1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tổ chức hoạt động marketing sản phẩm xuất khẩu của tổng công ty rau quả việt nam sang thị trường liên bang nga

57 438 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức hoạt động marketing sản phẩm xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam sang thị trường Liên bang Nga
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Marketing quốc tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 369,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự giúp đỡ và chỉ đạo trực tiếp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng công ty Rau quả Việt Nam đã phát huy toàn bộ khả năng sản xuất của mình cũng như hoạt động kinh doan

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có sự thay đổi nhanh chóng, các hoạt động kinh tế trên nhiều lĩnh vực phát triển mạnh nhờ vào sự quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước Đặc biệt, trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại, chúng ta đã có những bước tiến hết sức lạc quan, hàng hoá của ta xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới Điều này góp phần tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước và thúc đẩy hoạt động nhập khẩu vật tư máy móc thiết bị xây dựng

cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phục vụ cho tái sản xuất

Rau, hoa, quả là cây có giá trị cao của nền nông nghiệp Việt Nam, đồng thời có giá trị với nền văn hoá, xã hội và môi trường sinh thái của đất nước Tiềm năng sản xuất rau, hoa, quả là một trong các mảng tài nguyên nông nghiệp Việt Nam – phát triển rau, hoa, quả là khai thác một nguồn lợi có giá trị của đất nước và đáp ứng được nhu cầu thiết yếu ngày càng tăng của đời sống nhân dân Rau, hoa, quả của nước ta được trồng rất sớm từ mấy ngàn năm nay trong quá trình phát triển nông nghiêp Điều kiện tự nhiên cho phép nước ta trồng được nhiều loại rau quả nhiệt đới, á nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, vụ mùa thu hoạch kế tiếp nhau nhiều tháng trong năm Việt Nam còn là một trong các vùng phát triển của các cây ăn quả như: cam, quýt, vải, chuối,… và có nguồn gen di truyền thực vật phong phú, đa dạng về cây ăn quả, rau, gia vị và hoa…

Thấy được lợi thế của ngành rau quả, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của ngành Được sự giúp đỡ

và chỉ đạo trực tiếp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng công ty Rau quả Việt Nam đã phát huy toàn bộ khả năng sản xuất của mình cũng như hoạt động kinh doanh để không ngừng mở rộng thị trường, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu các sản phẩm rau quả sang nhiều nước trên thế giới và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho

Để khắc phục nhược điểm của nhóm sản phẩm rau quả tươi sống là nhanh chóng giảm sút chất lượng sau khi thu hoạch, ngành sản xuất rau quả chế biến

Trang 2

đã ra đời Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng công tác chế biến cũng đã góp phần to lớn cho hoạt động xuất khẩu, tạo được nhiều chủng loại hàng hoá đặc trưng nhiều nơi không có hoặc trái mùa vụ mà không sản xuất được Phát triển sản xuất rau quả gắn với công nghiệp chế biến, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu

đã trở thành một trong những mục tiêu của chương trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nước ta

Trong thời gian thực tập tại Tổng công ty Rau quả Việt Nam, tôi đã nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của công tác tổ chức hoạt động Marketing xuất khẩu của sản phẩm rau quả chế biến, giúp cho Tổng công ty mở rộng thị trường, có thêm nhiều đối tác kinh doanh, tăng nguồn thu ngoại tệ và tăng nguồn đóng góp cho ngân sách Nhà nước Với thực tiễn như vậy, tôi mạnh dạn chọn đề

tài “Tổ chức hoạt động marketing sản phẩm xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam sang thị trường Liên bang Nga”

Có thể nói, Liên Bang Nga là một thị trường truyền thống, sôi động và là thị trường có tiềm năng của Tổng công ty Rau quả Việt Nam nên tổ chức hoạt động Marketing xuất khẩu các sản phẩm rau quả chế biến là công tác cần thiết

Mục đích nghiên cứu

+ Củng cố kiến thức về chuyên ngành đã được học thông qua việc tiếp cận, tìm hiểu thực tiễn hoạt động Marketing của Tổng công ty Rau quả Việt Nam

+ Với xu thế phát triển của Tổng công ty, bài báo cáo chuyên đề đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động Marketing sản phẩm xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam sang thị trường Liên Bang Nga và một số đề xuất khác trên tầm vĩ mô - tạo môi trường và điều kiện để triển khai tối ưu hoạt động Marketing sản phẩm xuất khẩu ở Công ty kinh doanh quốc tế Việt Nam nói chung và Tổng công ty Rau quả Việt Nam nói riêng

Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian, điều kiện năng lực nghiên cứu và hơn nữa đề tài chứa đựng nội dung nghiên cứu phức tạp nên tôi tập trung nghiên cứu đề tài này trên giác độ tiếp cận môn Quản trị Marketing và Marketing Quốc tế, với giới

Trang 3

hạn về nội dung được xác định trong phần I của bài báo cáo thực tập chuyên đề.

Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành tốt các mục tiêu nghiên cứu trên, tôi đã áp dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp nghiên cứu tài liệu, nắm bắt rõ những cơ sở lý luận, tiền đề của đề tài và phương pháp nghiên cứu trực tiếp tại hiện trường, thấy được việc áp dụng cơ sở lý luận vào thực tiễn ở Tổng công ty Rau quả Việt Nam

Trang 4

I NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY KINH DOANH QUỐC TẾ

1 Tự do hoá thương mại toàn cầu, những thời cơ và thách thức đối với doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Việt Nam

Trong hai thập kỷ vừa qua, nền kinh tế đã biến đổi rất cơ bản sự xuất hiện máy fax, các hệ thống nối mạng máy tính, điện thoại toàn cầu và chương trình truyền hình qua vệ tinh đi khắp thế giới…, đang ngày càng khẳng định những ảnh hưởng có tính quyết định, đa dạng của xu hướng toàn cầu hoá Toàn cầu hoá

“là hiện tượng đa phương diện áp dụng cho nhiều hình thức hoạt động xã hội đa dạng như kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, quân sự và công nghệ cũng như các vấn đề hoạt động xã hội, như môi trường”

Một trong những nội dung của toàn cầu hoá là vấn đề tự do hoá thương mại với nhịp độ lớn hơn nhiều so với sản xuất hàng hoá, tăng thêm mức độ phụ thuộc của các nền kinh tế quốc gia đối với thương mại quốc tế trong hoạt động kinh tế nói chung Quan hệ thương mại diễn ra rộng khắp các quốc gia trên toàn cầu: hàng loạt các liên minh, các tổ chức kinh tế lớn nhỏ được thành lập như: AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN), NAFTA (khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ), EU (liên minh châu Âu), APEC (hội nghị hợp tác kinh tế Thái Bình Dương), WTO (tổ chức thương mại thế giới), đặc biệt là sự xuất hiện đồng EURO đầu năm 1999, đồng tiền chung của các nước châu Âu

Như vậy, trong những điều kiện khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, có những bước tiến dài, giao thông vận tải phát triển mạnh mẽ, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế quốc dân, sự phát triển của mọi hoạt động kinh tế như sản xuất thương mại tài chính, tiền tệ, đầu tư… đã mang lại diện mạo mới cho thương mại hoá toàn cầu, đồng thời cũng đặt các nước đang phát triển trước những cơ hội và thách thức to lớn Cho đến nay, các quốc gia đã và đang nỗ lực hội nhập vào xu thế này với cách thức riêng của mình

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam cũng đã và đang hết sức nỗ lực

để tận dụng một cách có hiệu quả những cơ hội và giải quyết những thách thức

Trang 5

đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu của chúng ta hiện có thể được

cụ thể hoá như sau:

Những thời cơ

- Việt Nam chủ động hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, đang dần dần từng bước mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các quốc gia trên thế giới Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế có nhiều điều kiện để mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh của mình ở bên ngoài Nói cách khác, sản phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Việt Nam sẽ có một thị trường toàn cầu bao la

và rộng lớn

- Những thành tựu kỳ diệu về khoa học công nghệ mở ra những khả năng

vô tận cho sản xuất và cuộc sống cho con người Tham gia vào nền kinh tế toàn cầu là điều kiện của các công ty kinh doanh quốc tế Việt Nam tận dụng những thành tựu này và phát triển chính năng lực của mình, khẳng định vị trí xứng đáng trên thị trường quốc tế

- Ngoài việc ký kết các hiệp định thương mại với các nước tạo thị trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, chúng ta tiến hành thành lập các cơ quan xúc tiến thương mại nhằm cung cấp cho các nhà sản xuất trong nước những thông tin đầy đủ về thị trường xuất khẩu Những trung tâm này luôn làm nhiệm vụ nghiên cứu và tư vấn cho các doanh nghiệp trong nước về thị trường xuất khẩu

- Như vậy, Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới nhờ sự tham gia vào sự phân công và hợp tác quốc tế, sẽ mở rộng thị trường nước ngoài, đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng của Việt Nam có lợi thế so sánh và nâng cao lợi thế cạnh tranh các sản phẩm của thị trường trên thế giới

Trang 6

giá thành sản phẩm cao, trình độ cán bộ không đồng đều, việc áp dụng công nghệ vào sản xuất còn mới mẻ…

- Quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế còn đang tiến hành trong yêu cầu hội nhập gay gắt, làm cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, cũng như gây ảnh hưởng lớn đối với các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Việt Nam

- Lợi thế về con người (giá nhân công rẻ, tỷ lệ biết chữ cao) có khả năng nhanh chóng mất đi do việc đầu tư chưa ngang tầm đòi hỏi

Tóm lại, tự do hoá thương mại toàn cầu có những ưu điểm được công nhận rõ ràng, nhưng cũng tồn tại những yếu điểm nhất định Chính bởi vậy, đòi hỏi những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế của các nước đang phát triển như Việt Nam cần đánh giá các mặt hàng của mình một cách phù hợp, tận dụng tốt các thời cơ và nhanh chóng tìm ra hướng giải quyết những khó khăn khi tham gia vào nền kinh tế toàn cầu

Những nhiệm vụ đổi mới của công ty kinh doanh quốc tế nước ta trong thời gian hiện nay

Trong cơ chế mới, các công ty phải hoàn toàn độc lập hoạt động theo định hướng chung của Nhà nước, phải tự tìm thị trường, bạn hàng tự hạch toán, lỗ phải chịu, nếu thua lỗ nhiều thì buộc phải giải thể Các công ty kinh doanh quốc

tế đang đứng trước thách thức lớn, muốn tồn tại và phát triển cần đổi mới cách thức làm ăn và nhận thức rõ ràng những nhiệm vụ đổi mới của mình Có thể tóm lược là:

- Tiếp tục triển khai tư duy đổi mới tổ chức vận hành kinh doanh quốc tế nhằm nâng cao xuất khẩu và bảo trợ sản xuất trong nước

- Hoạt động kinh doanh quốc tế theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước: tăng cường xuất khẩu những mặt hàng chế biến, mặt hàng chất lượng cao, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng truyền thống…

- Tích cực chuẩn bị điều kiện để hội nhập kinh tế thương mại với các nước trong khu vực và trên thế giới

- Đảm bảo chế độ hạch toán kinh doanh và nộp ngân sách Nhà nước theo đúng quy định, bảo toàn và phát triển nguồn vốn mà Nhà nước cấp, thực hiện

Trang 7

chế độ thu chi hoá đơnchứng từ theo đúng hạch toán của Nhà nước.

- Nghiên cứu thị trường xuất khẩu trong đặc điểm thích hợp với nguồn lực của công ty Lựa chọn chiến lược Marketing thích ứng đảm bảo khả năng khai thác thị trường xuất khẩu trong đặc điểm nhằm nâng cao vai trò của công ty trên thị trường

- Phát triển nguồn nhân lực và nhân tài kinh doanh:công ty cần có kế hoạch đào tạo thường xuyên để bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công nhân viên

- Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật: cần có sự đầu tư hợp lý để nâng cao năng suất, chất lượng và đảm bảo thời hạn và giao hàng, giữ uy tín trong kinh doanh

Nói tóm lại, tự do hoá thương mại toàn cầu là một xu thế tất yếu mà bất

kỳ quốc gia nào trên thế giới hiện nay cũng cần quan tâm đến Việt Nam nói chung và các công ty kinh doanh quốc tế nói riêng nhất thiết phải nắm bắt được những thời cơ cũng như thách thức của mình khi tham gia vào xu thế này nằm

có những phương hướng đổi mới phù hợp, bắt kịp với thế giới hiện đại và tránh được sự tụt hậu đằng sau, gây nhiều hậu quả xấu

2 Phân tích nội dung cơ bản của tổ chức hoạt động Marketing xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế

2.1 Khái niệm, bản chất và những đặc trưng cơ bản của Marketing xuất khẩu

Khái niệm Marketing xuất khẩu

Hiện nay, một trong những vấn đề về quan điểm được tranh luận dai dẳng trong Marketing là định nghĩa của nó Thật vậy, đã có rất nhiều định nghĩa Marketing khác nhau

- Theo Philip Kotler: Marketing là hoạt động của con người hướng tới sự thoả mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi

- Theo hiệp hội Marketing Mỹ: Marketing là quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mại và phân phối hàng hoá, dịch vụ và

ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thoả mãn các mục tiêu của

Trang 8

đó đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận cao nhất Xuất phát từ khái niệm này các nhà làm Marketing ở Việt Nam đưa ra định nghĩa về Marketing xuất khẩu như sau:

Marketing xuất khẩu là việc thực hiện các hoạt động kinh doanh định hướng dòng vận động hàng hoá và dịch vụ của các công ty tới người tiêu dùng hoặc sử dụng ở nhiều quốc gia nhằm thu lợi nhuận cho công ty

- Bản chất của Marketing xuất khẩu: Marketing xuất khẩu thực chất chỉ là

sự vận dụng những nguyên lý, nguyên tắc, các phương pháp và kỹ thuật tiến hành của Marketing nói chung trong điều kiện của thị trường nước ngoài Sự khác biệt của Marketing xuất khẩu và Marketing nói chung chỉ ở chỗ là hàng hoá và dịch vụ được tiêu thụ không phải trên thị trường nội địa mà là ở thị trường nước ngoài Cũng như Marketing nói chung, Marketing xuất khẩu xuất phát từ quan điểm là trong nền kinh tế hiện đại vai trò của khách hàng và nhu cầu của họ có ý nghĩa quyết định đối với mọi hoạt động và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó chủ trương rằng chìa khoá để đạt được sự thành công của doanh nghiệp và mục tiêu của doanh nghiệp là xác định nhu cầu và mong muốn của các thị trường trọng điểm, đồng thời phân phối những thoả mãn mà các thị trường đó chờ đợi một cách hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh

- Đặc trưng của Marketing xuất khẩu: các hoạt động Marketing xuất khẩu không phải tiến hành ở trong nội bộ của một quốc gia mà nó được tiến hành trên phạm vi rộng từ hai quốc gia trở lên

+ Các khái nhiệm về Marketing, các quá trình, các nguyên lý Marketing

và nhiệm vụ của nhà tiếp thị là giống Marketing nội địa, tuy nhiên khi xâm nhập vào thị trường nước ngoài, Marketing xuất khẩu thường gặp phải những rào cản

Trang 9

về luật pháp, sự kiểm soát của Chính phủ ở những nước công ty xâm nhập vào.

+ Nhu cầu thị trường đa dạng hơn

+ Quan điểm về hoạt động kinh doanh ở tong thị trường nước ngoài là khác nhau, do đó tuỳ tong thị trường mà ta vận dụng các quan điểm Marketing xuất khẩu phù hợp

+ Các điều kiện thị trường có thể biến dạng Đây là đặc điểm khó nhận biết khác về căn bản so với Marketing nội địa với cùng một sản phẩm, các điều kiện thị trường có thể khác nhau về cơ bản giữa nước này với nước khác, thu nhập, cơ cấu tiêu dùng sản phẩm của khách hàng, môi trường công nghệ, điều kiện văn hoá xã hội và thói quen tiêu dùng, thói quen tiêu dùng ở cùng một thị trường rất khác nhau Vì vậy mà sẽ không có một sản phẩm hay người tiêu dùng duy nhất

- Mô hình Marketing xuất khẩu: quá trình Marketing xuất khẩu được khái quát trong mô hình sau:

Mô hình Marketing xuất khẩu

Trong xu thế mới, nếu chỉ làm tốt công việc của mình thì các công ty không thể sống sót được Nếu muốn thành công trên thị trường toàn cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt thì họ phải thực hiện công việc của mình một cách tuyệt hảo Và Marketing là chức năng của công ty, có nhiệm vụ xác định khách hàng mục tiêu cũng như cách tốt nhất để thỏa mãn những nhu cầu mong muốn của họ

Nghiên cứu Marketing xuất khẩu

Lựa chọn thị trường xuất khẩu

Xác định hình thức xuất khẩu

Vận hành và kiểm tra các nỗ lực Marketing xuất khẩu

Xác lập các yếu tố Marketing xuất khẩu

Trang 10

hơn đối thủ cạnh tranh, và có lời Sự quan tâm đến Marketing đang ngày càng tăng lên, khi mà ngày càng nhiều tổ chức trong khu vực kinh doanh Khu vực phi lợi nhuận và khu vực quốc tế nhận rõ đóng góp của Marketing vào việc nâng cao kết quả hoạt động trên thị trường Đặc biệt đối với các công ty kinh doanh quốc tế, Marketing xuất khẩu đã trở thành hoạt động không thể thiếu được để công ty ngày càng khẳng định được mình trên trường quốc tế.

2.2 Nghiên cứu Marketing xuất khẩu và phân tích khả năng xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế

Nghiên cứu Marketing xuất khẩu

Một khi công ty đã quyết định mục tiêu là một nước cụ thể nào đó thì nó phải xác định cách xâm nhập tốt nhất Xuất khẩu là phương thức đầu tiên và phổ biến nhất để xâm nhập thị trường quốc tế Đây là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là việc bán hàng hóa và dịch vụ ra thị trường nước ngoài, với mục tiêu:

- Hưởng lợi nhuận từ việc bán hàng hóa và dịch vụ nước ngoài với giá cao hơn giá trong nước

- Hưởng một khoản lợi nhận từ việc chênh lệch tỷ giá khi chuyển đổi qua lại giữa các đồng tiền

Như vậy, nghiên cứu Marketing xuất khẩu là nội dung cơ bản trước nhất của tổ chức hoạt động Marketing xuất khẩu, góp phần quan trọng vào sự thành công của hoạt động xuất khẩu của công ty, giúp công ty dần từng bước khẳng định được mình

* Vai trò của nghiên cứu Marketing xuất khẩu

Việc nghiên cứu Marketing xuất khẩu chỉ khác việc nghiên cứu Marketing nội địa ở chỗ hàng hóa và dịch vụ được tiêu thụ không phải trên thị trường nội dịa mà ở thị trường nước ngoài.Vai trò của nó bao gồm:

- Cung cấp các thông tin để công ty kinh doanh quốc tế tìm kiếm cơ hội

và thị trường mới để xuất khẩu

- Cung cấp các thông tin để công ty kinh doanh quốc tế lựa chọn thị trường và mục tiêu

Trang 11

- Là cơ sở kinh doanh xác lập và triển khai chiến lược các chương trình Marketing thích ứng với thị trường nước ngoài.

- Giảm bớt và đi đến loại trừ những rủi ro trong kinh doanh quốc tế

- Cung cấp thông tin dể công ty kinh doanh thích ứng với các hoạt động Marketing ở nước ngoài

* Nội dung nghiên cứu Marketing xuất khẩu

- Nghiên cứu nhân tố mang tính toàn cầu, cụ thể là hệ thống thương mại quốc tế

+ Thuế nhập khẩu: Đó là mức thuế sẽ được áp dụng đối với sản phẩm mà công ty dự định xuất khẩu.Thuế nhập khẩu không những là nguồn thu mà quan trọng hơn nó còn là biện pháp bảo hộ của mỗi quốc gia Bởi vậy, việc nghiên cứu thuế nhập khẩu là hết sức quan trọng

+ Hạn nghạch nhập khẩu chung: Nó hạn chế trực tiếp khối lượng vật lý hoặc (ít thông thường hơn) giá trị của hàng nhập khẩu, thường được sử dụng bảo

hộ sản xuất trong nước đối với cạnh tranh quốc tế

+ Các tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường: đây

là hàng rào bảo hộ mậu dịch các nước nhập khẩu

+ Các quy định về kiểm soát ngoại tệ, giấy phép nhập khẩu, thủ tục hải quan …

- Nghiên cứu các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế

+ Mức độ phát triển thị trường: được đánh giá thông qua trình độ phát triển công nghiệp: Xác định tổng thu nhập quốc nội, thu nhập bình quân, cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu chỉ tiêu và đầu tư, cơ cấu xuất nhập khẩu, dự trữ ngoại tệ, giá trị và sự ổn định của đồng tiên, khả năng thanh toán quốc tế Ngoài ra, mức độ phát triển thị trường còn việc đánh giá qua việc xác định động thái của nền kinh tế như mức độ ổn định, chu kỳ kinh tế

+ Mức độ tham gia các liên kết kinh tế

- Nghiên cứu các yếu tố thuộc môi trường chính trị – pháp luật

+ Xem xét thái độ của chính phủ, của các nhà kinh doanh nước ngoài đối với các nhà kinh doanh của nước nhà

Trang 12

+ Sự ổn định về chính sách của chính phủ, sự điều tiết về tiền tệ và tính hiệu lực của bộ máy chính quyền (hệ thống hải quan, tệ quan liêu, tham nhũng…)

- Nghiên cứu các yếu tố thuộc môi trường văn hoá

Việc nghiên cứu nhằm thấy được sự tương đồng và khác biệt văn hoá giữa các quốc gia, trên cơ sở đó để lựa chọn thị trường xuất khẩu, hoạch định thực thi các chiến lược Marketing, là cơ sở thiết kế bao bì, nhãn mác Đó là việc nghiên cứu về ngôn ngữ; tôn giáo; giá trị đạo đức; những điều tôn thờ, cấm kỵ; sự quan tâm của xã hội

- Nghiên cứu các yếu tố thuộc môi trường cạnh tranh

Để lựa chọn được môi trường xâm nhập, xác lập các biện pháp cạnh tranh, việc nghiên cứu để được đề cập bao gồm:

+ Xác định các loại cạnh tranh theo ngành hàng và sản phẩm

+ Xác định các đối thủ cạnh tranh

+ Xác định các chiến lược và phản ứng cạnh tranh của họ

- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và điều kiện vận tải

Việc nghiên cứu này không những để chọn thị trường xâm nhập mà còn

là cơ sở xác lập Marketing hỗn hợp ở thị trường nước ngoài Hoạt động nghiên cứu xoay quanh các vấn đề thời tiết, khí hậu; địa hình tài nguyên, điều kiện giao hàng, điều kiện giao thông vận tải trong nước và từ trong nước đi các nước khác

- Nghiên cứu nhu cầu thị trường nước ngoài

+ Quy mô thị trường sản phẩm: Thể hiện ở chỉ tiêu dân số, số lượng khách hàng, sức mua, số lượng sản phẩm mà thị trường cần, doanh số bán

+ Xác định nhu cầu nhập khẩu hàng năm về các loại sản phẩm

+ Sự biến động của nhu cần thị trường quốc tế

- Nghiên cứu khách hàng ở thị trường nước ngoài

Đây là việc nghiên cứu để xác định các loại khách hàng ở nước ngoài; nghiên cứu tập tính hiện thực và tinh thần cũng như cơ cấu khách hàng nước ngoài

- Nghiên cứu Marketing sản phẩm để thích ứng sản phẩm với nhu cầu

Trang 13

nước ngoài bao gồm:

+ Nghiên cứu về chủng loại, kích cỡ, màu sắc, nguyên liệu, các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm

+ Nghiên cứu cứu tiêu chuẩn đóng gói bao bì, nhãn mác và nghiên cứu hoàn thiện sản phẩm

- Nghiên cứu giá cả ở thị trường nước ngoài nhằm mục tiêu lựa chọn thị trường xâm nhập, bên cạnh đó là xác định các chính sách giá phù hợp với điều kiện nước ngoài (như bán buôn bán lẻ…), xu hướng biến động giá cả

- Nghiên cứu Marketing phân phối để lựa chọn các kênh phân phối cũng như các trung gian ở nước ngoài

+ Nghiên cứu hệ thống phân phối quốc tế và trong nước ở nước ngoài.+ Nghiên cứu các trung gian thương mại và hệ thống bán lẻ ở nước ngoài

- Nghiên cứu Marketing xúc tiến thương mại quốc tế để xác lạp triển khai xúc tiến thương mại quốc tế Đây là việc nghiên cứu:

+ Tập tính trong thu thập thông tin đại chúng

+ Sự có mặt và đặc điểm của các phương tiện thông tin đại chúng, các đại

lý quảng cáo của các quốc gia

+ Các quy định luật pháp

- Dự báo doanh số bán của công ty nước ngoài

* Phương pháp nghiên cứu Marketing xuất khẩu

- Việc nghiên cứu Marketing xuất khẩu là hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp kinh doanh quốc tế,do vậy việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh của công ty là cần thiết:

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thường được áp dụng đối với các công

ty bị hạn chế về nguồn tài chính Các hoạt động nghiên cứu được thông qua việc thu thập tài liệu , dữ liệu(có thể là sơ cấp hoạc là thứ cấp) từ nhiều nguồn khác nhau như:cục xúc tiến thương mại, các tổ chức, đại sứ quán ở nước ngoài hay chính từ các đối thủ cạnh tranh của công ty ở trong nước

Hạn chế của phương pháp này là các công ty có thể không nắm bắt được

Trang 14

những thay đổi của thị trường ở nước ngoài một cách kịp thời Đó là do họ không có mối quan hệ trực tiếp, bên cạnh đó là nhiều tài liệu nhiều khi không có

độ chính xác cần thiết

+ Phương pháp nghiên cứu trực tiếp ở thị trường nước ngoài: là việc kinh doanh quốc tế cử nhân viên ra trực tiếp ra nước ngoài nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm ở thị trường nước ngoài Như vậy, phương pháp này đã khắc phục được những hạn chế của phương pháp nghiên cứu tài liệu, có nghĩa là công ty có khả năng bắt kịp những biến động thị trường xuất khẩu Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi chi phí lớn, nên chỉ được áp dụng đối với các công ty có nguồn tài chính dồi dào

Tóm lại, nghiên cứu Marketing xuất khẩu là hoạt động đầu tiên trong tổ chức hoạt động Marketing xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế Nó vô cùng quan trọng khi các công ty mở rộng thị trường ra nước ngoài, họ cần những số liệu tin cậy để làm cơ sở cho những quyết định và kế hoạch Marketing

Họ cần biết quy mô tiềm ẩn của một thị trường nước ngoài, thái độ và sở thích của người mua, những đặc điểm của các kênh phân phối và những thông tin khác Họ không thể cứ đơn giản nhảy vào thị trường nước ngoài rồi bán sản phẩm và dịch vụ của mình theo cách giống như ở trong nước

Phân tích khả năng xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế

Khả năng xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, ở đây nó bao gồm cả nhân tố chủ quan và khách quan Nó được xem xét trên một số chỉ tiêu chính:

- Sản phẩm xuất khẩu: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu có ý nghĩa rất lớn đối với các công ty, sản phẩm xuất khẩu càng đa dạng thì công ty càng có điềukiện để xâm nhập vào nhiều loại thị trường khác nhau Ngoài ra việc đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu sẽ giúp công ty có thể lựa chọn những mặt hàng có

ưu thế về giá cả và chủng loại

- Khả năng sản xuất: Yếu tố này quyết định việc công ty có duy trì được hoạt động xuất khẩu của mình hay không

- Chi phí hoạt động sản xuất: mục tiêu chính của công ty là lợi nhuận Chi

Trang 15

phí sản xuất có ảnh hưởng đến việc định giá cả xuất khẩu của công ty, nên yếu

tố rất được coi trọng Nếu công ty đưa ra một mức giá hợp lý thì sẽ làm tăng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từ đó làm tăng khả năng xuất khẩu của công

ty và ngược lại

- Khả năng tài chính: Đây là nhân tố then chốt quyết định đến khả năng xuất khẩu là phải có một số vốn lớn, nên khả năng tài chính tốt sẽ có điều kiện thực hiện những hợp đồng xuất khẩu lớn, tạo được uy tín và dễ thu được lợi nhuận cao

- Khả năng tham gia trên thị trường quốc tế: xuất phát từ những đặc điểm kinh doanh của công ty kinh doanh quốc tế là luôn luôn hướng tới thị trường quốc tế, điều này càng quan trọng hơn đối với hoạt động xuất khẩu Khi một công ty có thể xâm nhạp tốt vào các thị trường, nó sẽ quyết định lớn đến khả năng xuất khẩu và ngược lại

- Mối quan hệ khách hàng, nguồn hàng, các cơ quan Chính phủ và phi Chính phủ: Một khi công ty tạo được cho mình một mối quan hệ tốt với các tổ chức này, nó sẽ có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của công ty

2.3 Lựa chọn thị trường xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế

Lựa chọn thị trường xuất khẩu là quá trình phân tích đánh giá và xác định các thị trường hấp dẫn nhất mà công ty sẽ xâm nhập, phù hợp với mục tiêu chiến lược và các nguồn lực của công ty Như vậy, căn cứ để lựa chọn thị trường xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế sẽ là:

- Căn cứ kết quả nghiên cứu Marketing và đánh giá thời cơ xâm nhập thị trường, chính là mức độ hấp dẫn của các thị trường nước ngoài

- Căn cứ vào kết quả nghiên cứu Marketing mục tiêu, chiến lược, nguồn lực của công ty

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Nhóm tiêu chuẩn chung: Đó là những tiêu chuẩn về :

+ Chính trị:

Thể chế chính trị của quốc gia đó có lợi nhuận hay bất lợi cho hoạt động xuất khẩu của công ty

Trang 16

Sự ổn định hay bất ổn định của quốc gia đó.

Quan hệ giữa chính phủ nước nhà và chính phủ của các quốc gia nhập khẩu

Hiệu lực của bộ máy hành pháp

+ Điều kiện tự nhiên:

Khoảng cách từ quốc gia mình đến các quốc gia nhập khẩu

Điều kiện giao thông vận tải, khí hậu địa hình

+ Dân số:

Phân bố dân số theo độ tuổi

Phân bố dân số theo lãnh thổ

+ Kinh tế: Xem xét GNP, tốc độ tăng trưởng

+ Sự phát triển: Khoa học kỹ thuật, công nghệ và khả năng ứng dụng

- Nhóm tiêu chuẩn về quy chế tiền tệ:

+ Các hàng rào bảo hộ mậu dịch:Thuế nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, giấy chứng nhận an toàn đối voứi hàng hoá xuất nhập khẩu

+ Tình hình tiền tệ: lạm phát, diễn biến của tỷ giá hối đoái

- Nhóm tiêu chuẩn thương mại:

+ Quy mô và tính năng động của thị trường

+ Có nhu cầu về sản phẩm của công ty

+ Mức độ cạnh tranh

Đây là những tiêu chuẩn lựa chọn căn bản của công ty kinh doanh quốc tế.Tuỳ thuộc đặc điểm, nguồn lực của từng công ty mà họ lựa chọn tiêu chuẩn nào là quan trọng nhất

* Phương pháp lựa chọn thị trường xuất khẩu

Lựa chọn thị trường xuất khẩu cho hoạt động quốc tế hoá công ty là khâu khởi đầu đầy khó khăn quyết định sự thành công trong tương lai của công ty Khi lựa chọn thị trường xuất khẩu, có thể có hai phương pháp khác nhau là thụ động và chủ động

- Phương pháp thụ động: Là phương pháp chọn thị trường nước ngoài trên

cơ sở dôưn đặt hàng của thị trường nước ngoài, Phương pháp này dùng chủ yếu

Trang 17

cho các công ty vừa và nhỏ với một chút hoặc không có kinh nghiệm Với các công ty lớn hơn, đôi khi cũng có thể áp dụng trong những trường hợp nhất định (chẳng hạn đơn đặt hàng đột ngột xuất đến từ một thị trường không dự kiến).

- Phương pháp chủ động: Công ty tự đặt ra mục tiêu quốc tế hoá hoạt động của mình và chủ động lựa chọn thị trường cũng như xcách thức sẽ xâm nhập vào thị trường đó Các công ty lớn thường sử dụng cách tiếp cận này để đảm bảo những bước đi chắc chắn hơn, theo kế hoạch dự kiến trước, do đó sẽ đảm bảo được sự xâm nhập chắc chắn vào thị trường mới

Có hai phương pháp chủ động được phân biệt là:

+ Phương pháp mở rộng: là phương pháp lựa chọn thị trường xuất khẩu

mà dựa trên cơ sở từ các nước đã xâm nhập hoặc từ các quốc gia của mình để tiến hành xâm nhập các thị trường lân cận (về địa lý) hoặc tương đồng về yếu tố văn hoá Đây là dạng lựa chọn thị trường dựa vào kinh nghiệm

+ Phương pháp thu hẹp: là phương pháp lựa chọn thị trường xuất khẩu trên cơ sở phân tích, đánh giá, so sánh các thị trường nước ngoài để thấy được mức độ hấp dẫn của chúng, từ đó thấy được thị trường xâm nhập Phương pháp này được tiến hành một cách có hệ thống hơn và đảm bảo không bỏ xót mọi thời

cơ hội thị trường của công ty

2.4 Lựa chọn các hình thức xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế

Như đã đề cập trên đây, xuất khẩu là phương thức đầu tiên và phổ biến nhất để xâm nhập thị trường quốc tế Thông thường, phương thức xâm nhập này

có 3 dạng chủ yếu:xuất khẩu gián tiếp, hợp tác xuất khẩu, và xuất khẩu trực tiếp

* Xuất khẩu gián tiếp

xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu, trong đó công ty kinh doanh quốc tế thông qua một công ty ở trong nước hoặc chi nhánh của công ty thương mại quốc tế để bán sản phẩm cho khách ở thị trường nước ngoài

Khi xuất khẩu theo hình thức này,công ty không gặp phải rủi ro đối với hoạt động xuất khẩu và không phải mất nhiều thời gian cho nó Như vậy,xuất khẩu này thường phù hợp với các công ty mà mục tiêu mở rộng thị trường nước ngoài hạn chế Bên cạnh đó nó còn những lợi thế như:đòi hỏi ít vốn đầu tư, công

Trang 18

ty không phải tổ chức một phòng xuất khẩu, một lực lượng bán hàng ở hải ngoại, hoặc một loạt các các cuộc tiếp xúc với nước ngoài, tốc độ chu chuyển vốn nhanh.

Tuy nhiên xuất khẩu gián tiếp có nhược điểm là không nắm bắt được nhu cầu thị hiếu và sự thay đổi của chúng ở thị trường nước ngoài do đó công ty không làm sản phẩm thích ứng với sự thay đổi đó;không thiết lập và củng cố được uy tín với khách hàng; phụ thuộc vào trung gian; chỉ hiệu quả trong các trường hợp :

Thứ nhất: khi công ty xuất khẩu với mục tiêu tiêu thụ các sản phẩm dư thừa hoặc phát huy hết công xuất của công ty

Thứ hai: quy mô lô hàng nhỏ

Thứ ba: nghuồn lực hạn chế (đặc biệt là nhân sự và tài chính)

* Hợp tác xuất khẩu

Với một công ty mong muốn kiểm soát ở mức độ nào đó hoạt động xuất khẩu nhưng lại hạn chế nguồn lực hoặc khối lượng bán không đủ lớn ddể thiết lập một bộ phận xuất khẩu thì howpj tác xuất khẩu là sự lựa chọn thích hợp Trương trường hợp này, công ty thoả thuận với hợp tác với một công ty khác để phối hợp các hoạt động nghiên cứu, xúc tiến thương mại, vận tải, phân phối và các hoạt động khác liên quan đến thị trường xuất khẩu

Một dạng khác của hợp đồng hợp tác xuất khẩu trong Marketing quốc tế

là dựa vào một công ty khác, trong đó một công ty tiếp thị sản phẩm của mình thông qua tổ chức phân phối của một công ty khác ở thị trường nước ngoài Như vậy, các tổ chức mà công ty kinh doanh có thể hợp tác xuất khẩu bao gồm: các hiệp hội, các công ty dịch vụ Theo hình thức này, cả hai bên sẽ thực hiện chức năng xuất khẩu và toàn bộ nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại sẽ do các hiệp hội đảm nhiệm

* Xuất khẩu trực tiếp

Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu mà trong đó công ty kinh doanh thông qua bộ phận xuất khẩu của mình để bán sản phẩm của mình cho khác hàng nước ngoài ở thị trường nước ngoài

Trang 19

Tổ chức xuất khẩu đảm nhiệm tất cả các chức năng xuất khẩu,từ việc xác định thị trường tiềm năng, phân đoạn thị trường, thu xếp thủ tục, chứng từ xuất khẩu, vận tải cho đến hoạch định, khai triển kế quốc tế haọch Marketing bao gồm giá, xúc tiến,phân phối sản phẩm, cho thị trường.

Công ty có thể thực hiện xuất khẩu trực tiếp theo các cách:

Phòng hay bộ phận xuất khẩu đóng ở trong nước

Chi nhánh hay công ty con bán hàng ở hải ngoại

Đại diện cho xuất khẩu lưu động

Người phân phối hay đại lý ở nước ngoài

Xuất khẩu trực tiếp đem lại nhiều lợi ích cho công ty kinh doanh quốc tế như:

Nắm bắt được những thay đổi thị trường, thị hiếu, nhu cầu để thích ứng các hoạt động Marketing

Tăng cường quan hệ với khách hàng nước ngoài, nâng cao uy tín với thị trường nước ngoài

Không phụ thuộc vào trung gian

Hiệu quả xuất khẩu cao, thu được ngoại tệ mạnh

Mặc dù vậy, xuất khẩu trực tiếp đòi hỏi đầu tư nguồn lực lớn mà không phải công ty kinh doanh quốc tế nào cũng đáp ứng được Bên cạnh đó là sự phụ thuộc vào thị trường nước ngoài, rủi ro lớn và tốc độ chu chuyển vốn chậm

Tóm lại, tuỳ từng đặc điểm và khả năng của từng công ty mà họ lựa chọn hình thức xuất khẩu phù hợp, đem lại hiệu quả kinh doanh tối ưu nhất cho công ty

3 Xác lập triển khai Marketing sản phẩm xuất khẩu

3.1 Khái niệm và cấu trúc sản phẩm trên thị trường quốc tế

Sản phẩm là bất cứ cái gì có thể được cung ứng, chào hàng cho một thị trường nhất định để tạo ra sự chú ý, mua và sử dụng chúng nhằm thoả mãn một nhu cầu hoặc mong muốn nào đó

Trên thị trường quốc tế, sản phẩm được hiểu là bất cứ thứ gì mà công ty kinh doanh chào bán để thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng nước

Trang 20

ngoài Việc nghiên cứu sản phẩm trên thị trường quốc tế chủ yếu là:

- Thành phần cơ bản của hàng hoá: phản ánh giá trị sử dụng của hàng hoá gồm có sản phẩm cụ thể, các đặc tính sản phẩm và thiết kế, các đặc tính chức năng và sự cho phép của luật pháp

- Bao bì đóng gói: ngoài chức năng bảo vệ, bảo quản hàng hoá còn có chức năng khuyếch trương thành phần cơ bản của sản phẩm và chức năng cung cấp thông tin (thành phần cấu tạo, nơi sản xuất…) Do đó, công ty phải xem xét đến sở thích của khách hàng để thiết kế bao bì, hình dáng, kích thước phù hợp Bên cạnh đó là trang trí bao bì, nhãn hiệu thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, các thông tin bao bì dảm bảo đúng quy định của pháp luật

- Nhãn hiệu hàng hoá: nhãn hiệu thực hiện một số chức năng như đảm bảo nhận biết được sản phẩm hay hàng hoá, chỉ rõ phẩm cấp của sản phẩm, mô tả sản phẩm (người sản xuất, nơi sản xuất, ngày sản xuất, nội dung trong bao bì, cách sử dụng và quy tắc an toàn khi sử dụng), tuyên truyền sản phẩm bằng những hình vẽ hấp dẫn

- Các dịch vụ bổ trợ như: bảo hành, cung cấp phụ ting thay thế, hướng dẫn

sử dụng, lắp ráp…

3.2 Nội dung quyết định sản phẩm xuất khẩu

- Kế hoạch và triển khai sản phẩm, sản phẩm mới cho thị trường quốc tế: Các nhà quản trị Marketing phải thường xuyên tiến hành kiểm tra sản phẩm như một khía cạnh chính sách để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn

và kịp thời nhất cho sản phẩm xuất khẩu của công ty:

Bổ sung hoặc phát triển sản phẩm mới cho thị trường quốc tế

Cải tiến những sản phẩm hiện tại

Thải loại sản phẩm

- Quản trị tuyến sản phẩm trên thị trường quốc tế

Các công ty thường hoạt động trong một môi trường kinh doanh năng động, và dường như có một loạt các áp lực gây sức ép đối với các công ty kinh doanh quốc tế vào bất cứ thời điểm nào và chúng đòi hỏi phải có sự điều chỉnh tuyến sản phẩm ngoại quốc Do vậy, cần phải phân tích thường xuyên tuyến sản

Trang 21

phẩm tiếp diễn của công ty để duy trì một tuyến sản phẩm linh hoạt và thích ứng.

- Tiêu chuẩn hoá dịch vụ và sản phẩm theo sau

+ Một vấn đề quan trọng trong Marketing quốc tế là mức độ cần phải sửa đổi và thích ứngcác sản phẩm được bán trên thị trường toàn cầu Các công ty hiểu rằng do bản chất không đồng nhất của môi trường hoạt động quốc tế nên chỉ trong trường hợp đặc biệt thì một chương trình sản phẩm đồng nhất, cặn kẽ mới có khả năng đứng vững trên thị trường thế giới Thông thường, tiêu chuẩn hoá sản phẩm được sử dụng bao gồm các chiến lược thích ứng hoá địa phương

có giới hạn dựa trên sản phẩm nòng cốt (hạt nhân) tiêu chuẩn hoá

+ Dịch vụ được đề cập ở đây là Marketing dịch vụ quốc tế chứ không phải

là các dịch vụ bổ trợ Hầu hết các dịch vụ có đặc tính là vô hình và dễ hang, việc bán dịch vụ thường bao hàm sản xuất, trao đổi và tiêu dùng cùng một lúc Điều này dẫn đến nhu cầu về việc tiếp xúc mặt đối mặt trực tiếp hơn, người bán và người mua ở cùng một địa điểm khi thực hiện giao dịch dịch vụ

+ Sản phẩm theo sau gồm việc sử dụng nhưng không được uỷ quyền các hình dạng khác nhau của tài sản công nghiệp và trí tuệ như bằng sáng chế, thiết

kế sản phẩm và nhãn hiệu thương mại Để chống lại làm giả sản phẩm, công ty

có thể quyết định phát triển sản phẩm, tức là thực hiện một bước trước những người giả mạo hoặc chiến lược cộng tác như liên doanh, cấp giấy phép

Như vậy, sự bùng nổ kinh tế toàn cầu đã đòi hỏi các công ty kinh doanh của các quốc gia phải có sự phát triển để hướng tới xu hướng toàn cầu hoá Chính vì vậy mà bất kỳ một công ty nào cũng muốn sản phẩm của công ty mình được bán trên khắp thế giới Để làm được điều đó thì Marketing xuất khẩu đang trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng của các quốc gia, sản phẩm quốc tế đang

có xu hướng là chu kỳ sống của nó ngày càng ngắn đi và toàn cầu hoá các sản phẩm này đang trở nên phổ biến Bên cạnh đó thì chất lượng sản phẩm hàng hoá quốc tế đang được kiểm tratheo ISO do đó một công ty kinh doanh quốc tế muốn thành công trên thị trường thế giới thì bên cạnh chất lượng sản phẩm phải tốt, việc đánh giá phân phối và xúc tiến bán cũng vô cùng quan trọng

Trang 22

Trong kinh doanh nội địa, do thị trường hạn chế và môi trường hoạt động quen thuộc cho nên công ty sẽ ít gặp khó khăn trong việc sử dụng phối thức Marketing, nhưng khi đã sử dụng Marketing xuất khẩu để bán sản phẩm sang thị trường nước ngoài rộng lớn, môi trường hoạt động chưa quen nên công ty sẽ vấp phải không ít khó khăn Vì vậy, các công ty kinh doanh quốc tế phải làm sao cho sản phẩm của mình đứng vững được trên thị trường quốc tế và chiến thắng đối thủ cạnh tranh.

II TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY

1 Quá trình hình thành và phát triển

1.1.Giới thiệu về tổng công ty rau quả Việt Nam

Tên giao dịch quốc tế: Vietnam National Vegetables and Fruit corporation.Viết tắt là: Vegetexco Vietnam

Trụ sở chính đặt tại số 2 Phạm Ngọc Thạch - Đống Đa – Hà Nội

Cơ quan đaị diện đặt tại: Moscow –Cộng Hoà Liên Bang Nga

Vốn ngân sách và vốn tự bổ xung đăng ký trong đơn xin thành lập liên doanh là 125.200.000VND

Tổng công ty là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được tổ chức và hoạt động theo điều lệ mẫu và điều lệ cụ thể của Tổng công ty

1.2 Quyết định thành lập

Tổng công ty rau quả Việt Nam (VEGETEXCO) ra đời ngày 11 tháng 2 năm 1988 theo Quyết định số 63NN-TCCB/QĐ của Bộ Công nghiệp và Nông nghiệp thực phẩm, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trên cơ sở hợp nhất các đơn vị có quan hệ sản xuất chế biến và xuất khẩu rau quả của ba bộ: Nông nghiệp, Công nghiệp thực phẩm và Ngoại thương, đó là các đơn vị: Liên hiệp các

xí nghiệp công nghiệp Phủ Quì, Tổng công ty rau quả Trung ương và Tổng công ty xuất nhập rau quả Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu một chặng đường thăng trầm của ngành rau quả, trên đường vươn tới khẳng định mình với tư cách là một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với hơn 37000 cán bộ công nhân viên và 64 đơn vị trực thuộc

Trang 23

Tháng 12 năm 1995 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã quyết định thành lập lại Tổng công ty rau quả Việt Nam theo mô hình “TCT90” Trải qua hơn

12 năm hoạt động, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, Tổng công

ty đã tích cực thực hiện việc xắp xếp và đổi mới hoạt động của mình

Quá trình phát triển

* Giai đoạn: 1988- 1990

Thực hiện quyết định 217-HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1987 của Hội đồng Bộ Trưởng, Tổng công ty một mặt đã chuyển hoạt động của các đơn vị trực thuộc sang hạch toán kinh doanh Xã Hội Chủ Nghĩa, mặt khác chủ động xắp xếp lại tổ chức hoạt động của toàn bộ Tổng công ty

Đây là thời kỳ mà các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế bao cấp Về sản xuất kinh doanh của Tổng công ty nằm trong quỹ đạo của chương trình hợp tác rau quả Việt Xô (1986 - 1990) Do vậy kinh ngạch xuất nhập khẩu của Tổng công ty chiếm tỷ trọng lớn Chẳng hạn như xuất nhập khẩu rau quả tươi và chế biến sang thị trường Liên Xô chiếm 97,7% kim ngạch xuất nhập khẩu và ngược lại 26,52% số vật tư thời kỳ này được nhập từ Liên Xô để phục vụ chương trình hợp tác Việt Xô

* Giai đoạn 1991 – 1995

Thực hiện Quyết định 315 –HĐBT ngày 01 tháng 09 năm 1990 và Nghị định 388 –HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 của Hội đòng Bộ Trưởng,Tổng công ty đã tiến hành rà soát lại các đơn vị, làm thủ tục thành lập cho các đơn vị

đủ điều kiện, bước đầu thực hiện liên doanh với nước ngoài Thực hiện Quyết định 329 – TTg ngày 27 tháng 5 năm 1995 của Thủ Tướng Chính Phủ, Tổng công ty đã nghiêm túc bàn giao các nông trường về cho địa phương quản lý, đồng thời xây dựng phương án thành lập lại Tổng công ty theo mô hình

‘‘TCT90’’

Trong giai đoạn này cả nước bước vào hoạt động theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước Mặc dù chương trình hợp tác Việt Xô không còn nữa nhưng Tổng công ty vẫn cố gắng duy trì sản xuất để tiếp tục phát triển Nhưng do ảnh hưởng của tình hình chung nên tổng sản lượng của Tổng công ty

Trang 24

giảm Tuy vậy cũng phải thừa nhận rằng nhờ có sự thay đổi trong phương hướng hoạt động làm cho Tổng công ty đã đưa những vật tư thiết bị cần thiết chứ không nhập khẩu như trước kia Đến cuối năm 199 khib bắt đầu đi vào hoạt động theo mô hình mới, Tổng công ty còn 26 đơn vị thành viên (gồm 24 doanh nghiệp và 2 đơn vị sự nghiệp), có 2 đơn vị liên doanh với nước ngoài.

* Giai đoạn 1996 –2000

Thực hiện Nghị định 28 – CP ngày 07 tháng 05 năm 1996 của Chính Phủ

về chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần và chỉ thị số 20/1998/CP – TTg ngày 21 tháng 04 năm 1998 của Thủ Tướng Chính Phủ về đẩy mạnh xắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, Tổng công ty đã tiến hành xắp xếp lại các đơn vị thành viên theo hướng gắn sản xuất với kinh doanh, gắn nhà máy chế biến với vùng nguyên liệu, tiến hành cổ phần hoá những đơn

vị và bộ phận có điều kiện, đồng thời tập trung xây dựng định hướng phát triển của Tổng công ty giai đoạn 2000 –2005

cả nước Bên cạnh đó nhiệm vụ của Tổng công ty còn là:

+ Đầu tư cho các cơ sở chế biến gắn với các vùng rau, hoa, quả…

+ Xây dựng một số cơ sở chuyên sản xuất bao bì nhằm bảo quản, vận chuyển rau, hoa, quả tươi và chế biến phục vụ cho xuất khẩu

+ Tăng cường tham gia xây dựng, quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống sản xuất và cung cấp giống rau, quả tốt trong phạm vi toàn quốc

+Tăng cường năng lực sản xuất cho một số trại và trung tâm nhân giống

Trang 25

của Tổng công ty, gắn với mạng lưới khuyến nông để cung cấp giống có chất lượng cao cho sản xuất đại trà

Như vậy, trách nhiệm của Tổng công ty đối với ngành rau quả, nhất là về cây ăn quả, được xác định rõ như sau:

- Các cây ăn quả đa dạng sinh học : các địa phương trồng để ăn tại chỗ là chính

- Các cây ăn quả hỗn hợp

+ Tổ chức cung cấp giống tốt

+ Khuyến cáo sản xuất thành các vùng chuyên canh

+ Tổng công ty chịu trách nhiệm ký hợp đồng tiêu thụ

- Cây ăn quả để chế biến :

+ Tổ chức cung cấp giống tốt

+ Xây dựng thành các vùng nguyên liệu

+ Tổng công ty đưa nhà máy đến chế biến tại chỗ

Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:

+ Sản xuất giống rau quả, các nông sản khác, chăn nuôi gia súc

+ Dịch vụ tư vấn đầu tư phát triển ngành rau hoa quả

+ Sản xuất chế tạo các sản phẩm cơ khí, thiết bị phụ tùng, máy móc phục

vụ chuyên ngành rau quả và gia dụng

- Xuất khẩu trực tiếp: rau quả tươi, rau quả chế biến, hoa và cây cảnh, gia

vị, giống rau quả, nông lâm hải sản, thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ và hàng hoá tiêu dùng

- Nhập khẩu trực tiếp: rau hoá quả, giống rau hoa quả, thực phẩm, máy móc, vật tư, thiết bị phương tiện vận tải, nguyên nhiên vật liệu

Trang 26

- Tham gia đào tạo công nhân kỹ thuật

- Liên kết kinh doanh với đơn vị kinh tế trong và ngoài nước để phát triển sản xuất kinh doanh rau quả cao cấp với công nghệ sạch

2.2 Khả năng xuất khẩu của Tổng công ty rau quả Việt Nam

+ Sản phẩm xuất khẩu: Tổng công ty đã có những tiến bộ vượt bậc, nỗ lực trong hoạt động đa dạng hoá sản phẩm chế biến sang thị trường thế giới Bên cạnh đó là việc cải tiến mẫu mã, hình thức bao bì, chất lượng sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn quy định của thị trường và Tổng công ty đã tìm được sự hài lòng của khách hàng

+ Khả năng sản xuất: trên cơ sở thiết bị được đổi mới, Tổng công ty đã thúc đẩy được năng suất lao động tăng lê Mặc dù vậy, việc áp dụng quy trình khoa học công nghệ vào sản xuất còn chưa được chú trọng, bên cạnh đó là các dây chuyền chế biến mới đầu tư xây dựng có nhiều khó khăn và hoạt động chưa hiệu quả đã hạn chế khả năng sản xuất của Tổng công ty, chưa đạt được chỉ tiêu

đề ra

+ Chi phí sản xuất: đây là một trong những vấn đề đang trở nên vô cùng quan trọng đối với Tổng công ty rau quả Việt Nam, bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc định giá sản phẩm xuất khẩu, quyết định khả năng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu Hiện nay Tổng công ty đang phải đối mặt với thực trạng

là nguyên liệu đầu vào cao (giá một số vật tư, nguyên liệu, năng lượng tăng), trong khi đó vốn sản xuất kinh doanh thiếu, phải vay ngân hàng, điều đó đã ảnh hưởng nhiều đến khả năng hoạt động sản xuất và xuất khẩu của Tổng công ty

Do vậy Tổng công ty đang nhanh chóng tìm hướng giải quyết giảm chi phí đầu vào một cách hữu hiệu nhất, từ đó giảm giá chào bán sản phẩm rau quả chế biến

ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và thị trường nội địa

+ Khả năng tài chính: tính đến hết năm 2001, nhìn chung các đơn vị thuộc Tổng công ty đã bảo toàn được vốn sản xuất kinh doanh, việc sử dụng vốn có hiệu quả, Tổng công ty đã cân đối, điều hoà vốn giữa các đơn vị, xin cấp

bổ sung vốn lưu động hơn 7,1 tỷ VND cho các đơn vị có đầu tư mới, đạt 13,4%

Trang 27

so với nhu cầu vốn ngân sách cấp cho các doanh ngiệp.

+ Khả năng tham gia trên thị trường quốc tế: Tổng công ty rau quả Việt Nam là một tổ chức chuyên ngành kinh tế – kỹ thuật trong lĩnh vực rau quả Từ năm 1991, sau những biến động ở Liên Xô và Đông Âu, thị trường rau quả bị thu hẹp, đây cũng là thời điểm mà nền kinh tế nước ta xoá bỏ bao cấp, chuyển sang kinh tế thị trường Tổng công ty đã tích cực mở rộng thị trường, kim ngạch xuất nhập khẩu với các thị trường khác ngoài Liên Xô (cũ) đã tăng lên đáng kể

Dự báo thị trường xuất khẩu rau quả của Tổng công ty trong thời gian tới như sau:

Khu vực Đông Bắc Á và Châu Á- Thái Bình Dương: Trung Quốc, Viễn Đông Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Austraylia, New Zealand…

Trung cận đông và một số nước Châu Phi

Tây bắc Âu, Mỹ và một số nướcChâu Mỹ, Đông Âu

+ Mối quan hệ khách hàng: Tổng công ty chưa có được những hợp đồng dài hạn với khối lượng lớn, khách hàng chưa ổn định Điều này ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch sản xuất từ khâu nguyên liệu đến khau chế biến công nghiệp cũng như ảnh hưởng tới sự phát triển của các đơn vị thành viên của toàn Tổng công ty

2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Tổng công ty

2.3.1 Hội đồng quản trị (5 người).

Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện chức năng quản lý, giám sát mọi hoạt động của Tổng công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ

mà Nhà nước giao

Thành phần:

- Chủ tịch

- Một thành viên kiêm Tổng giám đốc

- Một thành viên kiêm trưởng ban kiểm sát

- Hai chuyên gia giỏi về lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty

Trang 28

Hội đồng quản trị Tổng công ty làm việc theo chế độ tập thể, họp thường

kỳ hàng quý, ngoài ra có thể có những cuộc họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách của Tổng công ty Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là 5 năm

Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty

2.3.2 Ban kiểm soát.

Thực hiện các công việc kiểm soát, giám sát các thành viên Tổng công ty thi hành các nghị quyết của Hội đồng quản trị và chấp hành pháp luất của Nhà nước

Ban giám đốc Tổng công ty

Khối phòng ban kinh

doanh thuộc TCT

Khối phòng ban chức năng thuộc TCT

5 đơn vị

sản xuất

14 đơn vị kinh doanhXNK

1 viện nghiên cứu

3 đơn vị liên doanh nước ngoài Ban kiểm soát

Ngày đăng: 26/04/2014, 08:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy  quản lý của Tổng công ty - tổ chức hoạt động marketing sản phẩm xuất khẩu của tổng công ty rau quả việt nam sang thị trường liên bang nga
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty (Trang 28)
Bảng báo cáo tình hình tài chính một số năm (Số liệu của phòng xúc tiến thương mại) - tổ chức hoạt động marketing sản phẩm xuất khẩu của tổng công ty rau quả việt nam sang thị trường liên bang nga
Bảng b áo cáo tình hình tài chính một số năm (Số liệu của phòng xúc tiến thương mại) (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w