bán động vật hoang dã và việc thực thi hiện đang ảnh hưởng
• Đài phát thanh phát sóng vài trăm lần mười điểm khác nhau 1 phút và 56 chương trình khác nhau bằng ba ngôn ngữ nhấn mạnh luật về động vật hoang dã và những tác động tiêu cực của việc tiêu thụ động vật hoang dã trái phép
• Xây dựng các thỏa thuận với 65 làng dọc theo vùng lõi để xin trợ giúp để nuôi cọp và con mồi trong VQG
• Đăng 22 biển báo bảo tồn hổ ở các nút giao thông, chợ và làng xung quanh NPA
Trang 31• Sản xuất và phổ biến 10.000 bản sao của vùng lõi của NPA và áp phích khu vực thôn bản tới 65 làng xung quanh vùng lõi
• Tổ chức cuộc họp hai trưởng thôn ở hai huyện xung quanh NPA để phổ biến quy định của học khu
Năm 2003, NPPL của NEPL và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) hoàn thành Kế hoạch Quản lý Lần thứ nhất
1.4.3 Những nguyên nhân sự suy giảm của đa dạng sinh học
* Khái niệm về tuyệt chủng
Khái niệm tuyệt chủng có rất nhiều ý nghĩa và khác nhau tùy thuộc vào từng
bối cảnh cụ thể Một loài bị coi là tuyệt chủng (extinct) khi không còn một cá thể
nào của loài đó còn sống sót tại bất kỳ nơi nào trên thế giới Nếu như một số cá thể của loài còn sót lại chỉ nhờ vào sự kiểm soát, chăm sóc, nuôi dưỡng của con người,
thì loài này được coi là đã bị tuyệt chủng trong thiên nhiên hoang dã (extinct in the wild) Trong hai trường hợp trên, các loài có thể coi như bị tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu (globally extinct)
Một loài bị coi là tuyệt chủng cục bộ (locally extinct) nếu như chúng không
còn sống sót tại nơi chúng đã từng sinh sống, nhưng người ta vẫn còn tìm thấy chúng tại những nơi khác trong thiên nhiên
Một số nhà sinh học sử dụng cụm từ loài bị tuyệt chủng về phương diện sinh thái học (ecologically extinct), điều đó có nghĩa là số lượng cá thể loài còn lại ít đến
nổi tác dụng của nó không có chút ý nghĩa nào đến những loài khác trong quần xã
*Tuyệt chủng là một quá trình tự nhiên
Sự tuyệt chủng loài xảy ra thậm chí không bắt nguồn từ những xáo động to lớn Lý thuyết tiến hóa nói rõ rằng một loài có thể bị dồn vào tuyệt chủng do không cạnh tranh nổi với một loài khác hay do bị ăn thịt Một loài có thể tiến hóa từ một loài khác để đáp ứng với những thay đổi của môi trường hay là do sự thay đổi ngẫu nhiên của quỹ gen Hiện tại chúng ta cũng không biết đầy đủ những nhân tố xác định sự phồn thịnh hay suy thoái của một loài, nhưng ít nhất chúng ta có thể khẳng định rằng sự tuyệt chủng là một hiện tượng nằm trong chu trình vận động của tự nhiên tương tự như sự hình thành loài
Trang 32Nếu tuyệt chủng là một phần trong các quá trình tự nhiên, thì tại sao lại phải suy nghĩ và quan tâm nhiều đến chuyện mất mát các loài Câu trả lời nằm trong mối tương quan về sự tuyệt chủng và hình thành loài Sự hình thành loài là một quá trình diễn ra rất chậm, qua sự tích luỹ dần các đột biến và những sự chuyển đổi các allen qua cả hàng chục ngàn năm thậm chí cả hàng triệu năm Theo Kirchner và cộng sự (2001), trung bình trái đất cần khoảng 10 triệu năm để hồi phục sự đa dạng từ những tuyệt chủng mang tính toàn cầu Nếu tốc độ của việc hình thành loài tương đương hay vượt quá tốc độ tuyệt chủng, sự đa dạng sinh học được duy trì hay tăng lên Trong lịch sử các thời kỳ địa chất, đa dạng sinh học tương đối ổn định nhờ sự cân bằng giữa sự hình thành loài mới và sự tuyệt diệt loài cũ Tuy nhiên trong những khoảng thời gian ngắn hơn, tốc độ đa dạng hóa kém hơn nhiều so với tốc độ tuyệt chủng Điều đó có nghĩa là sự tiến hóa của sinh giới sẽ không theo kịp với những sự tuyệt chủng nhanh chóng
* Tuyệt chủng do con người gây ra
Tác động dễ nhận thấy đầu tiên về hoạt động của con người vào tỷ lệ tuyệt chủng có thể thấy vào sự sa sút các loài thú lớn ở Australia và Nam, Bắc Mỹ vào thời gian mà con người bắt đầu thống trị hai lục địa này từ hàng ngàn năm trước Chỉ một thời gian ngắn sau khi con người đặt chân đến, 74% đến 86% các loài thú lớn, có trọng lượng hơn 40 kg, trong các vùng này bị tuyệt chủng Nguyên nhân trực tiếp của
sự tuyệt chủng này có thể là do săn bắn, và nguyên nhân gián tiếp là do đốt rừng và khai hoang
*Nơi cư trú bị phá hủy và ô nhiễm
Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp do việc phá hủy hay chia cắt, nhưng các quần xã và các sinh vật sống trong đó có thể bị ảnh hưởng sâu sắc do các hoạt động khác của con người Dạng nguy hiểm nhất của phá hủy môi trường là sự ô nhiễm Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do thuốc trừ sâu, hóa chất và các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt của con người và các
ô nhiễm gây ra bởi các nhà máy ô tô, cũng như các trầm tích lắng đọng do sự xói mòn đất từ các vùng cao, sườn núi
Trang 33Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: sự nguy hại của thuốc trừ sâu được khuyến cáo
từ những năm 1962 Nồng độ của DDT và các loại thuốc trừ sâu khác tích luỹ trong
cơ thể sinh vật, tăng lên theo bậc cao dần của chuổi thức ăn thông qua quá trình tích
tụ sinh học (bioaccumulation) và khuếch đại sinh học (magnification)
Ô nhiễm nước: ô nhiễm nước gây hậu quả xấu cho loài người như hủy hoại
các nguồn thực phẩm thủy sản như cá, thân mềm, giáp xác và làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt Các hóa chất độc, dù chỉ với một liều lượng rất thấp thì dư lượng của chúng vẫn có thể tồn đọng, tích luỹ dần vào trong cơ thể sinh vật thủy sinh đến nồng độ gây chết do chúng phải lọc một lượng lớn nước khi ăn
Các khoáng chất vi lượng tuy rất cần cho cuộc sống của động vật và thực vật nhưng chúng cũng có thể trở nên gây hại khi xuất hiện ở nồng độ cao Các chất thải của người, các loại phân bón hóa học, các chất tẩy rửa và các quá trình sản xuất trong công nghiệp thường xuyên thải ra một lượng lớn nitrat, photphat vào hệ sinh thái thủy vực, dẫn đến hiện tượng phú dưỡng nước
Các trầm tích có nguồn gốc do xói mòn từ các vùng đất trống, đồi núi trọc cũng có thể gây hại cho hệ sinh thái thủy vực Các chất trầm tích có lẫn mùn lá cây, bùn, các chất rắn lơ lững, làm tăng độ đục của nước, làm giảm độ chiếu sáng trong nước nên đã cản trở quá trình quang hợp Sự tăng độ đục của nước có thể làm giảm khả năng nhìn, khả năng săn mồi, làm giảm sức sống của một số loài động vật thủy sinh Sự gia tăng lớp trầm tích đã gây hại cho nhiều loài san hô, những loài đòi hỏi môi trường sống tuyệt đối trong sạch
Ô nhiễm không khí: các hoạt động của con người làm thay đổi và làm ô
nhiễm bầu không khí của trái đất Các dạng ô nhiễm không khí như:
•Mưa axit: các nền công nghiệp như luyện thép, các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là than hay dầu đã thải ra một lượng lớn các khí NOx, SOx vào không khí, các khí này khi gặp hơi nước trong không khí sẽ tạo ra axit nitric và axit sulfuric Các axit này liên kết với những đám mây và khi tạo thành mưa đã làm giảm độ pH của nước mưa xuống rất thấp Mưa axit sẽ làm giảm độ pH của đất và của nước trong các hồ, ao, sông suối trên lục địa Mưa axit đã tiêu diệt nhiều loài động và thực vật Do độ axit của các hồ ao tăng lên, nhiều cá con của nhiều loài cá
Trang 34và cả những con cá trưởng thành cũng bị chết Độ axit tăng và nước bị ô nhiễm là nguyên nhân chính làm suy giảm đáng kể các quần thể động vật lưỡng cư trên thế giới Đối với phần lớn các loài động vật lưỡng cư, ít nhất một phần trong chu kỳ sống của chúng phụ thuộc vào môi trường nước, độ pH của nước giảm làm cho tỷ lệ trứng và ấu trùng bị chết tăng cao
•Sương mù quang hoá: Xe ô tô, các nhà máy điện và các hoạt động công nghiệp thải ra các khí hydrocacbon, khí NO Dưới ánh sáng mặt trời, các chất này tác dụng với khí quyển và tạo ra khí ozon và các chất phụ phẩm khác, tất cả khí này được gọi chung là sương mù quang hóa (photo-chemical smog) Nồng độ ozon cao
ở tầng khí quyển gần mặt đất sẽ giết chết các mô thực vật, làm cho cây dễ bị tổn thương, làm hại đến các quần xã sinh học, giảm năng suất nông nghiệp Các quần
xã sinh học trên toàn cầu cũng có thể bị phá hủy hay bị thay đổi do các hợp chất chứa nitơ trong không khí theo mưa và bụi lắng đọng tự do và do đó có thể ảnh hưởng đến nguồn sản xuất lương thực và thực phẩm
•Các kim loại độc hại: xăng có chứa chì, các hoạt động khai mỏ, luyện kim
và các hoạt động công nghiệp khác thải ra một lượng lớn chì, thiếc và nhiều loại kim loại độc hại khác vào khí quyển Các hợp chất này trực tiếp gây độc cho cuộc sống của động và thực vật
Sự thay đổi khí hậu toàn cầu: khí cacbonic, mêtan và các khí khác trong khí
quyển không ngăn cản ánh sáng mặt trời, cho phép năng lượng xuyên qua khí quyển
và sưởi ấm bề mặt Trái đất Tuy vậy, những khí này và hơi nước giữ lại năng lượng
do trái đất phát ra, làm chậm lại tốc độ phát tán nhiệt và bức xạ khỏi trái đất Các khí này được gọi là khí nhà kính do tác dụng của chúng rất giống với nhà kính - cho ánh sáng mặt trời đi qua nhưng giữ lại năng lượng bên trong nhà kính và chuyển thành năng lượng nhiệt
Lượng khí nhà kính gia tăng đã làm ảnh hưởng đến khí hậu trái đất và các tác hại này tiếp tục gia tăng trong tương lai Những nhà khí tượng học ngày càng đồng
ý với quan điểm cho rằng ở thế kỷ XXI khí hậu trái đất sẽ còn nóng lên từ khoảng 2-60C nữa vì sự gia tăng của khí CO2 và các khí khác Trong khi các loài có vùng phân bố rộng và dễ phát tán có thể thay đổi để thích ứng với sự thay đổi, thì đối với
Trang 35nhiều loài có vùng phân bố hẹp hoặc do khả năng phát tán kém nên việc tuyệt chủng
là khó tránh khỏi
Hiện tượng nhiệt độ tăng dần lên còn làm các khối băng ở vùng cực tan ra
Do việc giải phóng một lượng nước lớn như vậy, trong vòng 50 -100 năm tới mức nước biển có thể tăng từ 0,2 -1,5 m Mức nước biển dâng cao có thể làm ngập lụt những vùng đất thấp, những khu đất ngập nước ven bờ biển và nhiều thành phố lớn Một số loài san hô không phát triển nhanh kịp với tốc độ nâng cao mực nước biển
và dần dần chúng sẽ bị chết đuối
*Khai thác quá mức
Nhằm thoả mãn các nhu cầu của cuộc sống, con người đã thường xuyên săn bắn, hái lượm thực phẩm và khai thác các nguồn tài nguyên khác Khi dân số loài người vẫn còn ít và phương pháp thu hái còn thô sơ, con người đã thu hái và săn bắt một cách bền vững mà không làm cho các loài trở nên tuyệt chủng Tuy vậy, khi dân số tăng lên, nhu cầu khai thác tài nguyên cũng tăng theo Các phương pháp thu hái dần dần được cải tiến và trở nên hữu hiệu hơn Việc khai thác quá mức là nguyên nhân thứ hai sau nguyên nhân mất nơi cư trú và là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn các loài đến tuyệt chủng
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý các loài hoang dã, đánh bắt cá và lâm nghiệp đã cố gắng xây dựng một phương pháp tính toán mô hình để xác định số
lượng tối đa có thể khai thác được một cách bền vững của các nguồn tài nguyên Lượng tối đa nguồn tài nguyên có thể khai thác được một cách bền vững là sản
lượng có thể thu hoạch hằng năm tương đương với năng suất mà quần thể tự nhiên sản sinh ra được
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượngnghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:Đánh giá tính đa dạng sinh học tại khu bảo tôn quốc gia NEPL Tỉnh Luang Pha Băng, Nước CHDCND Lào
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm quản lý khu bảo tôn quốc gia NEPL và vườn quốc gia NEPLTỉnh Luang pha băng, Nước CHDCND Lào
- Thời gian nghiên cứu: 2018 - 2019
Hình ảnh: Địa Điẻm của khu bảo tồn NEPL
Trang 372.3 Nội dung nghiên cứu
Nôi dung 1: Tổng quan về khu vực nghiên cứu
+ Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của dân xung quanh khu bảo tồn quốc gia NEPL tỉnh Luang Pha Băng, Nước CHDCND Lào (vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, khí hậu thủy văn, dân số, tài nguyên thiên nhiên)
Nội dung 2: Hiện trạng các giá trị tài nguyên ĐDSH và công tác bảo tồn ĐDSH tại khu bảo tôn quốc gia NEPL Tỉnh Luang pha băng, Nước CHDCND Lào
+ Hiện trạng đa dạng hệ sinh thái
+ Hiện trạng đa dạng loài
+ Khu hệ thực vật
+ Khu hệ động vật
+ Hiện trạng công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH
Nội dung 3: Các Nguyên nhân ảnh hưởng tới tài nguyên ĐDSH và công tác bảo tôn ĐDSH ở khu bảo tôn quốc gia NEPL Tỉnh Luang Pha Băng, Nước CHDCND Lào bao gồm:
- Nguyên nhân do con người gây ra
- Nguyên nhân do sự xâm lấn của sinh vật ngoại lai gây ra
- Một số nguyên nhân gián tiếp khác
Nội dung 4: Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác bảo tôn ĐDSH tại khu bảo tồn quốc gia NEPL tỉnh Luang Pha Băng, Nước CHDCND Lào
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
a Phương pháp điều tra theo tuyến
- Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu: Để thu mẫu một cách đầy đủ và đại diện cho một khu nghiên cứu việc chọn tuyến và điểm thu mẫu là rất cần thiết Tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của khu nghiên cứu Có thế chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau, nghĩa là các tuyến đó phải đi qua các vùng đại diện cho khu vực Một tuyến điều tra chạy dọc từ hướng Đông sang hướng Tây khu vực nghiên cứu được lập để kiểm chứng cập nhật thông tin vàcác
Trang 38số liệu về thành phần loài; sau đó tiến hành sơ thám khu vực nghiên cứu, tham khảo các tài liệu, bản đồ địa hình khu vực liên quan và các cán bộ, người dân, quen biết thông thạo địa hình và lập kế hoạch cho công tác điều tra ngoại nghiệp
- Chọn và lập tuyến điều tra đại diện cho khu vực nghiên cứu Tuyến điều tra được xác lập vuông góc với đường đồng mức, từ trên tuyến điều tra chính, cứ khoảng cách từ 50mét chiều dài lập về hai phía theo hình xương cá các tuyến phụ Các tuyến điều tra lấy ranh giới là đường mòn, sông, suối, khe nước và trên bản đồ hiện trạng
b.Điều tra động theo phương pháp lập ô tiêu chuẩn
- Điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình để xác định về mật độ loài, mức độ thường gặp, v.v mà trong điều tra theo tuyến không thể hiện được các chỉ tiêu này
- Các ÔTC có diện tích (10 m x 10 m) chiều dài trải theo đường đồng mức của địa hình, ÔTC được chọn ngẫu nhiên và đại diện cho các khu vực khác nhau trong phạm vi nghiên cứu Tại những nơi địa hình dốc, khó khăn trong chọn và điều tra tiến hành lập các ÔTC có diện tích nhỏ hơn,có cùng độ cao, gần nhau và lấy ngẫu nhiên có thể thay thế cho ô có diện tích lớn
- Mỗi trạng thái rừng/HST lập với số lượng 1 ô tiêu chuẩn điển hình, xác định tần suất xuất hiện của các loài ngoại lai xâm hại trong ô và các yếu tố sinh thái môi trường ảnh hưởngđến phân bố thực vật ngoại lai xâm hại trong các ô
- Quan sát trực tiếp các loài động vật bằng mắt thường hoặc ống nhòm; ghi nhận sự tồn tại của các loài qua các dấu vết hoạt động của thú để lại như: dấu chân, vết ăn, vết leo cây, tiếng kêu, phân, hang, tổ; ngoài ra còn tiến hành bẫy bằng các dụng cụ chuyên dụng để chụp ảnh và giám định loài
- Toạ độ của các tuyến khảo sát và các điểm ghi nhận thông tin chính được xác định bằng máy định vị GPS, các con vật hoặc dấu vết quan sát được đều chụp
ảnh (nếu có thể)
C Phương pháp thu thập và xử lý mẫu
Việc thu mẫu là nhiệm vụ quan trọng làm cơ sở để xác định tên loài, taxon
và xây dựng bảng danh lục thực vật ngoại lai xâm hại chính xác, đầy đủ
- Đối với thực vật
Trang 39+ Dụng cụ thu mẫu: Chúng tôi sử dụng cặp, túi đựng mẫu, giấy báo, dây
buộc, nhãn, kim chỉ, bút chì 2B, sổ ghi chép, cồn, kéo cắt cành
+ Phương pháp thu mẫu: Chúng tôi cắt mẫu bằng kéo cắt cành và đựng
mẫu bằng túi polyetylen, có sổ ghi chép riêng, nhãn hay băng dính giấy có thể viết được
+ Nguyên tắc thu mẫu:
1) Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận, nhất là: cành, lá, hoa đối với cây lớn hay cả cây đối với cây thảo và có quả càng tốt
2) Mỗi cây nên thu từ 3 – 5 mẫu, còn mẫu cây thân thảo nên tìm các mẫu giống nhau và cũng thu với số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài vừa để trao đổi
3) Các mẫu thu trên cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu mẫu Khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thực địa như: đặc điểm
vỏ cây, kích thước cây, nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi sấy mẫu như: màu sắc, mùi vị…
4) Thu và ghi chép xong cho vào túi polyetylen mang về nhà mới làm mẫu Việc cho mẫu vào túi polyetylen có lợi là gọn nhẹ, không bị va quệt khi băng qua rừng, mẫu giữ tươi lâu kể cả khi trời nắng to nhưng cần chú ý là khi cho mẫu vào túi phải nhẹ nhàng, nếu có hoa thì dùng các lá của mẫu để bọc lấy trước khi cho vào túi Có thể dùng túi nhỏ và mỏng đựng từng loài và buộc chặt lại rồi tất cả các túi nhỏ đó cho vào túi to hay bao tải
+ Cách xử lý và bảo quản mẫu: Sau một ngày lấy mẫu cần đeo nhãn cho
mỗi mẫu Nhãn có thể chỉ ghi số hiệu mẫu của tác giả còn các thông tin khác sẽ ghi vào sổ riêng hoặc trên nhãn ghi đầy đủ các thông tin như: Số hiệu mẫu, địa điểm (tỉnh, huyện, xã…) và nơi lấy (ven suối, thung lũng, sườn hay đỉnh núi hoặc đồi…), ngày lấy mẫu, đặc điểm quan trọng: cây gỗ hay dây leo, độ cao, đường kính, màu lá, hoa , quả…, tên người lấy mẫu
Khi ghi phải dùng bút chì mềm, tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực để tránh bị mất khi ngâm tẩm về sau
+ Xử lý mẫu và định tên loài cây: Mẫu vật sau khi thu về được ép, sấy và
xác định tên khoa học, tổng hợp các danh lục thực vật của khu vực đã công bố, bổ
Trang 40sung danh sách mẫu vật thu thập được để lập nên danh lục thực vật cho toàn bộ khu vực nghiên cứu Sau khi có được danh sách các loài, để định tên loài, một số sách liên quan đến hệ thực vật Lào được sử dụng để định loại thực vật, như các cuốn
“Thực vật chí Đông Dương - Flore Generale de l'Indochine" (Ed M.H.Lecomte & H.Humbert, 1907-1951), "Cây cỏ Lào- An illustrated flora of Laos" (Souliyo, 1975-
1978, 1991-1993, 2000-2003.), Sách Thực vật chí Việt Nam- Lào (SPERI, Nurturing Nature, 2012-2013)Sách đỏLào (phần III - thực vật (2007)(Bộ Nông Lâm Nghiệp Lào, Phong quản lýthống kê, 2007)và Danh lục đỏ (IUCN, 2012).Tiêu bản mẫu lá, hoa của một số loài thực vật quan trọng, quý hiếm được thu thập và lưu trữ
để phục vụ nghiên cứu
+ Phân tích đánh giá: Phân tích đa dạng về taxon cho khu vực nghiên cứu
(số lượng các loài, chi và họ của mỗi ngành, tỷ trọng của mỗi ngành trong hệ), các
họ và các chi đa dạng nhất; tính số loài quý hiếm theo Sách Đỏ Lào, tỷ lệ so với hệ thực vật khu vực nghiên cứu Căn cứ theo các tiêu chí phân loại thảm thực vật rừng mưa nhiệt đới của Richards (1996) để phân loại kiểu rừng trong khu vực nghiên cứu
Phân loại về công dụng của các loài thực vật dựa trên kết quả phỏng vấn trực tiếp 10 thầy lang ở khu vực nghiên cứu trên cơ sở quan sát các tiêu bản thu thập được, kết hợp với các tài liệu định loài và xác định giá trị như cuốn 1900 loài cây có ích Với phương pháp liệt kê giá trị sử dụng và liệt kê các loài cây cho từng giá trị
- Phương pháp điều tra: Áp dụng các phương pháp điều tra động vật mà các
tác giả bên Lào và Việtnam, Các Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia, Viện Sinh thái Tài nguyên và Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đang áp dụng thực hiện các nghiên cứu trong những năm gần đây
- Với nhóm Thú: Thu thập số liệu và mẫu vật bằng cách quan sát trực tiếp
vào ban ngày, tiến hành lập tuyến điều tra thực địa (1 tuyến cho 5 xã) Tuyến này được thiết kế 5 điểm nghiên cứu đi qua các kiểu trạng thái rừng chính ở khu vực nghiên cứu (hình 2.2), Thời gian điều tra được tiến hành cả ngày bắt đầu từ 7h30 và kết thúc lúc 16h00 Trong quá trình điều tra trên tuyến đi với tốc độ 1-1,5km/h và
cứ 30 phút dừng lại quan sát tại các điểm thoáng hoặc trên đỉnh giống khoảng 30 phút Các địa điểm như vũng nước, điểm mới và dọc theo bờ suối nơi thú thường